1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm của triết học mác lênin về tất yếu và tự do trong đạo đức và việc vận dụng nó trong xây dựng đạo đức mới ở nước ta hiện nay

127 138 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 755,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không thể giải quyết khiên cưỡng và triệt để những hạn chế về đạo đức khi cơ sở kinh tế - xã hội sản sinh ra nó còn đang tồn tại một cách khách quan; tuy nhiên, lực lượng chủ quan vẫn có

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ KIM THANH

QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

VỀ TẤT YẾU VÀ TỰ DO TRONG ĐẠO ĐỨC

VÀ VIỆC VẬN DỤNG NÓ TRONG XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC

MÃ SỐ: 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN VĂN PHÚC

Hà Nội – 2010

Trang 2

Lời cảm ơn

Luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn và động viên to lớn của Thầy hướng dẫn, sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy cô giáo trong khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Vì vậy, tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Thầy giáo hướng dẫn khoa học, PGS TS Nguyễn Văn Phúc và các Thầy Cô giáo khoa Triết học

Tác giả

Nguyễn Thị Kim Thanh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Mọi trích dẫn trong luận văn đều trung thực

Tác giả

Nguyễn Thị Kim Thanh

Trang 4

BẢNG VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 14

Chương 1 14

QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN 14

VỀ TẤT YẾU VÀ TỰ DO TRONG ĐẠO ĐỨC 14

1.1 Quan niệm về tất yếu và tự do trong đạo đức: ……… 8

1.1.1 Quan niệm về tất yếu và tất yếu trong đạo đức 14

1.1.2 Quan niệm về tự do và tự do trong đạo đức 26

1.2 Quan niệm về mối quan hệ tất yếu và tự do trong đạo đức: ……….32

1.2.1 Quan hệ giữa quy luật phát triển của đạo đức với hoạt động của con người trong lĩnh vực đạo đức 39

1.2.2 Quan hệ giữa cá nhân và xã hội dưới góc độ đạo đức 52

Chương 2. 67

VẬN DỤNG QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ TẤT YẾU VÀ TỰ DO TRONG ĐẠO ĐỨC VÀO VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 67

2.1 Đạo đức mới và thực trạng xây dựng đạo đức mới ở nước ta những năm qua. 67

2.1.1 Khái quát về đạo đức mới Việt Nam 67

2.1.2 Thực trạng vận dụng mối quan hệ tất yếu và tự do trong xây dựng đạo đức mới. 85

2.2 Một số định hướng cơ bản trong xây dựng đạo đức mới …….…96

2.2.1 Xác lập các điều kiện khách quan tất yếu làm nền tảng xây dựng đạo đức mới 96

2.2.2 Đẩy mạnh giáo dục đạo đức nhằm phát huy tự do đạo đức cho cá nhân 110

Trang 6

KẾT LUẬN 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đối với con người, tự do bao giờ cũng là vô giá, Mác đã nhận ra chân

lý đó khi nhận thấy “không một người nào chống lại tự do, nhiều lắm thì người ta cũng chỉ chống lại tự do của người khác mà thôi” Tự do dưới góc độ chính trị - xã hội là giá trị tác động trực tiếp đến đời sống con người Lịch sử thế giới từ khi xuất hiện tư hữu đến nay luôn diễn ra xung quanh cuộc đấu tranh giành và bảo vệ tự do Ngay cả đối với giới tự nhiên, con người cũng luôn cố khẳng định tư cách tự do của mình Tuy nhiên, mức độ kết quả đạt được không phụ thuộc vào chủ quan mỗi người, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của thực tiễn Tính tương đối của sự thoả mãn những nhu cầu nảy sinh không ngừng trong quá trình tồn tại của con người đã chứng tỏ rằng vấn

đề tự do cũng như con đường đạt đến tự do là không hoàn toàn được tự do, tự

do đi liền với tất yếu, tự do là tự do - tất yếu “Nghịch lý của tự do” đó là một nghịch lý hợp lý, nó chỉ dẫn hành động của con người phải tuân theo quy luật khách quan trong quá trình tìm kiếm tự do Như vậy, tự do là năng lực hành động trên cơ sở nhận thức đúng tất yếu khách quan Ngay kết luận chân lý này của triết học Mác - Lênin cũng là một sản phẩm nhận thức của sự phát triển lịch sử Vì vậy cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn và nhiều hơn nữa vấn

đề này nhằm phát triển lý luận cũng như định hướng hành động

Con người - đạo đức - tự do là một tam thức của đời sống xã hội, tự do đúng nghĩa và chân chính chỉ tìm thấy ở trình độ con người và con người chỉ xứng đáng với tầm vóc Người của mình khi sống có đạo đức Như thế, đạo đức và tự do trước hết là những giá trị của con người, thuộc về con người Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử lại cho thấy, đó đồng thời cũng là giá trị đầu tiên

và cao nhất mà nhân loại luôn khát khao và hướng đến Nhưng không vì thế

Trang 8

mà đạo đức và tự do tồn tại như cái đứng trên hay đứng ngoài xã hội Tự do

và tất yếu trong lĩnh vực đạo đức là một vấn đề thời sự và khá phức tạp vì nó liên quan trực tiếp đến con người ở khía cạnh chiều sâu nhất

Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế thị trường đang tác động mạnh mẽ đến những lĩnh vực xã hội then chốt nhất, trong đó có đạo đức - lĩnh vực tinh thần

và xã hội của đời sống con người Những hiện tượng suy thoái, xuống cấp đạo đức trong nhiều tầng lớp dân cư đã được lý giải dưới nhiều lăng kính và thiết chế Góc độ tất yếu và tự do có thể mở ra khả năng xem xét đời sống đạo đức của con người Việt Nam hiện nay ở tầng sâu cội nguồn và bản chất của nó Không thể giải quyết khiên cưỡng và triệt để những hạn chế về đạo đức khi

cơ sở kinh tế - xã hội sản sinh ra nó còn đang tồn tại một cách khách quan; tuy nhiên, lực lượng chủ quan vẫn có thể tác động từng bước theo cách phù hợp với cái tất yếu đó - bởi vì thật ra những mục đích chủ quan không hề đối lập với tính tất yếu khách quan, nó được “nảy ra” từ hiện thực khách quan -

để tự do trong lĩnh vực đạo đức cho con người ngày càng được mở rộng

Bên cạnh sự tha hóa, xuống cấp về đạo đức, ở nước ta hiện nay đang xuất hiện một hệ giá trị, chuẩn mực đạo đức mới mang dấu ấn rõ nét của nền kinh tế thị trường, đó là những giá trị tích cực phản ánh sự thích nghi nhanh chóng của cá nhân trước xã hội Những giá trị này hợp thành đạo đức mới Việt Nam hiện đại Nhưng, phải chăng, đạo đức mới Việt Nam chỉ hình thành khi chúng ta bước vào công cuộc đổi mới kinh tế? Phải lý giải thế nào về vị trí của những giá trị đạo đức nhân đạo, cách mạng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cũng như trong thực tế xã hội Việt Nam thời kỳ lịch sử từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 Tóm lại, xác định chính xác đạo đức mới Việt nam là đạo đức nào là công việc cần thiết bởi khi đó, chúng ta mới

có cách ứng xử phù hợp, đúng đắn đối với con người nhằm tăng cường tự do, trong đó có tự do đạo đức cho họ

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu

Tất yếu và tự do là vấn đề mang tính triết học Tất yếu và tự do trong lĩnh vực đạo đức là vấn đề của cả triết học và đạo đức học Trên quan điểm Mác-Lênin, đạo đức học được coi là triết học thực tiễn, do đó đề tài này thuộc phạm vi triết học nhiều hơn

Vấn đề tất yếu và tự do, vấn đề đạo đức, vấn đề tất yếu và tự do trong lĩnh vực đạo đức đều đã được triết học Mác - Lênin đề cập hoặc định hướng, gợi ý

Nghiên cứu vấn đề này có:

+ Nhóm công trình nghiên cứu về tất yếu và tự do: Trước hết phải kể đến tác phẩm Tự do của R.Garôđi vốn là luận án tiến sĩ triết học của ông Vấn

đề tự do và tất yếu dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác Trong tác phẩm,

R.Garôđi đã làm rõ vấn đề tất yếu và tự do dưới góc độ học thuật thông qua việc khảo cứu các học thuyết trong lịch sử về vấn đề này Bên cạnh đó, ông còn trình bày cách giải quyết của CNDVBC và CNDVLS cũng như chỉ ra ý nghĩa lịch sử thực tiễn của vấn đề tất yếu và tự do trong xã hội tư sản và xã

hội Xô Viết Tác phẩm Triết học mở và xã hội mở, Nxb Khoa học xã hội,

2002 của nhà mácxít nổi tiếng người Anh - Maurice Cornforth cũng dành một chương để thực hiện cuộc bút chiến chống lại “kẻ chống cộng số một” - Kac Poper trên một số bình diện của vấn đề tự do như tự do và tất yếu, tự do và hạn chế tự do, phương tiện và khả năng cho tự do cá nhân Những bình diện này được đặt trong tổng thể sự phản bác việc xuyên tạc, đánh tráo hai khái niệm “đóng” và “mở” khi nhìn nhận học thuyết Mác Trong nhiều tài liệu và sách giáo khoa Mác-Lênin khác cũng đề cập đến vấn đề tất yếu và tự do

nhưng còn rất ít, nổi bật có luận án tiến sĩ của Nguyễn Công Chiến Mối quan

Trang 10

hệ biện chứng giữa tất yếu và tự do trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn ,2000, của Vương Thị Bích Thuỷ Quan niệm của triết học Mác - Lênin về tất yếu và tự do và ý nghĩa thực tiễn của nó, 2003, các công trình này

đã cố gắng khai thác chủ nghĩa Mác - Lênin về tất yếu và tự do và vận dụng

nó vào thực tiễn xây dựng đất nước ta

Trong cả chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, triết học Mác-Lênin nói riêng, các ông đã để lại một chủ nghĩa nhân đạo cao cả và sâu sắc mặc dù không đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về đạo đức Tìm hiểu đạo đức học Mác-Lênin là khai thác quan điểm, tư tưởng của các ông về những vấn đề của đạo đức trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng

+ Nhóm công trình nghiên cứu về đạo đức có liên quan đến vấn đề tất

yếu và tự do : Tác phẩm Đạo đức học của G.Bandzeladze đề cập những vấn

đề cơ bản như quan niệm mácxít về đạo đức, lý thuyết đạo đức cộng sản chủ

nghĩa, những quy tắc cho người xây dựng chủ nghĩa cộng sản Cuốn Nguyên

lý đạo đức cộng sản của A.Siskin nói đến tất yếu và tự do với vấn đề đạo đức

chủ yếu dưới góc độ tuyên truyền chính trị Một số giáo trình đạo đức học trong nước không đề cập trực diện vấn đề này Trong các giáo trình, chẳng

hạn, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình đạo đức học, Nxb Chính trị quốc gia, 2000; PGS.TS Vũ Trọng Dung (chủ biên), Giáo trình đạo

đức học Mác-Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, 2005; TS Đặng Đức Sinh (chủ

biên), Giáo trình đạo đức học, Nxb Đại học sư phạm, 2008;…tất yếu và tự do

chỉ được thể hiện ra một cách gián tiếp thông qua việc vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử để trình bày và lý giải nguồn gốc, bản chất, các quy luật cơ bản của đạo đức

Theo đó, tất yếu đạo đức được hiểu như là tính quy định khách quan của những nhân tố kinh tế, xã hội; tính khách quan của sự kế thừa trong quá trình hình thành và biến đổi cả nội dung cũng như hình thức biểu hiện của đạo

Trang 11

đức gắn với các hình thái kinh tế – xã hội nhất định Tự do đạo đức được lý giải như là tự do của các giai cấp, tầng lớp đối với việc kế thừa và đổi mới nội dung các giá trị đạo đức truyền thống; tự do trong việc lựa chọn và xác lập hệ giá trị đạo đức mới trên cơ sở tính quy định của các nhân tố thời đại, dân tộc, giai cấp

Tương tự như vậy, nhóm công trình đạo đức học ứng dụng, tức là nhóm công trình luận giải và đề xuất những vấn đề, giải pháp cho sự nghiệp xây dựng đạo đức mới ở nước ta hiện nay cũng chỉ gián tiếp đề cập đến tất yếu và

tự do trong đạo đức Tiêu biểu cho nhóm công trình này có: Trịnh Duy Huy,

Vấn đề xây dựng đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, 2007; Lê Thị Tuyết Ba, Ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường, Luận án tiến sĩ triết học, 2008; Nguyễn

Duy Quý (chủ biên), Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay: vấn đề và giải pháp, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008; Nguyễn Văn Phúc, Về tính quy luật của

sự hình thành hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức mới, tạp chí Triết học, 3/2007;

Nguyễn Văn Phúc, Quan niệm của C.Mác về đạo đức và ý nghĩa của nó đối

với sự nghiệp xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay, tạp chí Triết

học, 9/2008;…Trong các công trình này, vấn đề kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa,…được phân tích như là những nhân tố khách quan quan trọng nhất tác động và quy định sự chuyển đổi các giá trị, chuẩn mực đạo đức từ truyền thống sang hiện đại ở nước ta hiện nay Sự chuyển đổi khách quan này đòi hỏi các chủ thể xây dựng đạo đức mới cả ở cấp lãnh đạo, quản lý (Đảng, nhà nước,…) và cấp thực thi (người dân) phải chủ động, tích cực nhận thức và chuyển hóa tính tất yếu đó thành tự do đạo đức thông qua việc xác lập hệ giá trị đạo đức hiện đại trên cơ sở kế thừa, đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống nhằm đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường, hiện đại hóa, toàn cầu hóa; đồng thời tạo mọi điều kiện cần thiết để

Trang 12

các giá trị đạo đức mới được thể hiện trong cuộc sống Trong quá trình nhận thức và biến tất yếu thành tự do đó, tự do đạo đức của con người Việt Nam sẽ được nâng lên tầm cao mới

Tuy nhiên, cả về mặt thực tiễn cũng như mặt lý luận, quá trình chuyển hóa từ tất yếu thành tự do trong đạo đức hiện nay cần được soi sáng hơn nữa bởi những nghiên cứu chuyên sâu, trực tiếp và cụ thể Những nghiên cứu như vậy hiện nay thực sự là chưa có Vì vậy, trên cơ sở kế thừa thành tựu nghiên cứu của người đi trước, luận văn này cố gắng tập trung nghiên cứu vấn đề tất yếu và tự do trong đạo đức như là một vấn đề vừa có ý nghĩa cấp thiết vừa có

ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng đạo đức mới, con người mới ở nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu, bước đầu làm rõ quan niệm của triết học Mác-Lênin về mối quan hệ tất yếu và tự do trong đạo đức và việc vận dụng nó trong sự nghiệp xây dựng đạo đức mới ở nước ta hiện nay

Với mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Phân tích, làm rõ quan điểm Mác-Lênin về tất yếu, tự do cùng mối quan hệ giữa chúng trong đạo đức

- Từ đó, phân tích một số vấn đề trong việc vận dụng quan niệm Lênin vào xây dựng và nâng cao đời sống đạo đức cho cá nhân và xã hội ở nước ta trong điều kiện hiện nay

Mác-4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn có cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tất yếu và tự

do, vấn đề đạo đức Luận văn cũng dựa trên quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam trong một số văn kiện tiêu biểu về con đường phát triển đất nước,

về xây dựng con người mới, đạo đức mới

Trang 13

Luận văn sử dụng những nguyên tắc phương pháp luận của CNDVBC

và CNDVLS; sử dụng một số phương pháp cụ thể như phân tích, so sánh, hệ thống, tổng hợp, v v… Luận văn cũng bước đầu sử dụng phương pháp kết hợp triết học với tâm lý học để giải quyết nhiệm vụ đặt ra do đặc thù của hiện tượng đạo đức

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề đạo đức Vấn đề đạo đức được soi chiếu, giới hạn qua lăng kính của quan niệm Mác-Lênin về tất yếu

và tự do là phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trong di sản tư tưởng đồ sộ của Mác, Ăngghen, Lênin, luận văn chỉ tập trung tìm hiểu một số tác phẩm tiêu biểu của các ông chứa đựng quan niệm liên quan đến vấn đề đạo đức, vấn đề tất yếu và tự do trong đạo đức

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn cố gắng bước đầu trình bày có hệ thống quan điểm khoa học

về mối quan hệ giữa tất yếu và tự do trong đạo đức nhằm khẳng định xu thế chung của sự phát triển đạo đức, đó là việc tất yếu tồn tại của một kiểu đạo đức mới thực sự nhân đạo được thiết lập, xây dựng trong thực tiễn lịch sử thế giới và Việt Nam hôm nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

VỀ TẤT YẾU VÀ TỰ DO TRONG ĐẠO ĐỨC

1.1 Quan niệm về tất yếu và tự do trong đạo đức

1.1.1 Quan niệm về tất yếu và tất yếu trong đạo đức

“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [25,tr.8] Có hai ý nghĩa từ quan điểm này: một là, khẳng định nguồn gốc khách quan và tất yếu của đạo đức, đạo đức nảy sinh trên cơ sở thực tiễn xã hội, với trình độ

xã hội nhất định sẽ tương ứng có nền đạo đức đặc trưng của nó Xem xét đạo đức là một hình thái ý thức xã hội nghĩa là đề cập đến khía cạnh nhận thức luận, đến tính nhân quả của đạo đức, nó cho phép tiếp cận đạo đức trên quan điểm phản ánh, quan điểm quyết định luận duy vật, thừa nhận đạo đức là cái phản ánh tồn tại xã hội ; hai là, khẳng định đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi con người thông qua hệ thống các quy tắc và chuẩn mực đạo đức Do đó, dưới góc độ đạo đức cá nhân, quan điểm trên cho phép vạch ra cơ

sở để lên án những hành vi vô luân cũng như khẳng định việc chủ thể đạo

Trang 15

đức phải chịu trách nhiệm trước hành vi của mình Với ý nghĩa thứ hai, đạo đức vừa là một phương thức, vừa như một phưong tiện điều chỉnh hành vi

Như vậy, hướng tiếp cận đạo đức khả dĩ nhất sẽ là quan điểm xem đạo đức vừa là một hình thái ý thức, đồng thời là một hình thái thực tiễn, nghĩa là xem đạo đức học thực sự là một khoa học về đạo đức Triết học thực tiễn về đạo đức không chủ trương coi đạo đức là đối tượng nghiên cứu của nhận thức luận đạo đức, càng không phải của xã hội học đạo đức Yêu cầu khảo sát đạo đức như một hiện tượng xã hội đa dạng là đòi hỏi tất yếu và đúng đắn, đạo đức ở đây là đời sống đạo đức, là hiện thực đạo đức, là đạo đức đang vận động, đang “sống” cùng các lĩnh vực hoạt động vật chất và tinh thần khác của đời sống xã hội

Chúng ta biết rằng, tất yếu là những mối liên hệ bản chất, do nguyên nhân cơ bản bên trong của sự vật quyết định, tất yếu mang tính quy luật, tính không tránh khỏi, trong những điều kiện nhất định thì phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác Tất yếu phản ánh khuynh hướng vận động và phát triển nội tại của hiện thực, tất yếu nói lên sự cưỡng bức từ bên trong Về bản chất, tất yếu mang ý nghĩa bắt buộc nhưng khi tất yếu là tất yếu - tự do thì ý nghĩa áp đặt không còn mà trở thành cái đối lập với nó - tự do Sự nối dài đến

tự do khiến tất yếu tồn tại như một “mâu thuẫn” Ở đây mâu thuẫn của tất yếu thật sự là một mâu thuẫn triết học bởi vì phát triển cũng chính là quá trình giải quyết cái tất yếu Tất yếu mang tính chất khách quan và phổ biến [39,tr.86], nó tồn tại độc lập, không lệ thuộc vào ý thức con người, ngược lại, con người phải tuân theo cái khách quan đó; tất yếu tồn tại trong giới tự nhiên

và trong xã hội loài người

Tất yếu trong giới tự nhiên được biểu hiện chủ yếu thông qua các quy luật tự nhiên khách quan Tính khách quan tất yếu của giới tự nhiên là tự thân,

nội tại, trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê

Trang 16

phán, Lênin vạch rõ: thế giới là một sự vận động có quy luật của vật chất,

nhận thức của chúng ta - sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên - chỉ có thể phản ánh tính quy luật đó mà thôi Quan niệm về tất yếu trong tự nhiên của triết học Mác - Lênin đã khẳng định tính quy luật, tính thống nhất vật chất cũng như tính đa dạng phong phú của giới tự nhiên bên ngoài Tuy nhiên, thế giới tự nhiên không chỉ là giới tự nhiên bên ngoài mà còn bao hàm trong đó

cả con người, chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định rằng con người là một bộ phận của tự nhiên, giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người, thế giới là

chỉnh thể thống nhất con người - tự nhiên, con người sống bằng giới tự nhiên,

quan hệ giữa con người với tự nhiên – xét đến cùng – chính là quan hệ giữa giới tự nhiên với giới tự nhiên mà thôi

Con người là một phần của tự nhiên, sự tồn tại của con người cũng tất yếu khách quan như sự tồn tại của tự nhiên, vì thế những mối quan hệ, những lĩnh vực liên quan đến con người, đến cách thức tổ chức xã hội của con người cũng tất yếu khách quan, trong phạm vi này ta gọi đó là tất yếu xã hội, tức là tất yếu trong xã hội loài người Quan điểm biện chứng duy vật không tách rời quan hệ giữa xã hội với tự nhiên

Tất yếu xã hội khẳng định sự phát triển khách quan có quy luật của đời sống xã hội mà ý chí, nguyện vọng chủ quan của con người không thay đổi được, mỗi một thời kỳ lịch sử đều có quy luật riêng của nó khi cuộc sống đã vượt qua một thời kì phát triển nhất định thì nó cũng bắt đầu bị những quy luật khác chi phối

Tất yếu xã hội khẳng định sự phát triển tất yếu của sản xuất vật chất xã hội, nó biểu hiện ở sự thay thế của các phương thức sản xuất xuất phát từ các cuộc cách mạng xã hội rộng lớn mà yếu tố quyết định là lực lượng sản xuất

“Để khỏi bị mất kết quả đã đạt được, … con người buộc phải thay đổi tất cả những hình thức xã hội đã kế thừa vào thời điểm mà phương thức quan hệ của

Trang 17

con người không còn phù hợp với các lực lượng sản xuất đã có được… Cùng với việc có được lực lượng sản xuất mới, con người cũng thay đổi phương thức sản xuất của mình và cùng với phương thức sản xuất thì họ cũng thay đổi tất cả các quan hệ kinh tế đã từng là những quan hệ tất yếu đối với phương thức sản xuất nhất định đã tồn tại”[55, tr.658-659]

Tất yếu trong lĩnh vực đạo đức là một bộ phận của tất yếu xã hội bởi đạo đức là một lĩnh vực của xã hội Chúng ta đã biết, đời sống xã hội của con người gồm bốn lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội và tinh thần Tất yếu xã hội tác động và thể hiện trong tất cả các lĩnh vực trên Do đó, khi nói đến tất yếu

xã hội thì không chỉ là tất yếu kinh tế mà còn là tất yếu của lĩnh vực tinh thần, triết học Mác - Lênin phản ánh mối quan hệ này trong quy luật về sự phụ thuộc của ý thức xã hội vào tồn tại xã hội Theo đó, lịch sử phát triển và hoàn thiện đạo đức tất yếu phụ thuộc vào trình độ phát triển thực tiễn và nhận thức

xã hội của con người Đạo đức ra đời từ tồn tại xã hội, từ đời sống hiện thực của con người, đạo đức là một hiện tượng tinh thần của xã hội cần được xem xét trong mối quan hệ với đời sống vật chất, đạo đức không thể tách rời cuộc sống Đạo đức là kết quả của sự phát triển lịch sử đồng thời đạo đức cũng tác động lại xã hội, đáp ứng những đòi hỏi của xã hội đối với cá nhân ở khía cạnh đạo đức Đây là quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận, định hướng tư tưởng cho việc tìm hiểu vấn đề tất yếu trong lĩnh vực đạo đức

Tóm lại, tất yếu trong lĩnh vực đạo đức mang nghĩa rằng nguồn gốc, quy luật, khuynh hướng vận động và phát triển khách quan của đạo đức xã hội

là do những nguyên nhân nội tại cơ bản của nó quyết định mà xét đến cùng,

chính phương thức sản xuất và trình độ phát triển của xã hội, tức là tồn tại xã hội, là cội rễ bên trong quy định quá trình tồn tại của đạo đức một cách không tránh khỏi Nói cách khác, nghiên cứu vấn đề tất yếu trong lĩnh vực

đạo đức là sự chiếu nhìn đạo đức qua lăng kính cái tất yếu, nghĩa là dưới góc

Trang 18

độ cái quy định không thể thay thế hay phủ nhận của điều kiện kinh tế - xã hội đối với đạo đức Theo đó, nguồn gốc, bản chất và tính quy luật trong lịch sử phát triển của đạo đức là những vấn đề then chốt có liên quan chặt chẽ với vấn đề tất yếu trong lĩnh vực đạo đức

Theo Mác và Ănghen, con người sống tức là hoạt động trong “mối quan hệ song trùng”, con người không thể đơn độc tự mình thoả mãn nhu cầu của mình chỉ bằng việc lao vào chinh phục tự nhiên Chính từ và trong các quan hệ cộng đồng này, đạo đức xuất hiện Cụ thể, đó là các mối quan hệ trong lao động và trong các hoạt động chung khác như bảo vệ cộng đồng, phân chia thành quả lao động, duy trì nòi giống, …, trong đó lao động là yêu cầu và hành động đầu tiên của con người nhằm duy trì sự sống, là cội nguồn

cơ bản và chân chính nhất của mọi giá trị đạo đức

Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc của đạo đức khẳng định một quan điểm khoa học về bản chất đạo đức Tồn tại xã hội là nguyên nhân đầu tiên ra đời đạo đức nhưng tồn tại xã hội không chỉ là cái hích đầu tiên, tồn tại xã hội tác động thường xuyên, liên tục đến đạo đức tạo nên bản chất xã hội của đạo đức Đạo đức hiện thân cho những giá trị cao đẹp trong đời sống con người, trong mối quan hệ cá nhân với xã hội, nó là sản phẩm của tất yếu lịch sử Ở đây, tính tất yếu liên quan đến tính xã hội của bản chất đạo đức

Bản chất xã hội và sự hoàn thiện bản chất xã hội của đạo đức được hiểu theo nghĩa cả nội dung và hình thức đạo đức đều được quy định bởi trình độ phát triển và hoàn thiện của thực tiễn và nhận thức xã hội của con người Bản chất đạo đức không phải có sẵn, tiên thiên, tiền định, nếu không có con người

và hoạt động tổ chức xã hội loài người thì không thể có đạo đức Đạo đức không phải cái bất biến, đạo đức phát triển theo quy luật của nó, thể hiện ra ở

xu hướng ngày càng tiến bộ và không ngừng sáng tạo ra những giá trị mới Hệ

Trang 19

các giá trị đạo đức là biểu hiện rõ nét nội dung đạo đức Hình thức đạo đức là các chuẩn mực, phạm trù đạo đức, nhất là các phạm trù đạo đức học; hình thức đạo đức của xã hội văn minh đã phát triển hơn nhiều do nhận thức loài người đã vượt khỏi tư duy cụ thể, hình thành tư duy lý luận, tư duy bằng khái niệm, phạm trù, quy luật, nguyên tắc đạo đức Tính tất yếu của tồn tại xã hội quyết định bản chất xã hội của đạo đức được phản ánh thống nhất trong tính thời đại, tính giai cấp, tính dân tộc mà Ănghen đã chỉ ra và luận chứng

Chỉ con người mới có đạo đức bởi đạo đức xuất hiện trong mối quan hệ người - người trong quá trình hoạt động, hiện thực đạo đức là cái phản ánh hiện thực khách quan ở khía cạnh đạo đức Trong khi đó, các nhà duy tâm, các nhà thần học nhìn nhận đạo đức không phải cái phản ánh xã hội mà đạo đức là sản phẩm của lực lượng siêu nhiên, không thuộc về xã hội, cái tất yếu quy định đạo đức là một bản thể tuyệt đối, đó là thượng đế, là ý niệm tuyệt đối Tất yếu trong tôn giáo không phải là tất yếu của bản thân sự vật, hiện tượng; còn tự do đạo đức chính là sự toàn tâm hướng đến Chúa, niềm tin tôn giáo là cái đầu tiên và cũng là cái cuối cùng của toàn bộ khát vọng đạo đức của con người Do đó, Ănghen luôn khẳng định đạo đức là một lĩnh vực thuộc

về con người, thuộc về lịch sử loài người

Lênin đã vạch rõ tính tất yếu không thể tách rời cái phổ biến Do vậy, tính nhân loại của đạo đức biểu hiện “mẫu số chung” của tính người, con người tự do lựa chọn chuẩn mực đạo đức và tự nguyện hành động theo chuẩn mực đó Lênin nhấn mạnh tính nhân loại chính là quy tắc sơ thiểu của con người, nếu nó không được thực hiện thì xã hội sẽ rối loạn Những quy tắc sơ đẳng, đơn giản, cơ bản của mọi sự chung sống giữa người và người đã được

“nhắc đi nhắc lại từ nhiều thiên niên kỷ trong tất cả các lời dạy bảo đạo lý” Những giá trị nhân bản chung là cái tất yếu tồn tại chừng nào con người còn

có quan hệ qua lại với nhau và với tự nhiên, tức là còn hoạt động lao động sản

Trang 20

xuất, ngay cả khi xã hội không còn đối kháng giai cấp, những giá trị này vẫn không mất đi, ngược lại, càng được củng cố, tăng cường Giáo sư Trần Đức

Thảo trong cuốn Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người

cho rằng bất kỳ người nào trước hết cũng là một con người, không ai có thể tước đoạt danh nghĩa ấy của người khác Tính giai cấp, bản chất giai cấp là bản chất hàng đầu, bản chất con người là hàng thứ hai, tiếp sau nữa là bản chất sinh vật, bản chất lý hoá… Do vậy, cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động chống lại giai cấp tư sản thống trị không đơn giản chỉ xuất phát từ những lợi ích giai cấp, lợi ích chính trị mà trong động cơ đấu tranh cách mạng đó còn có những giá trị tinh thần xuất phát từ tính người, từ những đòi hỏi về công bằng, tự do, chính nghĩa, về lòng tự trọng, vị tha, tình cảm yêu thương, hướng thiện, …

Tính nhân loại, những quy tắc đạo đức phổ biến trong quan điểm của triết học Mác - Lênin hoàn toàn không giống tính loài mà các nhà sinh vật học

về đạo đức quan niệm Học thuyết của Đác-uyn về sự tiến hoá đã cho phép giải thích khoa học về nguồn gốc con người, theo đó, con người là sản phẩm của tự nhiên, phần tự nhiên trong con người tuân theo những quy luật của sinh học Những người theo thuyết Đác-uyn xã hội lại tuyệt đối hoá yếu tố bản năng sinh vật đó và giải quyết những hiện tượng đạo đức của con người xuất phát từ bản năng bầy đàn của động vật Họ không thấy sự khác nhau về bản chất giữa hành động đạo đức có động cơ tự nguyện cao cả với những hành động bản năng theo cơ chế tự nhiên của hệ thần kinh sinh vật Trong quan niệm này, “tính nhân loại” của đạo đức được quy về tính loài sinh học - một tính di truyền không tuân theo quy luật xã hội, chỉ dựa vào quy luật tự nhiên - quy luật chọn lọc và thích nghi Thậm chí, họ còn cho rằng tính loài sinh vật

là tính thứ nhất và cần thiết một đòi hỏi cao hơn, chẳng hạn B.Skinner, người theo chủ nghĩa hành vi hiện đại, xem xét vấn đề con người và đạo đức từ lập

Trang 21

trường sinh học hóa, trong cuốn Ở phía bên kia của tự do và phẩm giá đã kết

luận: nếu nền văn minh phương Tây tiếp tục coi tự do và phẩm giá chứ không phải là sự sống sót của bản thân là giá trị cao nhất của mình thì rất có thể là trong tương lai, một nền văn minh khác nào đó sẽ có đóng góp lớn Ý nghĩa phản động của quan niệm này rất rõ ràng, tất cả những hành vi phi nghĩa, vô đạo, bất nhân được che đậy dưới chiêu bài bản năng, khó có thể quy tội Không phải Mác và Ănghen không biết đến tính loài của con người, trong tư tưởng của các ông “Con người là một sinh vật có tính loài, không những với ý nghĩa là cả về thực tiễn cũng như về lý luận”[36,tr.134] Song, cũng như kinh nghiệm loài với kinh nghiệm xã hội, tính loài ở đây là muốn nói tới tính xã hội Chúng ta thấy rằng, sự quy định tất yếu của thực tiễn lao động sản xuất tạo nên nhân tính chung mang bản chất thiện, tức là những phẩm giá và lương tri phổ biến người nào cũng có hoàn toàn không phải là một bản tính tự thân,

tự nhiên, được mã hoá bằng gien mà nó được tạo sinh và tồn tại phụ thuộc vào cái xã hội Yếu tố xã hội trong con người là kết quả của quá trình lao động, quá trình hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần lâu dài, không ngừng nghỉ của con người

Như thế, xuất phát từ cơ sở thực tiễn, chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định tính nhân loại cũng như tính thời đại của đạo đức là do những điều kiện xã hội quy định, do chính những hoạt động cộng đồng của con người tạo nên và chịu

sự chế ước tất yếu khách quan của yếu tố này Các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức là biểu hiện về mặt đạo đức các thời đại kinh tế, là sản phẩm của các chế độ kinh tế, ứng với mỗi thời đại kinh tế là thời đại xã hội của nó Theo các ông, lịch sử xã hội, tương ứng với năm hình thái kinh tế - xã hội, có năm kiểu đạo đức xã hội đặc trưng là đạo đức trong xã hội nguyên thuỷ, đạo đức trong

xã hội chiếm hữu nô lệ, đạo đức trong xã hội phong kiến, đạo đức tư sản và đạo đức cộng sản chủ nghĩa Tư tưởng của Mác, Ănghen về tính thời đại đã

Trang 22

phê phán, chống lại quan niệm về chân lý đạo đức vĩnh cửu của O.Đuy-rinh Đuy-rinh cho rằng có một thứ đạo đức siêu giai cấp, đứng trên xã hội, ông đòi hỏi một tầm quan trọng tuyệt đối cho chân lý đạo đức như kiểu chân lý của toán học, của khoa học tự nhiên Đuy-rinh phủ nhận mọi sự hoài nghi vào những nguyên lý đạo đức phổ biến, ông coi hoài nghi như vậy là một loại

“bệnh tật”, và biện hộ, nếu hoài nghi như vậy nghĩa là hoài nghi chính khả năng tiến lên nền đạo đức tự giác Đối với Đuy-rinh, đời sống cũng như đời sống đạo đức xuất phát từ một đồ thức bất biến, vĩnh viễn, không có không

gian và thời gian C.Mác, trong Sự khốn cùng của triết học đã xác định “mỗi

nguyên lý đã từng có thế kỷ của nó”, các nguyên lý đạo đức có cơ sở tất yếu

từ trong các nguyên lý kinh tế, chẳng hạn: “Từ khi sở hữu tư nhân về động sản phát triển thì tất cả các xã hội có chế độ sở hữu tư nhân ấy, tất phải có một lời răn chung về đạo đức: không được trộm cắp [51,tr.136], dĩ nhiên trong xã hội mà mọi hình thức tư hữu bị thủ tiêu thì lời răn đe trên trở thành vô nghĩa

Cách nhìn đúng về tính tất yếu của quy luật xã hội và quy luật đạo đức

đã tạo cho quan điểm về tính thời đại, tính nhân loại của đạo đức một sự phê phán đầu tiên những sai lầm trong vấn đề then chốt của quan niệm sinh học về tính loài tự nhiên của đạo đức con người và quan niệm về thứ đạo đức ảo, phi

xã hội của O.Đuy-rinh Dù vậy không nên thổi phồng tính nhân loại chung của đạo đức dẫn đến quan niệm và sự biện minh thiên lệch cho thứ đạo đức trừu tượng, phi lịch sử

Vượt qua Đuy-rinh, Mác, Ănghen đặc biệt chú ý tính giai cấp của đạo đức “cho tới nay xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp”[51, tr.137] Với Lênin: “tất

cả những thứ đạo đức xuất phát ở ngoài nhân loại, ở ngoài các giai cấp, chúng

ta đều bác bỏ Chúng ta nói rằng đây chỉ là sự lừa bịp, dối trá, nhồi sọ công nhân và nông dân để mưu lợi ích riêng cho bọn địa chủ và bọn tư sản Chúng

Trang 23

ta nói rằng, đạo đức của chúng ta hoàn toàn phục tùng lợi ích đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản Đạo đức của chúng ta là từ những lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản mà ra”[43,tr.367] Như vậy, các ông nhấn mạnh rất nhiều đến tính giai cấp như là bản chất của đạo đức nhưng chỉ trong phạm vi xã hội có phân chia và đối lập giai cấp

Về mặt tổ chức xã hội, sự ra đời của giai cấp bắt nguồn từ chế độ chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất là một tiến bộ to lớn của lịch sử Từ khi xã hội phân chia giai cấp, quan hệ giữa con người với con người đã thay đổi về cơ bản

Nói giai cấp không phải là nói đến một tập đoàn người riêng lẻ mà là một hệ thống các tập đoàn người trong một xã hội cụ thể Hệ thống các tập đoàn người đó, tức là các giai cấp, khác nhau về địa vị xã hội (thống trị hay bị trị), về quan hệ đối với tư liệu sản xuất (chiếm hữu hay phụ thuộc), về vai trò trong tổ chức lao động và quản lý sản xuất (lãnh đạo hay bị lãnh đạo), về cách phân chia và phần của cải được hưởng

Lĩnh vực đạo đức không gần lĩnh vực kinh tế như chính trị và pháp luật nhưng những quan hệ đạo đức cũng góp phần nhất định vào việc điều chỉnh quan hệ lợi ích, đạo đức với tư cách một hình thái ý thức xã hội độc lập chỉ ra đời trong xã hội có phân chia giai cấp Mỗi giai cấp bao giờ cũng có địa vị, vai trò khác nhau hoặc đối lập nhau trong đời sống xã hội, do đó lợi ích cơ bản của mỗi giai cấp cũng khác nhau hoặc đối lập nhau, không thể thoả hiệp Bản chất giai cấp của đạo đức là sự phản ánh lợi ích giai cấp, mỗi giai cấp có

hệ thống đạo đức đặc trưng phản ánh lợi ích của giai cấp mình Vì thế khi địa

vị trong quan hệ lợi ích của một giai cấp này với giai cấp khác thay đổi thì đạo đức của nó cũng biến đổi theo

Trong xã hội có giai cấp, đạo đức in đậm dấu ấn giai cấp nhưng đạo đức của giai cấp thống trị luôn luôn là đạo đức thống trị trong xã hội Khi đó,

Trang 24

những thành viên và giai cấp khác phải thừa nhận tính hợp pháp về lợi ích của

nó Nó trở thành cái phổ biến và được củng cố bằng thói quen, phong tục, truyền thống, chuẩn mực và lối sống được định hướng nên tồn tại dai dẳng, lâu bền trong tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội Như vậy đạo đức được các giai

cấp sử dụng như một công cụ bảo vệ lợi ích của mình

Mặt khác, giai cấp thống trị xã hội do thống trị về kinh tế nên cũng thống trị về mặt pháp lý cả trong hệ thống tinh thần xã hội, qua đó nó có đầy

đủ điều kiện và cơ sở vật chất để truyền bá tư tưởng đạo đức của giai cấp mình đến toàn cộng đồng Giai cấp bị trị không có đủ phương tiện và điều kiện cần thiết để đưa đạo đức của mình thành cái phổ biến nên nó luôn tồn tại trong tư thế cái không chính thống

Như vậy, một tình trạng không thể khác, tình trạng tất yếu, của đạo đức

xã hội là đạo đức vừa là một công cụ tinh thần bảo vệ lợi ích của giai cấp

thống trị vừa được giai cấp thống trị bảo hộ

Trong xã hội có đối kháng giai cấp, đạo đức thống trị có nhiệm vụ phục

vụ giai cấp bóc lột song đạo đức cũng phản ánh lợi ích của quần chúng nhân dân lao động đấu tranh chống lại sự bóc lột đó Ý thức đạo đức giúp mỗi giai cấp hiểu được lợi ích của mình và hiểu được cách thức, biện pháp bảo vệ và khẳng định lợi ích đó

Mỗi giai cấp có lợi ích riêng, có hệ thống đạo đức riêng Những hệ thống này sẽ tác động lên nhau, thậm chí triệt tiêu nhau, do vậy có thể sẽ có tác động hoặc tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển và tiến bộ xã hội Nếu đạo đức thống trị bảo vệ lợi ích hẹp hòi, bất bình đẳng của giai cấp thống trị,

nó sẽ kìm hãm xã hội phát triển, trong Chống Đuy-rinh, Ănghen nhận thấy

“Phúc lợi của giai cấp tư sản gây ra cái ác cho các giai cấp khác” Ngược lại, khi một giai cấp kế thừa những tư tưởng đạo đức tiến bộ của nhân loại và thực hiện nó trong hệ thống đạo đức của giai cấp mình, đặc biệt khi đạo đức thống

Trang 25

trị đó đại diện cho lợi ích chính đáng của quần chúng nhân dân lao động thì khi đó nó thúc đẩy sự phát triển cả về mặt vật chất và mặt tinh thần của đời sống xã hội, của cuộc sống con người

Tóm lại, chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh và đem đến tầm quan trọng đặc biệt cho tính giai cấp của đạo đức

Nếu về mặt thời gian, mỗi thời đại kinh tế có loại hình đạo đức đặc trưng điển hình thì về mặt không gian, mỗi loại hình đạo đức đó biểu hiện đặc thù ở nền đạo đức của các dân tộc

Con người hợp thành nhân loại nhưng nhân loại ngày nay chưa vào giai đoạn toàn cầu, Những khác biệt về chủng tộc, sắc tộc, văn hoá, kinh tế của các vùng miền, khu vực vẫn còn Mỗi con người vẫn sống trong cộng đồng quốc gia của mình với tư cách một công dân Dân tộc không chỉ là thể chế chính trị chế ước hành vi cá nhân mà nó còn tồn tại trong mối quan hệ với cá nhân với tư cách là những giá trị truyền thống vừa mang chiều dài của cả lịch

sử cộng đồng vừa phản ánh tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của mỗi người trong cuộc sống hàng ngày Tính dân tộc thể hiện tính đa dạng, phong phú đồng thời cũng nhất quán của đạo đức

Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức đạo đức vừa bị quy định bởi tồn tại xã hội vừa chịu sự tác động qua lại của các hình thái ý thức xã hội khác, tổng thể những nhân tố ấy trong mỗi dân tộc là khác nhau và làm thành bản sắc từng dân tộc Bản sắc dân tộc đó phản ánh trong đạo đức tạo nên dòng chảy truyền thống đạo đức thống nhất và đặc trưng của mỗi dân tộc Những biểu hiện khác biệt trong đời sống đạo đức của các dân tộc thuộc về hiện tượng, quan trọng là tìm ra và phân tích bản chất của hiện tượng đó Các học thuyết đạo đức trước Mác lý giải nguồn gốc sự khác biệt đó từ lập trường duy tâm tôn giáo (từ Chúa) hoặc từ lập trường duy tâm triết học (từ ý thức chung); chỉ đến Mác và Ănghen, với phương pháp luận duy vật biện chứng nói chung,

Trang 26

quan điểm về tính nhân quả tất yếu khách quan nói riêng, vấn đề tính dân tộc của đạo đức được giải quyết đúng đắn Đó là, mỗi phương thức sản xuất, mỗi chế độ chính trị, mỗi mô hình tổ chức xã hội, mỗi điều kiện địa lý tự nhiên,… khác nhau sẽ tạo nên bộ mặt đạo đức dân tộc khác nhau, nếu có sự giao thoa giữa các dân tộc thì xu hướng khách quan chung vẫn là mỗi dân tộc tự tìm lấy

và cải biến thành những cái phù hợp, thích ứng một cách tốt nhất với điều kiện vốn có của dân tộc mình Ănghen đã vạch ra sự biến đổi của cặp khái niệm thiện-ác qua các thời đại và dân tộc bằng tư tưởng “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và

ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau”[51,tr.135]

1.1.2 Quan niệm về tự do và tự do trong đạo đức

“Tự do không phải là sự độc lập tưởng tượng đối với các quy luật của

tự nhiên mà là sự nhận thức được những quy luật đó và ở các khả năng - có được nhờ sự nhận thức này - buộc những quy luật đó tác động một cách có kế hoạch nhằm những mục đích nhất định”[51,tr.163] Đây là tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin về tự do, tự do phải được nhìn nhận trong mối quan

hệ với tất yếu, quan hệ tất yếu và tự do phụ thuộc vào trình độ thực tiễn của hoạt động của con người, tự do là “sản phẩm tất yếu của sự phát triển lịch sử”[51,tr.163]

Từ thời Hi Lạp cổ đại, Êpyquya đã quan niệm tự do là sự giải phóng khỏi mọi tha hoá “Thật là bất hạnh nếu phải sống trong tính tất yếu, nhưng sống trong tính tất yếu không phải là một tất yếu”[dẫn theo 85,tr.299]; nhà triết học cổ điển Đức, Hêghen, đã giải quyết khá rõ vấn đề mối quan hệ tất yếu và tự do, ông cho rằng tự do là nhận thức được cái tất yếu; đến thế kỷ XIX, Ănghen lần đầu tiên đưa ra cách nhìn đúng đắn nhất: tự do không chỉ là nhận thức được tính tất yếu mà cao hơn, chủ yếu hơn là năng lực hành động trên cơ sở nhận thức đúng cái tất yếu đó Không được hiện thực hoá, tự do chỉ

Trang 27

là tự do tư tưởng, tự do ý chí, tức là tự do ở khả năng quyết định hành động chứ không phải trong chính hành động Thông qua hành động được lựa chọn, con người được giải phóng khỏi sự ràng buộc vào tính tất yếu Như thế, tự do không phải là tuyệt đối, con người không thể tự do sử dụng tự do, “tự do, nếu không bị hạn chế, sẽ tự thủ tiêu bản thân mình” Tự do luôn là xác định Đó là

“nghịch lý của tự do” nhưng là nghịch lý hợp lý

Trong vấn đề tự do, tư tưởng về vai trò của thực tiễn có giá trị to lớn,

nó cũng góp phần tạo nên giá trị của cuộc cách mạng mà chủ nghĩa Lênin đã tạo ra trong lịch sử nhận thức nhân loại, tất nhiên “thực tiễn” của Mác không khuôn gói, giới hạn trong vấn đề hoạt động đạo đức và hoạt động chính trị của con người như Arixtốt hay I.Kant đã quan niệm Thông qua hoạt động thực tiễn, con người không chỉ giải thích mà còn cải tạo tự nhiên và xã hội nhằm chiếm lĩnh và mở rộng tự do Công cuộc cải tạo thế giới trên tinh thần nhận thức đúng đắn về quy luật tất yếu khách quan sẽ tạo ra sự tự do cho con người trong hiện thực, nhiệm vụ này không đơn giản như Êpyquya tưởng

Mác-“Khắp nơi mở ra những con đường đi tới tự do, những con đường ngắn dễ dàng và nhiều vô số”[dẫn theo85,tr.299], quan điểm này của Êpyquya hợp lý

ở chỗ nó khẳng định vai trò chủ thể của con người trong hoạt động của mình

Sản xuất vật chất là hành động quan trọng nhất trong hoạt động thực tiễn, như vậy, cái tất yếu khách quan là điều kiện cần và lao động là điều kiện

đủ để có tự do cho con người Tất yếu và tự do trong lao động có liên quan đến vấn đề lao động cần thiết và lao động thặng dư Để hiểu điều này cần quay trở lại quan điểm của Arixtôt về tính tất yếu: thứ nhất, tất yếu là cái gì gắn với những nhu cầu mà nếu không có nó thì con người không thể sống, tức

là những nhu cầu gắn với mục đích tối thiểu: sự sống; thứ hai, tất yếu là cái ép buộc và cưỡng bức, có quan hệ tới việc sử dụng sức mạnh Aritôt lại hiểu nghĩa thứ hai của tất yếu như cái tất yếu bên ngoài, tức là sự áp đặt đến từ đối

Trang 28

phương Từ đó dẫn ông đến việc lẫn lộn khi phân tích về lao động thặng dư, lao động thặng dư là không tất yếu đối với người lao động theo nghĩa thứ nhất nhưng là tất yếu theo nghĩa thứ hai, ngược lại đối với kẻ bóc lột, lao động thặng dư là tất yếu theo nghĩa thứ nhất nhưng không tất yếu theo nghĩa thứ hai Sự luẩn quẩn này vô hình chung liên quan đến vấn đề tính giai cấp khi xem xét lao động tất yếu Còn với Mác, ông hiểu rằng những đòi hỏi tối thiểu của cuộc sống trên quy mô toàn nhân loại là một tất yếu, do đó tự nó, sản xuất

đã mang tính chất tất yếu theo nghĩa thứ hai, tức là bắt buộc phải sản xuất, bắt buộc phải lao động, thậm chí, trong thời đại tư bản chủ nghĩa, lao động thặng

dư là cần thiết bởi nó mở ra khả năng lịch sử cho sự vượt qua phương thức sản xuất này Vì vậy, khi Mác nói rằng: “Trên thực tế vương quốc của tự do chỉ bắt đầu ở nơi nào có sự chấm dứt lao động do sự cần thiết và do tính chất bên ngoài, vì thế do bản chất của sự vật, vương quốc của tự do, nằm bên kia lĩnh vực sản xuất vật chất, hiểu theo đúng nghĩa của danh từ này” [53,tr.544-545] thì không có nghĩa là tự do là sự huỷ bỏ cả bản thân lao động cần thiết,

mà tự do không phải là không hoạt động, nó là thời gian hoạt động và tình trạng hoạt động không có sự ép buộc lao động, tức là lao động tự bản thân nó trở thành nhu cầu đầu tiên của cuộc sống, lao động không lấn chiếm vào phần của sự nghỉ ngơi, tự do và hạnh phúc như AdamSmith hiểu

Trong Hệ tư tưởng Đức, Mác nhắc lại hai quan niệm về tự do trong lịch

sử, đó là, cho đến nay, tự do đã được các nhà triết học định nghĩa dưới hai mặt: một mặt, các nhà duy vật định nghĩa như sức mạnh, như sự làm chủ những hoàn cảnh cuộc sống của một cá nhân; mặt khác tất cả các nhà duy tâm, đặc biệt là người Đức, định nghĩa như sự tự quyết định, sự tách rời khỏi thế giới thực, như tự do thuần tuý tưởng tượng của tinh thần [58,tr.331-332] Mác chỉ ra vai trò của những phương tiện khách quan mà nếu không có nó thì

tự do vẫn thuần tuý là tự do tư tưởng: Không thể thực hiện được một sự giải

Trang 29

phóng thực sự nào nếu không thực hiện sự giải phóng ấy trong thế giới hiện thực và bằng những phương tiện hiện thực, không thể xoá bỏ chế độ nô lệ nếu không có máy hơi nước và máy dệt, không thể xoá bỏ chế độ nông nô, nếu không cải tiến canh tác Tự do cho con người tỷ lệ thuận với những phương tiện vật chất mà họ có được, đó là những phương tiện mang ý nghĩa tất yếu Đối với Mác, tự do là ở trong hành động mà nhờ đó chúng ta thực hiện sự giải phóng chính mình và nó luôn liên quan đến các phương tiện thực tế mà chúng

sử cũng chứa đựng trong bản thân nó “cái có thể” để khả năng hành động chủ quan của con người đạt tư do là một khả năng hiện thực Vậy nên, tự do - xét

về mặt hình thức - chỉ có được khi có những phương tiện khách quan cần thiết, mặt khác, xét từ phía nội dung, tự do - tự nó đã chứa đựng khả năng khách quan để có thể trở thành hiện thực đối với con người Chính vì thế,

“nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những vấn đề mà mình có thể giải quyết được vì khi xem xét kỹ hơn, bao giờ con người cũng thấy rằng bản thân vấn đề chỉ nảy ra khi những điều kiện vật chất để giải quyết vấn đề đó đã

có hay ít ra cũng đang được hình thành”[58,tr.270] Ở đây giới hạn của tự do được biểu hiện qua tình trạng “Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy”[46, tr.55]

Trang 30

Ngoài ra, bên cạnh điều kiện khách quan để hiện thực hoá tự do như sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật tạo nên lực lượng sản xuất tiên tiến đem đến nhiều hơn khả năng làm chủ giới tự nhiên, Mác còn chỉ ra điều kiện chủ quan của nó chính là sự lớn mạnh của giai cấp công nhân trong quá trình sản xuất về trình độ tổ chức và trình độ giác ngộ

Tóm lại, trong chủ nghĩa Mác-Lênin, tự do có được trong hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới, tự do vừa là mục đích, vừa tồn tại trong quá trình thực hiện mục đích, lịch sử luôn chứa đựng khả năng để con người có thể dựa vào các phương tiện khách quan hiện có để giành lấy tự do Tự do còn có nghĩa là các quyền tự do của con người trong xã hội Song, tư tưởng bao trùm, lớn nhất vẫn là tư tưởng về tự do dưới góc độ triết học: Tự do là năng lực hành động trên cơ sở nhận thức đúng cái tất yếu

Tự do cho con người được đem lại trong nhiều lĩnh vực, trong đó có đạo đức, tự do trong đạo đức là tự do được mở rộng sâu sắc Đạo đức ra đời

từ nhu cầu khách quan, là một tất yếu của lịch sử nhưng bản thân đạo đức cũng là tự do bởi đạo đức là một biểu hiện, một hình thức của trình độ nhân tính của con người Đạo đức không chỉ là hệ thống các quy tắc ứng xử, cao hơn thế, đạo đức gắn liền với bản tính con người, là niềm trăn trở nội tâm trước số phận đồng loại, là thuộc tính của con người Đạo đức là cuộc sống tốt, đẹp, xứng đáng, có ý nghĩa Theo nghĩa rộng này, đạo đức - bản thân nó thực sự đã là tự do

Chúng ta đã thừa nhận quan điểm của chủ nghĩa Mác cho rằng bản chất con người là toàn bộ các mối quan hệ xã hội, quan hệ giữa xã hội và cá nhân thực chất là quan hệ giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân, mối quan hệ này diễn ra theo xu hướng: trong hành vi của mình, cá nhân bị những quan hệ xã hội quy định, cá nhân phải tính đến sự chi phối của những điều kiện xã hội khi hành động Như vậy, rõ ràng là, “Xã hội không phải gồm các cá nhân, mà

Trang 31

xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối với nhau”[57,tr.355], điều đó đúng kể cả khi chỉ xét trong phạm vi của tác động của quy luật lượng - chất, theo đó, các cá nhân về mặt khách quan phải

có lợi ích chung, về mặt chủ quan phải được tổ chức mới trở thành xã hội, thành cá nhân của xã hội Vậy, trong sự ràng buộc chặt chẽ đó, đâu là tự do cho cá nhân? Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là Cá nhân luận phương Tây, cũng không bao giờ xem nhẹ vấn đề cá nhân, thậm chí các ông còn cho rằng “Xã hội không thể nào giải phóng cho mình được nếu không giải phóng cho mỗi cá nhân riêng biệt”[51,tr.406] và thay thế cho xã hội đối kháng giai cấp “sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”[47,tr.628], đó là xã hội

lý tưởng của cá nhân

Quyết định luận duy vật của triết học Mác-Lênin đã đưa đạo đức chân chính trở thành tự do chân chính Đạo đức chân chính là biến cái tất yếu khách quan của lịch sử thành cái tất yếu chủ quan của hoạt động vì con người, tất yếu chủ quan nghĩa là con người thấy được sự cần thiết của hành động của mình đối với xã hội, đây là tự do Vì vậy, tự do trong lĩnh vực đạo đức chủ

yếu được xem xét dưới góc độ con người cần có ý thức và hành động như thế

nào cho phù hợp với xu hướng phát triển chung để có thể đạt tới hạnh phúc chân chính, hài hoà lợi ích chung - riêng Đồng thời sự phân tích vấn đề trong

luận văn này dựa trên tư tưởng của Mác và Ănghen cho rằng nếu cá nhân nhận thức và hành động phù hợp với quy luật phát triển xã hội cũng như với

xu hướng vận động khách quan của đạo đức, tự nguyện gắn đặt bản thân trong phong trào chung tiến bộ, trong sự đấu tranh vì thắng lợi của kiểu đạo đức tiên tiến thì khi đó cá nhân là người tự do

Đạo đức, về mặt ý thức xã hội, là toàn bộ những quan điểm và hệ thống những quy tắc, chuẩn mực phù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang

Trang 32

tồn tại Đến lượt mình, những quan niệm này có tác động không nhỏ tới nhân cách, tức là tới ý thức và hành vi đạo đức của cá nhân Tuy nhiên, mỗi hành vi đạo đức bao giờ cũng là bước kế tiếp của một ý thức đạo đức xác định của cá nhân Ý thức đạo đức nói lên sự suy nghĩ và thái độ nhận thức của cá nhân trước hiện thực đạo đức xã hội và đặc biệt, của chính bản thân anh ta Ý thức đạo đức cá nhân vừa hướng đến các giá trị chuẩn mực chung vừa hướng vào chủ thể, từ đó giúp cá nhân tự giác điều chỉnh hành vi, thực hiện nghĩa vụ đạo đức một cách tự nguyện và tận tâm, đem lại lợi ích xã hội đồng thời góp phần hình thành những giá trị đạo đức cao cả cho cuộc sống Với ý thức đạo đức,

cá nhân xác lập bước đầu tiên tư cách chủ thể đạo đức của mình

Ý thức đạo đức nói chung bao gồm tri thức, tức là nhận thức đạo đức, tình cảm đạo đức và ý chí đạo đức Nhận thức đạo đức giúp con người hiểu, thậm chí hiểu thấu đáo ý nghĩa đạo đức (tốt, xấu, thiện, ác, nghĩa vụ, trách nhiệm,…) của hành động của mình cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai; tình cảm đạo đức sẽ xây dựng trong cá nhân lòng thiện tâm, thiện ý, yêu cái tốt, ghét cái xấu và một ý chí mạnh mẽ sẽ giúp cá nhân có nghị lực nội tâm sâu sắc để hành động

Vì vậy, nói đến tự do trong ý thức đạo đức là nói đến khả năng và sự lựa chọn tự do những giá trị đạo đức tiến bộ, hợp quy luật Cụ thể hơn, đó là

sự lựa chọn hợp lý lý tưởng, mục đích, ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân trong xã hội bởi vì con người được tự do nhất về mặt đạo đức khi anh ta ý thức được một cách tự giác cao độ vận mệnh của bản thân là sự gắn chặt không tách rời vận mệnh của cộng đồng giai cấp, của dân tộc, tức là của lợi ích chung (không có cá nhân đứng ngoài xã hội của anh ta), “Trong hành vi của mình, cá nhân bị những quan hệ xã hội quyết định Nhưng trong khuôn khổ những quan hệ ấy, cá nhân có thể hành động hoặc là trái với những nhu cầu ấy, nó có thể đứng về phía hoặc là những lực lượng xã hội tiến bộ, hoặc là

Trang 33

những lực lượng lỗi thời, phản động Nó “được tự do” lựa chọn, nhưng sự lựa chọn của nó sẽ chỉ thực sự tự do khi nó dựa vào sự nhận thức việc tất yếu khách quan phải hành động bằng cách này chứ không phải bằng cách khác Không có cơ sở nào khác để lựa chọn đúng đắn hành vi, để đánh giá đúng đắn hành vi… ngoài căn cứ của tính tất nhiên của hành vi”[Xem 81, tr.469-470]

Trở lại thời kỳ lịch sử công xã nguyên thuỷ, ý thức đạo đức của cá nhân tồn tại như thế nào và có thể nói đến tự do ở đây không? Ý thức đạo đức là lĩnh vực sinh hoạt tinh thần rất cơ bản của con người nhưng trong hình thái xã hội đầu tiên, ý thức đạo đức của cá nhân chưa hiện diện bởi vì chính cá nhân cũng chỉ như “bóng chớp” trong tập thể, con người “không hình dung mình là những cá nhân riêng biệt, mà chỉ hành động xem như những mảnh đơn thuần

lệ thuộc vào một cái “Chúng ta”[33,tr.21-22] Cá nhân luận gọi đó là mô hình chủ toàn luận, đặt sự thống trị tuyệt đối của cộng đồng bộ lạc lên hàng đầu Tại xã hội này, cá nhân hoà tan trong tập thể, ý thức đạo đức hoà tan trong một ý thức chung Như vậy, với những cá thể người nguyên thuỷ, tự do thì có

- mặc dù đây là tự do ở chừng mực thấp, thứ tự do không phải do đấu tranh

mà có - nhưng tự do ở tầm nhận thức một cách độc lập và chủ động về đạo đức thì chưa có

Song song với trình độ phát triển của thực tiễn, tư duy con người ngày càng hoàn thiện, nhận thức ngày càng tinh vi, không chỉ là nhận thức về giới

tự nhiên xung quanh mà quan trọng hơn là sự nhận thức về vấn đề lợi ích và thân phận chính trị của con người trong xã hội Trong xã hội phong kiến, sự đối kháng giai cấp kéo theo việc quan điểm đạo đức của giai cấp phong kiến

và quan điểm đạo đức của nông dân về thực chất vẫn đối lập nhau Tuy nhiên,

sự đối lập đó đã có thay đổi nhất định, giai cấp phong kiến có những thoả hiệp bước đầu, những mâu thuẫn trái ngược và những sự khác biệt trong tư tưởng đạo đức của hai giai cấp đã hẹp lại, đồng thời những yếu tố giống nhau được

Trang 34

mở rộng; nhưng điều đó không làm giảm nhẹ xung đột giai cấp mà trái lại, nó làm cho cuộc đấu tranh giai cấp trên thực tế ngày một gay gắt hơn bởi vì người nông dân một mặt ý thức được tình trạng về quyền của mình phải được

tự do hơn nữa, mặt khác, chính do có quyền tự do lớn hơn đã kích thích những người nông dân bộc lộ nhiều năng lực và nghị lực hơn trong cuộc đấu tranh với giai cấp phong kiến Minh hoạ trên cho thấy, cùng với sự trưởng thành về nhận thức đạo đức, tức là sự hoàn thiện hơn của ý thức về thân phận của con người, về ý nghĩa của cuộc sống bình đẳng và hạnh phúc, cuộc đấu tranh vì tự do cho bản thân và cho toàn xã hội của giai cấp lao động ngày nay càng có cơ sở vững chắc Như vậy, quan hệ giữa tự do của con người và trình

độ nhận thức đạo đức của anh ta là quan hệ thuận chiều “tự do của ý chí không phải là cái gì khác hơn là năng lực quyết định một khi đã hiểu rõ sự việc Cho nên, sự phán đoán của một người về một vấn đề nhất định càng được tự do bao nhiêu thì sự tất yếu quyết định nội dung sự phán đoán đó càng lớn bấy nhiêu; còn sự trù trừ bất quyết, do không hiểu mà sinh ra ngoài thì có

vẻ như là tha hồ tuỳ ý chọn lựa một trong nhiều khả năng quyết định khác nhau và trái ngược nhau, song chính thì chỉ là biểu hiện của sự không tự do,

sự khuất phục trước đối tượng mà lẽ ra nó phải khuất phục Vì vậy tự do là ở chỗ chúng ta có thể chi phối được chính bản thân chúng ta và chi phối được tự nhiên bên ngoài, căn cứ vào sự nhận thức những điều tất yếu của tự nhiên Sự nhận thức càng đúng đắn, càng sâu sắc, càng kiên quyết thì thắng lợi của tự

do càng to lớn; ngược lại, tình trạng mơ hồ về quyền và lợi của mình sẽ khiến giai cấp bị bóc lột gặp khó khăn trong việc giành tự do

Tóm lại, khi cá nhân có một nhận thức đúng đắn về giá trị cuộc sống, một tình cảm dồi dào và tích cực, kết hợp với một bản lĩnh và nghị lực phi thường để thực hiện lý tưởng sống đã chọn lựa thì khi đó, ý thức đạo đức này

là tự do Theo Mác, Ănghen, Lênin, đó chính là, phải là và chỉ có thể là ý thức

Trang 35

hướng đến lý tưởng cộng sản chủ nghĩa Chính vì vậy, tự do đạo đức không dừng lại ở ý thức đạo đức mà còn được thể hiện ra qua hoạt động thực tế của

con người

Coi con người là chủ thể hoạt động, I.Kant đã đề cao, thậm chí ông cho rằng hoạt động thực tiễn của con người chính là hoạt động đạo đức và ở thế giới Vật tự nó, con người hoàn toàn tự do, ở thế giới hiện tượng thì tự do của con người chỉ là tương đối

Chủ nghĩa khắc kỷ lấy phạm trù “tự do bên trong” làm phạm trù trung tâm trong đạo đức học của mình Theo họ, đạo đức nằm trong sự hoàn thiện Nếu con người chưa thể làm cho thế giới này hoàn thiện thì vẫn có thể tìm được một thế giới hoàn thiện trong chính bản thân mình Có thể không tìm được tự do bên ngoài nhưng tự do bên trong thì có thể đạt được bằng sự kìm nén dục vọng, bằng sự khước từ những quan hệ bên ngoài làm con người mất

tự do như giàu sang, quyền lực, danh vọng, … Đạt tới tự do bên trong là đạt được sự hoàn thiện đạo đức

Quyết định luận mácxít xác định tính tất yếu của những hành vi đạo đức, bác bỏ ý kiến cho rằng có ý chí tự do thuần tuý Lý thuyết này khẳng định chuỗi nhân quả khách quan, lôgíc và cấu trúc của hành vi đạo đức cá nhân là từ tồn tại xã hội của cá nhân đến ý thức đạo đức cá nhân, rồi đến hành

vi đạo đức của anh ta Dù vậy, sự quy định nhân quả chỉ vạch ra chiều hướng chung và một số giới hạn hoạt động của con người, còn trong cái giới hạn đã được quy định đó, cá nhân có thể tự do lựa chọn Quan điểm này còn xác định

rõ “Hoạt động của con người là hòn đá thử vàng của tính nhân quả”[51,tr.719] Quyết định luận duy vật không phủ nhận tự do đạo đức, nó thừa nhận, về bản chất, hành vi đạo đức luôn là hành vi tự nguyện, tự giác

Mặt hoạt động của đạo đức đã được coi trọng từ sớm Arixtốt viết trong

tác phẩm Đạo đức học của mình rằng: con người sẽ trở nên công bằng khi

Trang 36

sáng tạo những việc làm công bằng, con người sẽ trở nên ôn hoà nếu hành động với sự ôn hoà, còn nếu không có hoạt động tương tự thì không ai có thể trở thành người tốt được Đặc trưng của đạo đức, cái phân biệt đạo đức với những lĩnh vực xã hội khác chính là tính tinh thần - thực tiễn trong phương thức chiếm lĩnh thế giới của đạo đức Sự chiếm lĩnh thế giới bằng tinh thần (khoa học, nhận thức, tư tưởng) có vị trí quan trọng song chưa đủ để có thể làm thay đổi thế giới Con người tồn tại thông qua sự chiếm lĩnh thế giới về mặt hoạt động Trong lĩnh vực đạo đức, nếu nhận thức đạo đức không được hiện thực hoá bằng hành động đạo đức thì nhận thức đạo đức đó là vô giá trị Hành động đạo đức là cơ sở tạo nên đời sống đạo đức trong khi đời sống đạo đức không bao giờ hiện diện trong cuộc sống sinh vật

Khái niệm hành vi đạo đức có liên quan đến các khái niệm gần gũi như hoạt động đạo đức, quan hệ đạo đức, thực tiễn đạo đức, những khái niệm này đều bao hàm một ý nghĩa chung về sự tham gia của chủ thể hành động (nó tương đối khác khái niệm “hiện thực đạo đức” thường nghiêng về ý nghĩa khách quan của trạng thái đạo đức, dĩ nhiên hai nhóm khái niệm này đều phản ánh mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố thành phần trong nền đạo đức xã hội) Hoạt động đạo đức là sự đáp ứng những đòi hòi thực tế về mặt đạo đức của xã hội đối với con người, nó đồng thời làm nảy sinh các mối quan hệ đạo đức và tạo ra thực tiễn đạo đức Thực tiễn đạo đức được biểu hiện một cách sinh động và cụ thể ở những cử chỉ nghĩa hiệp, những hành động tương trợ, sự giúp đỡ, … đang diễn ra liên tục trong cuộc sống Vì vậy, nếu thực tiễn đạo đức là hoạt động đạo đức của con người thì hành vi đạo đức thường được hiểu

là hành động đạo đức cá nhân mang động cơ và mục đích trực tiếp, có thể nói hành vi đạo đức thuộc về cái riêng, hoạt động và thực tiễn đạo đức thuộc về cái chung, cái chung sẽ là trống rỗng và trừu tượng nếu không có cái riêng, quan hệ này xác lập cho hành vi đạo đức của cá nhân một giá trị xã hội xác

Trang 37

định Hành vi đạo đức tự do là vấn đề quan trọng trong quan niệm mácxit về đạo đức

Về bản chất, hành vi đạo đức là tự nguyện, tự giác, bị ép buộc, miễn cưỡng làm điều thiện thì điều thiện ấy không còn ý nghĩa đạo đức, đó là thuộc tính chung của đạo đức, là đặc trưng riêng của đạo đức so với các phương thức và phương tiện điều chỉnh hành vi khác Đối với cá nhân, tình hình có khác, không phải mọi hành vi tự nguyện đều là hành vi đạo đức, đều là tự do bởi vì lăng kính ý thức chủ quan của cá nhân không chỉ gồm ý thức đạo đức, còn có những hình thái ý thức khác quy định sự tự nguyện khi thực hiện hành

vi Chìa khoá giải mã vấn đề này, Mác, Ănghen đã cung cấp, đó là tinh thần triết học Mác-Lênin về quan hệ lợi ích (không ít ý kiến cho rằng quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội là vấn đề cơ bản của đạo đức và đạo đức học) Theo đó, đạo đức là sự ưu tiên lợi ích xã hội, lợi ích chung Một kết luận có thể rút ra ở đây là, tự do trong hành vi đạo đức cá nhân nên được quy về hai

đặc trưng: tính tự nguyện nội tâm và tính lợi ích, hai đặc trưng này bảo đảm

cho hành vi đạo đức sự tự do chân chính và cao đẹp

Chúng ta thường nói, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là những quan niệm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức; chúng ta cũng thường hiểu, đạo đức không thể thiếu một bộ phận quan trọng của nó là thực tiễn hoạt động đạo đức Sự thừa nhận đạo đức vừa là một hình thái ý thức vừa như một hình thái thực tiễn không gì mâu thuẫn bởi đã xuất phát từ hai chuẩn đánh giá khác nhau, nhìn nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội nghĩa là trong quan hệ quy định với tồn tại xã hội, đạo đức là tính thứ hai; nhìn đạo đức bao gồm cả ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức là đặt dưới góc độ cấu trúc nội tại của đạo đức Đặt ra vấn đề này có giá trị ở chỗ nó khác về mặt nhận thức luận với quan điểm của chủ nghĩa hành vi đã đồng nhất hoá ý thức với hành vi

Trang 38

Hành vi đạo đức không thuần là hành động - động tác, hành động - động tác xuất phát từ nguyên nhân mù quáng, cơ giới hoặc nguyên nhân cảm giác - bản năng, hành vi đạo đức dựa trên cơ sở là nguyên nhân tự giác và có mục đích, nghĩa là có sự lựa chọn động cơ và xác định ý nghĩa của hành động trước khi hành động xảy ra Hành động theo sự thôi thúc của hệ thống những nguyên nhân là vương quốc của tất yếu, theo sự thôi thúc của hệ thống những mục đích là vương quốc của tự do, nó chỉ có ở con người Theo đó hành vi đạo đức là hành động của phẩm hạnh cá nhân, nó biểu hiện tính tự nguyện, tự giác bên trong ở các yếu tố động cơ và ý chí Tuy nhiên, động cơ và ý chí của hành động đạo đức không bao giờ là tư tưởng thuần tuý, khi cá nhân xây dựng động cơ và ý chí thì đã huy động tất cả năng lực suy xét đến giá trị hành vi, hành vi chỉ có giá trị đạo đức trong chừng mực nó quyết định bởi bản chất xã hội, nghĩa là được quyết định từ sự thắng thế của lợi ích chung Hành vi đạo đức chỉ là tự do khi nó có động cơ làm việc tốt một cách vô tư xuất phát từ mong muốn tăng cường những điều có ích cho xã hội và được thúc đẩy bằng

ý chí tự nguyện cao độ: phải làm hành động đó

Hành vi đạo đức tự do phải đạt được hiệu quả của hành động Hiệu quả không chỉ nằm ở kết quả Kết quả thường là cái bề ngoài, có thể thực chứng Kết quả không gắn với động cơ còn hiệu quả có liên quan đến động cơ, mục đích, phương tiện,… của hành động Một hành vi đem lại kết quả tốt chưa chắc đã là hành vi thiện và ngược lại Động cơ và hiệu quả quan hệ chặt chẽ với nhau, nhấn mạnh động cơ là duy tâm, tuyệt đối hoá hiệu quả là duy vật máy móc Bất kỳ hành vi bình thường nào cũng đều có hiệu quả dự định nhất định Hiệu quả vừa là nhân tố tác động vừa là tiêu chuẩn kiểm nghiệm động

Vấn đề hành vi đạo đức có liên quan đến vấn đề đạo đức giả Lênin phân biệt hai loại đạo đức giả: đạo đức giả cá nhân, nghĩa là cá nhân đã che

Trang 39

giấu một cách có ý thức hành vi thiếu đạo đức của mình bằng lớp vỏ đạo đức

đã được thừa nhận chung; đạo đức giả chính trị nói về đạo đức giả xuất phát trực tiếp từ tình hình khách quan của giai cấp buộc phải đạo đức giả (nó gần giống yếu tố thủ đoạn chính trị, thuật chính trị) Trong chính trị cần phải phân biệt các hiện tượng từ quan điểm quần chúng chứ không phải từ quan điểm cá nhân Như vậy, đạo đức giả không được khuyến khích về mặt đạo đức, nhưng

về mặt lợi ích cho số đông người được hưởng do nó đem lại thì đạo đức giả trong một số trường hợp cũng là cần thiết Trong xã hội cộng sản chủ nghĩa, đạo đức giả không tồn tại, mọi sự biện minh cho thói đạo đức giả cũng không được chấp nhận Đạo đức giả được coi là một nội dung khi bàn đến tự do trong hành vi đạo đức ở chỗ không bao giờ cá nhân được tự do khi họ giả dối

1.2 Quan niệm về mối quan hệ tất yếu và tự do trong đạo đức

1.2.1 Quan hệ giữa quy luật phát triển của đạo đức với hoạt động của con người trong lĩnh vực đạo đức

Nếu tất yếu và ngẫu nhiên là những mối liên hệ tồn tại cả trong thế giới vật chất và trong xã hội thì tất yếu và tự do biểu hiện cho mối quan hệ giữa thế giới và con người, cụ thể là giữa các quy luật khách quan của cả tự nhiên

và xã hội với hoạt động của con người

Lịch sử triết học đã chứa đựng trong nó các bước tiến của quan niệm về mối quan hệ này trong tư duy nhân loại Lốckơ cho rằng tự do là được làm tất

cả mọi cái mong muốn mà không gặp phải trở ngại nào Hêghen có công lớn khi cho rằng tự do là nhận thức được tất yếu Đến Ănghen, ông khẳng định chân lý: tự do là năng lực hành động trên cơ sở nhận thức đúng cái tất yếu Như vậy, tự do - đầu tiên được coi như cái bản năng của con người, không tính đến yếu tố xã hội; rồi tự do được rút ra từ cái đối lập với nó; cuối cùng, từ

Trang 40

tất yếu và con người không vượt lên trên cái tất yếu đó thì không có cái gì được coi là tự do của nhân loại cả Con người nhận thức các quy luật khách quan càng sâu sắc thì hoạt động của họ càng tự do

Như vậy, quan điểm duy vật biện chứng thừa nhận tất yếu khách quan

là tính thứ nhất, ý thức con người là cái thứ hai Điều đó nghĩa là, sự phản

ánh cái tất yếu trong ý thức con người có tính chất tiệm tiến, gần đúng, không bao giờ là hoàn thiện, nó mang tính lịch sử Các quy luật khách quan tất yếu

là cái tồn tại vĩnh viễn nhưng trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, nó lại mang nội dung khác nhau; tự do, do đó, cũng vậy

Hoạt động thực tiễn là phương thức nhận thức tất yếu Nếu con người không quan hệ với nhau và tác động vào tự nhiên thì người ta không thể có hiểu biết về các quy luật của nó, từ đó không thể định hướng được sự phát triển xã hội một cách hợp lý nhằm giành lấy tự do cao nhất trong chừng mực

có thể Vậy là, ở một khía cạnh nào đó, chính hoạt động của con người tác động đến đâu sẽ làm bộc lộ tính tất yếu khách quan của tự nhiên và xã hội đến

đó, nghĩa là cho dù tất yếu là tính thứ nhất, ý thức con người là cái thứ hai thì cũng không bao giờ tất yếu là cái quyết định trong cuộc sống con người mà ngược lại chính tự do là cái chi phối tất yếu một khi tất yếu không còn là tất yếu "mù quáng", tức là tất yếu chưa được nhận thức, bởi vì con người chỉ đặt

ra cho mình những nhiệm vụ mà trong đó đã chứa đựng khả năng và điều kiện

để có thể giải quyết được nhiệm vụ ấy

Đạo đức là một lĩnh vực xã hội nên đạo đức không bao giờ đứng độc lập tuyệt đối Nó có lịch sử của mình Trong lịch sử ấy, người ta thấy xuất hiện vấn đề quan hệ tất yếu và tự do Đạo đức chịu sự quyết định của điều kiện kinh tế - xã hội mà nó tồn tại, mặt khác khi thực hiện các giá trị đạo đức, người ta có tự do ý chí riêng, trình độ phát triển kinh tế - xã hội chỉ vạch ra

Ngày đăng: 06/04/2020, 16:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w