1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở một số địa phương hà nội trong giai đoạn hiện nay

175 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như người Nhật Bản đã rất tích cực trong việc khôi phục vị trí của Thần đạo, một tôn giáo được sùng bái ở Nhật, hay như Trung Quốc cũng nỗ lực để tăng cường vị trí của đạo Khổng, còn Việ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ MẾN

PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ TÍCH CỰC CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ CÖNG TỔ TIÊN Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Nguyễn Đức Lữ

Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2009

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mến

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu 1

Chương 1 Thờ cúng Tổ tiên và vai trò của Thờ cúng Tổ tiên trong đời

sống tinh thần của người Việt Nam 7

1.1 KHÁI NIỆM TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÖNG TỔ TIÊN 7

1.1.1 KHÁI NIỆM TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG VÀ MÊ TÍN DỊ ĐOAN 7

1.1.2 Tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên 14

1.1.3 Các loại hình tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở Việt Nam 24

1.2 Vai trò của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở nước 39

1.2.1 Vai trò văn hoá - đạo đức 39

1.2.2 Vai trò chính trị - xã hội 44

Chương 2 Phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở một số địa phương Hà Nội hiện nay - Thực trạng và vấn đề đặt ra 51

2.1 Thực trạng Thờ cúng Tổ tiên 51

2.1.1 Thực trạng Thờ cúng Tổ tiên trong gia đình, họ tộc ở một số địa phương của Hà Nội hiện nay 51

2.1.2 Thực trạng thờ Thành hoàng ở một số địa phương Hà Nội (Hà Tây cũ) 70

2.1.3 Thực trạng thờ Quốc tổ Hùng Vương một số địa phương Hà Nội (Hà Tây cũ) 74

2.2 Xu hướng biến động và những vấn đề đặt ra đối với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở một số địa phương Hà Nội hiện nay 79

2.2.1 Xu hướng biến động của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở một số địa phương Hà Nội hiện nay 79

2.2.2 Những vấn đề đặt ra 84

Chương 3 Phương hướng, giải pháp, kiến nghị cơ bản nhằm phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở một số địa phương Hà Nội hiện nay 92

3.1 Phương hướng cơ bản nhằm phát huy mặt tích cực của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở một số địa phương Hà Nội 92

Trang 4

3.2 Một số giải pháp và kiến nghị cơ bản nhằm hạn chế mặt tiêu cực và phát huy mặt tích

cực của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở một số địa phương Hà Nội 95

3.2.1 Một số giải pháp cơ bản 95

3.2.2 Một số kiến nghị 102

Kết luận 104

Danh mục tài liệu tham khảo 106 Phụ lục 113

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thờ cúng Tổ tiên là một hiện tượng xã hội đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhân loại và đã tồn tại ở nhiều dân tộc trên thế giới Cho đến ngày nay, tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên vẫn luôn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhiều tộc người Tuy nhiên, sự nhìn nhận đánh giá vai trò

và ý nghĩa của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên trong từng giai đoạn, từng thời

kỳ lịch sử ở mỗi quốc gia lại không giống nhau Trước xu hướng toàn cầu hoá hiện nay, các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng đang ngày càng phát triển mạnh

mẽ Đặc biệt là sự xâm nhập của các tôn giáo ngoại sinh, hay nói đúng hơn là hiện tượng "dân tộc hoá tôn giáo", đang là mối lo ngại của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Trước bối cảnh đó, nhiều quốc gia, dân tộc đã có những động thái rất tích cực để chống lại hiện tượng "xâm lăng tôn giáo" đó bằng cách chấn hưng tín ngưỡng văn hoá dân gian, khôi phục lại các giá trị truyền thống đã từng bị mai một hoặc có thời kỳ người ta thờ ơ, xem nhẹ nó Như người Nhật Bản đã rất tích cực trong việc khôi phục vị trí của Thần đạo, một tôn giáo được sùng bái ở Nhật, hay như Trung Quốc cũng nỗ lực để tăng cường vị trí của đạo Khổng, còn Việt Nam lại rất chú ý đến tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên trong dòng tộc, làng xã và phạm vi cả nước Vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng dân gian, đặc biệt là tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên là một việc làm rất cấp thiết hiện nay Những việc làm thiết thực đó sẽ góp phần làm tăng sức đề kháng cho văn hoá dân tộc

Đó cũng là vấn đề được Đảng ta đặc biệt quan tâm trong bối cảnh chung hiện nay Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá VIII), đưa ra quan điểm chỉ đạo cơ bản là: "Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội" và "Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng

Trang 6

là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" [17, tr.55] Theo tinh thần của Nghị quyết 35/NQ- TW của Bộ Chính trị về tổ chức kỉ niệm các ngày lễ lớn trong năm Đảng và Nhà nước ta đã quyết định từ năm 2005 ngày 10/3, ngày giỗ tổ Hùng Vương được coi là quốc lễ của dân tộc và việc tổ chức các

lễ hội Thành hoàng làng cũng được khôi phục

Một nguyên nhân nữa, trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống

Mỹ chúng ta đánh đổi, hy sinh rất nhiều, nhiều anh em, đồng chí đồng đội của chúng ta đã ngã xuống, nhiều người thân yêu ruột thịt của chúng ta đã không trở về Sự mất mát, hy sinh đó không thể nào bù đắp được vì vậy người ta nghĩ nhiều đến vấn đề tâm linh và tìm đến tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên với mong muốn khoả lấp được sự cô đơn trống trải trong lòng, xoa dịu tâm hồn

Hiện nay, nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế, từng bước dân chủ hoá đời sống xã hội Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, sự may rủi trong cơ chế thị trường, sự phân hoá giầu nghèo trong xã hội, môi trường sinh thái bị huỷ diệt Trước đây, đã có một thời gian dài chúng ta có biểu hiện tả khuynh tôn giáo, chúng ta đã có những sai lầm khi đánh đồng tất cả các hoạt động, nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian, các hoạt động tế lễ, lên đồng đều là

mê tín dị đoan, cần phải bài trừ

Đó là những nguyên nhân, tâm lý, xã hội và nhận thức dẫn đến việc các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng có chiều hướng gia tăng Hoạt động Thờ cúng

Tổ tiên trong các gia đình, dòng họ, làng xã, diễn ra khá phổ biến ở khắp các địa phương trong cả nước Điều đó đã góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hoá truyền thống Nhưng do sự tác động mạnh mẽ của lối sống hiện đại, đã làm cho tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên đang có những biểu hiện tiêu cực như phô trương về tiền tài, danh vọng, địa vị, gây chia rẽ,

bè phái, bầy ra những lễ thức cầu kỳ tốn kém làm mất đi tính thiêng của tín ngưỡng, nặng về yếu tố mê tín Bởi vậy, việc khôi phục lại những giá trị tốt

Trang 7

đẹp của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên là một việc làm hết sức cần thiết và là trách nhiệm của mọi người

Hà Tây (nay là Hà Nội), là một vùng đất cổ, với hơn hai nghìn di tích lịch sử gắn liền với những sự tích, truyền thuyết, phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian, phản ánh quá trình hình thành và phát triển của dân tộc, phản ánh đời sống tinh thần của người dân Hà Tây Vì vậy, việc khôi phục và bảo tồn những hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng, những phong tục tập quán tốt đẹp, đặc biệt là tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên trong nền kinh tế thị trường hiện nay là một việc làm rất quan trọng đối với người dân Hà Tây (nay

về cội nguồn đối với thế hệ trẻ Hà Tây nói riêng và thế hệ trẻ Việt Nam nói chung trong thời kỳ hội nhập

Xuất phát từ những ý nghĩa trên, tôi đã chọn đề tài "Phát huy giá trị tích cực của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở một số địa phương Hà Nội trong giai đoạn hiện nay" làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên từ lâu đã được khá nhiều tác giả trong nước cũng như trên thế giới quan tâm nghiên cứu, như tác giả Tô-ca-rép

với “Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1994; tác giả Vũ Quỳnh, với “Lĩnh nam

chính quái”, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1992; tác giả Lý Tế

Xuyên với “Việt điện u linh”, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội năm 1992; tác giả Phan Kế Bính với “Việt Nam phong tục”, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1995; tác giả Toan Ánh với “Phong tục thờ cúng trong gia đình

Trang 8

Việt Nam”, nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội, năm 1996; tác giả Vũ

Ngọc Khánh với “Tín ngưỡng làng xã“, nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội, năm 1994; tác giả Lê Xuân Quang với “Thờ thần ở Việt Nam”, nhà xuất bản Hà Nội, năm 1996; tác giả Tân Việt với “Tập văn cúng gia tiên”, nhà xuất

bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội, năm 1999; tác giả Đặng Nghiêm Vạn chủ biên

với "Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay”, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1996; tác giả Trần Đăng Sinh với "Những khía cạnh triết

học trong tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; tác giả PGS, TS

Nguyễn Đức Lữ chủ biên với “Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt

Nam”, nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội, năm 2005

Ngoài ra còn nhiều bài viết công bố trên các tạp chí như: Tạp chí Cộng sản; Tạp chí Tư tưởng văn hoá; Tạp chí Nghiên cứu lý luận, Thông tin lý luận; Tạp chí Triết học; Tạp chí Lịch sử; Tạp chí Văn hoá nghệ thuật; Tạp chí Tuyên truyền, Tạp chí Dân tộc học, Tạp chí Xưa và nay… của nhiều tác giả như Nguyễn Hữu Vui, Ngô Hữu Thảo, Nguyễn Đức Lữ, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Tài Thư Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập dưới nhiều góc

độ khác nhau về tín ngưỡng, tôn giáo nói chung và tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên của người Việt nói riêng

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả kể trên tiếp cận tín ngưỡng nói chung và tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên của người Việt nói riêng là từ góc độ Văn hoá học, Sử học, Dân tộc học, Tôn giáo học, Triết học Các quan điểm của các tác giả về tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên rất đa dạng, nhưng có thể khái quát thành ba loại như sau:

Một là, nghiên cứu tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên như một loại hình tín

ngưỡng, tôn giáo

Hai là, nghiên cứu tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên như một tập tục văn

hoá và truyền thống đạo đức

Trang 9

Ba là, nghiên cứu tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên vừa là tín ngưỡng, vừa

là tập tục văn hoá và truyền thống đạo đức

Từ thực tế đó, tác giả luận văn mong muốn trên cơ sở tập hợp các nguồn tư liệu và kế thừa những thành quả của các học giả đi trước, có thể phác họa một bức tranh về tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở Hà Tây cũ (nay là

Hà Nội)

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích: Đánh giá thực trạng, vai trò của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ

tiên ở một số địa phương của Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ), từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp để giữ gìn, phát huy các giá trị tích cực của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở một số địa phương của Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nền văn hoá mới hiện nay

* Nhiệm vụ:

- Làm rõ khái niệm, nguồn gốc và vai trò của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam

- Khảo sát, nghiên cứu, đánh giá thực trạng của tín ngưỡng Thờ cúng

Tổ tiên ở một số địa phương của Hà Nội hiện nay (Hà Tây cũ)

- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm hạn chế mặt tiêu cực và phát huy mặt tích cực của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở một số địa phương của Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên và vai trò của

nó trong đời sống tinh thần của nhân dân tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội)

- Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu tập trung nghiên cứu giá trị tích cực

của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở một số địa phương của Hà Nội (thuộc tỉnh

Hà Tây trước đây) từ năm 1990 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 10

- Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường

lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn vận dụng phương pháp luận

chung là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, lịch sử và lôgích, so sánh

Trang 11

6 Đóng góp về mặt khoa học của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ thêm vấn đề phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở một số địa phương của Hà Nội (Hà Tây cũ)

- Đề xuất được một số giải pháp nhằm góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

- Luận văn góp phần làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy những môn học có liên quan tới văn hoá truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam nói chung và địa bàn Hà Tây (ngoại

vi Hà Nội) nói riêng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Chương 1: Thờ cúng Tổ tiên và vai trò của Thờ cúng Tổ tiên trong đời

sống tinh thần của người Việt Nam

Chương 2: Phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ

tiên ở một số địa phương Hà Nội hiện nay - Thực trạng và vấn đề đặt ra

Chương 3: Phương hướng, giải pháp, kiến nghị cơ bản nhằm phát huy

những giá trị tích cực của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở một số địa phương

Hà Nội hiện nay

Trang 12

Chương 1 THỜ CÖNG TỔ TIÊN VÀ VAI TRÕ CỦA THỜ CÖNG TỔ TIÊN TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

1.1 Khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo và tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

1.1.1 Khái niệm tôn giáo, tín ngưỡng và mê tín dị đoan

* Tôn giáo

Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rất nhiều Trong lịch sử đã từng tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo:

Các nhà thần học đều cho rằng: tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh

và con người

Một số nhà tâm lý học lại cho rằng, tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo

Theo Desplend thì: “Tôn giáo là những gì con người muốn thu lượm thêm vì nó là một phần văn hoá do con người sáng tạo nên”, và “tôn giáo hiện nay được coi như một lĩnh vực cần thiết cho những con người muốn đối thoại

và thực hành với cái thiêng và thần thánh” [83, tr.16]

C Mác lại định nghĩa: Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không

có tinh thần Còn Ph Ăngghen trong tác phẩm "Chống Đuyrinh" lại cho rằng: Tôn giáo là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày [87, tr.68]

Tóm lại, khi nói về tôn giáo dù theo nghĩa rộng hay hẹp, chúng ta cần phải chú ý: Bàn về tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn phải đề cập đến hai thế giới (thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế

Trang 13

giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình) Tôn giáo không chỉ là những bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, mà còn do con người thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình nên phải dựa vào thần thánh để an ủi, để

hy vọng một cuộc sống tốt đẹp hơn

Như vậy, từ những quan điểm trên chúng ta có thể đi đến định nghĩa:

Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin

và sùng bái những lực lượng siêu nhiên, quyết định số phận con người Con người phải phục tùng, tôn thờ [45, tr.9]

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm khách quan, với đại biểu như Platon, Hêghen… đã xuất phát từ thực thể tinh thần, “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối” để lý giải các hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng Họ xem tín ngưỡng, tôn giáo là sức mạnh thần bí thuộc tinh thần tồn tại vĩnh hằng, là nhân tố chủ yếu đem lại sinh khí cho con người

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan: Cho rằng, tín ngưỡng

là thuộc tính vốn có trong ý thức của con người, tồn tại không phụ thuộc vào hiện thực khách quan và theo họ con người có thể cảm nhận được, tin chứ không lý giải được

Còn các quan điểm thuần tuý xã hội học về tín ngưỡng với các nhà xã hội học tư sản như Spenser, Durkheim, M.Weber từ giác độ xã hội học đã

có những cái nhìn mới về tín ngưỡng, tôn giáo Emile Durkheim cho rằng, tín

Trang 14

ngưỡng là những trạng thái tư tưởng, nằm ở các biểu tượng và được biểu hiện thông qua các nghi lễ thờ cúng

Nhìn chung các quan điểm về tín ngưỡng nêu trên, do hạn chế về điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp nên còn thiếu cơ sở khoa học Đối các nhà nhà triết học duy tâm, họ đã sai lầm vì họ đã lấy ý thức, tinh thần để lý giải một hiện tượng cũng thuộc về tinh thần là tín ngưỡng tôn giáo Còn các nhà duy vật, đặc biệt là Phoi-ơ-bắc lại rơi vào lập trường duy tâm trong việc lý giải vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng Ông đã chỉ ra nguồn gốc nhận thức tín ngưỡng, tôn giáo nhưng chưa chỉ ra được nguồn gốc xã hội, chức năng “đền bù hư ảo”

và những mặt tiêu cực của tôn giáo, tín ngưỡng

Do vậy, để có cách nhìn khách quan và khoa học hơn đối với hiện tượng tín ngưỡng đòi hỏi phải có phương pháp tiếp cận khoa học, đó là những phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin

Theo C.Mác, con người đã sáng tạo ra tín ngưỡng, tôn giáo chứ không phải chỉ sáng tạo ra biểu tượng của tín ngưỡng, tôn giáo như các nhà duy vật trước Mác đã thừa nhận Về bản chất, tín ngưỡng là sản phẩm của con người sống trong những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá cụ thể nào đó Tín ngưỡng thuộc về đời sống tinh thần của xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy định của xã hội Chính con người đã thần thánh hoá, khoác cho thần thánh những sức mạnh siêu nhiên, tạo thành cái bản chất khác mình và trở thành chỗ dựa cho chính mình

Trong quá trình hoạt động của mình,C.Mác và Ph.Ănghen đã chỉ ra sản xuất vật chất là cơ sở của sự hình thành và phát triển của các hiện tượng mang tính chất lịch sử xã hội, trong đó có tín ngưỡng, tôn giáo Thời đại C.Mác, Ph.Ănghen sống trong xã hội phương Tây, tín ngưỡng thường được hiểu là tín ngưỡng tôn giáo, và cụ thể là tín ngưỡng Cơ Đốc giáo.Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, C.Mác và Ph.Ănghen đã đề cập tới vấn đề tín ngưỡng tôn giáo ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau, với các khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng Cơ Đốc giáo

Trang 15

Các ông cho rằng, về cơ bản, tín ngưỡng không có gì thần linh, hai cái đều là tôn giáo đang ngự trị con người ở đây, tín ngưỡng với hàm nghĩa tôn giáo [62, tr.9]

Như vậy, với các nhà triết học duy tâm thì ý thức, tín ngưỡng tôn giáo

là để giải thích lịch sử, coi tín ngưỡng tôn giáo là phạm trù vượt qua lịch sử, lấy sự thay đổi của tôn giáo, tín ngưỡng để phân định lịch sử nhân loại, còn với nhà sáng lập chủ nghĩa Mác thì lịch sử để giải thích tín ngưỡng và đi đến nhận định khách quan, khoa học: Tín ngưỡng cũng là một hiện tượng lịch sử,

là sự phản ánh điều kiện kinh tế xã hội của thời đại, có quá trình hình thành, biến đổi và có ảnh hưởng nhất định đối với tiến trình lịch sử

Khi nghiên cứu về tín ngưỡng, các học giả Việt Nam cũng đã đưa ra một số quan điểm khác nhau như:

Nguyễn Văn Đạm trong cuốn từ điển Tiếng Việt đã khẳng định: Tín ngưỡng, là “Sự tin tưởng vào sức mạnh của một đấng thiêng liêng và những giáo lý của một tôn giáo” [21, tr.823] Còn tác giả Đặng Nghiêm Vạn lại xem

“Tín ngưỡng là một yếu tố chính của tôn giáo, quy định sức mạnh của tôn giáo đó với cộng đồng” [85]

Nguyễn Quốc Phẩm lại xem tín ngưỡng, theo nghĩa hẹp là niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người và thường gắn với niềm tin tôn giáo Theo nghĩa rộng, tín ngưỡng là khái niệm có nội hàm ngoại diên rộng hơn tôn giáo thuộc

ý thức xã hội, phản ánh niềm tin sự ngưỡng mộ của quần chúng nhân dân vào các lực lượng siêu nhiên ít nhiều mang màu sắc tôn giáo [56, tr.11]

Với học giả, Nguyễn Chí Bền từ góc độ văn hoá, xem tín ngưỡng là một bộ phận cấu thành của văn hoá được thể hiện thông qua nghi lễ thờ cúng,

là lòng ngưỡng mộ, thành kính với những thế lực có ảnh hưởng trong quan hệ với con người [5]

Còn với các nhà nghiên cứu như Toan Ánh, Phan Kế Bính, Tân Việt… lại tiếp cận tín ngưỡng từ giác độ văn hoá dân gian, xem tín ngưỡng là tín

Trang 16

ngưỡng dân gian với các lễ nghi thờ cúng thể hiện qua lễ hội, phong tục tập quán, truyền thống của dân tộc Việt Nam

Tín ngưỡng, theo cách hiểu thông thường là tín ngưỡng tôn giáo Thực

ra về mặt nội dung và hình thức phản ánh thì tín ngưỡng và tôn giáo có sự tương đồng nhưng cũng có sự khác biệt Sự tương đồng thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, tín ngưỡng và tôn giáo đều là sự thể hiện niềm tin, sự ngưỡng

mộ của con người vào một thực thể siêu việt như Thượng đế, Thần, Phật, Tổ tiên… Niềm tin trong tín ngưỡng và tôn giáo là trạng thái tâm lý đặc biệt của chủ thể nhận thức Niềm tin xuất hiện và tồn tại như thế nào thì còn phụ thuộc vào khả năng và trình độ nhận thức của con người (chủ thể) Do vậy, niềm tin vào đấng thiêng liêng là hạt nhân của tín ngưỡng và tôn giáo

Thứ hai, tín ngưỡng và tôn giáo đều là sự phản ánh hư ảo của ý thức xã hội về tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội đã sinh ra chúng Tín ngưỡng và tôn giáo đều có nguồn gốc xã hội, nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý trong quá trình hình thành và tồn tại; đều có chức năng đền

bù hư ảo, xoa dịu nỗi đau hiện thực và hướng con người tới sự giải thoát về tinh thần

Bên cạnh những điểm tương đồng, giữa tín ngưỡng và tôn giáo cũng có những điểm khác nhau:

Một là, tín ngưỡng xét về mặt lôgích hình thức là khái niệm có nội hàm hẹp hơn tôn giáo, bởi mọi tôn giáo đều là tín ngưỡng, nhưng không phải mọi hình thức tín ngưỡng là tôn giáo Vì chúng thiếu hoặc chỉ là sự thể hiện mờ nhạt những đặc trưng cơ bản của tôn giáo như: Đáng sáng thế, giáo chủ, hệ thống tổ chức, hệ thống giáo lý, kinh sách và các điện thờ

Hai là, tín ngưỡng được hình thành từ chính cuộc sống phong phú, đa dạng của con người Tín ngưỡng là sự phản ánh tự nhiên, thiếu cơ sở lý luận

và khái quát, nên nó mang tính dân gian, đời thường Còn tôn giáo thường được hình thành và tồn tại trên cơ sở lý luận chặt chẽ, cho nên nó có tính khái quát và hệ thống hơn

Trang 17

Ba là, tín ngưỡng có kết cấu đơn giản, nó được hình thành và tồn tại dựa trên cơ sở niềm tin vào các phép lạ, thần linh, tổ tiên Và các nhà nghiên cứu cũng nhất trí rằng yếu tố quyết định của một tôn giáo là đức tin hay niềm tin Những niềm tin ấy lại mờ ảo không rõ ràng, mang tính đơn giản (đơn giản

cả trong các nghi lễ) Còn tôn giáo có kết cấu phức tạp và nghi lễ trong tôn giáo là yếu tố đặc biệt được coi trọng, mang tính hệ thống và được quy định chặt chẽ bởi giáo lý, giáo luật, mang tính bắt buộc với các tín đồ

Bốn là, tín ngưỡng và tôn giáo đều có hệ thống nghi lễ, bao gồm những biểu tượng mang tính thần thánh Nghi lễ được thực hiện trong tín ngưỡng mang tính đơn giản Còn với tôn giáo thì nghi lễ là yếu tố đặc biệt được coi trọng, nó mang tính hệ thống, được quy định chặt chẽ bởi giáo lý, giáo luật, được duy trì thường xuyên, có tổ chức và mang tính bắt buộc với tín đồ

Căn cứ vào những đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng, có thể quan niệm:

Tín ngưỡng là một bộ phận của ý thức xã hội, là một yếu tố thuộc về đời sống tinh thần, là hệ quả của các quan hệ xã hội, được hình thành trong lịch sử, là niềm tin của con người vào cái thiêng liêng thông qua hệ thống các nghi lễ thờ cúng đặc trưng của con người và cộng đồng người trong xã hội

Thông thường thuật ngữ tín ngưỡng bao gồm tín ngưỡng tôn giáo và tín ngưỡng dân gian

Tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên theo những nguyên tắc thực hành tôn giáo nhất định

Tín ngưỡng dân gian là niềm tin vào thần linh thông qua những nghi lễ, gắn liền với tập tục, thói quen truyền thống Nó là một bộ phận của văn hoá dân gian, phản ánh những ước nguyện tâm linh của con người và cả cộng đồng

Khi bàn về tín ngưỡng dân gian giáo sư Phạm Ngọc Quang cũng cho rằng: "Tín ngưỡng dân gian cũng có thể xem là loại hình tín ngưỡng tôn giáo

do chính nhân dân- trước hết, là những người lao động sáng tạo ra trên cơ sở

Trang 18

những tri thức phản ánh sai lạc dưới dạng kinh nghiệm cảm tính từ cuộc sống thường nhật của bản thân mình" [47, tr.8]

Ở Việt Nam phần lớn các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo đều cho rằng, tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng dân gian, là yếu tố thuộc đời sống tinh thần, phản ánh niềm tin của con người vào hệ thống thần linh thông qua lễ nghi thờ cúng, phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc

Trang 19

* Mê tín dị đoan

Mê tín dị đoan là một hiện tượng xã hội tiêu cực đã xuất hiện từ lâu và vẫn nó tồn tại cho đến ngày nay Mê tín dị đoan thường đan xen, gắn liền với các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo

Theo Đại đức Thích Đức Thiện: chữ Hán "mê" là mơ hồ, không rõ, là lầm lẫn trái với "tỉnh", còn "tín" nghĩa là tin Như vậy, mê tín là tin một cách

mơ hồ, tin mà chẳng hiểu và cố chấp vào điều mình tin Mê tín là tin vào những cái thần bí như thần, thánh, ma, quỷ, số mệnh, bùa phép… không dựa trên một cơ sở nào hay một tổ chức tôn giáo nào

Dị đoan là tin theo những việc kì dị, những việc không thể có được Mê tín thường gây ra hậu quả xấu đối với con người và xã hội "Mê tín đến mức

độ mê muội, cuồng tín, mất hết lý trí, óc suy đoán tin vào tất cả những điều quái dị không có trong thực tế thì sẽ trở thành mê tín dị đoan" [63, tr.24]

Theo tác giả Toan Ánh thì : Người có óc mê tín thì bạ đâu tin đấy, tin

cả điều hay tin cả điều dở, tin điều phải mà cũng tin điều trái không suy xét, còn người có óc dị đoan thì ưa tin những điều huyễn hoặc, càng dị kì lại càng tin Tác giả Toan Ánh còn khẳng định: "Khắp trên thế giới ở đâu cũng có người mê tín dị đoan, nhưng sự mê tín dị đoan cũng thay đổi theo không gian

và thời gian, và cũng tuỳ theo tôn giáo nữa Có khi một điều với tôn giáo này

là phép lạ nhưng với tôn giáo khác lại là một điều mê tín dị đoan Xưa kia dân

ta sợ sấm sét mưa bão, tin tưởng đó là những vị thần có quyền uy và có thể giết hại con người được Ngày nay với khoa học tiến bộ, dân ta không còn hoàn toàn tin như vậy nhưng lại có những điều mê tín mới, ví dụ như kiêng số

13, lựa số xe 9 nút và sợ những con số bù…” [3, tr.135]

Còn theo giáo sư Nguyễn Đức Lữ : "Mê tín dị đoan là tin một cách mù quáng vào những điều nhảm nhí gây tổn hại về sức khoẻ, tài sản, tính mạng

và tổn phí về thời gian cho cá nhân, gia đình và xã hội" [45, tr.9]

Bên cạnh đó, một số người còn cho rằng, mê tín cũng là tín ngưỡng, nhưng là một dạng tín ngưỡng tiêu cực nhất "là tín ngưỡng sai lầm, nhảm nhí

Trang 20

vào sự tồn tại của sức mạnh siêu nhiên, hư ảo như: thần thánh, ma quỷ, số

phận, ảo mộng, phù thuỷ, tướng số, vào phép lạ " [47, tr.184]

Từ những thực tế trên cho thấy, các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo và

mê tín dị đoan thường tồn tại đan xen nhau Chúng đều có bản chất chung là tin vào lực lượng siêu nhiên, là sự phản ánh hư ảo hiện thực nên khó mà phân biệt được sự khác nhau giữa chúng Khi con người mà mắc phải mê tín dị đoan thì rất dễ bị người xấu lợi dụng, làm tổn hại tiền bạc, sức khoẻ thậm chí nguy hại đến cả tính mạng

1.1.2 Tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

Khái niệm tín ngƣỡng Thờ cúng Tổ tiên

Khi bàn về khái niệm tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên, cần phải xem xét khái niệm "tổ tiên" và "Thờ cúng Tổ tiên"

Theo quan niệm của nhiều người, "Tổ tiên" là những người đã qua đời trong một dòng họ Với tác giả Trần Đăng Sinh thì: “Tổ tiên là những người

có cùng huyết thống, đã mất như kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ… là những người

có công sinh thành và nuôi dưỡng, có ảnh hưởng to lớn đến đời sống vật chất

và tinh thần của các thế hệ con cháu” [63, tr.25] Còn Tổ tiên trong xã hội nguyên thuỷ là tổ tiên tô tem giáo của thị tộc Tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên tô tem giáo ra đời khá sớm Ở thời kỳ thị tộc mẫu hệ tổ tiên tô tem là những vật trong thiên nhiên được thần thánh hoá hoặc các vị thần Thời kỳ thị tộc phụ

hệ, tổ tiên lại là những người đứng đầu thị tộc đầy quyền uy, khi mất đi họ trở thành thần che chở cho gia đình thị tộc

Thờ cúng là hoạt động có ý thức của con người, là tổng thể phức hợp những yếu tố: ý thức về tổ tiên, biểu tượng về tổ tiên và lễ nghi thờ cúng trong không gian thờ cúng

"Thờ" có ý bao hàm một hành động biểu hiện sự sùng kính một đấng siêu nhiên như thần thánh, tổ tiên, đồng thời cũng có nghĩa là cách ứng xử với

bề trên cho phải đạo như thờ cha mẹ, thờ thầy hay một người có ơn với mình

"Thờ" trong Thờ cúng Tổ tiên là yếu tố thuộc ý thức về tổ tiên, là tâm linh,

Trang 21

tình cảm của con cháu hướng về cội nguồn Thờ tổ tiên là thể hiện sự thành kính, biết ơn và tưởng nhớ đến tổ tiên cũng là thể hiện niềm tin vào sự bảo hộ che chở của tổ tiên

"Cúng": Theo Hán ngữ đại từ điển (1992) thì "cúng" có thể hiểu là hiến dâng, là tế, là cung phụng, cũng có nghĩa là vật dâng tế Ở Việt Nam, cúng có nghĩa là dâng lễ vật cho tổ tiên, những người đã khuất Cúng ở đây mang tính

lễ nghi, là sự thực hành một loạt các động tác của người được quyền thờ cúng

Đó là các hoạt động dưới dạng hành lễ, được quy định do quan niệm, phong tục tập quán của mỗi cộng đồng dân tộc

Như vậy, "thờ" và "cúng" là hai yếu tố tác động qua lại, thống nhất với nhau trong tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

Sự "thờ", "tôn thờ" chính là nội dung, còn hoạt động "cúng" là hình thức biểu đạt của nội dung thờ cúng Ý thức tôn thờ, thành kính, biết ơn, tưởng nhớ, hy vọng sự trợ giúp, tránh sự trừng phạt của tổ tiên là nội dung cốt lõi của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên Nếu không có "Thờ" mà chỉ có "cúng" thì tự bản thân tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên không có "hồn thiêng", không có sức hấp dẫn nội tại và dễ thành nhạt nhẽo, vô vị, mai một Sự "cúng", tuy chỉ

là hình thức biểu đạt, song nó tôn vẻ linh thiêng, huyền bí, mờ ảo, tạo nên sức hấp dẫn, nó chính là hương vị, mầu sắc, keo dính thoả mãn niềm tin tôn giáo, đáp ứng nhu cầu của chủ thể thờ cúng

Trong xã hội có giai cấp, khái niệm Thờ cúng Tổ tiên đã được thể hiện một cách đầy đủ hơn Vì, tổ tiên theo khái niệm ban đầu chỉ bó hẹp trong quan hệ huyết thống, dòng tộc Nhưng cùng với quá trình phát triển của lịch

sử, khái niệm tổ tiên cũng có sự biến đổi phát triển Tổ tiên đã mở rộng ra trong phạm vi cộng đồng, xã hội , bao gồm : tổ nhà, tổ họ, tổ làng đến tổ nghề, tổ nước là những người có công lớn nhất, hoặc trực tiếp sinh thành, mở làng, mở nghề, dựng nước

Trong giới nghiên cứu cũng đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về Thờ cúng Tổ tiên Việc nhìn nhận tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên là một tôn

Trang 22

giáo, một tín ngưỡng dân gian hay là một phong tục, là một truyền thống của dân tộc, là quốc đạo vẫn chưa có sự thống nhất, ngay cả khái niệm về tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên, hiện nay cũng đang còn nhiều ý kiến tranh luận

Các học giả như Toan Ánh, Hoàng Quốc Hải đã khẳng định, Thờ cúng Tổ tiên không phải là tôn giáo mà thực chất đó là một phong tục, một tín ngưỡng Trong tác phẩm “Phong tục thờ cúng gia đình Việt Nam” tác giả Toan Ánh đã cho rằng "Thờ phụng tổ tiên không phải là một thứ tôn giáo, do

đó không thể gọi là đạo giáo, vì một đạo giáo phải có giáo chủ và giáo điều và việc thi hành đạo phải qua trung gian tu sĩ Thờ cúng Tổ tiên do lòng thành kính và biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, cụ kỵ, đã khuất mà thôi" [2, tr.4] Còn Hoàng Quốc Hải trong cuốn "Văn hoá phong tục" viết: " Phải khẳng định rằng, Thờ cúng Tổ tiên ở nước ta chỉ là một tín ngưỡng mang tính đạo lý, chứ không phải là một tôn giáo" [23, tr.14]

Trong khi các học giả trên không thừa nhận tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên là một tôn giáo, thì cố giáo sư Nguyễn Đổng Chi lại cho rằng nó gần như một thứ tôn giáo Còn giáo sư Đặng Nghiêm Vạn thì đã khẳng định Thờ cúng

Tổ tiên là tôn giáo và nằm trong "hệ thống tôn giáo dân tộc" Tác giả viết:

"Cũng cần lưu ý rằng, ta không thấy ghép từ giáo sau các tôn giáo mới phát sinh như Cao Đài, Hoà Hảo hay các tôn giáo truyền thống như đạo tổ tiên, đạo thờ thành hoàng Gần đây, bản thân tác giả muốn gọi là hệ thống tôn giáo dân tộc" [87, tr.24]

Tác giả X.A.Tôcarev - nhà dân tộc học nổi tiếng người Nga lại cho rằng: Thờ cúng Tổ tiên là một loại hình tôn giáo nguyên thuỷ, mang tính sơ khai: "Sự Thờ cúng Tổ tiên là một hình thức tôn giáo, từ lâu đã được thừa nhận trong giới khoa học, là sự thờ cúng ông bà, cha mẹ và những người đồng tộc đã chết và trước hết là hình thức gia đình thị tộc của sự thờ cúng đó, tức là lòng tin rằng tổ tiên đã chết che chở cho con cháu đang sống và những

lễ nghi cầu xin do các thành viên thị tộc hay gia đình tiến hành để nhằm thờ

Trang 23

phụng tổ tiên" [81, tr.312-313] Theo quan điểm trên của X.A.Tôcarev thì, Thờ cúng Tổ tiên là một loại hình tôn giáo nguyên thuỷ mang tính sơ khai

Học giả Phan Kế Bính thì xem Thờ cúng Tổ tiên như là một tập tục truyền thống mang giáo trị đạo đức, thể hiện lòng thành kính nghĩa cử của con cháu "Xét cái tục phụng sự tổ tiên của ta rất là thành kính, ấy cũng là một lòng bất vong bản, cũng là một việc nghĩa vụ của người" [6, tr.20-21]

Giáo sư Phan Đại Doãn lại quan niệm Thờ cúng Tổ tiên như một tín ngưỡng gắn liền với sự củng cố quan hệ họ hàng gia đình

Còn ở miền Nam nước ta, Thờ cúng Tổ tiên lại được nhân dân gọi là đạo ông bà Nguyễn Đình Chiểu viết: "Thà đui mà giữ đạo nhà, còn hơn sáng mất ông cha không thờ” Một số nhà nghiên cứu cho rằng có thể gọi là đạo Thờ cúng Tổ tiên cũng được, nhưng đạo ở đây không có nghĩa như: đạo Kitô, đạo Hồi, đạo Phật mà phải hiểu như đạo làm người, làm con, và những đạo ấy không thể là một tôn giáo vì đã là một tôn giáo thì phải có giáo lý, có hàng ngũ giáo sĩ và giáo hội, nơi hành lễ

Như vậy, Thờ cúng Tổ tiên là một phong tục, truyền trống, tín ngưỡng hay tôn giáo thì vẫn đang còn nhiều ý kiến khác nhau, bởi theo tiêu chí truyền thống về tôn giáo, các yếu tố cần có như người sáng lập, giáo lý, giáo luật, giáo hội, lễ nghi là những tiêu chí rất quan trọng Nếu theo những tiêu chí này thì chỉ có thể kể tới các tôn giáo có tính chất quốc tế như Phật giáo, Kitô giáo, Ixlam giáo, hay những tôn giáo khu vực như Khổng giáo, Ấn Độ giáo, Bàlamôn giáo, và cả những tôn giáo bản địa như đạo Cao Đài, Hoà Hảo ở Việt Nam, còn hầu hết các hình thức thờ cúng, tế lễ khác được coi là tín ngưỡng Cũng có quan niệm rộng hơn, coi tất cả là tôn giáo (tôn giáo chính thống, hoặc tôn giáo sơ khai) Như vậy, cũng có thể coi Thờ cúng Tổ tiên là một phong tục đã được tôn giáo hoá, hoặc những hành vi có tính chất tôn giáo được thế tục hoá trở thành phong tục Về mặt lý luận, vấn đề này cần được thảo luận thêm để có sự thống nhất Tuy nhiên, hiện nay có một cách dùng khác coi tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên là "Đạo" (nghĩa cách thức, là con

Trang 24

đường) Còn theo quan niệm truyền thống, khá phổ biến, Thờ cúng Tổ tiên vẫn được coi là một tín ngưỡng Bản thân tác giả luận văn cũng đồng tình với việc coi Thờ cúng Tổ tiên là một tín ngưỡng với những lý do sau:

Một là, Thờ cúng Tổ tiên được hình thành trực tiếp từ cuộc sống phong

phú, đa dạng, có kết cấu đơn giản, mang tính dân dã đời thường

Hai là, Thờ cúng Tổ tiên thiếu những căn cứ cơ bản của một tôn giáo

như người sáng lập, hệ thống tổ chức, giáo lý, giáo luật, nghi lễ

Ba là, trong Thờ cúng Tổ tiên yếu tố hàng đầu không phải là niềm tin

tôn giáo mà là đạo lý, đó là việc làm để tưởng nhớ về tổ tiên, hướng về cội nguồn Với những lý do trên, trong bản luận văn này tác giả xin tạm dùng

thuật ngữ "tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên"

Tóm lại, qua việc tìm hiểu trên, chúng ta có thể rút ra kết luận: Tín

ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên là một bộ phận của ý thức xã hội, là một loại hình tín ngưỡng dân gian, được hình thành từ thời nguyên thuỷ trong chế độ thị tộc phụ quyền Với niềm tin thiêng liêng rằng, tổ tiên tuy đã chết nhưng linh hồn vẫn còn tồn tại, có khả năng che chở, phù giúp con cháu, được thể hiện thông qua lễ nghi thờ phụng Nó là sự phản ánh quyền hành của người đứng đầu thị tộc phụ hệ, gia đình phụ quyền Đó là sự biết ơn, tưởng nhớ và tôn thờ những người có công sinh thành, tạo dựng, bảo vệ cuộc sống như : cha mẹ, ông bà,

Theo nghĩa rộng: Tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên không chỉ là thờ cúng những người có cùng huyết thống trong gia đình, họ tộc, mà còn mở rộng ra

cả tổ tiên của làng xã, đất nước, bao gồm việc thờ trời đất; thờ người có công dựng nước, giữ làng, có công với cộng đồng, làng xóm; thờ các thần linh liên

Trang 25

quan đến cuộc sống thường nhật của con người Về vấn đề này, giáo sư Đặng Nghiêm Vạn đã viết: “Đạo Thờ cúng Tổ tiên được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ thờ những người có công sinh dưỡng đã khuất, nghĩa là những người có cùng huyết thống, mà thờ cả những người có công với cộng đồng, làng xã, đất nước”[ 82, tr.305]

Như vậy, có thể nói tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên theo nghĩa rộng được thể hiện qua ba cấp độ từ nhà đến nước:

Một là, thờ cha mẹ, ông bà, thờ ông tổ dòng họ theo huyết thống; hai

là, thờ những ông tổ nghề, tổ sư, người có công khai phá vùng đất mới, dựng làng, lập ấp, đánh giặc cứu dân đã được nhân dân tôn vinh thờ phụng là thành hoàng; ba là, thờ vua như một vị thần của quốc gia dân tộc, mà điển hình là thờ vua Hùng Vương Ở Việt Nam, vua Hùng được xem là ông tổ của người Việt và cũng là ông tổ của 54 dân tộc, là người có công khai quốc, được thờ ở Đền Hùng- Phú Thọ và nhiều nơi khác Các cấp độ được cụ thể bằng biểu bảng sau:

- Các vua Hùng

Trang 26

- Nguồn gốc ra đời của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

+ Nguồn gốc kinh tế - xã hội của Thờ cúng Tổ tiên

Thờ cúng Tổ tiên là một bộ phận của ý thức xã hội, nảy sinh trên cơ sở kinh tế - xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội Do đó, tìm nguồn gốc của nó không phải trong ý thức mà phải trong điều kiện lịch sử xã hội, lịch sử hoạt động thực tiễn của con người

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, thì sự bất lực của con người trong đấu tranh với tự nhiên là một trong những nguồn gốc xã hội của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

Lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế - xã hội Cơ sở kinh tế của xã hội nguyên thuỷ là nền kinh tế tự nhiên lấy săn bắt, hái lượm là chính Vì thế cuộc sống lệ thuộc rất nhiều vào môi trường tự nhiên Xã hội cộng sản nguyên thuỷ được tổ chức dưới hình thức thị tộc, bộ lạc Đó là những cộng đồng người có đặc điểm cơ bản là cùng huyết thống, sống trên địa bàn tương đối ổn định, hợp tác tương trợ trong lao động sản xuất, trong đấu tranh chống thiên tai và chiến tranh xâm lấn của các thị tộc, bộ lạc khác Quan hệ giữa các thành viên trong thị tộc là quan hệ bình đẳng, hợp tác trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất

Thời kỳ đầu của công xã thị tộc, công cụ lao động còn hết sức thô sơ, trình độ lao động giản đơn, năng xuất lao động rất thấp Do vậy cuộc sống của

Trang 27

người nguyên thuỷ vẫn không cách xa cuộc sống của loài vật ý thức cá nhân chưa định hình, dẫn tới việc ý thức xã hội của họ cũng mang tính bầy đàn, đơn thuần Về sau, khi lực lượng sản xuất đã khá phát triển, việc tìm ra lửa, dùng cung tên trong săn bắn đã tạo ra bước thay đổi căn bản trong ý thức người nguyên thuỷ Thời kỳ này ý thức về tổ tiên là một yếu tố của ý thức công xã nguyên thủy, phản ánh sự bất lực của con người trước sức mạnh của

tự nhiên Giới tự nhiên huyền bí bao quanh con người luôn đe doạ cuộc sống bởi những tai hoạ bất thần như: bệnh tật, mưa, bão, nắng, hạn, thú dữ và sau này, cùng với lực lượng bí ẩn của giới tự nhiên và lực lượng mang tính xã hội luôn thống trị lên cuộc sống hàng ngày của họ Ph Ăngghen cho rằng: Những lực lượng này luôn đối lập với con người, một cách cũng xa lạ, lúc đầu cũng không thể hiểu được đối với họ, và cũng thống trị họ với cái vẻ tất yếu bề ngoài giống như bản thân những lực lượng tự nhiên vậy Những nhân vật ảo tưởng, lúc đầu chỉ phản ánh những sức mạnh và trở thành những đại biểu cho các lực lượng lịch sử [51, tr.437] Bế tắc trong cuộc sống hiện thực, con người tìm sự giải thoát trong đời sống tinh thần

Cùng với biểu tượng về các thần linh, biểu tượng vê tô tem xuất hiện trong thời kỳ thị tộc mẫu hệ Theo X.A.Tôcarev, Thờ cúng Tổ tiên trong thời

kỳ này chỉ mới manh nha, chưa là hiện tượng phổ biến Ở các bộ lạc Bắc Mỹ không có một Thờ cúng Tổ tiên thực sự Song ở một vài nơi như vùng Mêlanêdi, Tây Tân Ghinê đã có dấu vết Thờ cúng Tổ tiên, đó là việc thờ cúng những di cốt, đặc biệt là xương sọ của tổ tiên Ở một số bộ lạc vùng Đông Bắc Tân Ghinê, Thờ cúng Tổ tiên gắn liền với việc thờ cúng những nhạc cụ bằng

gỗ mà người dân ở đây cho rằng hồn ma người chết biến thành Đặc điểm chủ yếu của Thờ cúng Tổ tiên thời kỳ này là việc thờ tô tem giáo Người Anh điêng ở Bắc Mỹ thờ tổ tiên là con bò đực [81, tr.313]

Không chỉ có mối quan hệ với tự nhiên, mà trong quá trình tồn tại và phát triển giữa con người còn có mối quan hệ với nhau Khi xã hội có sự phân chia giai cấp, chế độ người bóc lột người cũng là một trong những nguồn gốc

Trang 28

xã hội chủ yếu làm nảy sinh tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên V.I.Lênin khi nghiên cứu vấn đề này đã cho rằng: “sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lực của những người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu” [90, tr.46] Không chỉ có giai cấp bị bóc lột, mà chính giai cấp bóc lột cũng tìm đến tín ngưỡng và có nhu cầu Thờ cúng Tổ tiên Điều đó cho thấy sự bất lực của cả xã hội, nó được lí giải bởi trình độ nhận thức năng lực còn hạn chế của con người trong thời kỳ này

Từ sự phân tích trên đây chúng ta thấy rõ tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên được hình thành từ xa xưa và tồn tại phổ biến ở nhiều dân tộc trên thế giới, trong đó có dân tộc Việt Nam Tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên được duy trì phát triển tồn tại đan xen với các tín ngưỡng, tôn giáo khác Bên cạnh nguồn gốc xã hội mang tính khách quan thì nhân tố chủ quan là nhận thức và tâm lý cũng là một nguồn gốc quan trọng dẫn đến sự ra đời và tồn tại của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên

+ Nguồn gốc nhận thức của Thờ cúng Tổ tiên

Một trong những nguồn gốc dẫn đến việc hình thành tín ngưỡng nói chung và tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên nói riêng, chính là sự phát triển của trình độ nhận thức, trình độ tư duy của người nguyên thuỷ

Các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng, con người có ý thức đầu tiên trong lịch sử là người hiện đại Homo Sapiens, hay còn gọi là "con người thông minh", tư duy và não bộ của người Homo Sapiens khá phát triển Quan niệm về cái chết và cuộc sống sau khi chết ở thế giới bên kia, ý niệm về linh hồn người chết thể hiện qua lễ nghi mai táng của người Homo Sapiens Người chết được chôn ở tư thế như cái thai nằm trong dạ con, nằm nghiêng, tay chân khép vào thân, đầu được dấu dưới một hòn đá, xác chết được bôi thổ hoàng, xung quanh có các dụng cụ sinh hoạt và đồ trang sức Ở đây, niềm tin vào sự tồn tại của linh hồn ở thế giới bên kia đã giúp ta lý giải được nguồn gốc của

Trang 29

biểu tượng về linh hồn tổ tiên, về sức mạnh và khả năng "phù hộ, độ trì" của

tổ tiên Khi nghiên cứu về quyền thừa kế của người gia trưởng ở La Mã cổ đại, C.Mác cho rằng: Có một điều mê tín là khi người chủ gia đình qua đời, linh hồn của ông ta vẫn còn ở lại trong nhà như một người cai quản sao cho mọi việc được thực hiện đúng đắn và trừng phạt những người sống nếu tiến hành công việc sai lầm Dần dần việc thông qua quyền thừa kế theo di chúc

để thoả thuận với linh hồn này đã trở thành phong tục [52, tr.404]

Ph Ăngghen cũng đã nhận xét: Tôn giáo sinh ra trong một thời đại hết sức nguyên thuỷ, từ những khái niệm hết sức sai lầm, nguyên thủy của con người về bản chất của chính họ và về giới tự nhiên bên ngoài, xung quanh họ [52, tr.445] Điều này cho thấy tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ra đời do trình độ nhận thức còn hạn chế của con người về tự nhiên và xã hội, nhận thức của con người chưa đạt đến mức độ hiểu được bản chất của sự vật hiện tượng

Nghiên cứu về vấn đề này, Lênin cho rằng thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo, của những quan niệm về thần chính là sự tuyệt đối hoá, sự cường điệu một mặt của quá trình nhận thức của con người - mặt hình thức chủ quan, làm mất đi nội dung khách quan, không còn cơ sở “thế gian” - nghĩa là thành cái siêu nhiên thần thánh

+ Nguồn gốc tâm lý của tín ngƣỡng Thờ cúng Tổ tiên

Tâm lý, tình cảm là một yếu tố mang tính chủ quan trước sự tác động của thế giới khách quan, Thờ cúng Tổ tiên được hình thành trên cơ sở tâm lý, tình cảm của con người và cộng đồng người trong xã hội Một trong những nhu cầu thiết yếu của con người là được tâm sự, gửi gắm, giải toả những bức xúc trong đời sống tinh thần

Ph Ăngghen cho rằng: "Tôn giáo vẫn có thể tiếp tục tồn tại với tư cách

là một hình thức trực tiếp, nghĩa là một hình thức cảm xúc trong quan hệ của con người đối với các lực lượng xa lạ, tự nhiên và xã hội đang thống trị họ" [51, tr.38] Mà một trong những biểu hiện của hình thức cảm xúc là niềm tin tôn giáo Thờ cúng Tổ tiên được hình thành trên cơ sở niềm tin vào sự bất tử

Trang 30

của linh hồn tổ tiên Niềm tin ấy bắt nguồn từ ước muốn mang tính bản năng - ước muốn trường thọ, con người đã tạo ra hệ thống văn hoá giá trị truyền thống, thiêng liêng hoá tình cảm tiếc thương, thái độ kính trọng người có công tạo dựng cuộc sống

Cuộc sống là môi trường văn hoá đặc biệt được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Con người sống trong môi trường ấy, không những chỉ tiếp xúc với cái hiện hữu mà còn tiếp xúc với cái vô hình, trừu tượng, mông lung, không lý giải được bằng lý trí Điều đó chỉ được cảm nhận từ tâm thức, linh cảm của con người Niềm tin vào sự hiện tồn của tổ tiên góp phần cân bằng trạng thái tâm lý, nhiều khi còn là cứu cánh, giải toả nỗi cô đơn, bất hạnh của con người trước cái chết Cái chết luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng của con người, chết đồng nghĩa với sự xa lìa vĩnh viễn thế giới, người thân Song quy luật sinh học khiến cho không ai có thể trốn tránh được nó Bằng nghi thức Thờ cúng Tổ tiên, con người đã góp phần lý giải về cái chết và cuộc sống sau khi chết, giải toả nổi kinh sợ khi phải nghĩ đến nó Rõ ràng là nỗi sợ hãi cái chết được giảm bớt thông qua việc thờ cúng ông, bà, cha mẹ mình Linh hồn

tổ tiên sẽ hiện về hưởng sự cúng lễ của con cháu, dần dần trở thành tập tục, truyền thống, nghĩa vụ thờ cúng của mọi gia đình dưới hình thức giỗ, chạp, xây mồ mả

1.1.3 Các loại hình tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên ở Việt Nam

Tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên của người Việt hiện nay vừa chịu sự tác động của những điều kiện lịch sử, vừa chịu sự tác động của những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội hiện tại

Được hình thành từ nền kinh tế nông nghiệp trong xã hội phụ quyền xa xưa, tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên của người Việt đã tồn tại, biến đổi và phát triển cùng với những thăng trầm của lịch sử dân tộc Từ sau năm 1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của người Việt có nhiều thay đổi sâu sắc

Trang 31

Đặc biệt từ năm 1990 trở lại đây, sau khi Đảng cộng sản Việt Nam tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện (1986) trên tất cả các lĩnh vực, đã có những ảnh hưởng to lớn đến đời sống văn hoá, tinh thần, đạo đức, lối sống của mọi tầng lớp nhân dân

Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh có những thời cơ thuận lợi mới, nhưng cũng

có nhiều khó khăn, thách thức mới Chúng ta đang phấn đấu phát huy nội lực, tranh thủ mọi nguồn lực từ bên ngoài, chú trọng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong xã hội đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân ngày càng được cải thiện, tinh thần dân chủ tăng lên Với qua điểm đổi mới toàn diện, đồng bộ, với những giải pháp đúng đắn phù hợp, đã giúp Việt Nam có những bước chuyển mình kỳ diệu Vị thế của Việt Nam ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế Sự nghiệp kinh tế, văn hoá, giáo dục đạt được nhiều thành tựu to lớn, trình độ dân trí được nâng cao Nhiều phong trào quần chúng như "uống nước nhớ nguồn"

"Đền ơn đáp nghĩa", "xoá đói giảm nghèo", "xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, khu dân cư văn hoá " được toàn dân hưởng ứng và tham gia tích cực

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được, trong xã hội cũng phát sinh những mặt yếu kém Mặt trái của cơ chế thị trường như quy luật cạnh tranh, sự đề cao sức mạnh của đồng tiền, tình trạng phân hoá giàu nghèo, tệ tham nhũng, cửa quyền, quan liêu, vi phạm dân chủ, lối sống thực dụng chạy theo lợi ích vật chất xem nhẹ những giá trị văn hoá truyền thống đã tác động xấu đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội

Tình hình thế giới cũng có nhiều biến đổi to lớn, sâu sắc Đó là sự khủng hoảng và tan rã của các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự bùng nổ của các cuộc xung đột, chiến tranh sắc tộc, tôn giáo, sự tác động của

Trang 32

xu hướng toàn cầu hoá về kinh tế, văn hoá, những vấn đề môi trường, sự trỗi dậy của các tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống, sự hình thành và phát triển của các "tôn giáo" mới

Tất cả những điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hoá, xã hội trên đây là những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên của người Việt hiện nay

Phải khẳng định rằng trong sự nghiệp đổi mới toàn diện, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến đời sống vật chất cũng như đời sống văn hoá, tinh thần của các tầng lớp nhân dân, đáp ứng phần nào nhu cầu tâm linh của nhân dân Các hình thức sinh hoạt văn hoá truyền thống, sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, đặc biệt tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên được khôi phục và phát triển, nhằm khai thác kế thừa và phát huy những giá trị văn hoá đã được chung đúc hàng nghìn năm qua thiết chế gia đình - dòng họ - làng và nước

Trong thực tế có rất nhiều cách phân loại khác nhau về tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên Chẳng hạn như phân loại theo dân tộc, ta có dân tộc Kinh, Mường, Thái, Tày, Nùng ; phân loại theo tôn giáo ta có Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Khổng giáo ; phân loại theo giai tầng xã hội và phân loại theo đặc điểm của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên Ở đây, chúng tôi đã dựa trên kết cấu của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên theo nghĩa rộng để phân loại tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên thành ba loại hình: Thờ cúng Tổ tiên trong gia đình, họ tộc, thờ thành hoàng làng và Thờ cúng Tổ tiên của cả nước Ngoài ra, theo quan niệm phổ biến hiện nay, Thờ cúng Tổ tiên không phải chỉ

bó hẹp trong phạm vi gia đình, dòng họ, hay nói rõ hơn là không chỉ thờ cúng những người có cùng huyết thống, những người có công nuôi dưỡng, sinh thành mà đã mở rộng ra cả phạm vi làng xã và quốc gia Quan điểm của X.A.Tocarev lại không đồng thuận với quan điểm này, ông viết: "Để quy định một ý nghĩa nhất định khái niệm Thờ cúng Tổ tiên, tôi muốn nói rằng đó là sự thờ cúng ông bà, cha mẹ và những người đồng tộc đã chết và trước hết là các hình thức gia đình - thị tộc của sự thờ cúng đó, tức là lòng tin rằng, tổ tiên đã

Trang 33

chết che chở cho con cháu đang sống, và những lễ nghi cầu xin do các thành viên thị tộc hay gia đình tiến hành để nhằm thờ phụng tổ tiên Ở đây, tôi gạt ra một bên các hình thức Thờ cúng Tổ tiên mà không gắn liền với gia đình và thị tộc, đặc biệt là các hình thức chung toàn bộ lạc hoặc toàn dân tộc, sự Thờ cúng Tổ tiên các thủ lĩnh và vua chúa " [81, tr.312] Theo quan điểm của Tocarev, Thờ cúng Tổ tiên điều cốt lõi phải là những người có cùng huyết thống, cho nên ông thừa nhận cả những hình thức Thờ cúng Tổ tiên ở phạm vi

thị tộc

Nhưng với quan niệm phổ biến hiện nay coi hạt nhân của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên là đạo hiếu, lòng biết ơn thì Thờ cúng Tổ tiên không phải chỉ thờ cúng những người cùng huyết thống Các hình thức thờ cúng những vị thuỷ tổ của dân tộc, những người có công khai hoang, lập ấp, các anh hùng có công trong việc bảo vệ tổ quốc, chống giặc ngoại xâm cũng đều được xếp vào tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên Với quan niệm này, tín ngưỡng Thờ cúng

Tổ tiên được diễn ra ở ba cấp độ là gia đình, làng xã và đất nước

Trang 34

* Thờ cúng Tổ tiên trong gia đình, họ tộc

Như đã khẳng định ở trên, tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên là một trong những loại hình tín ngưỡng xuất hiện tương đối sớm trong lịch sử nhân loại Nhưng không phải ngay từ khi mới xuất hiện, tín ngưỡng này đã được thể hiện ngay ở ba cấp độ gia đình - họ tộc, làng xã, quốc gia mà trải qua một quá trình lịch sử khá dài, các tổ chức xã hội là thị tộc, bộ lạc mới dần tan rã để thay thế bằng những tổ chức xã hội cao hơn, có kết cấu bền chặt hơn, đó là làng xã và nhà nước xuất hiện Và do vậy, tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên từ quy mô hẹp, theo nghĩa hẹp, trong phạm vi gia đình, thị tộc được mở ra trên một quy mô rộng, theo nghĩa rộng - đó là Thờ cúng Tổ tiên ở làng xã, quốc gia Cho nên có thể nói, hình thức tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên trong gia đình, họ tộc được xuất hiện sớm nhất và tồn tại phổ biến nhất Thờ cúng Tổ tiên trong gia đình, họ tộc cũng có thể chia làm hai cấp độ, đó là gia đình và

họ tộc

Thờ cúng Tổ tiên ở gia đình

Thờ cúng Tổ tiên trong gia đình được xây dựng trên hai cơ sở tâm lý, tình cảm cơ bản là sự sợ hãi và lòng hiếu thảo Hai yếu tố tâm lý này ở mỗi giai đoạn phát triển của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên nó có vị trí khác nhau

Ở buổi bình minh của tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên, dưới chế độ thị tộc phụ quyền, do đặc điểm kinh tế xã hội quy định, người đàn ông có một vị trí quyền lực quan trọng trong gia đình cũng như ngoài xã hội Quyền lực đó của người gia trưởng không chỉ có được khi người đó còn sống, mà nó còn tiếp tục tồn tại sau khi người đó đã qua đời Thực tế đó đã được C.Mác chỉ rõ khi nghiên cứu về quyền thừa kế của người gia trưởng ở Rôma cổ đại: Có một điều mê tín là khi người chủ gia đình qua đời, linh hồn ông ta vẫn còn ở lại trong nhà như một người cai quản sao cho mọi việc được thực hiện đúng đắn

và trừng phạt những người sống nếu tiến hành công việc sai lầm Chính bởi sự

sợ hãi quyền uy của người gia trưởng có thể làm hại con cháu, nếu như con cháu làm những điều sai trái hoặc không cúng tế những vật dụng cần thiết để

Trang 35

bảo đảm cuộc sống cho tổ tiên ở thế giới bên kia, là một trong những cơ sở cho sự ra đời của tín ngưỡng này

Về sau, yếu tố sợ hãi trong tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên không còn đáng kể, thay thế vào đó là một yếu tố tình cảm mang tính nhân văn cao đẹp -

đó là lòng hiếu thảo

Mỗi con người ai cũng có cha, có mẹ, công lao của cha mẹ đối với con cái như bể rộng, như núi cao, đó là công sinh thành, giáo dưỡng, công nuôi dạy con cái thành người, "cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể" Khi con cái trưởng thành, khôn lớn, ha mẹ lại phải lo những công việc trọng đại cho mỗi đời người như: "tậu trâu", "cưới vợ", "làm nhà" Tất cả những gì cha mẹ dành cho con cái, con cái chỉ có thể đáp đền được bằng chữ hiếu Con người luôn ý thức được:

"Con người có tổ, có tông Như cây có cội như sông có nguồn"

Việc hiếu thảo với cha mẹ không phải chỉ có khi sống, mà cả khi cha

mẹ đã qua đời Đó là việc thường xuyên hương khói, thờ phụng để cha mẹ được yên nghỉ nơi suối vàng Không chỉ thế, điều quan trọng là những người còn sống, phải sống sao cho linh hồn cha mẹ, tổ tiên không cảm thấy hổ thẹn Nhìn rộng ra, quan hệ giữa cha mẹ và con cái đang sống là hiện thân của mối quan hệ giữa tổ tiên với con cháu sau này Từ ông bà, đến cha mẹ, đến bản thân, rồi tiếp đến con cái và cháu chắt là mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại

và tương lai Sự kính hiếu cha mẹ được nối tiếp bằng sự tôn thờ, sùng bái tổ tiên Bổn phận kính trọng cha mẹ, báo hiếu đền ơn công sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ cũng là bổn phận báo hiếu, đền ơn tổ tiên

Từ những cơ sở tâm lí tình cảm đó, Thờ cúng Tổ tiên ở mỗi gia đình đã trở nên phổ biến ở nhiều địa phương trong cả nước Tuy nhiên, tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên là một bộ phận của ý thức xã hội, chịu sự quy định của sự tồn tại xã hội, cho nên tuỳ theo đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội,

Trang 36

văn hoá của từng vùng, miền mà tín ngưỡng này bên cạnh những đặc điểm chung cũng có những nét riêng biệt

Trang 37

Thờ cúng Tổ tiên trong dòng họ

Thờ cúng Tổ tiên theo dòng họ là hình thức phổ biến chủ yếu ở Trung Quốc và Việt Nam, song có lẽ ở Trung Quốc vẫn là nơi mẫu mực, điển hình cho hình thức thờ cúng này Nếu như ở Việt Nam, nhà thờ tổ không phải dòng

họ nào cũng có, thì ở Trung Quốc tình hình có khác: "Dòng họ nào cũng có

từ đường" [76, tr.43] làm nơi thờ cúng thuỷ tổ của dòng họ

Thuỷ tổ là người sáng lập ra dòng họ, từ đó hệ thống các đời cùng dòng máu nối tiếp nhau phát triển theo thời gian Họ là sự tập hợp tự nhiên những người cùng dòng máu, tụ hội theo từng đời và nhiều đời do cùng một ông tổ sinh ra Dòng họ ở đây được tính theo trục dọc có thể theo họ mẹ hoặc

họ cha, nhưng hầu hết được lấy theo họ cha

Để tưởng nhớ về nguồn gốc của họ tộc mình, mỗi dòng họ đều xây nhà thờ thuỷ tổ của dòng họ (còn gọi là từ đường) Ở những làng xóm giữ bền truyền thống cùng tập tục cổ và ít giao lưu với bên ngoài, trước đây thường là mỗi làng có bao nhiêu dòng họ thì có bấy nhiêu nhà thờ họ, trong đó thờ thuỷ

tổ và các vị tổ phân chi Thậm chí ở những làng sung túc và có những họ to, nhiều đinh, nhiều chi thì mỗi chi lại xây một nhà thờ riêng gọi là nhà thờ chi

Nhà thờ tổ to hay nhỏ là tuỳ thuộc vào họ lớn hay bé (do số chi hoặc phân chi và số đinh nhiều hay ít)

Về kiểu dáng, nhà thờ tổ thường mô phỏng ngôi đền thờ thành hoàng hoặc có thế xây dựng giống ngôi nhà ở gồm ba gian

Vào dịp giỗ tổ hàng năm hoặc khi có việc họ thì cả họ tới nhà trưởng

họ dự lễ và hưởng lộc Nhà thờ tổ giao cho gia đình trưởng họ trông nom, hương khói

Ngoài nhà thờ họ, còn có nhà thờ tông tộc hay còn gọi là nhà thờ phân chi, được xây dựng như nhà thờ họ, song quy mô nhỏ hơn Về phần kiến trúc

có thể tráng lệ hoặc giản dị hơn Điều này phụ thuộc vào sự hưng vong của dòng họ, của phân chi Tuy nhiên, theo quan niệm phổ biến thì nhà thờ tông tộc trên nhiều phương diện, đương nhiên phải kém nhà thờ họ Ngoài ra có

Trang 38

dòng họ không xây nhà thờ tông tộc mà lập ban thờ tông tộc ngay trong nhà thờ họ, trường hợp này bàn thờ tông tộc sẽ bố trí ở hai gian bên trong nhà thờ

họ

Có thể thấy rằng, trong phạm vi Thờ cúng Tổ tiên đối với những người

có cùng huyết thống thì thờ cúng tổ họ có phạm vi rộng lớn nhất Bởi đó là ông tổ của cả một dòng họ, là cái "gốc", là "cội nguồn" của cả một dòng họ Cho nên tất cả những người trong họ đó, ngoài việc Thờ cúng Tổ tiên trong gia đình mình, thờ cúng tổ chi, thì còn có nghĩa vụ thờ cúng tổ họ

Từ một dòng họ, theo thời gian phát triển thành các chi, ngành, nhánh thì sự thờ cúng cũng được phân tách vừa theo bậc thế hệ, vừa theo thứ tự cả - thứ Về cấu trúc dòng họ, có thể được biểu hiện như sơ đồ sau:

Trưởng ngà nh kiêm trưởng chi thứ

Trưởng nhánh, kiêm trưởng ngà nh, kiêm trưởng chi, kiêm trưởng họ

Trang 39

Nói tóm lại, tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên trong gia đình, họ tộc phản ánh mối quan hệ đồng huyết Con người luôn ý thức được về cội nguồn của mình: cha mẹ là những người trực tiếp có công sinh thành, nuôi dạy; ông bà

tổ tiên là cội nguồn của dòng họ, có tổ tiên, ông bà mới có cha mẹ, từ đó mới

có bản thân mình Từ nhận thức đó, tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên trong gia đình, họ tộc là biểu hiện của lòng hiếu thảo, cung kính đối với hương hồn tổ tiên Vào mỗi dịp tết đến, xuân về, vào ngày giỗ, ngày sóc, ngày vọng hoặc mỗi khi trong gia đình có công to, việc lớn, người chủ gia đình không quên thắp nén hương thơm kính báo với tổ tiên, để tổ tiên được biết về những diễn biến, thay đổi của cuộc sống con người nơi trần thế, để tổ tiên phù hộ, độ trì, giúp đỡ con cháu có một cuộc sống tốt đẹp, thuận hoà

* Thờ thành hoàng

Thờ thành hoàng là hình thức tín ngưỡng xuất hiện muộn hơn so với tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên trong gia đình, họ tộc và nó còn muộn hơn khi coi đây là một loại hình tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên Bởi theo quan niệm ban đầu, Thờ cúng Tổ tiên chỉ tồn tại dưới dạng thờ cúng những người đã mất trong gia đình hoặc thị tộc, có cùng huyết thống Còn các hình thức thờ cúng

ở phạm vi bộ lạc, làng xã, quốc gia không phải là Thờ cúng Tổ tiên Đây là quan điểm của một số học giả, trong đó phải kể đến đại diện là Tocarev Nhưng các quan niệm phổ biến ngày nay vẫn thừa nhận, Thờ cúng Tổ tiên không phải chỉ là Thờ cúng Tổ tiên cùng huyết thống, nó còn được biểu hiện

ở hình thức thờ thành hoàng và cao hơn là thờ vị tổ chung của cả nước

Thờ thành hoàng là hiện tượng tín ngưỡng phổ biến ở Việt Nam, nguyên nhân của thực tế này là do sự quy định bởi đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở phương Đông

Sự phát triển của lực lượng sản xuất và kỹ thuật canh tác đã dần đến quá trình các thị tộc, bộ lạc dần dần tan rã, và thay vào đó bằng một kết cấu

xã hội bồi chặt hơn, ổn định hơn, đó là các công xã nông thôn Đây là một tổ chức xã hội khép kín, tồn tại và phát triển trên cơ sở tự cung, tự cấp là chủ

Trang 40

yếu Nền kinh tế chủ đạo trong công xã là sản xuất nông nghiệp Với đặc trưng kinh tế - xã hội đó, các thành viên trong công xã luôn luôn phải có ý thức đoàn kết, liên minh với nhau trong việc đấu tranh với thiên tai, địch hoạ

để bảo vệ mùa màng, bảo vệ xóm làng dưới sự lãnh đạo của các thủ lĩnh do công xã bầu lên Vì vậy, trong tâm lý của người Việt luôn có tâm niệm tôn sùng, đề cao những người có công với làng xã, quốc gia, những người có công khai dân, lập ấp, chống giặc ngoại xâm v.v đã bảo vệ và đem lại cuộc sống bình an, hạnh phúc cho dân làng Đặc điểm này được minh chứng rất rõ trong tâm thức của người Việt: "Do phải đấu tranh liên tục với thiên tai, địch hoạ, trong ý thức người Việt sớm hình thành tư tưởng nhớ về cội nguồn và lòng biết ơn những người có công sinh thành, những tiền hiền, hậu hiền có công tạo dựng cuộc sống, giữ làng, giữ nước" [63, tr.65]

Từ ý niệm tình cảm đó đã nảy sinh hình thức tín ngưỡng thờ cúng những người có công với làng xã, quốc gia, hoặc thậm chí đó là những vị thần

có công phù trợ giúp làng, giúp nước Tín ngưỡng đó vừa thể hiện đạo lý

"uống nước nhớ nguồn" của con cháu đối với các bậc tiền nhân, vừa là sợi dây vô hình cố kết sức mạnh trong cộng đồng, làng xã, đồng thời cũng là sự định hướng cho sự phát triển của thế hệ trẻ trong tương lai

Hình thức thờ cúng những người có công với làng xã- thờ thành hoàng-

là hình thức khá phổ biến ở Việt Nam Tuy nhiên, khái niệm "thành hoàng" lại xuất phát từ gốc Hán: "thành" là cái thành trì, còn "hoàng" là cái hào đào sâu bao quanh bên ngoài thành, thành hoàng nghĩa là vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái thành trì (theo quan niệm của người Trung Quốc) Sách "Lễ nghĩa thông khảo" của Trung Quốc nói: "thành hoàng là thần bảo vệ thành Vì vậy

đã là thành, dù to hay nhỏ người Trung Quốc đều thờ thành hoàng" [76, tr.92]

Theo một số nhà nghiên cứu văn hoá như Phan Kế Bính, Đào Duy Anh thì tín ngưỡng thành hoàng ở nước ta bắt đầu có từ cuối thời Bắc thuộc Trên cơ sở các tài liệu để lại thì vị thần đầu tiên được phong thành hoàng ở

Ngày đăng: 06/04/2020, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w