1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu pháp luật quốc tế, pháp luật một số nước trên thế giới và liên hệ với pháp luật việt nam về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ

103 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 479 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, sau hơn nửa thế kỷ, việc phát triển côngnghệ vũ trụ và hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ vìmục đích dân sự đã thay thế cho mục đích chính trị trớc đó,

Trang 1

Phần mở đầu

1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

Hoạt động thăm dò, khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ của loàingời đã đợc bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷ trớc, đánh dấu bằng sự kiệnLiên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo vào khoảng không vũ trụ tháng 10năm 1957 và tiếp đó là các sự kiện con tàu vũ trụ đầu tiên do phi công ngờiNga Y.Gagarin điều khiển bay quanh trái đất tháng 4 năm 1961 và nhà duhành vũ trụ ngời Mỹ Neil Armstrong đặt chân lên vũ trụ tháng 7 năm 1969.Sau hơn nửa thế kỷ, việc thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ đã

đem lại những lợi ích to lớn cho các quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế– xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng…một số nmột số nớc trên thếgiới còn đặt ra mục tiêu xây dựng căn cứ trên mặt trăng để khai thác và trungchuyển ngời lên sao Hoả …một số n những điều mà trớc đây chỉ có trong các câuchuyện khoa học viễn tởng thì nay cùng với sự phát triển của khoa học côngnghệ vũ trụ đang dần trở thành hiện thực

Khi quan hệ xã hội mới phát sinh thì việc xây dựng một hệ thống quyphạm pháp luật để điều chỉnh là tất yếu nhằm thiết lập một trật tự pháp lý đốivới các quan hệ này Hiện nay, pháp luật vũ trụ quốc tế và pháp luật vũ trụ củamột số nớc trên thế giới đã đợc xây dựng và ngày càng hoàn thiện, bao gồmcác thoả thuận, điều ớc quốc tế, hiệp ớc, các quy tắc, các quy định của tổ chứcquốc tế, luật pháp quốc gia, các quy định về điều hành, quản lý, các quyết

định…một số n Mục tiêu của pháp luật vũ trụ là đảm bảo một cách hợp lý về việc chịutrách nhiệm cho các phơng pháp tiếp cận, thăm dò, sử dụng không gian vũ trụvì lợi ích quốc gia và vì lợi ích chung của nhân loại Pháp luật vũ trụ điềuchỉnh các hoạt động: quân sự bên ngoài khoảng không vũ trụ, bảo tồn khônggian, môi trờng chung của Trái đất, trách nhiệm pháp lý do các thiệt hại gây rabởi các đối tợng không gian, giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích của quốcgia, cứu hộ phi hành gia, chia sẻ thông tin về tiềm năng nguy hiểm trongkhông gian bên ngoài, sử dụng không gian liên quan đến công nghệ vũ trụ vàvấn đề hợp tác quốc tế Để từng bớc bắt nhịp với sự phát triển vợt bậc củakhoa học công nghệ vũ trụ trên thế giới và nhu cầu thực tiễn trong quá trìnhxây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ an ninh, quốc phòng của đất nớc,Việt Nam đã và đang đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ vũ

Trang 2

trụ vào quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phát triển kinh tế – xãhội, đồng thời từng bớc xây dựng khung pháp lý về nghiên cứu, ứng dụng vàhợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ Chính vì vậy, em đã chọn đềtài “Tìm hiểu pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về hoạt động thăm dò,khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ” làm luận văn tốt nghiệp cao học luậtcủa mình.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm tìm hiểu cơ sở lý luận củapháp luật về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng trong khoảng không vũtrụ; các quy định của pháp luật quốc tế về hoạt động thăm dò, khai thác, sửdụng khoảng không vũ trụ; thu thập kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựngnội dung các quy định pháp luật về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụngtrong khoảng không vũ trụ Và hớng tới việc tìm hiểu, xây dựng pháp luật ViệtNam về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ hiệu quả,phù hợp với pháp luật quốc tế

Từ mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể nh sau:

- Tìm hiểu cơ sở lý luận của pháp luật về hoạt động thăm dò, khai thác,

sử dụng trong khoảng không vũ trụ;

- Tìm hiểu các quy định của pháp luật quốc tế về hoạt động thăm dò,khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ;

Thu thập kinh nghiệm trong việc xây dựng nội dung các quy định phápluật về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng trong khoảng không vũ trụ;

- Hớng tới việc tìm hiểu, xây dựng pháp luật Việt Nam về hoạt độngkhai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ hiệu quả, phù hợp với pháp luật quốctế

3 Phạm vi nghiên cứu

Các quy phạm pháp luật vũ trụ quốc tế cũng nh pháp luật vụ trũ của một

số quốc gia trên thế giới hiện nay đợc xây dựng và phát triển thành một hệthống quy phạm pháp luật tơng đối đầy đủ, hoàn thiện

Toàn bộ hệ thống quy phạm pháp luật vũ trụ quốc tế hiện nay khá đồ sộ

và còn rất nhiều vấn đề đang đợc thảo luận trong quá trình tiếp tục hoàn thiện

hệ thống quy phạm pháp luật về lĩnh vực này, nhng luận văn giới hạn phạm vinghiên cứu trong việc tìm hiểu một số quy chế pháp lý cơ bản của hệ thốngquy phạm pháp luật vũ trụ trên cơ sở các quy định tại năm bộ nguyên tắc và

Trang 3

năm điều ớc quốc tế về khoảng không vũ trụ nh: chế độ pháp lý đối với vật thể

vũ trụ, vấn đề đăng ký phóng vật thể vũ trụ, việc sử dụng nguồn năng lợng hạtnhân trong khoảng không vũ trụ, trách nhiệm bồi thờng thiệt hại do vật thể vũtrụ gây ra và một số vấn đề liên quan khác Đối với pháp luật một số quốc giatrên thế giới, luận văn cũng giới hạn phạm vi nghiên cứu trong việc tìm hiểumột số quy chế pháp lý cơ bản trong Luật vũ trụ và hàng không quốc gia

1958, Luật thơng mại vũ trụ 1998 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Luậtkhoảng không vũ trụ năm 1986 của Vơng quốc Anh

Với tính chất của đề tài, luận văn chỉ tập trung vào việc tìm hiểu, phântích các vấn đề pháp lý cơ bản thuộc lĩnh vực khoảng không vũ trụ, từ đó liên

hệ với các hoạt động trong lĩnh vực khoảng không vũ trụ của Việt Nam và ớng đến việc xây dựng các quy phạm pháp luật vũ trụ của Việt Nam

h-4 Phơng pháp nghiên cứu

Với mục đích và yêu cầu đợc đặt ra của đề tài, luận văn sử dụng các

ph-ơng pháp nghiên cứu khoa học nh: phân tích, so sánh luật học, đánh giá thựctiễn, thống kê…một số n

5 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Với mục đích nghiên cứu nh đã trình bày trên, luận văn này mongmuốn đa đến cái nhìn tổng quát về pháp luật quốc tế và luật vũ trụ của một sốquốc gia trong hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ

Đồng thời hớng tới việc đề xuất xây dựng, phát triển khung pháp lý đối vớihoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ của Việt Nam

6 Bố cục của luận văn

Luận văn có bố cục gồm:

- Mở đầu

- Chơng I: Những vấn đề lý luận về pháp luật khoảng không vũ trụ

- Chơng II: Nội dung pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia về hoạt động

thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ

- Chơng III: Vấn đề lý luận, thực tiễn của pháp luật Việt Nam về vũ trụ

và một số phơng hớng xây dựng, phát triển

- Kết luận

- Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 5

Chơng I Những vấn đề lý luận về pháp luật

khoảng không vũ trụ

1.1 Pháp luật về khoảng không vũ trụ

1.1.1 Khái niệm khoảng không vũ trụ

Để hiểu đúng khái niệm pháp luật về khoảng không vũ trụ trớc hết phảihiểu khoảng không vũ trụ là gì? có gì khác giữa khoảng không vũ trụ và vùngtrời thuộc quyền tài phán của quốc gia?

Vùng trời quốc gia là khoảng không gian bao trùm lên vùng đất, vùngnớc của lãnh thổ quốc gia và nằm dới chủ quyền hoàn toàn, riêng biệt củaquốc gia đó [211,1] Vùng trời của mỗi quốc gia bị giới hạn bởi biên giớixung quanh và biên giới trên cao, tuy nhiên cho đến nay Luật quốc tế vẫn chaquy định cụ thể về độ cao của biên giới trên cao

Việc xác định ranh giới giữa khoảng không thuộc quyền tài phán quốcgia và khoảng không vũ trụ trong pháp luật quốc tế cũng nh trong pháp luậtquốc gia vẫn cha có quy định cụ thể Nh đã nói ở trên, biên giới trên cao củavùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia cha đợc xác định, đồng thời biên giớibên trong của khoảng không vũ trụ cũng cha đợc xác định, vì vậy về mặt pháp

lý cha xác định đợc giới hạn giữa vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia vàkhoảng không vũ trụ – chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế về khoảngkhông vũ trụ Xuất phát từ thực tiễn hoạt động vũ trụ, một số quốc gia đề xuấtranh giới này nằm ở độ cao 100 km có thể chênh lệch trên dới 10 km Tuynhiên, quan điểm về đờng ranh giới này không đợc nhiều quốc gia trên thếgiới ủng hộ và đến nay giới hạn giữa vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia

và khoảng không vũ trụ vẫn bỏ ngỏ

Khoảng không vũ trụ theo Giáo trình Luật Quốc tế của Trờng Đại học

Luật Hà Nội là “khoảng không nằm ngoài khoảng không khí quyển (môi ờng hoạt động của phơng tiện bay hàng không) và các hành tinh”[226,1]

tr-Định nghĩa trên về khoảng không vũ trụ đã đa ra đợc cách hiểu vềkhoảng không vũ trụ, tuy nhiên cha xác định ranh giới của khoảng không vũtrụ Nhng có thể hiểu khoảng không vũ trụ là khoảng không nằm bên trên vàliền kề với vùng trời thuộc quyền tài phán của quốc gia Hai vùng này có chế

độ pháp lý rất khác nhau nên việc xác định ranh giới khoảng không vũ trụ là

Trang 6

một yêu cầu rất cần thiết nhằm xác định cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn

đề liên quan đến chủ quyền quốc gia đối với vùng trời và giảm bớt nhữngtranh chấp giữa các quốc gia khi thăm dò, sử dụng khoảng không vũ trụ

Pháp luật về khoảng không vũ trụ là một ngành luật mới trong hệ thống

pháp luật quốc tế và là một ngành luật độc lập với các ngành luật khác Domới hình thành, phát triển và là “con đẻ” của khoa học kỹ thuật tiên tiến nênluật vũ trụ đã kế thừa đợc những tinh hoa của nhân loại trong quá trình xâydựng hệ thống quy phạm pháp luật Phạm vi điều chỉnh của pháp luật vềkhoảng không vũ trụ gồm hoạt động của các quốc gia trong khoảng không vũtrụ; trên các hành tinh; trên mặt đất; trong khoảng không gian là môi trờnghoạt động của phơng tiện bay hàng không có liên quan đến hoạt động thăm dò,khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ của quốc gia đó

Khái niệm pháp luật về khoảng không vũ trụ đợc hình thành trớc khidiễn ra công cuộc chinh phục vũ trụ, từ năm 1910 tác giả E.LAUDE ngờiPháp đã có bài viết trên “Tạp chí Pháp lý quốc tế về chuyển động trong khônggian” trình bày những nguyên tắc cơ bản của ngành luật vũ trụ và theo ôngngành luật vũ trụ là một ngành luật độc lập với pháp luật về vùng trời [59,5]

Theo Giáo trình Luật Quốc tế của Trờng Đại học Luật Hà Nội thì “Luật

vũ trụ quốc tế là tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm pháp lý quốc tế, điềuchỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế trong quá trình tiếnhành các hoạt động nghiên cứu, sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả các hành

tinh” [224,1].

Trong buổi Hội thảo Pháp – Việt về khoảng không vũ trụ, GS PhilippeAchilleas, Trờng Đại học tổng hợp Paris XI, Pháp đã trình bày khái niệm phápluật về khoảng không vũ trụ bao gồm “tổng thể các quy phạm pháp luật điềuchỉnh các hoạt động của con ngời tiến hành trong khoảng không vũ trụ hoặctrên các thiên thể vũ trụ, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh tronglĩnh vực thăm dò và khai thác khoảng không vũ trụ hay các thiên thể vũ trụ”

[59,5].

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về luật khoảng không vũ trụ,

nh-ng có thể hiểu một cách khái quát pháp luật khoảnh-ng khônh-ng vũ trụ là tổnh-ng thể các quy phạm pháp luật điều các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thăm dò, khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ, các thiên thể.

1.1.2 Nguồn tài nguyên vũ trụ

Trang 7

Khi con ngời khai phá đợc khoảng không vũ trụ cũng đồng thời khaithác sử dụng nó, dới bàn tay khối óc của nhân loại, khoảng không vũ trụ nơi

mà trớc đó vẫn còn mang tính huyền bí, thần thánh đã dần đợc con ngời chinhphục và sử dụng để phục vụ lại chính mình Những lợi ích mà con ngời khaithác đợc từ khoảng không vũ trụ có thể gọi là các nguồn tài nguyên vũ trụ làrất lớn Các nguồn tài nguyền vũ trụ đợc khai thác, sử dụng trên thực tế hiệnnay và khá thông dụng trên thế giới là các dải tần số và các vị trí quỹ đạo

Các dải tần số và các vị trí quỹ đạo là nguồn tài nguyên vũ trụ rất quýhiếm, đợc coi là tài sản chung của nhân loại, đợc các tổ chức quốc tế của Liênhợp quốc quản lý một cách chặt chẽ, công bằng

Các dải tần số vô tuyến điện là nguồn tài nguyên vũ trụ không bao giờ

bị cạn kiệt, không bị tác động bởi bất kỳ điều kiện nào và không bị thoái hoáhay suy kiệt do việc sử dụng thờng xuyên liên tục Các dải tần số vô tuyến

điện trải rộng trên phạm vi nhiều quốc gia và không thể truyền nhiều tín hiệutrên cùng một tần số, vì vậy vấn đề hợp tác quốc tế trong tổ chức sử dụng cácdải tần số vô tuyến điện đợc đánh giá cao

Các vị trí quỹ đạo trong quỹ đạo địa tĩnh và quỹ đạo thấp cũng là nguồn

tài nguyên vũ trụ quý hiếm và hạn chế về mặt số lợng Các vệ tinh nhân tạo

đ-ợc đa vào các vị trí qũy đạo riêng để khai thác, sử dụng vào nhiều mục đíchkhác nhau nh: thông tin viễn thông, phát sóng truyền hình, quan sát Trái đất

để dự báo các thay đổi về môi trờng, biến đổi khí hậu…một số n

Quỹ đạo địa tĩnh nằm ở độ cao 36.000 km so với mặt đất, nằm trongquỹ đạo này các vệ tinh luôn có vị trí cố định so với mặt đất vì bay cùng vậntốc với vận tốc của Trái đất, do đó các trạm thu dới mặt đất có thể đứng cố

định để thu sóng từ vệ tinh nằm trong quỹ đạo này Một vệ tinh đợc đa lên vịtrí thuộc quỹ đạo địa tĩnh sẽ có thể phủ sóng đợc một vùng rộng lớn, theoGiáo s Philippe Achileas, Trờng Đại học tổng hợp Paris XI, Pháp, ở độ cao36.000 km chỉ cần 3 vệ tinh địa tĩnh là có thể phủ sóng cho toàn bộ Trái đất[58,5]

Quỹ đạo thấp nằm rất gần mặt đất có hai loại: quỹ đạo thấp từ 400 km

đến 2.000 km và quỹ đạo thấp trung bình nằm cách mặt đất khoảng 10.000

km Việc sử dụng quỹ đạo thấp có thể giảm đợc thời gian truyền tín hiệu,giảm đợc kích thớc, chi phí sản xuất các thiết bị thu sóng so với việc sử dụngquỹ đạo địa tĩnh, nhng vùng phủ sóng nhỏ hơn, đồng thời các vệ tinh ở vị trí

Trang 8

quỹ đạo này phải chịu lực ma sát của tầng khí quyển lớn hơn nên có nguy cơrối loạn, tuổi thọ ngắn.

Ngoài các nguồn tài nguyên vũ trụ trên, con ngời còn có thể khai thác

đợc nhiều lợi ích từ khoảng không vũ trụ Hiện nay, nhiều quốc gia trên thếgiới, đặc biệt là các quốc gia có ngành khoa học, công nghệ vũ trụ phát triển

đang tiếp tục nghiên cứu khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể khácnhằm mục đích khai thác và sử dụng chúng một cách hiệu quả phục vụ chocác nhu cầu của con ngời

1.2 Vai trò của sự chiếm lĩnh khoảng không vũ trụ

Khoảng vài thập kỷ gần đây cùng với sự phát triển vợt bậc của khoa họccông nghệ vũ trụ và các lĩnh vực khoa học khác có liên quan nh: công nghệthông tin, cơ khí, điện tử, công nghệ vật liệu…một số n, hoạt động thăm dò, khai thác,

sử dụng khoảng không vũ trụ của con ngời đã có những bớc phát triển mạnh

mẽ, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế và quá trình toàn cầu hoá nềnkinh tế thế giới

Chiếm lĩnh khoảng không vũ trụ khẳng định quyền lợi và chủ quyềncủa mỗi quốc gia đối với khoảng không vũ trụ Nh đã trình bày ở mục 1.1.2 vịtrí quỹ đạo địa tĩnh cho vệ tinh là hữu hạn nên việc “chiếm lĩnh” khoảngkhông vũ trụ thông qua việc sử dụng vệ tinh khẳng định quyền lợi và chủquyền của mỗi quốc gia đối với việc sử dụng khoảng không vũ trụ

Chiếm lĩnh khoảng không vũ trụ còn có vai trò to lớn trong quá trìnhphát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ an ninh – quốc phòng

Nhờ có vệ tinh mà hàng tỷ cá nhân trên khắp các châu lục có thể liênlạc với nhau một cách thuận tiện, nhanh chóng, họ có thể cùng theo dõi mộttrận bóng đá, một bản nhạc, một cuộc hội nghị quan trọng…một số nthông qua truyềnhình, phát thanh và điều này đã tiết kiệm rất nhiều chi phí cho con ngời, đápứng nhu cầu cho con ngời một cách tốt nhất Nhờ có vệ tinh mà nhiều doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực thông tin, truyền thông đã thu về nhữngkhoản lợi nhuận khổng lồ Ngoài ra, trong hoạt động bảo vệ an ninh, quốcphòng các chủng loại vệ tinh do thám hình ảnh, vệ tinh do thám tín hiệu, vệtinh thông tin liên lạc, vệ tinh định vị dẫn đờng, các vệ tinh hỗ trợ phòng thủ đ

…một số n ợc ứng dụng rộng rãi và trở thành nhân tố quan trọng của hoạt động này

Các vệ tinh viễn thám có độ phân giải tối u phục vụ cho các hoạt độngnghiên cứu vật lý thiên văn, vật lý khí quyển, vật lý địa cầu, quan trắc trọng tr-

Trang 9

ờng Trái đất, các tham số khí tợng, quan trắc độ cao mực nớc biển, nhiệt độhoặc độ mặn của các vùng biển đã phục vụ các hoạt động nghiên cứu khoahọc trái đất, nghiên cứu biến đổi khí hậu toàn cầu

Sự tích hợp của công nghệ viễn thám, công nghệ định vị nhờ vệ tinh đãcho phép số hoá công tác đo đạc bản đồ phục vụ cho việc xây dựng các hệthống quan trắc môi trờng, cảnh báo sớm các thảm hoạ thiên nhiên nh bão, lũlụt, nắng nóng, sóng thần đồng thời còn là công cụ hữu hiệu giúp con ngời sửdụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên Vệ tinh ngày càng trở thànhcông cụ đắc lực phục vụ các nhu cầu thiết yếu của con ngời, đáp ứng các nhucầu về kinh doanh thơng mại của nhiều quốc gia trên thế giới

ở Việt Nam hiện nay, các thành quả to lớn từ việc nghiên cứu và ứngdụng công nghệ vũ trụ của các nớc phát triển đang có những ảnh hởng rất lớn

đến sự phát triển ngành công nghệ vũ trụ và ngành luật về khoảng không vũtrụ Những nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ của nớc ta hiện đã cónhững đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội; vào quátrình hội nhập kinh tế thế giới, đảm bảo an ninh quốc phòng cho đất nớc

Thật vậy, tính từ tháng 7/1980 - chuyến bay lịch sử của nhà du hành vũtrụ đầu tiên của Phạm Tuân đến nay, nớc ta đã có trên 30 năm tiếp cận vớicông nghệ vũ trụ, việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ cũng cónhững bớc phát triển lớn Đúng 5h15 sáng ngày 19/4/2008 (theo giờ ViệtNam) tên lửa Arian 5 đã rời bệ phóng tại Kourou – Pháp mang theo vệ tinh

đầu tiên của Việt Nam - Vinasat 1 tiến vào quỹ đạo Đây là mốc lịch sử quantrọng đánh dấu bớc phát triển mới của nền công nghệ vũ trụ Việt Nam, đồngthời khẳng định quyền lợi và chủ quyền quốc gia trên quỹ đạo, mở ra cơ hộikinh doanh dịch vụ vệ tinh Vệ tinh Vinasat 1 - vệ tinh đầu tiên của Việt Nam

đợc phóng lên quỹ đạo nhằm phục vụ nhu cầu thông tin liên lạc, truyền hình,dịch vụ viễn thông, điều tra, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trờng; giámsát và cảnh báo thiên tai; quy hoạch, quản lý lãnh thổ và đáp ứng nhiều nhucầu khác

Trang 10

a – Hình ảnh phóng vệ tinh Vinasat 1 của Việt Nam vào lúc 5h15 (giờViệt Nam) ngày 19/4/2008 tại Kourou – Pháp

Đứng trớc những lợi ích kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh quốc phòng

mà ngành công nghệ vũ trụ đem lại, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh hoạt

động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ vũ trụ, đồng thời xây dựngban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hộimới phát sinh từ hoạt động này Tuy nhiên, Việt Nam là một trong nhữngquốc gia có trình độ phát triển kinh tế – xã hội thấp nên việc tham gia vàocác hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ là một vấn đềmới và còn hạn chế Khi tham gia vào hoạt động này, Việt Nam phải tôn trọng

và thực hiện các cam kết quốc tế về khoảng không vũ trụ

1.3 Lịch sử hình thành, phát triển pháp luật vũ trụ

1.3.1 Lịch sử hình thành

Hoạt động thăm dò, khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ của loàingời đã đợc bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷ trớc, đánh dấu bằng sự kiệnLiên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo Spoutnik vào khoảng không vũ trụngày 04/10/1957, tiếp đó là các sự kiện nh: con tàu vũ trụ đầu tiên - Voxtoc dophi công ngời Nga Youri Gagarin điều khiển bay quanh Trái đất ngày12/4/1961, sau đó vào tháng 2/1962 nhà du hành vũ trụ ngời Mỹ John Glenn

đã thực hiện chuyến thám hiểm vũ trụ trên con tàu Mercury và ngày20/07/1969 con tàu Apollo 11 đa Neil Armstrong và Edwin ldrin lên Mặttrăng [60,4] Chính sự chạy đua giữa Liên Xô - Hoa Kỳ, Đông – Tây trong

Trang 11

cuộc chiến tranh lạnh sau thế chiến thế giới thứ II đã thúc đẩy công nghệ vũtrụ và hoạt động thăm dò, khai thác sử dụng khoảng không vũ trụ có những b-

ớc tiến vợt bậc nh trên Tuy nhiên, sau hơn nửa thế kỷ, việc phát triển côngnghệ vũ trụ và hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ vìmục đích dân sự đã thay thế cho mục đích chính trị trớc đó, chính sự chuyểnhớng này đã đem lại những lợi ích to lớn cho các quốc gia trong quá trình pháttriển kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, đặc biệt

là ngành công nghiệp viễn thông qua vệ tinh vì mục đích thơng mại…một số n, ngoài

ra, một số nớc trên thế giới còn đặt ra mục tiêu xây dựng căn cứ trên mặt trăng

để khai thác, trung chuyển ngời lên sao Hoả hay các nhà khoa học Mỹ hiện

đang nghiên cứu về việc trồng cây trên Mặt trăng…một số n

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà thành quả của công nghệ

vũ trụ và hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ đạt đợc

là hàng loạt các vấn đề bất cập cũng đồng thời phát sinh nh: vấn đề rác thải vũtrụ; chạy đua vũ trang trên vũ trụ; sử dụng vũ trụ vào mục đích quân sự; tranhchấp về việc sử dụng khoảng không vũ trụ; tranh chấp về những va chạm giữacác vật thể do các quốc gia phóng lên vũ trụ …một số n Có thể nói hoạt động thăm dò,khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ hiện đang diễn ra rất sôi nổi, có tính

độc đáo, chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động kinh tế, thơng mại, an ninhquốc phòng của nhiều quốc gia trên thế giới và là khu vực tiềm năng để conngời khai thác, sử dụng nhng cũng tiềm ẩn những nguy hiểm đe doạ đến cuộcsống của con ngời trên Trái đất

Trang 12

b Edwin Aldrin cắm cờ Mỹ lên Mặt trăng

Với các quan hệ xã hội mới phát sinh tất yếu cần một hệ thống quyphạm pháp luật để điều chỉnh nhằm thiết lập một trật tự pháp lý đối với cácquan hệ này Các quan hệ liên quan đến hoạt động thăm dò, khai thác, sửdụng khoảng không vũ trụ cũng vậy Hiện luật pháp vũ trụ quốc tế cũng nhluật vũ trụ của một số quốc gia trên thế giới đã đợc xây dựng và ngày cànghoàn thiện, bao gồm các thoả thuận, điều ớc quốc tế, hiệp ớc, các quy tắc, cácquy định của tổ chức quốc tế, luật pháp quốc gia, các quy định về điều hành,quản lý, các quyết định…một số n, mục tiêu của pháp luật vũ trụ là đảm bảo một cáchhợp lý về việc chịu trách nhiệm cho các phơng pháp tiếp cận, thăm dò, sửdụng không gian vũ trụ vì lợi ích quốc gia và vì lợi ích chung của nhân loại

Pháp luật về không gian điều chỉnh các hoạt động khác nhau nh: hoạt

động quân sự trong không gian bên ngoài, bảo tồn không gian, môi trờngchung của trái đất, trách nhiệm pháp lý do các thiệt hại gây ra bởi các đối tợngkhông gian, giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích của quốc gia, cứu hộ phihành gia, chia sẻ thông tin về tiềm năng nguy hiểm trong không gian bênngoài, sử dụng không gian liên quan đến công nghệ vũ trụ và vấn đề hợp tácquốc tế…một số n Chính hệ thống các quy phạm pháp luật này đã thiết lập một trật tựpháp lý chung cho hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ

Trang 13

của nhân loại trong giai đoạn hiện nay, đồng thời phân chia rõ ràng quyền,nghĩa vụ đối với các chủ thể trong hoạt động này.

1.3.2 Khái quát cơ sở pháp luật về khoảng không vũ trụ

Luật khoảng không vũ trụ là một ngành luật mới nhng đến nay các quyphạm pháp luật về khoảng không vũ trụ đã đợc hình thành và trở thành một hệthống quy phạm pháp luật khá hoàn chỉnh Cũng nh các ngành luật khác, hệthống các quy phạm pháp luật về khoảng không vũ trụ gồm các điều ớc quốctế; các hiệp định khoa học – kỹ thuật quốc tế liên quan đến hoạt động củacác quốc gia trong vũ trụ; tập quán vũ trụ quốc tế; pháp luật quốc gia…một số n

Trong hệ thống quy phạm pháp luật về khoảng không vũ trụ 5 bộnguyên tắc đợc ghi nhận trong các Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợpquốc và 5 điều ớc quốc tế về vũ trụ đợc coi là các nguyên tắc và quy phạmpháp lý cơ bản:

1.3.2.1 Năm điều ớc quốc tế về khoảng không vũ trụ [40] gồm:

a The Treaty on Principles Governing the Activities of State in theexploration and use of outer space, including the Moon and other celestialbodies (the outer space treaty, adopted by the General Assembly in itsresolution 2222 (XXI), opened for signature on 27 January 1967, entered intoforce on 10 October 1967

Hiệp ớc về các nguyên tắc hoạt động của quốc gia trong nghiên cứu và

sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác Hiệp ớc

về khoảng không vũ trụ này đợc thông qua trong Nghị quyết 2222 (XXI) năm

1967 của Đại hội đồng Liên hợp quốc Hiệp ớc đợc ký vào ngày 27/01/1967

Hiệp định về cứu hộ phi công vũ trụ, trao trả phi công vũ trụ và các

ph-ơng tiện đợc đa vào khoảng không vũ trụ Hiệp định đợc thông qua bởi Nghịquyết 2345 (XXII) của Đại hội đồng Liên hợp quốc, ký kết ngày 22/4/1968,

có hiệu lực từ ngày 3/12/1968

Trang 14

Tính đến 01/01/2008, Hiệp định có 24 quốc gia ký kết, 90 quốc gia phêchuẩn và 01 quốc gia cam kết thực hiện các quyền và nghĩa vụ.

c The Convention on international Liability for damage caused byspace objects (the “Liability convention”, adopted by the General Assembly inits resolution 2777 (XXVI), opened for signature on 29 march 1972, enteredinto force on 1 September 1972

Công ớc quốc tế về trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với thiệt hại do cácvật thể vũ trụ gây ra Công ớc đợc thông qua bởi Nghị quyết 2777 (XXVI) của

Đại hội đồng Liên hợp quốc, ký kết ngày 29/3/1972, có hiệu lực từ ngày01/9/1972

Tính đến ngày 01/01/2008, Công ớc có 24 quốc gia ký kết, 86 quốc giaphê chuẩn và 3 quốc gia cam kết thực hiện các quyền và nghĩa vụ

d The Convention on registration of objects launched into outer space(the “Registration convention”, adopted by the General assembly in itsresolution 3235 (XXIX), opened for signature on 14 January 1975, enteredinto force on 15 september 1976

Công ớc về đăng ký các vật thể phóng vào khoảng không vũ trụ đợcthông qua bởi Nghị quyết 3235 (XXIX) của Đại hội đồng Liên hợp quốc, kýkết ngày 14/01/1975, có hiệu lực ngày 15/9/1976

Tính đến ngày 01/01/2008, Công ớc có 4 quốc gia ký kết, 51 quốc giaphê chuẩn và 2 quốc gia cam kết thực hiện quyền và nghĩa vụ

e The Agreement governing the activities of States on the Moon andother celestial bodies (the “Moon agreement”, adopted by the Generalassembly in its resolution 34/68), opened for signature on 18 December 1979,entered into forced on 11 July 1984

Công ớc về hoạt động của các quốc gia trên Mặt trăng và các thiên thểkhác Công ớc đợc thông qua bởi Nghị quyết 34/68 của Đại hội đồng Liên hợpquốc, ký kết ngày 18/12/1979, có hiệu lực từ ngày 11/7/1984

Tính đến ngày 01/01/2008, Công ớc có 4 quốc gia ký kết và 13 quốc giaphê chuẩn

Có thể khái quát các nguyên tắc chung mà 5 công ớc trên bao gồmnguyên tắc bất kỳ một quốc gia nào cũng không đợc chiếm dụng riêng khoảngkhông vũ trụ cho quốc gia mình; nguyên tắc kiểm soát vũ khí; tự do khai thác,nghiên cứu khoảng không vũ trụ; trách nhiệm pháp lý đối với các thiệt hại gây

Trang 15

ra bởi các vật thể đợc phóng vào khoảng không vũ trụ; sự an toàn và cứu hộcủa các vật thể vũ trụ và phi hành gia; công tác phòng chống nguy hại do cáchoạt động vũ trụ tới môi trờng; thông báo và đăng ký các hoạt động vũ trụ;nghiên cứu khoa học, khai thác các nguồn tài nguyên từ vũ trụ và việc giảiquyết tranh chấp Mỗi điều ớc đều đợc xây dựng trên cơ sở tôn trọng quyềncủa quốc gia trong khoảng không vũ trụ, mỗi hoạt động bên ngoài khoảngkhông vũ trụ đều dựa trên nguyên tắc vì lợi ích của quốc gia, con ngời và vìmục đích hoà bình; đồng thời mỗi công ớc đều đợc xây dựng trên nền ý tởngthúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong các hoạt động bên ngoài không gian và tăngcờng quan hệ hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc.

1.3.2.2 Năm bộ nguyên tắc quốc tế về khoảng không vũ trụ [40] gồm:

a The declaration of Legal Principles governing the activities of state inthe exploration and uses of outer space (Genaral assembly resolution 1962(XVIII) of 13 December 1963);

Tuyên bố hệ thống các nguyên tắc về hoạt động nghiên cứu và sử dụngkhoảng không vũ trụ của các quốc gia, đợc thông qua bởi Nghị quyết 1962(VVIII) ngày 13/12/1963 của Đại hội đồng Liên hợp quốc Tuy nhiên, nộidung các nguyên tắc này đã đợc nhắc lại trong Hiệp ớc về các nguyên tắc hoạt

động của quốc gia trong nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ kể cảMặt trăng và các thiên thể khác năm 1967

b The Principles governing the use by states of artificial earth satellitesfor international direct television broadcasting (resolution 37/92 of 10december 1982

Các nguyên tắc sử dụng vệ tinh nhân tạo của các quốc gia cho việc phátsóng truyền hình quốc tế trực tiếp, đợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông quabởi Nghị quyết 37/92 ngày 10/12/1982

c The principles relating to remote sensing of the earth from outerspace (resolution 41/65 of 3 deceber 1986)

Các nguyên tắc liên quan đến việc viễn thám Trái đất từ khoảng không

vũ trụ đợc ghi nhận trong Nghị quyết 41/65 ngày 3/12/1986 của Đại hội đồngLiên hợp quốc

d The principles relevant to the of nuclear power sources in outer space(resolution 47/68 of 14 december 1992)

Trang 16

Các nguyên tắc liên quan đến việc sử dụng nguồn năng lợng hạt nhântrong khoảng không vũ trụ, đợc ghi nhận trong Nghị quyết 47/68 ngày14/12/1992 của Đại hội đồng Liên hợp quốc.

e The declaration on international cooperation in the exploration anduse of outer space for the benefit and in the interest of all states, taking intoparticular account the needs of developing countries (resolution 51/122 of 13december 1996)

Tuyên bố về hợp tác quốc tế trong việc khai thác và sử dụng khoảngkhông vũ trụ vì quyền và lợi ích của tất cả các quốc gia, đặc biệt quan tâm đếnnhu cầu của các nớc đang phát triển Đợc thông qua tại Nghị quyết 51/122ngày 13/12/1996 của Đại hội đồng Liên hợp quốc

Năm bộ nguyên tắc pháp lý về khoảng không vũ trụ của Đại hội đồngLiên hợp quốc trên đã bổ sung vào hệ thống các quy phạm pháp luật vũ trụquốc tế, góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế, hiểu biết lẫn nhau giữacác quốc gia trong hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũtrụ; thúc đẩy việc phổ biến và trao đổi thông tin thông qua việc phát sóngtruyền hình trực tiếp qua vệ tinh; đặt ra các tiêu chuẩn để quy định vấn đề antoàn trong việc sử dụng các nguồn năng lợng hạt nhân khi khai thác và sửdụng khoảng không vũ trụ

Có thể nói, năm công ớc và năm bộ nguyên tắc trên là những quy phạmpháp luật cơ bản của hệ thống quy phạm pháp luật khoảng không vũ trụ quốc

tế, là xơng sống của ngành luật vũ trụ trong thời điểm hiện nay Ngoài ra, cácquy phạm pháp luật vũ trụ còn nằm trong các hiệp định hợp tác khoa học, kỹthuật có liên quan đến hoạt đông thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũtrụ; các điều ớc thành lập các tổ chức vũ trụ liên quốc gia; các điều ớc đa phơnghoặc song phơng về các vấn đề chung và riêng về hoạt động của các quốc giatrong vũ trụ…một số n Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu,tìm hiểu các quy định trong năm điều ớc và năm bộ nguyên tắc cơ bản trên

Trang 17

1.3.2.3 Các nguyên tắc cơ bản của luật vũ trụ quốc tế

Ngay từ khi một số quốc gia trên thế giới quan tâm, đầu t phát triển cácngành khoa học kỹ thuật nhằm đáp ứng việc thăm dò, khai thác và sử dụngkhoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể khác, thì các nguyên tắc cơbản của ngành luật này đã đợc các quốc gia quan tâm thống nhất xây dựng.Thật vậy, trong Bộ nguyên tắc về hoạt động thăm dò và sử dụng khoảngkhông vũ trụ của các quốc gia đợc Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông quatrong Nghị quyết 1962 (VVIII) ngày 13/12/1963 đợc xây dựng trên cơ sở phùhợp với luật pháp quốc tế, bao gồm cả Hiến chơng Liên hiệp quốc và vì mục

đích hoà bình, an ninh quốc tế, thúc đẩy hợp tác, sự hiểu biết lẫn nhau giữacác quốc gia, đã đa ra 9 nguyên tắc cơ bản đối với hoạt động này, trong đó 3nguyên tắc sau trở thành những nguyên tắc cơ bản của ngành luật vũ trụ saunày:

- Nguyên tắc khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ phải đợc tiến hànhvì quyền và lợi ích của tất cả nhân loại;

- Nguyên tắc tất cả các quốc gia đều bình đẳng và có quyền tự do thăm

dò, sử dụng khoảng không vũ trụ và các thiên thể khác theo quy định của phápluật quốc tế;

- Bất kỳ quốc gia nào cũng không đợc chiếm dụng riêng khoảng không

vũ trụ và các thiên thể khác bằng các tuyên bố, bằng việc chiếm giữ hoặc sửdụng hay bất hình thức nào khác

Sau đó, ngày 27/01/1967 Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông quaHiệp ớc về các nguyên tắc hoạt động của quốc gia trong nghiên cứu và sửdụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác trong Nghịquyết 2222 (XXI) Kế thừa các quy định trong Bộ nguyên tắc về hoạt độngthăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ của các quốc gia năm 1963, Hiệp ớctrên đã quy định những nguyên tắc cơ bản cho mọi hoạt động ngoài khoảngkhông vũ trụ, kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác gồm:

- Nguyên tắc thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng

và các thiên thể khác phải đợc thực hiện vì mục đích hoà bình và vì lợi ích củatất cả các quốc gia, không phân biệt trình độ phát triển kinh tế, khoa học; việcthăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ là công việc chung của toàn nhânloại (đoạn 1, Điều 1);

Trang 18

- Khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể khác có thể đợc tấtcả các quốc gia thăm dò, sử dụng một cách tự do, không có sự phân biệt nào,theo nguyên tắc bình đẳng và phù hợp với luật pháp quốc tế Mọi khu vực củacác thiên thể đều có thể đợc thăm dò và khai thác một cách tự do; Việc nghiêncứu khoa học đợc tiến hành tự do trong khoảng không vũ trụ, kể cả Mặt trăng

và các thiên thể khác Các quốc gia phải tạo điều kiện thuận lợi và khuyếnkhích việc hợp tác quốc tế trong các hoạt động nghiên cứu khoa học này (đoạn

Theo các quy định trên, các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thăm

dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ, kể cả Mặt trăng và các thiên thểkhác có thể đợc tóm lợc thành 3 nguyên tắc: nguyên tắc tự do tiến hành cáchoạt động trong vũ trụ; nguyên tắc không chiếm dụng làm của riêng vànguyên tắc lợi ích chung

Nguyên tắc tự do tiến hành các hoạt động trong vũ trụ đợc coi là

nguyên tắc cơ bản đầu tiên trong hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụngkhoảng không vũ trụ, Mặt trăng, các thiên thể khác và là nguyên tắc xuyênsuốt quá trình xây dựng, thực hiện luật vũ trụ quốc tế từ khi hình thành đếnnay – khi mà hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ vìmục đích thơng mại trở lên phổ biến và trở thành mục đích chính trong việckhai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ của nhiều quốc gia trên thế giới.Nguyên tắc tự do tiến hành các hoạt động trong khoảng không vũ trụ đợc ápdụng cho tất cả các quốc gia trên thế giới, mọi quốc gia đều đợc hởng quyền

tự do này

Tuy nhiên, nguyên tắc tự do tiến hành các hoạt động trong khoảngkhông vũ trụ chỉ mang tính tơng đối vì trình độ phát triển khoa học, công nghệcủa các quốc gia trên thế giới không đồng đều Đối với một quốc gia cha đủtiềm lực khoa học kỹ thuật để khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ thìnguyên tắc tự do tiến hành các hoạt động trong khoảng không vũ trụ khó đợcthực hiện Và khó có thể đạt đợc sự bình đẳng trong việc thực hiện nguyên tắcnày giữa quốc gia có trình độ khoa học - kỹ thuật phát triển và quốc gia có

Trang 19

trình độ khoa học – kỹ thuật kém phát triển Chính vì vậy, mặc dù nguyên tắcnày đợc đặt ra từ những năm 1963, 1967 song việc thăm dò, khai thác, sửdụng khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể khác vẫn là lĩnh vực độcquyền của các quốc gia Nga, Hoa Kỳ và một số quốc gia Đông Âu khác…một số nNgày nay, nhiều quốc gia ở Châu á, Châu Phi…một số n đã đạt đợc trình độ khoa học,công nghệ vũ trụ nhất định, đã tiến hành các hoạt động thăm dò, khai thác, sửdụng khoảng không vũ trụ Nớc ta cũng đã bớc đầu đã thực hiện đợc chủquyền và có đợc quyền lợi của quốc gia trong khoảng không vũ trụ sau khiphóng thành công vệ tinh nhân tạo Vinasat I Mặc dù vậy, vẫn còn rất nhiềucác quốc gia trên thế giới vẫn cha có cơ hội để thực hiện quyền tự do này.

Đồng thời, tự do khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ, Mặt trăng vàcác thiên thể khác không có nghĩa là đợc khai thác và sử dụng một cách bừabãi Mọi hoạt động khai thác, sử dụng đều phải đợc tiến hành trên cơ sở tuânthủ, tôn trọng các quy định của Hiến chơng Liên hợp quốc và các quy địnhkhác của Luật vũ trụ quốc tế

Nguyên tắc không chiếm dụng làm của riêng, theo ông Philippe

Achilleas, giáo s Trờng Đại học tổng hợp Paris XI, là nguyên tắc “mang tínhcách mạng, loại trừ mọi yêu sách về chủ quyền của các quốc gia đối vớikhoảng không vũ trụ, và chính điểm này ngời ta phân biệt giữa pháp luật vũtrụ và pháp luật về vùng trời” [61,5] Có thể nói, nguyên tắc không chiếmdụng làm của riêng đã khẳng định không một quốc gia nào có quyền đòi hỏichủ quyền đối với bất cứ khu vực nào của khoảng không vũ trụ, Mặt trăng vàcác thiên thể khác

Năm 1976, một số quốc gia Châu Phi ở vùng xích đạo gồm Braxin,Côlômbia, Cônggô, Xích, Kenia, Uganđa đã tuyên bố chủ quyền của mình

đối với các phần quỹ đạo địa tĩnh của Trái đất nằm phía trên lãnh thổ của cácquốc gia này trong Hội nghị Bôgôta tổ chức từ ngày 29/11 đến ngày03/12/1976 Tuy nhiên, các tuyên bố này đã không đợc thừa nhận vì quỹ đạo

địa tĩnh đợc coi là nằm trong khoảng không vũ trụ và theo quy định tại Điều 2,Hiệp ớc về các nguyên tắc hoạt động của quốc gia trong nghiên cứu và sửdụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác thì khoảngkhông vũ trụ không thể bị “chiếm làm của riêng của bất cứ một quốc gia nàobằng hành vi tuyên bố chủ quyền, hành vi chiếm giữ, sử dụng hay bất kỳ mộthành vi nào khác”

Trang 20

Tuy nhiên để giải quyết tranh chấp này, cần có đợc sự thống nhất củacác quốc gia về ranh giới giữa vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia vàkhoảng không vũ trụ Hiện nay, pháp luật quốc tế đã xây dựng đợc quy chếpháp lý riêng đối với vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia và quy chế pháp

lý riêng đối với khoảng không vũ trụ

Việc xây dựng quy định ranh giới giữa vùng trời thuộc quyền tài phánquốc gia và khoảng không vũ trụ là một yêu cầu cấp thiết, khi đợc xây dựng

nó sẽ là cơ sở pháp lý để thực hiện nguyên tắc “không chiếm dụng làm củariêng” trên

Ngoài ra, khi xem xét nguyên tắc “không chiếm dụng làm của riêng”trong các hoạt động ngoài khoảng không vũ trụ chúng ta cần phân biệt kháiniệm “chiếm dụng làm của riêng” và khái niệm “chiếm giữ” Một quốc gia đã

đăng ký và sử dụng một vị trí quỹ đạo – tức là đang “chiếm giữ” vị trí quỹ

đạo đó và thời gian sử dụng vị trí quỹ đạo này có thể kéo dài trong nhiều năm,trong trờng hợp này, khái niệm “chiếm giữ” và “chiếm dụng làm của riêng”rất khó phân biệt Vậy phải hiểu “nguyên tắc không chiếm dụng làm củariêng” trong luật vũ trụ nh thế nào cho đúng? Theo ông Philippe Achilleas,giáo s Trờng Đại học tổng hợp Paris XI “nguyên tắc không chiếm dụng làmcủa riêng” trong luật vũ trụ quốc tế đợc hiểu là để “phân biệt giữa vùng trời –một phần của lãnh thổ quốc gia, đặt dới quyền tài phán quốc gia và khoảng

không vũ trụ – vùng không thuộc quyền tài phán quốc gia” [61,5].

Có thể thừa nhận nguyên tắc “không chiếm dụng làm của riêng” là quy

định đặc thù của luật vũ trụ, dựa trên nguyên tắc này có thể phân biệt luật vũtrụ với luật về vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia Nhng khái niệm

“không chiếm dụng làm của riêng” cần phải đợc hiểu theo nghĩa rộng hơn,không thể hiểu theo nghĩa đơn thuần là một quốc gia chiếm giữ một hay nhiều

vị trí quỹ đạo nào đó trong một khoảng thời gian dài “Không chiếm dụng làmcủa riêng” ở đây đợc hiểu là không thể tuỳ tiện tuyên bố hoặc bằng bất cứ mộthành động nào chiếm giữ bất cứ vùng nào thuộc khoảng không vũ trụ, kể cảMặt trăng, các thiên thể khác và đặt chúng thuộc quyền tài phán của quốc giamình

Nguyên tắc “không chiếm dụng làm của riêng” đợc đặt ra nhằm hạnchế các hành động chiếm dụng tuỳ tiện khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các

Trang 21

thiên thể, nhng cũng không ảnh hởng đến hiệu lực của nguyên tắc “tự do khaithác và sử dụng khoảng không vũ trụ” trong khuôn khổ pháp luật quốc tế

Nguyên tắc vì hoà bình và lợi ích chung Theo nguyên tắc này, thì

khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể khác phải đợc sử dụng vì mục

đích hoà bình và lợi ích chung của tất cả các quốc gia trên thế giới Tại Điều

1, Hiệp ớc về các nguyên tắc hoạt động của quốc gia trong nghiên cứu, sửdụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác đã quy địnhviệc “thăm dò, sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng, các thiên thểphải đợc thực hiện vì mục đích hoà bình và vì lợi ích của tất cả các quốc gia,không phân biệt trình độ phát triển kinh tế, khoa học”

Có thể nói nguyên tắc này là điều kiện bắt buộc đối với các quốc giakhi khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ Các quốc gia có trình độ khoahọc, công nghệ vũ trụ phát triển có các hoạt động thăm dò, khai thác vũ trụ đểphục vụ cho lợi ích của quốc gia mình nhng đồng thời cũng phải quan tâm và

có thái độ ứng xử phù hợp với lợi ích của các quốc gia khác Nghiêm cấm tấtcả các quốc gia thực hiện các hành vi xây dựng, lắp đặt các cơ sở, thiết bịquân sự, các công sự đồn trú, thử vũ khí, bất kể là vũ khí gì và nghiên cứu tiếnhành diễn tập, tập trận quân sự trên các thiên thể Có xem xét việc sử dụngnhân viên quân sự vào mục đích nghiên cứu khoa học hay các mục đích hoàbình khác và việc sử dụng trang thiết bị cần thiết cho hoạt động thăm dò Mặttrăng, các thiên thể vì mục đích hoà bình

Thực tế quy định trên có tính chất chung chung, không có hiệu lực trựctiếp, không thể đa ra những tiêu chí rõ ràng cho các hoạt động khai thác, sửdụng khoảng không vũ trụ, mặt trăng và các thiên thể khác “vì mục đích hoàbình và vì lợi ích của tất cả các quốc gia trên thế giới” Một quốc gia có trình

độ khoa học, công nghệ vũ trụ kém phát triển khó có thể viện dẫn điều khoảnnày để đề nghị các quốc gia có trình độ khoa học, công nghệ vũ trụ phát triểnphải quan tâm và có thái độ ứng xử phù hợp với lợi ích của quốc gia mình mộtcách vô điều kiện trong hoạt động khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ,mặt trăng và các thiên thể khác Tuy nhiên, việc hợp tác, kinh doanh, phối hợphoạt động trên cơ sở tôn trọng lợi ích và thoả thuận giữa các quốc gia tronghoạt động khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ hiện nay đang đợc rấtnhiều quốc gia quan tâm

Trang 22

Có thể nói, nguyên tắc vì lợi ích của tất cả các quốc gia trong hoạt

động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ, mặt trăng và các thiênthể khác đợc đảm bảo thực hiện bằng sự tự giác của các quốc gia có trình độkhoa học, công nghệ vũ trụ phát triển Nguyên tắc này mang tính nhân văn, vìtoàn bộ nhân loại và góp phần để các quốc gia có trình độ khoa học, côngnghệ phát triển có thái độ ứng xử phù hợp

Việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật quốc tế về khoảng không vũ trụgiúp các quốc gia và các chủ thể khác có thể hiểu và thực hiện đúng các quy

định đó khi tham gia vào hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không

vũ trụ vì mục đích hoà bình; hài hoà lợi ích với các dân tộc khác; mở rộng hợptác quốc tế trong lĩnh vực này và tăng cờng quan hệ hữu nghị, hiểu biết lẫnnhau với các quốc gia khác Đồng thời, để quyền lợi và chủ quyền quốc giatrong hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ đợc đảmbảo thực hiện, việc tìm hiểu pháp luật quốc tế về khoảng không vũ trụ là rấtcần thiết

Hiện nay, ở một số nớc trên thế giới nh Hoa Kỳ, Anh, Pháp, NhậtBản…một số n ngành luật vũ trụ đã rất phát triển Tại các nớc này, luật pháp vềkhoảng không vũ trụ đã bớc sang “thế hệ thứ hai” của quá trình phát triển.Thật vậy, là các cờng quốc về khoa học công nghệ vũ trụ các quốc gia này đã

định hớng trớc sự phát triển của luật pháp về vũ trụ song hành với sự phát triểncủa khoa học công nghệ vũ trụ và xu hớng phát triển của các quan hệ xã hội– hệ quả tất yếu của thành quả khoa học công nghệ nh – xu hớng thơng mạihoá hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ Theo dự

đoán của Yasuaki Hashimoto – Giáo s Nhật: “trong tơng lai gần không gianbên ngoài sẽ đợc công nhận quyền nh là một thị trờng hoặc khu vực dành cho

du lịch, sản xuất…một số n của khối doanh nghiệp t nhân” [43] Vì vậy, Nhật Bản đãthiết lập một hệ thống pháp luật mới về khoảng không vũ trụ theo dự đoán vềcác hành vi thơng mại trong tơng lai sẽ diễn ra trong khoảng không vũ trụ nhtình trạng của các phi hành gia, các mối quan hệ của quốc gia và các lĩnh vực tnhân, trách nhiệm thơng mại trong khoảng không vũ trụ

Cha thể so sánh đợc về trình độ phát triển của các nớc trên trong lĩnhvực khoa học công nghệ vũ trụ, cũng nh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thốngcác văn bản quy phạm pháp luật tơng ứng, song việc tìm hiểu các quy địnhpháp luật về ngành luật khoảng không vũ trụ của các quốc gia này là rất cần

Trang 23

thiết cho việc xây dựng, ban hành khung pháp lý về nghiên cứu, ứng dụng vàhợp tác quốc tế trong hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũtrụ của nớc ta

Tóm lại, việc tìm hiểu pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia trênthế giới và liên hệ với pháp luật Việt Nam về khoảng không vũ trụ là nhu cầutất yếu, nhằm đáp ứng một phần yêu cầu thực tiễn của Việt Nam trong việc xâydựng khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động ngoài khoảng không vũ trụ phùhợp với pháp luật quốc tế, đảm bảo quyền lợi và chủ quyền quốc gia, cũng nhphù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam

1.3.2.4 Cơ quan quản lý các hoạt động ngoài khoảng không vũ trụ

* Uỷ ban sử dụng khoảng không vũ trụ vào các mục đích hoà bình(COPOUS)

Ngay sau khi Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo Sputnik 1 lên vũ trụ, năm

1958 Liên hiệp quốc đã thành lập Uỷ ban lâm thời về việc sử dụng khoảng không

vũ vào các mục đích hoà bình nhằm thảo luận các vấn đề pháp lý nảy sinh từhoạt động của con ngời ngoài khoảng không vũ trụ Đến năm 1959, trong Nghịquyết 1472 (XIV) của Liên hiệp quốc, Uỷ ban sử dụng khoảng không vũ trụ vàocác mục đích hoà bình – The United Nation Committee on the Peaceful uses ofouter space (COPUOS) đợc thành lập Ngay khi thành lập Uỷ ban có 24 quốc giathành viên, tính đến năm 2008 Uỷ ban có 69 quốc gia thành viên gồm các quốcgia: Albani, Algria, Argentina, Autralia, Austria, Belgium, Benin, Bolivia, Brazil,Bulgaria, Burkina Faso, Cameroon, Canada, Chad, Chile, China, Colombia,Cuba, Czech Republic, Ecuador, Egypt, France, Hungary, Germany, Greece,India, Indonesia, Iran, Italy, Japan, Kazakhstan, Kenya, Lebanon, Libyan ArabJamahiriya, Malaysia, Mexico, Mongolia, Morocco, Netherlands, Nicaragua,Niger, Nigeria, Pakistan, Peru, Philippines, Poland, Porland, Portugal, Republic

of Korea, Romania, the Russian Federation, Saudi Arabia, Senegal, Sierra Leone,Slovakia, South Africa, Spain, Sudan, Sweden, Switzerland, Syrian ArabRepublic, Thailand, Turkey, The United Kingdom of Great Britain and NorthernIreland, The United State of America, Ukraine, Uruguay, Venezuela và ViệtNam [42]

Uỷ ban sử dụng khoảng không vũ trụ vào các mục đích hoà bình đợcthành lập nhằm xem xét phạm vi các chơng trình hợp tác quốc tế về sử dụngkhoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình và các chơng trình này đợc xây dựng

Trang 24

trên cơ sở cam kết thực hiện dới sự kiểm duyệt của Liên hiệp quốc; khuyến khíchviệc nghiên cứu và phổ biến thông tin về những vấn đề liên quan đến khoảngkhông vũ trụ, nhằm nghiên cứu các vấn đề pháp lý phát sinh từ việc khai thác, sửdụng khoảng không vũ trụ Hiện nay, Uỷ ban sử dụng khoảng không vũ trụ vàocác mục đích hoà bình còn là cơ quan giám sát việc thực hiện các nguyên tắc,các điều ớc quốc tế về khoảng không vũ trụ.

Uỷ ban sử dụng khoảng không vũ trụ gồm có 2 tiểu ban: Tiểu ban Khoahọc - Kỹ thuật và Tiểu ban Pháp lý [41]

COPOUS và hai tiểu ban trên đều tổ chức họp thờng niên để xem xét cáccâu hỏi trớc khi chúng đợc đa ra Đại hội đồng, xem xét các báo cáo của các quốcgia về vấn đề vũ trụ đợc gửi đến và các vấn đề liên quan đợc đa ra từ các quốc giathành viên

Hiện nay, ngoài Uỷ ban sử dụng khoảng không vũ trụ vào mục đích hoàbình của Liên hiệp quốc còn có rất nhiều các cơ quan, tổ chức khác quản lý cáchoạt động ngoài khoảng không vũ trụ nh: cơ quan vũ trụ Châu Âu; tổ chức vệtinh viễn thông quốc tế; tổ chức phi chính phủ Hiệp hội nghiên cứu vũ trụ; tổchức xã hội hoá vũ trụ các quốc gia [41]…một số n

* Cơ quan vũ trụ Châu Âu – European Space Agency (ESA) là tổ chứcliên chính phủ đợc thành lập năm 1975, có 18 quốc gia thành viên ESA cónhiệm xây dựng và phát triển các hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũtrụ của Châu Âu; xây dựng và thực hiện các chơng trình vũ trụ của Châu Âu, cácchơng trình tìm hiểu về Trái đất, môi trờng trong vũ trụ, hệ thống năng lợng mặttrời, phát triển công nghệ và dịch vụ vệ tinh; đảm bảo việc đầu t vào các hoạt

động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ sẽ tiếp tục mang lại nhiều lợi íchcho các công dân Châu Âu và nhân dân thế giới [38]

ESA gồm có trụ sở chính của đặt tại Paris, 6 chi nhánh đặt ở các quốc giathành viên khác (Trung tâm phi hành gia Châu Âu đặt tại Conogne, Đức; 2 Trungtâm thiên văn vũ trụ Châu Âu đặt tại Canada và Tây Ban Nha; Trung tâm cáchoạt động vũ trụ Châu Âu đặt tại Đức, Trung tâm quan sát trái đất ở ý; Trungtâm nghiên cứu và công nghệ vũ trụ Châu Âu), 3 văn phòng liên lạc đặt tại Mỹ,

Bỉ, Nga, 1 sân bay vũ trụ đặt tại Guiana, Pháp và các trạm mặt đất [38]

Hội đồng thành viên là cơ quan chủ quản của ESA, có nhiệm vụ xây dựngcác nguyên tắc hoạt động, các chính sách phát triển các chơng trình vũ trụ củaChâu Âu Mỗi quốc gia thành viên của ESA có một phiếu bầu trong Hội đồng

Trang 25

không phụ thuộc vào độ lớn – bé của lãnh thổ và mức độ đóng góp tài chínhcho các hoạt động của ESA Đứng đầu ESA là Tổng Giám đốc do Hội đồngthành viên bầu với nhiệm kỳ 4 năm [38].

Hiện nay, một số quốc gia cũng thành lập các cơ quan quản lý về vấn đề

vũ trụ của nớc mình nh: Nga, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc …một số n

* Cơ quan quản lý các hoạt động liên quan đến vũ trụ của Hoa Kỳ đợcthành lập năm 1958, đợc gọi là Cục hàng không và vũ trụ quốc gia – Thenational Aeronautics and Space Administration (NASA) Theo quy định tại Điều

202, Luật vũ trụ và hàng không quốc gia năm 1958, NASA là cơ quan quản lýdân sự các hoạt động vũ trụ và hàng không quốc gia, ngời đứng đầu NASA doTổng thống bổ nhiệm sau khi có ý kiến và sự chấp thuận của Thợng nghị viện

Nh vậy, NASA là cơ quan có tính độc lập cao, hoạt động dới sự lãnh đạo và giámsát trực tiếp của Tổng thống Ngời đứng đầu NASA có toàn quyền quản lý vàkiểm soát các nhân viên và các hoạt động của NASA Cấp phó của ngời đứng

đầu NASA cũng do Tổng thống bổ nhiệm sau khi có ý kiến và sự chấp thuận củaThợng nghị viện và có thẩm quyền của ngời đứng đầu trong trờng hợp ngời đứng

đầu NASA vắng mặt hoặc khuyết Ngời đứng đầu và cấp phó của mình không

đ-ợc tham gia hoạt động ở bất cứ doanh nghiệp nào trong thời gian đơng chức

NASA gồm 10 trung tâm chính gồm: Trụ sở chính của Cục hàng không vũtrụ quốc gia, Trung tâm nghiên cứu Langley, Trung tâm nghiên cứu Glenn,Trung tâm vũ trụ Marshall, Trung tâm vũ trụ Kennedy, Trung tâm vũ trụJohnson, Trung tâm vũ trụ Tennis, Phòng thí nghiệm Jet Propulsion, Trung tâmnghiên cứu Ames, Trung tâm nghiên cứu các chuyến bay Dryden Và các trungtâm khác nh: Trung tâm dịch vụ Nasa, Cơ sở thử nghiệm White Sands, Viện vũtrụ học Goddard, Trung tâm IV và V, Trung tâm bay Wallops NASA hoạt độngtrên 4 lĩnh vực chủ yếu: hàng không học, khai thác hệ thống chế tạo tầu vũ trụ,robo, nghiên cứu khoa học Trái đất, Mặt trăng, sao Hoả và các thiên thể và quản

lý các hoạt động ngoài khoảng không vũ trụ nh các Trạm không gian, cácchuyến bay hỗ trợ [39]

* ở Anh cơ quan quản lý các vấn đề vũ trụ đợc thành lập năm 1985, cótên gọi là Trung tâm vũ trụ quốc gia Anh – The British National Space Centre(BNSC) Trung tâm vũ trụ quốc gia Anh đợc thành lập nhằm nghiên cứu, khaithác khoảng không vũ trụ; phát triển ngành công nghiệp vũ trụ; tăng cờng sự hiểubiết về khoa học vũ trụ và lợi ích thiết thực từ vũ trụ từ đó nâng cao chất lợng

Trang 26

cuộc sống BNSC gồm có Ban vũ trụ, Hội đồng t vấn vũ trụ và Hội đồng chiến

l-ợc vũ trụ; đl-ợc quản lý, điều hành bởi 11 cơ quan gồm Bộ doanh nghiệp, cải tiến

và kỹ năng, Bộ doanh nghiệp, kinh doanh và các quy định cải cách, Bộ trẻ em, ờng học và gia đình, Bộ giao thông vận tải, Bộ quốc phòng, Văn phòng nớc ngoài

tr-và khối thịnh vợng chung, Bộ môi trờng, thực phẩm tr-và nông thôn, Hội đồngnghiên cứu môi trờng, Hội đồng khoa học và công nghệ cao, Văn phòng khí tợng

Đồng thời đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, khai thác khoảng không vũ trụ, pháttriển ngành công nghiệp vũ trụ, khai thác những lợi ích thiết thực từ vũ trụ nhằmphát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, chủ quyền của mỗiquốc gia

1.3.2.5 Pháp luật quốc gia về khoảng không vũ trụ

Hiện nay khá nhiều quốc gia trên thế giới nh: Argentina, Australia,

V-ơng quốc Bỉ, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Nhật, Hàn Quốc, Nga,Tây Ban Nha, Nam Phi, Thuỵ Sĩ, Vơng quốc Anh, Mỹ…một số n đã xây dựng, banhành luật về khoảng không vũ trụ tạo hành lang pháp lý cho các hoạt độngthăm dò, khai thác, sử dụng và hợp tác với các quốc gia khác về khoảng không

vũ trụ Một số cờng quốc về khoảng không vũ trụ nh: Hoa Kỳ, Liên bang Nga,Anh, Nhật, Pháp…một số n đã xây dựng “thế hệ thứ hai” của luật khoảng không vũtrụ, với hệ thống các quy phạm không chỉ điều chỉnh hoạt động thăm dò vàkhai thác khoảng không vũ trụ của các quốc gia mà còn điều chỉnh các hoạt

động mang tính chất thơng mại của các tổ chức, cá nhân trong các lĩnh vựcliên quan đến hoạt động ngoài khoảng không vũ trụ – nơi đợc xem nh là mộtthị trờng hoặc một khu vực dành cho du lịch, sản xuất, thơng mại của khốidoanh nghiệp t nhân với trách nhiệm của các quốc gia đối với các hoạt độngtrong lĩnh vực này ngoài khoảng không vũ trụ

Trong phạm vi luận văn chỉ tìm hiểu ba đạo luật cơ bản, điển hình trong

hệ thống quy phạm pháp luật về khoảng không vũ trụ của Vơng quốc Anh và

Trang 27

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ gồm: “Luật vũ trụ và hàng không quốc gia 1958” và

“Luật thơng mại vũ trụ năm 1998” của Hoa Kỳ, “Luật khoảng không vũ trụ1986” của Vơng quốc Anh

* Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - một siêu cờng quốc trong chinh phục khoảngkhông vũ trụ và là một nớc tiên phong trong lĩnh vực xây dựng các quy phạmpháp luật điều chỉnh các hoạt động trong khoảng không vũ trụ

Công cuộc chinh phục vũ trụ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đợc bắt đầu từviệc phóng Vệ tinh Explorer 1 đầu tiên của mình vào ngày 31/1/1958 và nhữngthành công mang tính chất lịch sử nh: năm 1960 phóng vệ tinh Pionnier 4 hớng

về Mặt trăng thắng đợc lực hút của Trái đất và phóng vệ tinh nhân tạo Mặt trờiPionnier 5, vệ tinh khí tợng Tiros 1; năm 1961 phi hành gia Alan Shepard bayvào không gian; năm 1962 phi hành gia John Glenn đã bay quanh Trái đất 3vòng và phóng tên lửa tới sao Kim; năm 1967 tàu Apollo 11 đã đa 2 phi hành giaNeil Armtrong và Edwin Aldrin lên Mặt trăng…một số n

Ngay trong năm phóng Vệ tinh Explorer 1 vào không gian – năm 1958,Hoa Kỳ đã thành lập cơ quan quản lý các hoạt động bên ngoài không gian –Nasa và ban hành Luật Hàng không quốc gia và vũ trụ nhằm điều chỉnh cácvấn đề nghiên cứu, phóng các vật thể vào khoảng không vũ trụ và các mục đíchkhác

Luật vũ trụ và hàng không quốc gia năm 1958 đã thể chế hoá các chínhsách và các tuyên bố của Hoa Kỳ nhằm xây dựng, phát triển các hoạt động trongkhoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình, lợi ích của tất cả nhân loại; vì lợi íchchung, an ninh quốc gia Tuy nhiên, đạo luật này không chỉ điều chỉnh các hoạt

động liên quan tới khoảng không vũ trụ mà còn điều chỉnh các hoạt động liênquan đến lĩnh vực hàng không quốc gia Đạo luật quy định các hoạt động hàngkhông và vũ trụ của Hoa Kỳ đều hớng tới việc mở rộng kiến thức của con ngờitìm hiểu các hiện tợng trong khí quyển và vũ trụ; nâng cao tính hữu ích, hiệu quảhoạt động, tốc độ, an toàn và hiệu quả của các phơng tiện hàng không, vũ trụ, cókhả năng mang theo các thiết bị, máy móc, các sinh vật sống vào không gian;phát triển phạm vi nghiên cứu hàng không, vũ trụ vì mục đích khoa học và hoàbình; bảo tồn vai trò của Hoa Kỳ trong lĩnh vực khoa học công nghệ, ứng dụnghàng không và vũ trụ học vì mục đích hoà bình; bảo vệ, kiểm soát an ninh quốcphòng; hợp tác quốc tế…một số n

Trang 28

Có thể nói Hoa Kỳ không chỉ thành công trong việc chinh phục vũ trụ màcòn khai thác, sử dụng rất hữu hiệu những thành quả từ việc chinh phục vũ trụvào các mục đích phát triển kinh tế, thơng mại, an ninh quốc phòng, bảo vệ môitrờng…một số n Nhằm điều chỉnh các mối quan hệ mới phát sinh từ việc nghiên cứu, ứngdụng khoa học vũ trụ này, năm 1998 Hoa Kỳ đã ban hành “Luật thơng mại vũtrụ”.

Luật thơng mại vũ trụ năm 1998 đợc xây dựng, ban hành nhằm khuyếnkhích sự phát triển của ngành công nghiệp, thơng mại vũ trụ của Hoa Kỳ Đạoluật quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý; cơ chế quản lý, khaithác và phát triển hoạt động thơng mại vũ trụ trên nguyên tắc tự do cạnh tranh thịtrờng thúc đẩy phát triển kinh tế

Nh vậy, Luật vũ trụ và hàng không quốc gia năm 1958 và Luật thơngmại vũ trụ năm 1998 là 2 đạo luật cơ bản điều chỉnh các hoạt động ngoàikhoảng không vũ trụ của Hoa Kỳ

* Vơng quốc Anh là một trong các cờng quốc về lĩnh vực khoảngkhông vũ trụ, có uy tín hàng đầu trong cả hai lĩnh vực khoa học vũ trụ và th-

ơng mại vũ trụ

Năm 1986, Vơng quốc Anh đã ban hành Đạo luật khoảng không vũ trụ,

đạo luật này là cơ sở pháp lý cho các hoạt động bên ngoài không gian của tổchức, cá nhân đợc thành lập ở Vơng quốc Anh, vùng lãnh thổ ở nớc ngoàithuộc Vơng quốc Anh và lãnh thổ phụ thuộc hoàng gia Anh

Đạo luật uỷ quyền cấp phép và các quyền khác cho Bộ trởng Bộ Ngoạigiao, Đại học và các hoạt động kỹ năng cho BNSC

Ngoài ra, đạo luật còn đảm bảo việc tuân thủ thực hiện các nghĩa vụquốc tế mà Vơng quốc Anh đã cam kết tại các điều ớc quốc tế và tại cácnguyên tắc về việc sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm cả trách nhiệmpháp lý đối với các thiệt hại gây ra bởi vật thể vũ trụ; việc đăng ký đa các vậtthể vào khoảng không vũ trụ và các nguyên tắc không làm ảnh hởng tới Trái

đất

Luật khoảng không vũ trụ năm 1986 của Vơng quốc Anh các quy địnhviệc Chính phủ chịu trách nhiệm để các hoạt động trong khoảng không vũ trụcủa các tổ chức, cá nhân đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Không gây nguy hiểm cho sức khoẻ cộng đồng, sự an toàn của ngời

và tài sản;

Trang 29

+ Phù hợp với việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế của Vơng quốc Anh.Việc Chính phủ Anh chịu trách nhiệm về hoạt động trong khoảng không

vũ trụ của các tổ chức, cá nhân nh trên cũng đồng nghĩa với việc Chính phủ Anhphải duy trì và đăng ký việc phóng vật thể vũ trụ của các tổ chức, cá nhân;chấp nhận trách nhiệm pháp lý nếu gây thiệt hại cho bên thứ ba và phải đảmbảo những hoạt động này không ảnh hởng đến an ninh quốc gia của Vơng quốcAnh

Nh vậy, qua việc tìm hiểu những vấn đề lý luận về pháp luật khoảngkhông vũ trụ chúng ta đã có thể hiểu về khoảng không vũ trụ, pháp luật vũ trụ,các nguồn tài nguyên, đánh giá đợc vai trò, lợi ích mà khoảng không vũ trụ đemlại cho con ngời Đồng thời có một cái nhìn khái quát về lịch sử hình thành, pháttriển của ngành vũ trụ nói chung và pháp luật vũ trụ quốc tế, pháp luật vũ trụ củamột số quốc gia nói riêng; cũng nh cơ quan quản lý các hoạt động ngoài khoảngkhông vũ trụ quốc tế và cơ quan quản lý các hoạt động ngoài khoảng không vũtrụ của một số quốc gia và một số các quy định, các nguyên tắc cơ bản của luật

vũ trụ quốc tế, luật vũ trụ của một số quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, để có cáinhìn chi tiết hơn về luật vũ trụ quốc tế và luật vũ trụ của một số quốc gia kháccần tìm hiểu nội dung các quy định, nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế,pháp luật một số quốc gia về khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ

Trang 30

Chơng II Nội dung Pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia

về hoạt động thăm dò, khai thác và sử dụng

khoảng không vũ trụ

Sau gần một thế kỷ hình thành, phát triển, ngày nay việc khai thác, sửdụng khoảng không vũ trụ đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho cuộc sốngcủa con ngời Vũ trụ trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, rất nhiều cácngành công nghệ hiện đại, truyền hình qua vệ tinh, chuyển tiếp từ vệ tinh vào

hệ thống internet …một số n đều phụ thuộc hoàn toàn vào ngành công nghiệp vũ trụ

Đồng thời, luật pháp quốc tế và luật pháp của một số quốc gia trên thế giới vềkhai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ vào mục đích hoà bình cũng có nhữngbớc phát triển mạnh mẽ Việc khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ, Mặttrăng và các thiên thể khác phải đợc thực hiện theo những quy chế pháp lýnhất định: các nguyên tắc cơ bản của luật vũ trụ quốc tế; các quy chế pháp lýliên quan đến vật thể vũ trụ; các quy chế pháp lý riêng biệt đối với các phihành gia, đối với việc sử dụng nguồn năng lợng hạt nhân ngoài khoảng không

vũ trụ, hay việc quan sát Trái đất từ khoảng không vũ trụ, vấn đề sử dụng vệtinh nhân tạo để phát sóng truyền hình trực tiếp hoặc vấn đề hợp tác quốc tếtrong lĩnh vực khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ…một số n

2.1 Chế độ pháp lý đối với vật thể vũ trụ

Vật thể vũ trụ theo nguyên bản tiếng Anh là “Space object”, từ “object”

có nghĩa là đồ vật, vật thể có tính chất nhân tạo, do con ngời làm ra, cụm từ

“Space object” có thể tạm dịch là vật thể vũ trụ và đợc ngầm hiểu là các vậtthể do con ngời sáng tạo ra đợc đa vào vũ trụ

Tuy nhiên, định nghĩa vật thể vũ trụ cụ thể là gì? thì cho đến nay phápluật vũ trụ quốc tế vẫn cha xác định đợc Theo quy định tại Điểm d, Điều 1,Công ớc về việc chịu trách nhiệm quốc tế đối với các thiệt hại do vật thể vũ trụgây ra năm 1972 [18] và Điểm b, Điều 1, Công ớc về đăng ký các vật thể đợcphóng vào khoảng không vũ trụ năm 1975 [19] thì vật thể vũ trụ ở đây đợchiểu bao gồm cả các bộ phận cấu thành vật thể cũng nh là tên lửa phóng vàcác thành phần của tên lửa phóng

Vật thể vũ trụ chỉ đợc phóng vào khoảng không vũ trụ sau khi quốc giaphóng vật thể vũ trụ đó đăng ký các thông số của vật thể vũ trụ theo quy định

Trang 31

với Tổng th ký Liên hợp quốc (việc đăng ký vật thể phóng vật thể vụ trụ sẽ

đ-ợc trình bày chi tiết ở phần sau)

Theo quy định tại Điểm c, Điều 1, Công ớc về chịu trách nhiệm quốc tế

đối với các thiệt hại do vật thể vũ trụ gây ra năm 1972 [18] và Điểm a, Điều 1,Công ớc về đăng ký các vật thể đợc phóng vào khoảng không vũ trụ năm 1975

[19] thì cụm từ “quốc gia phóng vật thể vũ trụ” bao gồm quốc gia tiến hành

hoặc cho tiến hành đa vật thể vào vũ trụ; quốc gia có lãnh thổ hoặc trang thiết

bị đợc sử dụng để đa vật thể vào vũ trụ

Nh vậy, có thể hiểu quốc gia phóng vật thể vũ trụ có thể là quốc gia trựctiếp tiến hành việc phóng vật thể vũ trụ nhng cũng có thể là quốc gia cho tiếnhành việc phóng vật thể – gián tiếp tiến hành việc phóng vật thể hoặc quốcgia có trang thiết bị hoặc lãnh thổ đợc sử dụng vào việc phóng vật thể vũ trụ

đó

Định nghĩa về quốc gia phóng vật thể vũ trụ nh trên là hoàn toàn phùhợp với tình hình thực tiễn Nhiều quốc gia trên thế giới không đủ trình độkhoa học, công nghệ vũ trụ nhng có nhu cầu sử dụng khoảng không vũ trụ cóthể hợp tác với các quốc gia có trình độ khoa học, công nghệ vũ trụ tiên tiến

về việc phóng vật thể lên khoảng không vũ trụ Tuỳ thuộc vào vị trí địa lý,mục đích sử dụng vật thể vũ trụ của mỗi quốc gia mà địa điểm phóng vật thể

vũ trụ phải đợc tiến ở các địa điểm khác nhau Vì vậy, việc xác định quốc giaphóng vật thể vũ trụ là quốc gia trực tiếp phóng vật thể hay là các quốc giacho tiến hành việc phóng vật thể, quốc gia có trang thiết bị hoặc lãnh thổ đ ợc

sử dụng vào việc phóng vật thể vũ trụ còn tuỳ thuộc vào quy định của luật vũtrụ quốc tế và thoả thuận giữa các quốc gia

2.1.1 Trách nhiệm đăng ký việc phóng vật thể vũ trụ

Quốc gia phóng vật thể vũ trụ còn phải có trách nhiệm đăng ký các vậtthể phóng vào khoảng không vũ trụ Theo quy định tại các Điều 2, 3, 4, 5,Công ớc về đăng ký các vật thể đợc phóng vào khoảng không vũ trụ năm 1975[19], trách nhiệm đăng ký các vật thể phóng vào khoảng không vũ trụ của cácquốc gia phóng vật thể có thể đợc tóm lợc nh sau:

+ Quốc gia phóng vật thể phải đăng ký vật thể vào sổ đăng ký mà quốcgia đó có trách nhiệm lu giữ khi vật thể vũ trụ đó đợc phóng vào quỹ đạo Trái

đất hoặc xa hơn quỹ đạo Trái đất Quốc gia phóng vật thể có trách nhiệmthông báo cho Tổng th ký Liên hợp quốc biết về việc thành lập sổ đăng ký

Trang 32

này Việc lu giữ, quản lý sổ đăng ký vật thể vũ trụ và các điều kiện lu giữ,quản lý do quốc gia đăng ký xác định.

Khi hai hay nhiều quốc gia cùng phóng một vật thể vào quỹ đạo Trái

đất hoặc xa hơn quỹ đạo Trái đất, thì các quốc gia đó cùng xác định xem quốcgia nào chịu trách nhiệm đăng ký vật thể, đồng thời phải tuân thủ các quy địnhcủa luật vũ trụ quốc tế và tuân thủ các thoả thuận đã đợc ký kết hoặc sẽ đợc kýkết giữa các quốc gia phóng vật thể liên quan đến quyền tài phán và quyềnkiểm soát đối với vật thể vũ trụ, đối với phi hành đoàn

+ Ngay khi có điều kiện quốc gia đăng ký phải cung cấp cho Tổng th

ký Liên hợp quốc các thông tin sau về vật thể vũ trụ đợc đăng ký trong sổ

đăng ký của quốc gia đó gồm: tên của quốc gia hay các quốc gia phóng vậtthể vũ trụ; chỉ số riêng hoặc số đăng ký của vật thể; ngày và lãnh thổ hoặc nơiphóng vật thể; các thông số quỹ đạo cơ bản gồm chu kỳ quay, độ nghiêng,viễn điểm, cận điểm và chức năng chung của vật thể Tổng th ký Liên hợpquốc chịu trách nhiệm lu giữ, quản lý một quyển sổ ghi các thông tin đợcquốc gia phóng vật thể cung cấp, các thông tin trong sổ này đợc tra cứu tự do.Quốc gia đăng ký cũng có thể cung cấp cho Tổng th ký Liên hợp quốc cácthông tin bổ sung liên quan đến vật thể vũ trụ đăng ký trong sổ đăng ký củaquốc gia đó

Quốc gia đăng ký, trong khả năng cho phép và ngay khi có thể thựchiện đợc, phải thông báo cho Tổng th ký Liên hợp quốc biết về các vật thể vũtrụ đã đợc phóng vào quỹ đạo mà trớc đây quốc gia đó đã cung cấp các thôngtin liên quan nhng nay không còn ở trong quỹ đạo Trái đất nữa

+ Mỗi khi một vật thể vũ trụ đợc phóng vào quỹ đạo Trái đất hoặc xahơn quỹ đạo Trái đất đợc nhận dạng nhờ vào chỉ số riêng hoặc số đăng kýhoặc nhờ vào cả hai, thì khi cung cấp cho Tổng th ký Liên hợp quốc các thôngtin liên quan đến vật thể vũ trụ, quốc gia đăng ký phải thông báo điều đó choTổng th ký Liên hợp quốc biết Trong trờng hợp này, Tổng th ký Liên hợpquốc sẽ ghi việc thông báo đó vào sổ mình

Nh vậy, bất cứ quốc gia nào cũng phải công bố một cách công khai vềviệc phóng vật thể của quốc gia mình với đầy đủ các thông tin liên quan đếnvật thể đợc phóng thông qua việc đăng ký với Tổng th ký Liên hợp quốc và đ-

ợc ghi lại tại sổ đăng ký của Liên hợp quốc nh đã trình bày ở trên

Trang 33

Ngoài ra, để tăng cờng sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thăm dò vàkhai thác khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình, các quốc gia tiến hànhcác hoạt động trong khoảng không vũ trụ, kể cả Mặt trăng và các thiên thểkhác, cam kết thông báo, trong mọi điều kiện có thể thực hiện, cho Tổng th kýLiên hợp quốc cũng nh cho công chúng và cộng đồng khoa học quốc tế biết vềbản chất, quá trình tiến hành các hoạt động này, về địa điểm tiến hành và cáckết quả đạt đợc Tổng th ký Liên hợp quốc có trách nhiệm sẵn sàng phổ biếncác thông tin đó ngay khi nhận đợc.

2.1.2 Trách nhiệm hoàn trả vật thể vũ trụ

Vật thể vũ trụ, các bộ phận cấu thành vật thể vũ trụ thuộc quyền tàiphán và quyền kiểm soát của quốc gia đăng ký phóng vật thể vũ trụ đó Vậtthể vũ trụ hoặc các bộ phận cấu thành vật thể vũ trụ đợc tìm thấy ở quốc giakhác quốc gia đã đăng ký phóng vật thể đều phải đợc hoàn trả lại cho quốc gianày Điều này đợc quy định rất rõ tại Điều 8 - Hiệp ớc quốc tế về các nguyêntắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong lĩnh vực thăm dò và sử dụngkhoảng không vũ trụ bao gồm cả Mặt trăng và các thiên thể khác năm 1967,

“Quốc gia thành viên nơi đăng ký vật thể đợc phóng vào khoảng không vũ trụgiữ quyền tài phán và quyền kiểm soát đối với vật thể đó, cũng nh đối với phihành đoàn, khi vật thể và phi hành đoàn ở trong khoảng không vũ trụ hay trênmột thiên thể Các vật thể hay các bộ phận cấu thành vật thể đợc tìm thấyngoài giới hạn lãnh thổ của quốc gia thành viên nơi đăng ký vật thể phải đợchoàn trả lại cho quốc gia thành viên đó Quốc gia thành viên nơi đăng ký vậtthể đó có nghĩa vụ phải cung cấp các số liệu cần thiết cho việc xác nhận vậtthể trớc khi vật thể đợc hoàn trả, nếu có yêu cầu” [16]

Ngoài ra, vấn đề hoàn trả các vật thể vũ trụ còn đợc quy định khá chitiết trong Công ớc về việc trao trả, cứu nạn các nhà du hành vũ trụ và hoàn trảcác vật thể phóng vào khoảng không vũ trụ năm 1968 Theo quy định tại Công

ớc này, các quốc gia khi phát hiện một vật thể vũ trụ hay một bộ phận cấuthành của vật thể vũ trụ rơi xuống đất phải có trách nhiệm hoàn trả lại quốcgia đã phóng vật thể [17]

Tại Điều 5, Công ớc về việc trao trả, cứu nạn các nhà du hành vũ trụ vàhoàn trả các vật thể phóng vào khoảng không vũ trụ năm 1968 quy định trách

Trang 34

nhiệm thông tin của quốc gia có lãnh thổ nơi vật thể vũ trụ hoặc các bộ phậncủa vật thể vũ trụ rơi xuống nh sau:

“Bất kỳ quốc gia nào nếu nhận đợc thông tin hoặc phát hiện ra vật thể

vũ trụ hay bất kỳ một bộ phận cấu thành của vật thể vũ trụ rơi trở lại Trái đấtxuống vùng đất, vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia đó hoặc bất cứ nơinào trên Trái đất có trách nhiệm thông báo cho quốc gia phóng vật thể vũ trụhoặc Tổng th ký Liên hợp quốc

Mỗi quốc gia là thành viên của Công ớc này có vùng đất thuộc chủquyền của mình nơi vật thể vũ trụ hay các bộ phận cấu thành đợc phát hiện,theo đề nghị và trợ giúp của quốc gia phóng vật thể thực hiện các giải phápnhằm tìm kiếm toàn bộ vật thể vũ trụ cùng các bộ phận cấu thành

Theo đề nghị của quốc gia phóng vật thể vũ trụ, vật thể hoặc các bộphận cấu thành vật thể đã đợc phóng vào khoảng không vũ trụ đợc tìm thấyngoài vùng đất thuộc chủ quyền của quốc gia phóng vật thể sẽ đợc trao trảhoặc chuyển cho đại diện của quốc gia phóng vật thể sau khi yêu cầu quốc giaphóng vật thể vũ trụ cung cấp các dữ liệu chứng minh vật thể vũ trụ

đó…một số n”[17]

Giáo s Philippe Achilleas, Trờng Đại học tổng hợp Paris XI cho rằngviệc hoàn trả vật thể vũ trụ đợc phân ra làm 3 giai đoạn và tơng ứng với mỗigiai đoạn là các trách nhiệm của quốc gia có lãnh thổ nơi vật thể vũ trụ haycác bộ phận của vật thể vũ trụ rơi xuống gồm:

“Trách nhiệm thông tin: mọi quốc gia khi phát hiện một vật thể vũ trụhay một bộ phận cấu thành của vật thể vũ trụ rơi xuống Trái đất, phải có nghĩa vụthông báo cho quốc gia đã phóng vật thể đó và cho Hội đồng bảo an Liên hợpquốc;

Trách nhiệm thu hồi: quốc gia có lãnh thổ nơi một vật thể vũ trụ haycác mảnh vụn của vật thể vũ trụ rơi xuống, có nghĩa vụ thu lại vật thể hoặcmảnh vụn đó theo yêu cầu của quốc gia phóng vật thể;

Trách nhiệm hoàn trả: vật thể hay các bộ phận cấu thành vật thể phải

đ-ợc hoàn trả lại cho quốc gia đã phóng vật thể” [62,5]

Việc phân loại trách nhiệm trong việc hoàn trả vật thể vũ trụ nh trênhoàn toàn phù hợp với các giai đoạn trong quá trình phát hiện, xử lý và hoàntrả vật thể vũ trụ hay các bộ phận cấu thành của vật thể vũ trụ của quốc gia cólãnh thổ nơi vật thể vũ trụ hay các bộ phận cấu thành vật thể vũ trụ rơi xuống

Trang 35

2.1.3 Trách nhiệm trợ giúp trong việc xác định thiệt hại do vật thể vũ trụ gây ra

Trách nhiệm trợ giúp trong việc xác định thiệt hại do vật thể vũ trụ gây

ra của các quốc gia có thiết bị quan sát và theo dõi vật thể vũ trụ cũng đợc quy

định rõ trong luật vũ trụ quốc tế Trong trờng hợp một quốc gia không xác

định đợc vật thể vũ trụ đã gây thiệt hại cho mình hoặc cho một cá nhân haypháp nhân thuộc quyền tài phán của mình hoặc vật thể vũ trụ hoặc vật thể vũtrụ tiềm ẩn nguy cơ gây hại, thì các quốc gia có các trang thiết bị để quan sát

và theo dõi các vật thể vũ trụ, cần phải đáp ứng hết khả năng các yêu cầu trợgiúp nhằm xác định vật thể vũ trụ đó Việc yêu cầu trợ giúp phải đợc thực hiệntrong những điều kiện công bằng, hợp lý Yêu cầu trợ giúp có thể là yêu cầucủa chính quốc gia đó hoặc của Tổng th ký Liên hợp quốc nhân danh quốc gia

đó Quốc gia yêu cầu trợ giúp, trong khả năng cho phép, phải cung cấp cácthông tin về ngày, tháng, bản chất và các tình huống xảy ra sự kiện dẫn đếnviệc phải đa ra yêu cầu trợ giúp Cách thức, thủ tục trợ giúp do các bên hữuquan thoả thuận

2.1.4 Trách nhiệm quốc tế đối với các thiệt hại do vật thể vũ trụ gây ra

Quốc gia phóng vật thể vũ trụ phải chịu trách nhiệm bồi thờng thiệt hại

do vật thể vũ trụ gây ra Quốc gia phóng vật thể vũ trụ phải chịu trách nhiệmquốc tế về các thiệt hại do vật thể đó hoặc các bộ phận cấu thành của vật thể

đó gây ra trên Trái đất, trong khí quyển hay trong khoảng không vũ trụ, kể cảMặt trăng và các thiên thể khác Một hoặc nhiều quốc gia cùng phóng vật thểphải liên đới chịu trách nhiệm quốc tế đối với các thiệt hại do vật thể vũ trụcủa một hoặc nhiều quốc gia đó đã phóng lên vũ trụ gây ra

Trách nhiệm bồi thờng của quốc gia phóng vật thể vũ trụ đối với cácthiệt hại do vật thể vũ trụ gây ra trên bề mặt Trái đất hay cho các thiết bị bay

đang bay đợc xác định theo hai chế độ Đối với các thiệt hại xảy ra trên bềmặt Trái đất và các thiệt hại đối với các phơng tiện máy bay trong vùng trờithuộc quyền tài phán quốc gia, một hoặc nhiều quốc gia phóng vật thể phảichịu trách nhiệm hoàn toàn và tuyệt đối, bất kể có xác định đợc lỗi hay không

Đối với các thiệt hại xảy ra trong khoảng không vũ trụ, một hoặc nhiều quốcgia phóng vật thể vũ trụ chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thờng thiệt hại nếu xác

định đợc lỗi

Trang 36

2.1.5 Quyền của các quốc gia trong chế độ pháp lý của vật thể vũ trụ

Ngoài các trách nhiệm pháp lý trên, các quốc gia còn có một số quyềnnhất định trong các quy chế pháp lý về vật thể vũ trụ quốc tế

Vật thể vũ trụ khi đợc phóng vào khoảng không vũ trụ, hoặc đa lên Mặttrăng hay các thiên thể khác – khu vực thuộc quyền sở hữu chung của nhânloại - thuộc quyền tài phán và quyền kiểm soát của quốc gia đã phóng vật thể

đó Vật thể vũ trụ, các bộ phận cấu thành vật thể, kể cả phi hành đoàn khi ởngoài khoảng không vũ trụ, trên các thiên thể, khi quay về Trái đất hay các vậtthể đợc xây dựng, lắp đặt trên các thiên thể đều thuộc quyền sở hữu của quốcgia phóng vật thể vũ trụ Quyền sở hữu vật thể vũ trụ trên đợc thể hiện rất rõkhi vật thể hoặc các bộ phận cấu thành vật thể đợc tìm thấy ở ngoài biên giớilãnh thổ quốc gia phóng vật thể sẽ đợc hoàn trả lại cho quốc gia sở hữu vật thể

đó (theo quy định tại Điều 8, Hiệp ớc về các nguyên tắc hoạt động của quốcgia trong nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và cácthiên thể khác năm 1967) [16]

Có thể nói, quốc gia có vật thể đợc phóng vào khoảng không vũ trụ giữquyền tài phán và quyền kiểm soát đối với vật thể đó, khi vật thể ở trongkhoảng không vũ trụ hay trên một thiên thể Quyền sở hữu đối với các vật thể

đợc phóng vào khoảng không vũ trụ, kể cả các vật thể đợc lắp đặt, xây dựngtrên một thiên thể và quyền sở hữu đối với các bộ phận cấu thành vật thể đợcbảo toàn nguyên vẹn khi các vật thể hay các bộ phận cấu thành đó ở trongkhoảng không vũ trụ hay trên một thiên thể và khi trở về Trái đất

Bất cứ quốc gia nào là thành viên của Hiệp ớc về các nguyên tắc hoạt

động của quốc gia trong nghiên cứu, sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặttrăng và các thiên thể khác năm 1967 đều có quyền tiếp cận, sử dụng các vậtthể vũ trụ, cụ thể là các trạm, các thiết bị lắp đặt, các trang thiết bị khác và cáctàu vũ trụ trên Mặt trăng, trên các thiên thể khác của quốc gia khác theonguyên tắc có đi có lại (theo quy định tại Điều 12, Hiệp ớc về các nguyên tắchoạt động của quốc gia trong nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ kểcả Mặt trăng và các thiên thể khác năm 1967) [16]

Tuy nhiên, trớc khi tiếp cận, sử dụng các vật thể vũ trụ thuộc quyền sởhữu của quốc gia khác, các đại diện của các quốc gia trên phải thông báo trớcchuyến tiếp cận dự định tiến hành, để tham khảo ý kiến và để áp dụng mọi

Trang 37

biện pháp đề phòng cần thiết nhằm đảm bảo an toàn, tránh làm ảnh hởng đếncác hoạt động bình thờng tại nơi có thiết bị cần tiếp cận.

Hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ là một lĩnh vực đặcbiệt nên chế độ pháp lý đối với vật thể vũ trụ có những đặc trng riêng Trongquy chế pháp lý về vật thể vũ trụ quốc tế, trách nhiệm pháp lý của các quốcgia đợc đặt lên hàng đầu, còn các quyền của quốc gia đợc quy định rất mờnhạt, không đợc nhấn mạnh nhằm ràng buộc các quốc gia nhiều hơn trongviệc thực hiện các nghĩa vụ trong việc sử dụng vật thể vũ trụ phục vụ hoạt

động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ

2.2 Quy chế pháp lý quốc tế đối với nhà du hành vũ trụ

Theo quy định tại Điều 5, Hiệp ớc quốc tế về các nguyên tắc điều chỉnhhoạt động của các quốc gia trong lĩnh vực thăm dò và sử dụng khoảng không

vũ trụ bao gồm cả Mặt trăng, các thiên thể khác 1967, các nhà du hành vũ trụcòn gọi là phi hành gia đợc coi nh các đặc phái viên của nhân loại gửi vàokhoảng không vũ trụ và dành cho họ mọi sự hỗ trợ cần thiết trong trờng hợpgặp tai nạn, hay gặp nguy hiểm hoặc phải hạ cánh khẩn cấp trên lãnh thổ mộtquốc gia hoặc trên biển quốc tế

Các nhà du hành vũ trụ đợc hởng các quy chế pháp lý đặc biệt nh là đặcphái viên của nhân loại, tuy nhiên quy chế pháp lý dành cho các đặc phái viênphi hành gia lại cha đợc quy định một cách cụ thể Trong Hiệp ớc quốc tế vềcác nguyên tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong lĩnh vực thăm dò

và sử dụng khoảng không vũ trụ bao gồm cả Mặt trăng và các thiên thể khác

1967 [16] chỉ quy định:

- Trờng hợp hạ cánh khẩn cấp trên đất liền hay trên biển, việc trao trảcác nhà du hành vũ trụ trở lại quốc gia nơi đăng ký con tầu vũ trụ phải đợcthực hiện một cách an toàn nhất và trong thời hạn sớm nhất

- Các nhà du hành vũ trụ nhận đợc sự hỗ trợ của các nhà du hành vũ trụkhác bất kể là các nhà du hành vũ trụ đó thuộc quốc gia nào khi tiến hành cáchoạt động trong khoảng không vũ trụ và trên các thiên thể Các nhà du hành

vũ trụ của một quốc gia có nghĩa vụ phải hỗ trợ các nhà du hành vũ trụ củaquốc gia khác

- Các nhà du hành vũ trụ của một quốc gia bất kỳ nhận đợc sự hỗ trợ vô

điều kiện của các quốc gia khác Bất cứ quốc gia nào phát hiện trong khoảngkhông vũ trụ, kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác, có thể gây nguy hiểm đến

Trang 38

tính mạng, sức khoẻ của các nhà du hành vũ trụ phải thông báo ngay lập tứccho các quốc gia khác hoặc cho Tổng th ký Liên hợp quốc về mọi hiện tợngphát hiện đợc.

Các quy định đối với phi hành gia đợc ghi nhận trong Hiệp ớc quốc tế

về các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong lĩnh vực thăm

dò và sử dụng khoảng không vũ trụ bao gồm cả Mặt trăng và các thiên thểkhác 1967 trên đợc xem là những quy định mang tính nguyên tắc Năm 1968,Hiệp định về cứu hộ phi hành gia, trao trả phi hành gia và các phơng tiện đợc

đa vào khoảng không vũ trụ đã bổ sung chi tiết và đầy đủ hơn các quy định

đối với phi hành gia

Hiệp định về cứu hộ phi hành gia, trao trả phi hành gia và các phơngtiện đợc đa vào khoảng không vũ trụ năm 1968 đợc xây dựng trên tinh thầnnhân đạo, hợp tác quốc tế và nhằm quy định hành vi ứng xử của các quốc giakhi phát hiện phi hành gia gặp tai nạn, hoặc đang trong tình trạng hiểm nghèo,hạ cánh khẩn cấp, cũng nh những quy chế pháp lý đối với phi hành gia

Nếu vì tai nạn, hoặc trong tình trạng nguy hiểm, tình trạng khẩn cấphoặc phải hạ cánh không dự tính trớc, các phi hành gia trong tàu vũ trụ đã hạcánh trên vùng đất thuộc chủ quyền của một quốc gia thì quốc gia này ngaylập tức phải thực hiện các biện pháp có thể nhằm giúp đỡ một các tối u để cứu

hộ và trao trả các phi hành gia cho quốc gia đã phóng tàu vũ trụ [17]

Nếu sự trợ giúp của quốc gia phóng vật thể có thể thúc đẩy hoạt độngcứu hộ mau lẹ hoặc có tác động lớn tới hoạt động tìm kiếm và cứu hộ, thì cácbên liên quan có thể hợp tác với quốc gia phóng vật thể để có thể tìm kiếm vàcứu hộ một cách tổng thể và có hiệu quả tốt nhất Các hoạt động này phải tuântheo sự chỉ dẫn và kiểm soát chặt chẽ của các bên liên quan và tiếp tục thamkhảo ý kiến của quốc gia phóng vật thể

Bất cứ quốc gia thành viên nào của Hiệp định về cứu hộ phi hành gia,trao trả phi hành gia và các phơng tiện đợc đa vào khoảng không vũ trụ năm

1968, nếu nhận đợc thông tin hoặc phát hiện ra các phi hành gia của một tàu

vũ trụ hạ cánh trên vùng biển hoặc bất cứ nơi nào thuộc thẩm quyền của bất

kỳ quốc gia nào, nếu cần thiết phải mở rộng việc tìm kiếm và cứu hộ, cácquốc gia này phải đảm bảo cho các nhân viên cứu hộ đợc làm việc nhanhchóng Các quốc gia này cũng có nghĩa vụ phải thông báo thông báo tới quốc

Trang 39

gia đã phóng tàu vũ trụ và Tổng th ký Liên hợp quốc về các biện pháp đã và

đang thực hiện

Có thể nói, các phi hành gia đợc hởng chế độ pháp lý đặc biệt khác socác chế độ pháp lý đối với các phi công máy bay, khi ra khỏi Trái đất họ đ ợccoi nh là ngời đại diện cho cả nhân loại và nhận đợc sự hỗ trợ vô điều kiện củabất kỳ quốc gia nào cũng nh phi hành gia khác của bất kỳ quốc gia nào Khitrở về Trái đất, phi hành gia cũng đợc hởng những chế độ pháp lý đặc biệt, bất

cứ phi hành gia nào nếu vì tai nạn, hoặc trong tình trạng nguy hiểm, tình trạngkhẩn cấp hoặc phải hạ cánh không dự tính trớc, phải đáp xuống vùng đấtthuộc chủ quyền của một quốc gia bất kỳ, đều phải đợc quốc gia này đảm bảo

an toàn và nhanh chóng đợc trao trả lại cho đại diện của quốc gia đã phóng tàu

Trong hoạt động sử dụng vệ tinh phát sóng truyền hình trực tiếp, quốcgia có các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định:

- Tất cả các quốc gia đều có quyền bình đẳng trong việc tiến hành cáchoạt động truyền hình quốc tế phát sóng trực tiếp qua vệ tinh Mọi quốc gia,dân tộc đợc hởng các quyền và lợi ích từ hoạt động này và đợc sử dụng côngnghệ trong lĩnh vực này mà không bị phân biệt đối xử giữa các quốc gia vớinhau hay sự đồng ý của tất cả các quốc gia liên quan [22]

Trên cơ sở không làm phơng hại đến các quy định liên quan của luậtquốc tế, các quốc gia có quyền hợp tác song phơng và đa phơng để bảo vệquyền tác giả, quyền kề cận bằng thoả thuận phù hợp với các nớc liên quanhoặc với các pháp nhân thuộc các quốc gia đó

- Bên cạnh các quyền trên, quốc gia còn có các nghĩa vụ sau:

+ Trong trờng hợp đặc biệt, các quốc gia tiến hành hoạt động truyềnhình quốc tế phát sóng trực tiếp qua vệ tinh cần phải xem xét đến lợi ích của

Trang 40

các nớc đang phát triển trong việc sử dụng việc phát sóng truyền hình trực tiếpqua vệ tinh vì mục đích thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia này;

+ Trách nhiệm thông báo về hoạt động phát sóng truyền hình trực tiếpqua vệ tinh Nhằm thúc đẩy sự hợp tác quốc tế và việc khai thác, sử dụngkhoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình, các quốc gia hoặc các chủ thể đợc

uỷ quyền khi tiến hành hoạt động trong lĩnh vực phát sóng truyền hình trựctiếp qua vệ tinh cần thông báo cho Tổng th ký Liên hiệp quốc về mức độbao phủ của sóng, tính chất của hoạt động phát sóng [22] Ngay sau khinhận đợc thông báo này, Tổng th ký Liên hiệp quốc phổ biến ngay lập tứccác thông tin liên quan đến các cơ quan chuyên môn, công chúng và cộng

đồng khoa học quốc tế

Một quốc gia thiết lập hoặc uỷ quyền thiết lập vệ tinh phát sóng truyềnhình quốc tế trực tiếp không đợc chậm trễ trong việc thông báo cho các quốcgia đã đề nghị hoặc có kế hoạch thiết lập vệ tinh phát sóng truyền hình trựctiếp và nhanh chóng thảo luận với bất kỳ quốc gia nào có nhu cầu nh vậy

Một vệ tinh phát sóng truyền hình quốc tế trực tiếp chỉ đợc thiết lập saukhi đã thông báo với các quốc gia liên quan; có sự thoả thuận với các quốc gialiên quan; trên cơ sở thoả thuận và/ hoặc đợc sắp xếp phù hợp với các văn kiệnliên quan của Liên minh viễn thông quốc tế, phù hợp với những nguyên tắccủa Bộ nguyên tắc về sử dụng vệ tinh nhân tạo của các quốc gia cho việc phátsóng truyền hình quốc tế

Đối với những trờng hợp tràn bức xạ của các tín hiệu vệ tinh, theo quy

định tại các văn kiện liên quan, Liên minh viễn thông quốc tế sẽ đợc ứmgdụng độc quyền

+ Các quốc gia phải chịu trách nhiệm quốc tế đối với các hoạt độngtrong lĩnh vực phát sóng truyền hình trực tiếp qua vệ tinh của họ hoặc của các

tổ chức, cá nhân thuộc quốc gia đó, đảm bảo các hoạt động này đợc thực hiệnphù hợp với các nguyên tắc của Bộ nguyên tắc về sử dụng vệ tinh nhân tạo củacác quốc gia cho việc phát sóng truyền hình quốc tế trực tiếp này [22]

Khi tổ chức quốc tế thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực phát sóngtruyền hình trực tiếp qua vệ tinh thì tổ chức quốc tế và các quốc gia tham gia

tổ chức quốc tế đó phải chịu trách nhiệm quốc tế đối với các hoạt động này,

đồng thời đảm bảo hoạt động diễn ra phù hợp với các quy định của Bộ nguyên

Ngày đăng: 06/04/2020, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w