1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo trình tự thủ tục sơ thẩm từ thực tiễn tại tòa án nhân dân tỉnh hà nam

82 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ch nh vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo trình tự thủ tục sơ thẩm từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam” để làm đề tài c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO TRÌNH TỰ THỦ TỤC

SƠ THẨM TỪ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO TRÌNH TỰ THỦ TỤC

SƠ THẨM TỪ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, toàn bộ nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng 09 năm 2019

Học viên

Đỗ Quốc Huy

Trang 4

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành bản luận văn này

Tác giả luận văn

Đỗ Quốc Huy

Trang 5

KSV : Kiểm soát viên

KDTM : Kinh doanh thương mại

GĐ : Giám đốc

TGĐ : Tổng giám đốc

TAND : Tòa án nhân dân

Trang 6

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT

TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP

LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG KINH

DOANH, THƯƠNG MẠI

1.1 Nhận diện tranh chấp kinh doanh, thương mại

1.2 Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

1.3 Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

TIỂU KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT,

XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH,

THƯƠNG MẠI - TỪ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

2.1 Những điểm mới của BLTTDS năm 2015 về giải quyết

tranh chấp kinh doanh, thương mại tại tòa án

2.2 Các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh

doanh, thương mại tại tòa án

2.2.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại tại Tòa án

2.2.2 Quy định về thẩm quyền 2.2.3 Quy định về trình tự, thủ tục 2.2.4 Một số nhận xét, đánh giá các quy định của pháp luật

về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại tại tòa

Trang 7

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN

3.1 Sự cần thiết phải ho n thiện pháp uật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại t a án

3.2 Những giải pháp ho n thiện pháp uật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại t a án

3.2.1.Các giải pháp ho n thi n pháp uật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

3.2.2 Những giải pháp nâng cao hi u quả giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại t a án

TIỂU KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 T nh cấp thiết của đề t i

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường Việt Nam đang được đổi mới và ngày càng phát triển, đặc biệt khi nước ta đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), các quan hệ kinh doanh thương mại (KDTM) ngày càng đa dạng, phong phú và mang những diện mạo sắc thái mới Tương ứng với sự đa dạng phong phú của các quan hệ này, các tranh chấp kinh doanh thương mại (tranh chấp KDTM) cũng phát sinh ngày càng phức tạp là điều tất yếu khách quan

Đáp ứng yêu cầu giải quyết các tranh chấp KDTM của cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế, pháp luật đã quy định các hình thức giải quyết tranh chấp KDTM sau: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và Tòa án Theo đ , khi xảy ra tranh chấp các bên c thể trực tiếp thương lượng với nhau để giải quyết, trường hợp không thương lượng được thì c thể thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua hòa giải, trọng tài hoặc tòa án Mỗi phương thức đều c những ưu điểm và nhược điểm riêng nhưng nhìn chung đều hướng tới việc giải quyết xung đột giữa các bên, bảo vệ lợi ch hợp pháp và ch nh đáng của các bên khi tham gia vào hoạt động KDTM Ở Việt Nam, giải quyết tranh chấp trong KDTM b ng con đường toà án đang là hình thức giải quyết thông dụng và phổ biến hiện nay Giải quyết tranh chấp trong KDTM b ng con đường Toà án mang tính cưỡng chế cao và các bên không cần phải c sự thoả thuận trước, đây như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ c hiệu quả quyền và lợi ch của các bên

Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp b ng con đường Toà án vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm đ là: vướng mắc từ ph a pháp luật chưa phù hợp, dẫn đến việc áp dụng không đạt được t nh thuyết phục; hướng dẫn của ngành cũng như quan điểm giải quyết không thống nhất giữa các cấp Tòa án làm cho hoạt động xét xử của Toà án gặp nhiều kh khăn vướng mắc

Trang 9

Vì vậy, giải quyết tranh chấp n i chung, giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại n i riêng là một yêu cầu cấp thiết hiện nay Ch nh vì vậy, tác

giả đã chọn đề tài “Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo trình tự thủ tục sơ thẩm từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam” để làm đề tài cho Luận văn thạc sĩ Luật kinh tế của mình với mong muốn làm rõ các vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án theo

trình tự sơ thẩm và đánh giá thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Hà Nam, từ đ đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM, nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp KDTM

2 T nh h nh nghi n c u đề t i

Các vấn đề liên quan đến tranh chấp KDTM và giải quyết tranh chấp KDTM b ng Tòa án không phải là vấn đề mới trong khoa học pháp l Việt Nam Cho đến nay đã c rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về các vấn

đề liên quan đến giải quyết tranh chấp KDTM trên phạm vi một địa bàn cụ thể

và đã c những kết luận xác đáng, những kiến nghị hữu ch nh m nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp KDTM ở nhiều phương diện khác nhau

C thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu, như: Nguyễn Thị Kim

Vinh (2002): “Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Tòa án

ở Vi t Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp

luật; Đào Văn Hội (2003): “Giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều ki n kinh

tế thị trường ở Vi t Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà

Nội; Vũ Hồng Vân (2006): “Về mở rộng thẩm quyền của Tòa án cấp huy n

trong vi c giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo quy định của BLTTDS”, Tạp chí Kiểm sát; “Về điều ki n khởi ki n tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân”, Tạp ch Tòa án nhân dân, năm 2008;

Phạm Thị Ban (2012): “Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa

án nhân dân – thực trạng và giải pháp nâng cao hi u quả hoạt động”, Luận

văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Trần Anh Sáng (2012):

“Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án và thực tiễn áp dụng tại Ngh

Trang 10

An”, Luận văn Thạc sĩ Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội,…Bên cạnh đ ,

còn nhiều công trình nghiên cứu khác liên quan đến đề tài, như: Luận văn Thạc

sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hoài: “Hoạt động giải quyết tranh chấp thương

mại của trọng t i v to án ở Vi t Nam hi n nay nhìn từ góc độ so sánh” Bên

cạnh đ còn c nhiều bài nghiên cứu đăng tải trên các tạp ch chuyên ngành

như: “Ho n thi n pháp uật về thủ tục áp dụng bi n pháp khẩn cấp tạm thời

trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Vi t Nam hi n nay” của tác giả

Nguyễn Thị Thu Thủy (Tạp ch Nhà nước và Pháp luật, Số 11/2014); “Xác

định thẩm quyền giữa to án v trọng t i trong quá trình thụ í vụ án dân sự giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại to án v một số kiến nghị

ho n thi n” của tác giả Bùi Thành Trung (Tạp ch Luật học Trường Đại học

Luật Hà Nội, Số 12/2014); “Tranh chấp v giải quyết tranh chấp phát sinh từ

hoạt động mua bán h ng hóa qua Sở giao dịch” của tác giả Vũ Thị Lan Anh

(Tạp ch Nghề Luật Học viện Tư pháp, Số 3/2016)

Những công trình nêu trên đã g p phần quan trọng vào việc hoàn thiện

hệ thống pháp luật Việt Nam, nhất là pháp luật Tố tụng dân sự và các luật liên quan đến hoạt động KDTM; về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KDTM trong thời gian qua Các công trình nghiên cứu cũng đưa ra nhiều giải pháp c giá trị trong việc g p phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết các tranh chấp KDTM Từ kết quả nghiên cứu của các công trình trên, tác giả c thể kế thừa trong quá trình viết và hoàn thành bản luận văn của mình Tuy nhiên, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết tranh chấp KDTM đang tiếp tục được đặt ra và c nhu cầu giải quyết hoặc chưa được cập nhật trong pháp luật hiện hành Đây là vấn đề cấp thiết cần thực hiện trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật n i chung cũng như hệ thống pháp luật kinh

tế n i riêng ở nước ta Vì vậy, lựa chọn đề tài này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp KDTM theo thủ tục sơ thẩm tại Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam, đề xuất kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết tranh chấp KDTM

3 Mục đ ch v nhiệm vụ nghi n c u

Trang 11

án nhân dân

3.2 Nhiệm vụ nghi n c u

Để làm sáng tỏ các mục đ ch nghiên cứu trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về KDTM, tranh

chấp KDTM và giải quyết tranh chấp KDTM theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án

Thứ hai, nghiên cứu về thực trạng pháp luật xét xử các tranh chấp

KDTM tại Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam hiện nay, qua đ phân t ch làm rõ những bất cập, hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp KDTM

Thứ ba, đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh

chấp KDTM tại Tòa án nh m nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp KDTM

để phục vụ tốt hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

4 Đối tƣ ng v phạm vi nghi n c u

4.1 Đối tƣ ng nghi n c u

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu những vấn đề về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại như: nhận diện tranh chấp KDTM, phân biệt tranh chấp KDTM với một số loại tranh chấp khác, các hình thức giải quyết tranh chấp KDTM, thẩm quyền của Tòa án nhân dân,…trên phương diện

lý luận và thực tiễn thi hành

4.2 Phạm vi nghi n c u

Trang 12

Luận văn c phạm vi nghiên cứu trong các văn bản pháp luật hiện hành, như Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật Tổ chưac Toà án nhân dân 2013, luật Doanh nghiệp 2014, luật Thương mại 2005,…và các văn bản hướng dẫn thi hành về tranh chấp thương mại, giải quyết tranh chấp thương mại theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân, trong đ tập trung đánh giá về thực tiễn thi hành giải quyết tranh chấp KDTM tại Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam Về thời gian, luận văn tập trung nghiên cứu từ năm 2005 đến nay

5 Phương pháp uận v phương pháp nghi n c u

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Ch Minh và quan điểm, đường lối, ch nh sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như trong quá trình giải quyết các tranh chấp KDTM

Các phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu trong luận văn bao gồm các phương pháp nghiên cứu khoa học, như: phương pháp phân t ch, tổng hợp, thống kê, so sánh, hệ thống h a pháp luật, phương pháp đánh giá,….Các phương pháp được sử dụng phù hợp với từng nội dung của các phần trong luận văn nh m bảo đảm các kết quả nghiên cứu là khách quan và c độ tin cậy

6 ngh a khoa học v thực tiễn của uận văn

6.1 ngh a khoa học

Luận văn là công trình nghiên cứu g p phần hiểu rõ hơn về việc giải quyết tranh chấp KDTM b ng Tòa án theo thủ tục sơ thẩm, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là tư liệu cho các cơ sở đào tạo, nghiên cứu pháp luật sử dụng tham khảo trong quá trình học tập, nghiên cứu, giảng dạy

6.2 ngh a thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ g p phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là cơ quan Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM, đ ng g p cho việc nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp KDTM

Trang 13

7 Bố cục của uận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu thành ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp kinh doanh,

thương mại và pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn xét xử sơ thẩm các tranh

chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam

Chương 3: Các yêu cầu, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu

quả về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại tòa án trong giai đoạn hiện nay

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ L LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH

CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 1.1 Nhận diện tranh chấp kinh doanh, thương mại

1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại

Tranh chấp KDTM là một trong những hệ quả của hoạt động thương mại, là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên diễn ra trong nền kinh tế thị trường Tranh chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Khái niệm này được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nước ta trong những năm gần

đây và ngày càng chiếm giữ vị tr “thống ĩnh” thay thế khái niệm tranh chấp

kinh tế - một khái niệm quen thuộc của nền kinh tế kế hoạch

Thuật ngữ "tranh chấp" n i chung được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn

về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan Tại Việt Nam, khái niệm tranh chấp thương mại lần đầu tiên được quy định tại Luật thương mại

năm 1997: "Tranh chấp thương mại tranh chấp phát sinh do vi c không thực

Theo

đ , nội hàm hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm

1997 rất hẹp so với quan niệm quốc tế về thương mại

Luật Thương mại 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 định

nghĩa “Hoạt động thương mại hoạt động nhằm mục đích sinh ợi, bao gồm

mua bán h ng hóa, cung ứng dịch vụ, đ u tư, xúc tiến thương mại v các hoạt

chấp kinh doanh thương mại Tuy nhiên lại đưa ra các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại

1

Điều 238 LTM 1997

2 Điều 3 khoản 1 LTM 2005

Trang 15

Theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2014 thì: “Kinh doanh vi c

thực hi n iên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đ u tư

từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004, sửa đổi bổ

sung năm 2011 đã liệt kê các tranh chấp về KDTM thuộc thẩm quyền giải

quyết của Tòa án (BLTTDS năm 2015 thì không liệt kê mà chỉ đưa ra khái

niệm) BLTTDS năm 2004 không sử dụng thuật ngữ “tranh chấp thương mại” độc lập mà sử dụng chung thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh thương mại”

nhưng nội dung của các tranh chấp về kinh doanh, thương mại được quy định tại Điều 29 BLTTDS năm 2004 thực chất là các tranh chấp thương mại theo hướng tiếp cận của Luật Thương mại năm 2005 Điều này cho thấy, mặc dù c

sự khác nhau về cách thức biểu đạt và ngôn ngữ sử dụng nhưng nhìn chung quan niệm về hoạt động thương mại và tranh chấp thương mại được thể hiện qua các quy định trong các văn bản pháp luật tương đối nhất quán

Từ việc tiếp cận trên, c thể hiểu tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động c liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại

Và theo quan điểm của tác giả, c thể định nghĩa một cách ngắn gọn đối

với tranh chấp KDTM như sau: “Tranh chấp kinh doanh thương mại những

mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền ợi v nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia các quá trình của hoạt động kinh doanh, thương mại”

1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại

Tranh chấp KDTM có các đặc điểm pháp lý sau:

Thứ nhất, tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột

về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể Mâu thuẫn được hiểu là trạng thái xung đột, đối xứng nhau về quyền và nghĩa vụ giữa các bên tranh chấp Quan hệ kinh doanh thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ kinh doanh thương mại là điều kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh Trong hoạt động kinh doanh thương mại, các bên vừa hợp tác đồng thời vừa

Trang 16

cạnh tranh nhau để đạt được những mục đ ch đề ra Do đ , việc phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu Tranh chấp KDTM là sự biểu hiện ra bên ngoài, là sự phản ánh của những xung đột về mặt lợi ch kinh tế của các bên

Thứ hai, những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền và nghĩa vụ

giữa các bên phải phát sinh từ hoạt động KDTM Căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mại phát sinh do các bên c vi phạm hợp đồng

và xâm hại lợi ch của nhau, tuy nhiên cũng c thể c những vi phạm xâm hại lợi ch của các bên nhưng không làm phát sinh tranh chấp Tranh chấp KDTM phải là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh

từ những hoạt động nh m mục đ ch sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nh m mục đích sinh lợi khác N i cách khác tranh chấp kinh doanh thương mại luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh của các chủ thể

Thứ ba, chủ thể trong các tranh chấp KDTM chủ yếu là các thương nhân

(cá nhân kinh doanh, pháp nhân) với nhau Ngoài thương nhân là chủ thể chủ yếu, trong những trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác (không phải

là thương nhân) cũng c thể là chủ thể của tranh chấp KDTM khi trong các giao dịch bên không c mục đ ch sinh lợi chọn áp dụng luật thương mại Trên thực tế, hoạt động KDTM cũng chủ yếu diễn ra giữa các doanh nghiệp với nhau, do vậy phần lớn các chủ thể này cũng là các doanh nghiệp

1.1.3 Phân loại các tranh chấp kinh doanh thương mại

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định các tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bao gồm4

: (i) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ chức c đăng ký kinh doanh với nhau và đều c mục đ ch lợi nhuận

(ii) Tranh chấp về quyền sở hữu tr tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều c mục đ ch lợi nhuận

4 Điều 30 BLTTDS 2015

Trang 17

(iii) Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng c giao dịch về chuyển nhượng phần vốn g p với công ty, thành viên công ty

(iv) Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

(v) Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật

1.1.4 Phân biệt tranh chấp kinh doanh, thương mại với tranh chấp trong lĩnh vực dân sự

Việc xác định một tranh chấp là tranh chấp trong lĩnh vực dân sự (sau đây gọi tắt là tranh chấp dân sự) hay tranh chấp kinh doanh thương mại c ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ tranh chấp Nếu xác định sai quan hệ pháp luật tranh chấp sẽ dẫn đến áp dụng sai pháp luật nội dung đối với giải quyết vụ việc V dụ: trong vụ tranh chấp mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, nếu xác định là tranh chấp dân sự thì tòa án phải buộc bị đơn trả lãi bất kể nguyên đơn c yêu cầu trả lãi hay không Tuy nhiên, nếu xác định là tranh chấp kinh doanh thương mại thì tòa án chỉ buộc bị đơn trả lãi nếu nguyên đơn c yêu cầu trả lãi và yêu cầu này được chấp nhận

Tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh thương mại c thể phân biệt

ở một số phương diện sau:

- Về lĩnh vực phát sinh tranh chấp, tranh chấp dân sự chủ yếu phát sinh trong lĩnh vực dân sự, tranh chấp KDTM phát sinh trong lĩnh vực thương mại

- Về chủ thể, tranh chấp dân sự là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể của luật dân sự (cá nhân, pháp nhân) trong quan hệ pháp luật dân sự (về nhân thân/hoặc tài sản) Tranh chấp kinh doanh thương mại là tranh chấp phát sinh

Trang 18

giữa các thương nhân c đăng ký kinh doanh trong hoạt động thương mại, đầu

tư, kinh doanh

- Về quyền, nghĩa vụ các bên tranh chấp, đối với tranh chấp KDTM thì tranh chấp phát sinh quyền, nghĩa vụ chủ yếu giữa các thương nhân, ngược lại tranh chấp dân sự phát sinh do mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các tổ chức, cá nhân

Thực tế cho thấy, trong một số trường hợp, việc xác định rõ bản chất pháp lý tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh thương mại khá phức tạp

Tác giả cho r ng, việc xác định như vậy c phần không hợp lý vì các lý do sau:

- Việc một bên hoặc các bên không c đăng ký kinh doanh c thể do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan như: chưa kịp tiến hành đăng ký kinh doanh; đã tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh nhưng chưa được cấp hoặc bị

từ chối cấp; cố ý vi phạm nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của thương nhân Về nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của thương nhân, Luật thương mại quy

định: “Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp

uật Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhi m về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật n y v quy định khác

Như vậy, việc một bên hoặc các bên không/chưa c đăng ký

kinh doanh khi giao dịch không làm loại trừ trách nhiệm phát sinh từ giao dịch

- Các bên trong tranh chấp đều c mục đ ch lợi nhuận Ý ch của các bên khi tham gia giao dịch đều nh m mục tiêu lợi nhuận nên dù không c đăng ký kinh doanh, họ đều hiểu và chấp nhận những quy tắc của giao dịch thương mại

5

Khoản 1 Điều 30 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015

6 Điều 7 Luật thương mại 2005

Trang 19

(ii) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các bên đều

có mục đích ợi nhuận m chỉ một bên có đăng ký kinh doanh, bên c n ại có các oại giấy tờ pháp ý khác không phải đăng ký kinh doanh như: Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, Giấy phép th nh ập v hoạt động

Đây là trường hợp mà bên không c đăng ký kinh doanh được thành lập

và hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành Trong các trường hợp này, việc xác định loại tranh chấp cần căn cứ vào quy định tương ứng tại các

văn bản pháp luật khác Ví dụ: tranh chấp phát sinh giữa Tổ chức hành nghề

luật sư (c Giấy đăng ký hoạt động) với khách hàng là Doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp (c đăng ký kinh doanh) trong việc cung ứng dịch vụ thì đây xác định là tranh chấp dân sự7

(iii) Tranh chấp m một bên không có mục đích ợi nhuận nhưng chọn áp dụng Luật Thương mại

Luật Thương mại năm 2005 quy định về phạm vi điều chỉnh của Luật

Thương mại bao gồm cả “…hoạt động không nhằm mục đích sinh ợi của một

bên trong giao dịch với thương nhân thực hi n trên ãnh thổ nước Cộng ho xã hội chủ nghĩa Vi t Nam trong trường hợp bên thực hi n hoạt động không nhằm

Như vậy, nếu bên không c

mục đ ch lợi nhuận chọn áp dụng Luật trương mại thì liệu c thể xác định tranh chấp này là tranh chấp kinh doanh, thương mại và áp dụng Luật Thương mại để giải quyết hay không?

1.2 Khái quát về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Tranh chấp kinh doanh thương mại là hệ quả phát sinh trực tiếp từ các quan hệ KDTM Khi tham gia quan hệ KDTM, bản thân các chủ thể đều hướng đến mục đ ch lợi nhuận, do vậy khi phát sinh tranh chấp KDTM tức là các bên xác định lợi ch trực tiếp của mình đang bị xâm phạm hoặc sẽ bị xâm phạm Các tranh chấp này không chỉ ảnh hưởng đến bản thân các bên tranh chấp mà

7

Khoản 1 Điều 59 Luật Luật sư 2006

Trang 20

còn ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cả cộng đồng kinh doanh Đây là phản ứng mang t nh chất dây truyền, do vậy nếu không được giải quyết một cách triệt để, nhanh ch ng, khoa học, đảm bảo quyền lợi của các bên thì sẽ tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế xã hội n i chung và bản thân các chủ thể trong quan hệ tranh chấp KDTM n i riêng Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp các bên cần tìm cách để giải quyết các xung đột, mâu thuẫn phát sinh để sớm quay lại với hoạt động sản xuất kinh doanh một cách bình thường, hạn chế tác động của tranh chấp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của bản thân cũng như ổn định tình hình của cộng đồng kinh doanh

Do các tranh chấp KDTM thường phát sinh giữa các chủ thể trong quan

hệ kinh doanh thương mại nên đây thường là những tranh chấp mang t nh chất

tư, các bên thường c quyền lựa chọn cho mình một hình thức giải quyết tranh chấp phù hợp và hữu hiệu nhất

Tác giải cho r ng: giải quyết tranh chấp KDTM theo nghĩa chung nhất c thể hiểu là cách thức, phương pháp cũng như các hoạt động để khắc phục và loại trừ các tranh chấp phát sinh nh m bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội

1.2.2 Một số nét đặc thù của giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Thứ nhất, phải đảm bảo nhanh chóng, kịp thời, không làm hạn chế, cản

trở các hoạt động kinh doanh Hoạt động kinh doanh được thực hiện theo chu

trình sản xuất khép k n, vì vậy ở bất kỳ một công đoạn nào xảy ra trục trặc đều

ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình kinh doanh Hơn nữa, kinh doanh, thương mại

là một quan hệ mang đậm màu sắc kinh tế, yếu tố lợi nhuận là yếu tố luôn được đặt lên hàng đầu Và một trong các yếu tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của các chủ thể trong quan hệ KDTM là vấn đề quỹ thời gian Thời gian c thể ảnh hưởng tới giá hàng h a, giá cung ứng dịch vụ, quy mô, khả năng luân chuyển hàng

h a, dịch vụ ở các thời điểm khác nhau là rất khác nhau, ảnh hưởng rất lớn tới lợi nhuận Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp KDTM, dường như thời gian luân chuyển của các hoạt động thương mại của hai bên và thậm ch là cả bên thứ ba

Trang 21

bị ngưng trệ, làm mất đi rất nhiều lợi thế của các bên xảy ra tranh chấp trên thương trường, giữa một nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt Vậy nên, việc rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp, nhanh ch ng giải quyết tranh chấp để các bên tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình là yếu tố tối quan trọng và cần thiết trong giải quyết tranh chấp KDTM Nhanh ch ng, kịp thời nhưng phải dứt điểm, đạt hiệu quả thi hành cao nh m bảo vệ lợi ch hợp pháp của các bên

Thứ hai, phải đảm bảo tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của các bên

KDTM cũng là một hoạt động mang đậm màu sắc dân sự ở sự tự do, tự nguyện

và bình đẳng Vậy nên, trong giải quyết tranh chấp KDTM, sự tôn trọng quyền

tự định đoạt của các bên tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên, về phương thức, thời hạn, thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp là vô cùng quan trọng (trừ một số ràng buộc pháp lý bắt buộc các bên trong tranh chấp và chủ thể giải quyết tranh chấp phải tuân thủ)

Thứ ba, phải bảo đảm các yếu tố b mật trong kinh doanh Tranh chấp

KDTM thường xảy ra giữa các đối tác, các bạn hàng của nhau và đa phần là các đối tác chiến lược, bạn hàng lâu năm hay các chủ thể kinh doanh mà uy t n của họ trên thương trường là tiêu ch tối quan trọng để đảm bảo sự thành công nên mặc dù giữa các bên c tranh chấp về mặt lợi ch nhưng họ vẫn muốn hợp tác lâu dài với nhau Ch nh vì vậy, yếu tố b mật kinh doanh, uy t n của chủ thể kinh doanh rất được coi trọng trong giải quyết các tranh chấp KDTM

Thứ tư, phải đảm bảo chi ph thấp nhất về tiền bạc và thời gian Chi ph

cho việc giải quyết tranh chấp cũng là chi ph kinh doanh Các bên nên lựa chọn hình thức giải quyết với chi ph thấp nhất về tiền bạc và thời gian, đồng thời các cơ quan giải quyết tranh chấp cũng phải t nh đến yêu cầu này để đặt ra những quy định phù hợp, tạo niềm tin cho người kinh doanh

1.2.3 Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Giải quyết tranh chấp KDTM c ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống doanh nghiệp, cụ thể:

Trang 22

Thứ nhất, giải tỏa các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột về lợi ch giữa các

bên, tạo lập lại sự cân b ng về mặt lợi ch mà các bên c thể chấp nhận được

Thứ hai, đảm bảo về mặt lợi ch giữa các chủ thể trong kinh doanh, giữa

các công nhân trước pháp luật, g p phần thiết lập sự cân b ng, giữ gìn trật tự kỉ cương, pháp luật

Thứ ba, giải quyết nhanh ch ng, thuận tiện là điều kiện để tạo dựng môi

trường kinh doanh lành mạnh, đảm bảo quyền tự do của công dân

Thứ tư, thông qua việc giải quyết tranh chấp còn đánh giá được việc áp

dụng pháp luật trong thực tiễn kinh doanh, chỉ ra những bất cập, tạo định hướng cho việc hòan thiện pháp luật về hoạt động kinh doanh, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động kinh tế phát triển

1.2.4 Các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay, song hành cùng sự phát triển của kinh tế xã hội, là sự phát triển đa dạng, phong phú của các quan hệ KDTM, bên cạnh mặt t ch cực, cũng không tránh khỏi mặt tiêu cực, đ là phát sinh mâu thuẫn về lợi ch giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ này Do vậy, các tranh chấp xảy ra là điều không tránh khỏi Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần giải quyết những tranh chấp phát sinh b ng cách nào để đảm bảo được các yêu cầu như nhanh ch ng, thuận lợi, giữ được b mật kinh doanh, chi ph thấp nhất,… Nhìn chung, nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam đều quy định c bốn hình thức giải quyết tranh chấp KDTM đ là: thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án Các hình thức giải quyết tranh chấp bao gồm: thương lượng giữa các bên; hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải; giải quyết tại trọng tài hoặc toà án9

Theo

đ , khi c tranh chấp kinh doanh thương mại xảy ra, các chủ thể c thể lựa chọn việc giải quyết tranh chấp b ng một trong các hình thức này

- Thương ượng là hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh

không cần đến vai trò của người thứ ba Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên cùng nhau trình bày quan điểm, ch nh kiến, bàn bạc, tìm các biện pháp

9 Điều 317 Luật Thương mại năm 2005

Trang 23

th ch hợp, và đi đến thống nhất thỏa thuận để tự giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn

- H a giải là hình thức giải quyết tranh chấp mà trong đ các bên trong

quá trình thương lượng c sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định là vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên nh m tìm kiếm những giải pháp th ch hợp cho việc giải quyết xung đột, chấm dứt tranh chấp bất hòa

- Trọng t i: là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của

trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nh m chấm dứt xung đột b ng việc đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện Hiện nay

c hai hình thức tổ chức trọng tài: trọng tài vụ việc (adhoc) và trọng tài quy chế Mỗi hình thức tổ chức trọng tài c t nh ưu việt và hạn chế Các phán quyết của trọng tài mang t nh chất chung thẩm, phán quyết nhân danh và vì lợi ch của các bên tranh chấp

- Tòa án: là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do cơ quan

xét xử nhân danh quyền lực nhà nước là tòa án nhân dân tiến hành theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định Về cấp xét xử của Tòa án, bao gồm: xét xử theo trình tự thủ tục sơ thẩm và xét xử theo trình tự phúc thẩm Thủ tục Giám đốc thẩm và Tái thẩm là việc xem xét lại các quyết định, bản án của Tòa án cấp dưới đã c hiệu lực thi hành

Giải quyết tranh chấp KDTM tại tòa án c các đặc trưng chủ yếu sau:

Thứ nhất, việc giải quyết tranh chấp KDTM được tiến hành khi c t nhất

một bên cho r ng mình c quyền lợi hợp pháp bị bên kia xâm phạm và c yêu cầu được giải quyết Kết quả là các quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định lại hoặc mâu thuẫn hay xung đột giữa các bên được dung hòa thông qua các phán quyết của người đứng ra giải quyết tranh chấp Yêu cầu giải quyết tranh chấp phải được gửi đến tòa án c thẩm quyền theo quy định Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết vụ tranh chấp theo yêu cầu hợp pháp của đương sự

Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Toà án có

sự tham gia của bên thứ ba đ là Toà án thông qua hoạt động xét xử của hội

Trang 24

đồng xét xử gồm c các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Toà án là cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước và việc giải quyết tranh chấp b ng Toà

án không cần phải c sự thoả thuận trước Nếu như các bên không c thoả thuận gì về phương thức giải quyết tranh chấp thì tranh chấp sẽ được giải quyết tại Toà án nếu như các bên không tự thương lượng hoặc hoà giải được Cũng giống như hình thức trọng tài thì các thành viên tham gia hội đồng xét xử cũng phải thoả mãn các điều kiện mà pháp luật c quy định Nếu không thoả mãn các điều kiện này thì không được tham gia xét xử, nếu không thì bản án do những người này tuyên c thể không c hiệu lực

Thứ ba, việc giải quyết tranh chấp tại Toà án phải tuân thủ nguyên tắc tố

tụng do pháp luật quy định Việc sai nguyên tắc tố tụng c thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hoặc thủ tục xét lại bản án đã c hiệu lực pháp luật

Thứ tư, kết quả của việc giải quyết tranh chấp là bản án do Hội đồng xét

xử tuyên c giá trị bắt buộc đối với các bên khi c hiệu lực pháp luật, bản án c thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định Khi bản án đã c hiệu lực thi hành thì các bên phải tự nguyện thi hành, nếu không sẽ bị cưỡng chế theo quy định của pháp luật

1.2.5 Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án và trọng tài thương mại dưới góc độ so sánh

Việc xảy ra tranh chấp, bất đồng trong quan hệ kinh tế giữa các cá nhân

là kh tránh khỏi Tuy nhiên, nên giải quyết như thế nào cho hợp lý, hợp pháp Những cá nhân, tổ chức kinh doanh đều mong muốn tranh chấp c thể giải quyết ổn thỏa, hiệu quả mà không ảnh hưởng đến mối quan hệ hai bên cũng như tốn kém thời gian, tiền bạc Vì vậy, việc lựa chọn phương pháp giải quyết tranh chấp là vô cùng quan trọng Giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án dưới

g c độ so sánh với hình thức giải quyết tranh chấp KDTM b ng trọng tài để thấy rõ được ưu điểm, nhược điểm khi lựa chọn hình giải quyết tranh chấp tại tòa án Cả trọng tài thương mại và toà án đều là hình thức giải quyết tranh chấp KDTM mang t nh chất tố tụng, đều dựa trên những nguyên tắc chung như tôn

Trang 25

trọng quyền tự định đoạt của đương sự và đảm bảo sự độc lập của người tài phán

Tuy nhiên, giữa hai hình thức này c những điểm khác biệt cơ bản sau:

- Toà án là cơ quan nhà nước, do đ phán quyết của Toà án mang t nh quyền lực, pháp lý; còn trọng tài là tổ chức xã hội nghề nghiệp (phi ch nh phủ),

do đ phán quyết của trọng tài mang t nh xã hội, pháp lý

- Toà án c thẩm quyền giải quyết những tranh chấp kinh tế theo quy định của pháp luật Trọng tài c thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại nếu trước hoặc khi xảy ra tranh chấp các bên c thoả thuận trọng tài và thoả thuận đ không vô hiệu

- Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử k n để giữ gìn b mật của nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ k n b mật của các đương sự theo yêu cầu ch nh đáng của họ Phiên họp giải quyết tranh chấp theo thủ tục của trọng tài thương mại không công khai

- Nguyên tắc hoà giải là thủ tục bắt buộc trừ một số trường hợp đối với hình thức giải quyết b ng Toà án, còn b ng trọng tài thì không cần thiết

- Lựa chọn trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp các bên c nhiều quyền tự định đoạt hơn, như c thể chọn trung tâm trọng tài hoặc hội đồng trọng tài do các bên thành lập, c thể lựa chọn và đề nghị thay đổi trọng tài viên còn trong tố tụng Toà án thì các bên không c quyền chọn mà chỉ c thể đề nghị thay đổi thành phần hội đồng xét xử nếu chứng minh được r ng họ không thoả mãn điều kiện do pháp luật quy định

1.3 Lý luận Pháp luật (khái niệm, đặc điểm, vai trò, cấu trúc) về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

1.3.1 Khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

1.3.2.1 Khái ni m

Trang 26

C thể nhận thấy, mối quan hệ trong hoạt động KDTM vừa mang t nh xung đột, vừa mang tính hợp tác Vì thế, khi xảy ra tranh chấp các bên luôn mong muốn giải quyết xung đột, mâu thuẫn một cách nhanh nhất để không ảnh hưởng hoạt động kinh doanh, sản xuất Do đ , việc giải quyết tranh chấp KDTM đòi hỏi các bên tranh chấp cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp phải tiến hành nhanh ch ng, k n đáo, không làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của các bên đồng thời phải luôn đảm bảo được sự hợp tác trong hoạt động KDTM

Như đã phân t ch, tranh chấp KDTM là việc phát sinh các mâu thuẫn, bất đồng từ hoạt động sản xuất, đầu tư hay cung ứng các dịch vụ (được gọi chung

là các hoạt động KDTM) Đây là một trong các loại việc thuộc lĩnh vực tư, do

đ các bên c quyền thỏa thuận lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh ngay từ trước khi n xảy ra (quyền định liệu trước) hoặc sau khi tranh chấp xảy ra Việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp b ng Tòa án của các bên được thực hiện trên cơ sở sự nhanh ch ng, t tốn kém và phải đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể, không cản trở các hoạt động kinh doanh của chủ thể

Hiện nay, pháp luật chưa c khái niệm thống nhất về giải quyết tranh chấp KDTM b ng Tòa án, tuy nhiên, trên thực tế đã c rất nhiều bài nghiên cứu của các tác giả liên quan đến việc giải th ch khái niệm giải quyết tranh chấp KDTM b ng Tòa án

Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Như Phát thì: “Giải quyết tranh

chấp bằng To án hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan t i phán Nh nước thực hi n To án nhân danh quyền ực Nh nước để đưa ra phán quyết buộc bên có nghĩa vụ phải thi h nh, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế của Nh nước Do đó các đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của t a án như một giải pháp để bảo v có hi u quả các quyền, ợi ích của mình khi họ thất bại trong

vi c sử dụng cơ chế thương ượng hoặc ho giải v cũng không muốn đưa vụ

Trang 27

Theo quan điểm của tác giả Đinh Thị Trang, Pháp luật về giải quyết

tranh chấp kinh doanh, thương mại theo thủ tục tố tụng T a án ở Vi t Nam

hi n nay, Luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội 2013, trang 35 cho r ng: “Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng T a án hình thức giải quyết các tranh chấp thuộc phạm vi hoạt động kinh doanh, thương mại do cơ quan

t i phán của nh nước, mang ý chí quyền ực của nh nước, được tiến h nh theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt ch Các phán quyết của T a án mang tính cưỡng chế cao, được cơ quan nh nước bảo đảm thi h nh bằng sức mạnh cưỡng chế của nh nước Hi u ực của bản án, quyết định có giá trị pháp ý

Nhìn chung, khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

b ng tòa án theo quan điểm của mỗi tác giả trên đã bao hàm được bản chất của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại b ng Tòa án Từ những phân tích nêu trên, c thể hiểu r ng, giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

b ng Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp được tiến hành khi c yêu cầu của một trong các bên trong quan hệ tranh chấp kinh doanh, thương mại Tòa

án trong phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của mình, nhân danh quyền lực nhà nước, tiến hành các trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ để đưa ra các phán quyết mang t nh cưỡng chế cao, được cơ quan nhà nước bảo đảm thi hành b ng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước Hiệu lực của bản án, quyết định c giá trị pháp lý cao, buộc các bên phải thực hiện

nh m loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về lợi ch kinh tế nh m bảo

vệ quyền và lợi ch ch nh đáng của các bên trong quan hệ tranh chấp

1.3.2.2 Những nội dung chủ yếu của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

Về bản chất, giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án là một hình thức mang ý chí quyền lực nhà nước Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước để giải quyết tranh chấp trên cơ sở các quy định của pháp luật Nội dung pháp luật điều

11

Đinh Thị Trang (2013): “ háp uật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo thủ tục tố tụng

Trang 28

chỉnh giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Xác định các vụ tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân các cấp

- Nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp KDTM Các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp KDTM là những tư tưởng chỉ đạo, hướng dẫn việc giải quyết các tranh chấp KDTM và được ghi nhận trong các quy phạm pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án KDTM Tòa kinh tế là một bộ phận của Toà

án nhân dân cũng phải tuân theo các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan tòa án n i chung được ghi nhận trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân

- Thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM của tòa án Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về KDTM là quyền xem xét giải quyết các tranh chấp KDTM, quyền ra quyết định khi giải quyết các tranh chấp đ theo quy định của pháp luật Thẩm quyền của Toà án gồm:

+ Thẩm quyền theo vụ việc

Bên cạnh đ , Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật liên quan quy định về một số nội dung liên quan đến quá trình giải quyết các tranh chấp KDTM, như: Thẩm phán, thay đổi Thẩm phán, Hội đồng xét xử, ….để đảm bảo việc giải quyết các tranh chấp KDTM đúng pháp luật và hiệu quả

Trang 29

Tiểu kết luận 1

Từ những phân t ch như trên, c thể thấy các tranh chấp KDTM diễn ra ngày càng đa dạng, phức tạp trên nhiều lĩnh vực với những nguyên nhân khác nhau, đ là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể trong hoạt động KDTM Theo đ , c nhiều hình thức để giải quyết các tranh chấp KDTM như: thương lượng, hòa giải, trọng tài, Tòa án Mỗi một phương thức đều c những đặc điểm cũng như ưu, nhược điểm nhất định Ở Việt Nam, hình thức giải quyết tranh chấp KDTM b ng tòa án được các bên tranh chấp lựa chọn và đạt hiệu quả cao bởi những t nh ưu việt của hình thức giải quyết tranh chấp này Tòa án là cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, phán quyết tòa án mang t nh bắt buộc đối với các bên, đảm bảo việc giải quyết tranh chấp được công b ng, khách quan Tòa án c vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp cũng như đối với các hình thức giải quyết tranh chấp khác, như: ra các quyết định công nhận phán quyết của trọng tài, giải quyết các khiếu nại trong quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại,…Đồng thời, các phán quyết của tòa án c hiệu lực thi hành sẽ được đảm bảo b ng các biện pháp cưỡng chế khi cần thiết Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận

về tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại cũng như pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại tại Chương 1 để làm nền tảng đi sâu phân t ch những vấn đề thực tiễn được chi tiết trong Chương 2 của Luận văn

Trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT, XÉT XỬ

SƠ THẨM CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ TẠI

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM 2.1 Các quy định của pháp uật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

2.1.1 Quy định về tranh chấp kinh doanh thương mại

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 c hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm

2016 Với Bộ luật này, cơ quan Tòa án kỳ vọng sẽ g p phần thúc đẩy và thực hiện công cuộc cải cách tư pháp, tạo điều kiện để người dân tiếp cận công lý; hình thành tố tụng mang t nh bình đẳng, minh bạch, trong đ mấu chốt là đảm bảo các tranh chấp về dân sự n i chung và tranh chấp kinh doanh, thương mại nói riêng được thụ lý nhanh ch ng và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã khắc phục những điểm mà Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định chưa rõ về vấn đề tranh chấp kinh doanh thương mại vốn gây nên sự nhầm lẫn giữa thương mại và dân sự Thực tiễn cho thấy khi giải quyết phần tranh chấp kinh doanh, thương mại, nhiều Thẩm phán nhầm lẫn giữa việc thương mại và vụ án thương mại; do vậy Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định rõ tại các Điều 30 và Điều 31 để tránh trường hợp việc thương mại nhưng lại giải quyết theo thủ tục áp dụng đối với vụ án thương mại

Tranh chấp KDTM là tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM của

cá nhân, tổ chức c đăng ký kinh doanh Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định rõ hơn nh m tránh việc nhầm lẫn giữa vụ việc thương mại với vụ việc dân sự Thực tiễn trước đây, nhiều trường hợp một số vụ việc thuộc về thương mại thì được giải quyết thành vụ việc dân sự và ngược lại, một số vụ việc về dân sự thì lại áp dụng luật thương mại để giải quyết Đây là một điểm khác so với quy định tại Khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 về vấn đề

Trang 31

này Tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án đáp ứng các điều kiện sau:

(i) Chủ thể của tranh chấp phải là một tổ chức kinh tế hoặc hộ kinh doanh, cá nhân hoặc hộ kinh doanh c đăng ký kinh doanh Các tranh chấp không c đặc điểm này là tranh chấp dân sự Đối với cá nhân không c đăng ký kinh doanh, tranh chấp phát sinh sẽ không được coi là tranh chấp kinh doanh thương mại12

(ii) Các bên trong hoạt động thương mại c tranh chấp phải c mục đ ch lợi nhuận Tranh chấp nào chỉ c một bên c mục đ ch lợi nhuận sẽ không phải

là tranh chấp thương mại Việc quy định như vậy sẽ tương th ch, phù hợp với Luật Thương mại năm 2005

Bên cạnh đ , Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung thêm quy định tranh chấp KDTM là tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty đối với giao dịch chuyển nhượng của công ty Trong thực tiễn đã xảy ra nhiều tranh chấp về việc chuyển nhượng vốn của công ty mà một bên chưa phải là thành viên công ty Đồng thời, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung quy định các tranh chấp về kinh doanh thương mại khác đều là tranh chấp kinh doanh thương mại, trừ trường hợp pháp luật c quy định tranh chấp đ do các

cơ quan khác giải quyết Quy định này nh m cụ thể h a Khoản 2 Điều 4 của

Bộ luật Tố tụng dân sự là Tòa án không c quyền từ chối thụ lý những việc mà pháp luật không c quy định Cụ thể hơn, bất cứ tranh chấp gì mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan khác thì tòa án phải thụ lý để giải quyết, ngay cả khi luật không c quy định điều chỉnh

Bên cạnh đ , Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về việc KDTM là những

trường hợp các bên không c tranh chấp mà chỉ yêu cầu Tòa án công nhận một

sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 quy định rõ quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên là việc kinh doanh thương mại13 Trước đây Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 không quy định rõ vấn đề này nên một số Tòa án

12

Điều 66, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Ch nh phủ về đăng ký doanh nghiệp

Trang 32

giải quyết theo cách thức của vụ án, một số tòa giải quyết theo cách thức của việc dân sự Đây là vấn đề công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp

lý, xác định t nh hợp pháp của nghị quyết của Hội đồng thành viên hay Nghị quyết của Đại hội cổ đông phù hợp với quy định tại Điều 63 Luật Doanh nghiệp năm 2014 về yêu cầu hủy quyết định của hội đồng thành viên và Điều

87 Luật Doanh nghiệp năm 2014 về hủy quyết định của Đại hội cổ đông của Công ty cổ phần Trong thực tế, hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

đã xét xử giám đốc một việc kinh doanh thương mại mà tòa án hai cấp trước đây giải quyết sai và xem đ là vụ án kinh doanh thương mại

2.1.2 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại

Các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp KDTM là những tư tưởng chỉ đạo, hướng dẫn việc giải quyết các tranh chấp KDTM và được ghi nhận trong các quy phạm pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án KDTM

Tòa kinh tế là một bộ phận của Toà án nhân dân cũng phải tuân theo các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan tòa án nói chung được ghi nhận trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân Cụ thể, đ là các nguyên tắc như: khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nguyên tắc xét xử công khai, xét xử tập thể và quyết định theo đa số, Tòa án đảm bảo cho nhân dân được dùng tiếng n i và chữ viết của dân tộc mình trước Ngoài ra, là một Tòa chuyên trách độc lập, trong hoạt động xét xử các vụ án KDTM, Tòa kinh tế cũng phải tuân thủ những nguyên tắc riêng Nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp KDTM bao gồm:

2.1.2.1 Nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định v tự định đoạt của các đương sự

Tôn trọng quyền tự do định đoạt của các đương sự bắt nguồn từ nguyên tắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự còn là nguyên tắc rất căn bản của tố tụng vụ án KDTM Trên

cơ sở đảm bảo quyền tự do kinh doanh, Nhà nước không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các nhà kinh doanh nếu họ kinh doanh trong khuôn khổ

Trang 33

theo pháp luật quy định, hay được phép kinh doanh các lĩnh vực mà pháp luật không cấm

Nội dung của nguyên tắc này bao gồm:

- Đương sự c quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án c thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi

c đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đ

- Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự c quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”14

Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án chỉ tham gia giải quyết khi đương sự c yêu cầu Nhà nước không tự mình đưa các tranh chấp của các bên ra Tòa án để giải quyết Cá nhân, pháp nhân, theo thủ tục do pháp luật quy định, c quyền khởi kiện vụ án KDTM để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp chính đáng của mình Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự được thể hiện trong suốt các giai đoạn của quá trình tố tụng: họ c thể khởi kiện hoặc không khởi kiện; trong quá trình giải quyết vụ việc, các đương sự c quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Việc thực hiện quyền này của đương sự không chỉ dừng lại việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm mà còn được thực hiện cả trong các giai đoạn của quá trình thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã c hiệu lực pháp luật

2.1.1.2 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp uật

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật là một trong những nguyên tắc pháp lý cơ bản của luật pháp nước ta Điều 16 Hiến pháp năm 2013 c ghi rõ mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Các chủ thể khi tham gia quan hệ sản xuất kinh doanh đều được pháp luật thừa nhận quyền bình đẳng15

Trang 34

- Trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới t nh, t n ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn h a, nghề nghiệp, địa vị xã hội Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án

- Tòa án c trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực

hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự” 16

Việc cụ thể hoá quyền bình đẳng trước pháp luật trong tố tụng kinh tế c

ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì n còn thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, các thành viên thương trường và các chủ thể của quan hệ pháp luật KDTM

2.1.2.3 Nguyên tắc T a án không tiến h nh điều tra m chỉ xác minh thu thập chứng cứ

Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân sự trong việc giải quyết các tranh chấp KDTM Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng

cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định”17

Khác với giải quyết các vụ án hình sự, khi giải quyết tranh chấp KDTM, Tòa án chủ yếu căn cứ vào chứng cứ mà đương sự đưa ra Các đương sự c nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình Tòa

án sẽ nghe các bên trình bày và xác minh chứng cứ Tòa án không tiến hành xét hỏi như tố tụng hình sự Các bên c quyền và nghĩa vụ trình bày những gì họ cho là cần thiết Tòa án không bắt buộc phải thu thập chứng cứ mà chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ khi cần thiết, để làm rõ thêm yêu cầu của các bên, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được ch nh xác

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án chỉ tiến

hành thu thập, xác minh chứng cứ trong một số trường hợp như: Thẩm phán chỉ

tiến h nh ấy ời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội

16

Điều 8 BLTTDS năm 2015

17 Khoản 2 Điều 6 BLTTDS năm 2015

18 Khoản 1 Điều 98 BLTTDS năm 2015

Trang 35

thấy c n thiết, Thẩm phán tiến h nh ấy ời khai của người m chứng tại trụ sở

; Theo yêu c u của đương sự hoặc khi xét

thấy có mâu thuẫn trong ời khai của các đương sự, người m chứng, Thẩm phán tiến h nh đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người

tế, nâng cao kết quả giải quyết các tranh chấp KDTM Đồng thời, thực hiện tốt việc hòa giải sẽ hạn chế những tốn kém về tiền bạc, thời gian của nhà nước cũng như của công dân, hạn chế những khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định cụ thể việc hòa giải được thực hiện ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi chuẩn bị xét xử đến khi bắt đầu xét xử tại phiên tòa, trừ những vụ án không được hòa giải như yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản nhà nước, hoặc những vụ án kinh tế phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội

Nguyên tắc hòa giải là một nguyên tắc quan trọng được quy định tại BLTTDS năm 2015, theo đ , Tòa án c trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này21

Việc hòa giải là thủ tục bắt buộc khi giải quyết các vụ án kinh tế, đặc biệt

là cấp sơ thẩm Việc hòa giải hoàn toàn dựa vào kỹ năng, kinh nghiệm của các Thẩm phán Xu hướng chung của các Thẩm phán là hướng tới việc làm rõ đúng sai giữa các doanh nghiệp; chưa hoặc chưa biết quan tâm đúng mức đến vấn đề

Trang 36

mà các đương sự hướng tới là lợi nhuận (nhiều hay t nhưng phải c lợi) đ là điều kiện tiên quyết để đi tới xu hướng nhân nhượng hợp tác trong kinh doanh của các đương sự Nếu việc hòa giải không thành c thể dẫn đến căng thẳng, mâu thuẫn sẽ tăng lên bội phần và việc thúc đẩy sự thương lượng tự thỏa thuận giữa các đương sự trong các giai đoạn tố tụng tiếp sau sẽ kém hiệu quả

2.1.2.5 Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời

Xuất phát từ nhu cầu kinh doanh, việc giải quyết tranh chấp không những bảo đảm đúng pháp luật mà còn phải nhanh ch ng, kịp thời, dứt điểm, tránh tình trạng kéo dài, đảm bảo khắc phục kịp thời cho bên bị vi phạm Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành quy định cụ thể thời hạn ở các giai đoạn tố tụng, như: thời hạn thụ lý, thời hạn thu thập chứng cứ và đưa vụ việc ra xét xử, thời hạn phát hành quyết định, bản án, thời hạn kháng cáo, khiếu nại và giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm Phần lớn toà án các cấp đều giải quyết

vụ việc trong thời hạn luật định, tuy nhiên c một số Tòa án vẫn còn tình trạng

để án tồn đọng quá thời hạn xét xử Nội dung nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh ch ng, kịp thời gồm:

* Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án c yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

- Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

- Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án

- Đối với vụ án c t nh chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án c thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn

bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này

Trang 37

Trường hợp c quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được t nh lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án c hiệu lực pháp luật 22

2.1.2 Nguyên tắc xét xử công khai

Xét xử công khai là nguyên tắc hiến định đối với hoạt động của Tòa án

và được cụ thể h a tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án xét xử công khai Trường hợp đặc biệt cần giữ b mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ b mật nghề nghiệp, b mật kinh doanh, b mật cá nhân, b mật gia đình của đương sự theo yêu cầu ch nh đáng của họ thì Tòa án c thể xét xử k n23

Về nguyên tắc, trong hoạt động xét

xử của mình, Tòa án phải xét xử công khai Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, như cần giữ b mật kinh doanh cho đương sự, Tòa án c thể xét xử k n theo yêu cầu ch nh đáng của đương sự B mật của đương sự trong tranh chấp KDTM thường là b quyết kinh doanh như phát minh, sáng chế…c liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của người kinh doanh Nếu các b mật đ bị tiết lộ c thể làm doanh nghiệp c kh khăn trong kinh doanh, thậm ch là phá sản Ch nh vì vậy, đương sự c thể yêu cầu xét xử k n Tòa án là cơ quan c thẩm quyền quyết định cho phép đưa vụ án đ xét xử công khai hay xét xử k n

Việc thực hiện nguyên tắc này đã tạo điều kiện cho các bên đương sự được đảm bảo b mật kinh doanh, thương mại của mình Mặc dù kết quả của việc giải quyết tranh chấp như thế nào thì việc xét xử k n cũng g p phần làm cho uy t n, b mật kinh doanh của doanh nghiệp không bị ảnh hưởng nhiều Do vậy, đây là quy định hoàn toàn phù hợp với thực tiễn

2.1.3 Quy định về thẩm quyền

Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại b ng Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết giải quyết việc tranh chấp Thực tế, đây

là hình thức giải quyết tranh chấp theo cơ chế ba bên mà ở đ , Tòa án thực hiện

22 Điều 203 BLTTDS năm 2015

Trang 38

chức năng như một Trọng tài c địa vị độc lập với các bên để phân xử một cách khách quan, theo pháp luật Việc các bên lựa chọn Tòa án là cơ quan đứng ra giải quyết tranh chấp xuất phát từ sự tự nguyện của các bên và việc giải quyết tranh chấp b ng Tòa án cũng mất chi ph Đồng thời, Tòa án đưa ra phán quyết buộc các bên c nghĩa vụ thi hành, kể cả b ng sức mạnh cưỡng chế Trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại Tòa án phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định, cụ thể đ là những nguyên tắc cơ bản; trình tự, thủ tục khởi kiện; trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tại Tòa án, thi hành bản án, quyết định của Tòa án; quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng như của những cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan,… Đây ch nh là thủ tục tố tụng Tòa án Ở hầu hết các quốc gia, cùng với việc ban hành những đạo luật về nội dung, Nhà nước cũng ban hành những quy định về thủ tục tố tụng để Tòa án giải quyết các tranh chấp kinh doanh Như vậy, giải quyết tranh chấp b ng Tòa án về bản chất là thực hiện thủ tục tố tụng Tòa án chính là trình

Trong kinh doanh thương mại, khi xảy ra tranh chấp không phải lúc nào Toà án cũng c thẩm quyền giải quyết Toà án chỉ giải quyết khi c yêu cầu của đương sự (nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự) và tranh chấp đ phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án Ở nước ta, hệ thống toà

án được tổ chức theo đơn vị hành ch nh lãnh thổ, để tránh chồng chéo thì việc

Trang 39

phân định thẩm quyền giữa các Toà án là rất quan trọng, tránh tình trạng một

vụ án c thể được rất nhiều toà thụ lý hoặc không c toà nào thụ lý Hiện nay, Toà án nhân dân được tổ chức thành 4 cấp, gồm: Tòa án cấp huyện, Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp cao và Toà án nhân dân tối cao Điều này cũng g p phần cho Toà án giải quyết nhanh ch ng và đúng đắn các vụ việc Bên cạnh đ , việc xác định thẩm quyền giữa các Toà án một cách hợp lý, còn tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ch hợp pháp trước Toà

án, giảm bớt những phiền phức cho đương sự Ngoài ra, việc xác định thẩm quyền của các Toà án một cách hợp lý và khoa học còn c ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết của đội ngũ công chức Toà án và các điều kiện khác, trên cơ sở đ c kế hoạch đáp ứng bảo đảm cho toà án thực hiện được chức năng, nhiệm vụ

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về KDTM là quyền xem xét giải quyết các tranh chấp KDTM, quyền ra quyết định khi giải quyết các tranh chấp đ theo quy định của pháp luật Thẩm quyền của Toà án gồm:

- Thẩm quyền theo vụ việc

- Thẩm quyền theo cấp

- Thẩm quyền theo lãnh thổ

- Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

Để xác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi giải quyết các

vụ án KDTM, Tòa án phải xác định được yêu cầu của đương sự thuộc nh m quan hệ tranh chấp kinh doanh thương mại trong quan hệ tranh chấp dân sự (theo nghĩa rộng) để từ đ c sự phân định thẩm quyền giữa Tòa án với cơ quan tài phán khác (trọng tài), với cơ quan hành ch nh (ủy ban nhân dân) hay giữa các tòa án với nhau Do đ , để giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án thì yêu cầu đặt ra là Tòa án phải xác định rõ thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM của mình, cụ thể:

2.1.3.1 Thẩm quyền của t a án theo vụ vi c

Toà án nhân dân c thẩm quyền giải quyết những tranh chấp KDTM gồm: tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá

Trang 40

nhân, tổ chức c đăng ký kinh doanh với nhau và đều c mục đ ch lợi nhuận Tranh chấp về quyền sở hữu tr tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều c mục đ ch lợi nhuận Tranh chấp giữa người chưa phải

là thành viên công ty nhưng c giao dịch về chuyển nhượng phần vốn g p với công ty, thành viên công ty Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật24

Căn cứ theo quy định trên, tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong từng trường hợp được xác định như sau:

Một , tranh chấp KDTM phải c đủ nếu c đủ 3 yếu tố:

- Phát sinh giữa cá nhân, tổ chức c đăng ký kinh doanh với nhau

- Các bên tranh chấp đều c mục đ ch lợi nhuận

- Phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại25

Hai là, tranh chấp KDTM phát sinh trong các lĩnh vực:

- Tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu tr tuệ, chuyển giao công nghệ

- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng c giao dịch về chuyển nhượng phần vốn g p với công ty, thành viên công ty

- Tranh chấp liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty26

Loại tranh chấp KDTM thứ hai này không bắt buộc một hoặc các bên phải c đăng ký kinh doanh Đối với tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc Khoản 2 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân năm 2015 thì bắt buộc các bên tranh

24 Điều 30 BLTTDS năm 2015

25

Khoản 1 Điều 30 Bộ luật TTDS năm 2015

26 Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 Điều 30 BLTTDS năm 2015

Ngày đăng: 06/04/2020, 10:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm