Để khắc phục những khiếm khuyết này, pháp luật Việt Nam đã từng bước được hoàn thiện với sự ra đời của LTTTM 2010, Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tố
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết luận, số liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo độ tin cậy./
Tác giả luận văn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS.Trần Minh Ngọc – người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn tôi trong thời gian tôi viết luận văn thạc sỹ này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo và các cán bộ của Đại học Mở Hà Nội đã truyền đạt kiến thức cũng như quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn thạc sỹ
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ở bên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 7
1.1 Khái quát về Trọng tài Thương mại Quốc tế 7 1.1.1 Khái niệm Trọng tài Thương mại Quốc tế 7 1.1.2 Các tranh chấp Thương mại Quốc tế phổ biến được giải quyết bằng Trọng tài 13 1.2 Khái quát về sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài
Thương mại Quốc tế 16 1.2.1.Sự cần thiết phải có sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế 16 1.2.2.Nội dung sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế 22
CHƯƠNG 2: SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 377
2.1.Tòa án hỗ trợ thi hành thỏa thuận trọng tài 377 2.2 Tòa án hỗ trợ thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc, thay đổi trọng tài viên 41 2.3 Vấn đề tòa án hỗ trợ trọng tài trong thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng 45 2.4 Việc yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 48 2.5 Tòa án giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài 51 2.6 Đăng ký phán quyết của trọng tài vụ việc 577 2.7 Công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài 61
Trang 6CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỖ TRỢ CỦA TÒA
ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC
TẾ TẠI VIỆT NAM 72
3.1.Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hỗ trợ của tòa án đối với Trọng tài thương mại quốc tế 72
3.2 Một số giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế ở Việt Nam 74
3.2.1 Các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế 74
3.2.1.1 Về tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài theo Điều 2 LTTTM 2010 74
3.2.1.2 Về vấn đề Tòa án hỗ trợ thi hành thoả thuận trọng tài 75
3.2.1.3 Về vấn đề Tòa án ra quyết định hỗ trợ thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc 76
3.2.1.4 Về vấn đề Tòa án hỗ trợ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 77
3.2.1.5 Về vấn đề thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được 81
3.2.1.6 Về đăng ký phán quyết trọng tài 84
3.2.1.7 Về vấn đề công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài 845
3.2.2 Các giải pháp khác 877
3.2.2.1 Đẩy mạnh việc nâng cao trình độ của đội ngũ thẩm phán và thành lập các Tòa án chuyên trách 877
3.2.2.2 Tăng cường quản lý và giám sát việc giải quyết các vụ việc liên quan đến hoạt động Trọng tài Thương mại Quốc tế của Tòa án 877
3.2.2.3 Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ Trọng tài viên 888
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, các tranh chấp trong lĩnh vực thương mại diễn ra ngày càng gay gắt và phức tạp Các quan hệ tranh chấp này không chỉ được thiết lập giữa các chủ thể kinh doanh trong nước mà còn mở rộng tới các
tổ chức, cá nhân nước ngoài Chính vì vậy, tranh chấp thương mại là điều không thể tránh khỏi và cần được quan tâm giải quyết kịp thời Pháp luật Việt Nam nói chung cũng như pháp luật thương mại Việt Nam nói riêng đã quy định nhiều hình thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế (tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài) như: Thương lượng, Hòa giải, Tòa án hay Trọng tài Với những quy định của pháp luật hiện hành đã góp phần giải quyết các tranh chấp trong quan hệ thương mại quốc tế một cách nhanh chóng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Trước tình hình đó, việc lựa chọn phương thức nào để giải quyết tranh chấp có tầm quan trọng đặc biệt bởi nó có thể quyết định mức độ thiệt hại của doanh nghiệp một khi thương
vụ bị đổ bể Hiện nay, không có phương thức giải quyết tranh chấp nào chiếm
vị thế tuyệt đối cả Tuy nhiên, một trong những phương thức được lựa chọn nhiều nhất trên thế giới để giải quyết các tranh chấp Thương mại Quốc tế đó
là Trọng tài
“Quyền lực” của Trọng tài xuất phát từ “quyền lực theo hợp đồng” hay
“quyền lực đại diện” do các bên trong quan hệ tranh chấp giao phó Bởi
“quyền lực này” của Trọng tài không mang tính cưỡng chế đối với các chủ thể
do không xuất phát từ quyền lực nhà nước Chính vì vậy, để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động Trọng tài Thương mại Quốc tế, cần phải có cơ chế hỗ trợ của Nhà nước nhằm đảm bảo cho tố tụng trọng tài được vận hành trơn tru, phán quyết của trọng tài được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh của nhà nước Vấn đề hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc
Trang 8tế chính là thể hiện vai trò của Tòa án – cơ quan đại điện cho Nhà nước trong việc hỗ trợ quá trình tố tụng của Trọng tài Thương mại Quốc tế kể cả khâu thi hành phán quyết trọng tài
Sự ra đời của PLTTTM 2003, BLTTDS 2004 đã thừa nhận vai trò, trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong hỗ trợ hoạt động tố tụng giải quyết tranh chấp của Trọng tài Thương mại Quốc tế, tuy nhiên quá trình áp dụng trên thực
tế đã bộc lộ nhiều bất cập, thiếu sót Để khắc phục những khiếm khuyết này, pháp luật Việt Nam đã từng bước được hoàn thiện với sự ra đời của LTTTM
2010, Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài Thương mại (Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP), BLTTDS 2015 quy định về vấn đề hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế khá toàn diện và phù hợp với Luật Mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế của
Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế 1985 và Quy tắc trọng tài UNCITRAL Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy có không ít quy định còn hạn chế, bất cập gây khó khăn trong quá trình áp dụng trên thực tế, ngoài ra cũng phải nhắc đến những bất cập trong cơ chế quản lý, giám sát, trình độ của thẩm phán, trọng tài viên,… làm ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài tại Việt Nam
Vì thế, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung, thực trạng pháp luật
về vấn đề hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế, đưa ra giải pháp cải thiện sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế là vấn đề thiết thực
và vô cùng cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm đảm bảo cho việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng con đường trọng tài đạt hiệu quả
cao Với mong muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này, em xin chọn đề tài “Pháp
Trang 9luật về hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc
tế theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế là vấn đề đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu
khoa học như luận văn thạc sỹ luật học “Mối quan hệ giữa Tòa án và Trọng
tài trong giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài” của tác giả
Tào Thị Huệ năm 2012; luận văn thạc sỹ luật học “Mối quan hệ pháp lý giữa
Trọng tài Thương mại và Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế” của tác giả Nguyễn Ngọc Diệp năm 2016; bài viết “Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài và vai trò của Tòa án trong quá trình tố tụng trọng tài”
của tác giả Đào Trí Úc đăng trên tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội
số 26/2010; bài viết “Hoàn thiện pháp luật Trọng tài Thương mại Việt Nam
trong việc phân định thẩm quyền của Tòa án và Trọng tài thương mại khi các bên có thỏa thuận trọng tài” của tác giả Vũ Thị Hương đăng trên tạp chí
Nghề luật, số 1/2015; bài viết “Khái quát về trọng tài, mối quan hệ giữa Tòa
án và Trọng tài ở Liên bang Nga – Kinh nghiệm đối với Việt Nam” của tác
giả Trần Hoàng Hải đăng trên tạp chí Khoa học pháp lý số 2/2011,…Tuy nhiên, những công trình khoa học trên mới chỉ phân tích quy định của pháp luật tại thời điểm nghiên cứu và khai thác một số khía cạnh mà chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống những quy định của pháp luật Việt Nam về
sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật nước ngoài, một số điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Luật Mẫu UNCITRAL về vấn đề hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế
Trang 10- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đề cập những vấn đề cơ bản về việc
hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
- Các câu hỏi nghiên cứu
+ Thực trạng pháp luật Việt Nam về hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế?
+ Pháp luật Việt Nam về hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế có tương thích với pháp luật nước ngoài, Luật Mẫu UNCITRAL hay không?
+ Những hạn chế, bất cập trong pháp luật Việt Nam và các giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế tại Việt Nam?
4 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 đã có hiệu lực thi hành được gần
10 năm (kể từ ngày 1/1/2011) Những quy định pháp luật về Trọng tài Thương mại không hẳn là do nhận thức trong nước phát triển về vấn đề Trọng tài mà đôi khi là do sức ép từ việc hội nhập, từ việc ký kết các điều ước quốc
tế Hiện nay, các tổ chức trọng tài chưa nhiều nhưng cũng bắt đầu có sự phát
triển mạnh mẽ hơn so với giai đoạn trước Việc nghiên cứu đề tài: “Vấn đề hỗ
trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành” hướng tới những mục đích sau:
-Thứ nhất, nghiên cứu vấn đề lý luận về sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế
-Thứ hai, phân tích và giải thích rõ hơn những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế thể hiện chủ yếu ở các văn bản pháp luật: Luật Trọng tài Thương mại 2010, Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm
Trang 11phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài Thương mại và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
-Thứ ba, chỉ ra những điểm chưa rõ ràng, còn mâu thuẫn trong các quy định của pháp luật về vấn đề hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế trong các các văn bản hiện hành
-Thứ tư, đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
- Khái quát được một số vấn đề lý luận về sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại quốc tế
- Làm rõ và đánh giá được thực trạng pháp luật Việt Nam về sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại quốc tế
- Đề xuất được những giải pháp thiết thực nâng cao hiệu quả hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại quốc tế tại Việt Nam trong thời gian tới
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế
Trang 12Chương 2: Sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế theo pháp luật Việt Nam hiện hành
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế tại Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1 Khái quát về Trọng tài Thương mại Quốc tế
1.1.1 Khái niệm Trọng tài Thương mại Quốc tế
Theo Plato, Trọng tài đã được sử dụng từ rất lâu ở thời Hy Lạp cổ đại[38] Trong xã hội hiện đại, Trọng tài trở thành phương thức chuẩn để giải quyết các tranh chấp liên quan đến ngành kinh doanh như xây dựng, mua bán hàng hóa, vận chuyển hay bảo hiểm Rõ ràng có thể thấy Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp được giới kinh doanh trên thế giới ưa chuộng lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các giao dịch thương mại
Theo từ điển Black’s Law Dictionary, Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp liên quan đến một hoặc nhiều chủ thể trung lập (bên thứ ba)
- người mà được sự đồng ý của các chủ thể tranh chấp và quyết định của họ sẽ ràng buộc các bên.[35, tr.119]
Theo từ điển Oxford Dictionary of Law, Trọng tài được định nghĩa là quyết định giải quyết tranh chấp của một hoặc nhiều chủ thể thứ ba độc lập (những trọng tài viên) thay vì Tòa án Trọng tài viên được chỉ định bởi các chủ thể có liên quan đến các điều khoản của thỏa thuận trọng tài hoặc do Tòa
án chỉ định.[36, tr.31]
Theo James and Nicholas, Trọng tài được coi như một tiến trình tư được
mở ra theo sự thỏa thuận của các bên nhằm giải quyết một tranh chấp đang tồn tại hoặc có thể phát sinh bởi một Hội đồng Trọng tài gồm một hoặc nhiều trọng tài viên Hội đồng trọng tài này là kết quả của sự lựa chọn của chính các bên tranh chấp hoặc thông qua những đại diện của họ, và chính các bên cũng
sẽ là những người thiết lập nên các thủ tục mà Hội đồng Trọng tài phải áp
Trang 14dụng để giải quyết tranh chấp Hay Okezie Chukwumerije cho rằng: “Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các bên lựa chọn hoặc bởi việc dựa trên những thủ tục hay những tổ chức nhất định được lựa chọn bởi chính các bên”.[34, tr.7]
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về trọng tài, nhưng rõ ràng, những đặc điểm cơ bản sau đây của Trọng tài không thể thay đổi: (1) Trọng tài thường diễn ra trên cơ sở thỏa thuận trọng tài của các bên tranh chấp; (2) Các bên tranh chấp được quyền quyết định thủ tục trọng tài và có quyền lựa chọn Hội đồng trọng tài gồm một hoặc một số lẻ khác các trọng tài viên; (3) Quyết định của Hội đồng trọng tài về toàn bộ vụ tranh chấp có hiệu lực chung thẩm, buộc các bên phải thực hiện
Trọng tài Thương mại Quốc tế là phương thức giải quyết tranh chấp và luôn mang những đặc điểm chung của một trọng tài Như vậy một trọng tài được gọi là Trọng tài Thương mại Quốc tế phải chứa đựng hai yếu tố “quốc tế” và “thương mại”
Thuật ngữ “quốc tế” được sử dụng để chỉ ra sự khác nhau giữa Trọng tài thuần túy nội địa và Trọng tài có những yếu tố vượt ra ngoài biên giới quốc gia Các trọng tài nội địa thường bắt buộc phải tuân theo những quy định về Trọng tài của quốc gia đó như: tố tụng trọng tài, luật điều chỉnh nội dung tranh chấp, ngôn ngữ trọng tài Nhưng, với Trọng tài Thương mại Quốc tế thì điều này là không nhất thiết Có nghĩa là, Trọng tài Thương mại Quốc tế có thể tiến hành phiên xử và đưa ra phán quyết ở nước ngoài trên cơ sở một trình
tự tố tụng, ngôn ngữ và luật áp dụng cho tranh chấp do chính các bên tranh chấp thỏa thuận ra.[32, tr.25]
Có thể căn cứ vào hai yếu tố chính để xác định tính “quốc tế” của Trọng
tài đó là: tính chất của tranh chấp và đặc điểm của chủ thể tham gia tranh
chấp
Trang 15Điều 1492 Bộ luật Tố tụng Dân sự Cộng hòa Pháp năm 1981 quy định
rằng: “Một trọng tài sẽ được coi là trọng tài quốc tế nếu nó giải quyết các
tranh chấp quyền lợi trong thương mại quốc tế” Và Tòa án Thượng thẩm
Pháp đã giải thích lại cụm từ “tranh chấp quyền lợi trong thương mại quốc tế”
là “định nghĩa này sẽ bao hàm sự di chuyển hàng hóa hay tiền tệ từ nước này
tới nước khác, hoặc những yếu tố khác như quốc tịch của các bên, địa điểm
ký kết hợp đồng ”.[37, tr.42]
Như vậy, một tranh chấp thương mại sẽ được coi là có tính quốc tế nếu
có liên quan đến bất kỳ yếu tố nước ngoài nào như: nơi thực hiện hợp đồng ở nước ngoài, hàng hóa di chuyển qua biên giới, nơi giao kết hợp đồng ở nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng ở các nước khác nhau…
-Đặc điểm của chủ thể tham gia tranh chấp
Trang 16Hai dấu hiệu chính để xác định đặc điểm của chủ thể tham gia tranh chấp
là quốc tịch của các chủ thể hoặc trụ sở thương mại của các chủ thể hay nơi
cư trú thường xuyên của họ Hai dấu hiệu này có thể sử dụng tách biệt nhau
hoặc sử dụng kết hợp với nhau
Điều I.1(a) Công ước Châu Âu 1961 về Trọng tài Thương mại Quốc tế
quy định: “Công ước này sẽ được áp dụng đối với: (a) Thỏa thuận trọng tài
được ký kết với mục đích giải quyết tranh chấp phát sinh từ thương mại quốc
tế giữa các cá nhân hoặc pháp nhân có cư trú thường xuyên hoặc trụ sở ở các nước ký kết khác nhau…”
Điều 176 (1) Đạo luật Tư pháp Quốc tế của Liên bang Thụy Sĩ giới hạn việc áp dụng Chương 12 của Đạo luật (Chương về Trọng tài Quốc tế) đối với những vụ việc mà địa điểm trọng tài ở Thụy Sĩ và vào thời điểm ký kết thỏa thuận trọng tài, ít nhất một bên chủ thể không cư trú ở Thụy Sĩ
Tại Luật Mẫu UNCITRAL năm 1985 về Trọng tài Thương mại Quốc tế
là một ví dụ điển hình Điều 1(3) Luật này quy định:
“Trọng tài là quốc tế nếu:
(a) Các bên tham gia thỏa thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết thỏa thuận trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau; hoặc
(b) Một trong những địa điểm sau đây được đặt ở ngoài quốc gia nơi các bên có trụ sở kinh doanh;
(i) Nơi tiến hành trọng tài nếu được xác định trong hoặc theo thỏa thuận trọng tài;
(ii) Nơi mà phần chủ yếu của các nghĩa vụ trong quan hệ thương mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có quan hệ mật thiết nhất; (c) Các bên đã thỏa thuận rõ ràng vấn đề chủ yếu của thỏa thuận trọng tài liên quan đến nhiều nước”
Trang 17Theo quy định của Điều 1(3)(a) thì tính quốc tế của trọng tài có liên quan tới yếu tố chủ thể, trong khi Điều 1(3)(b)(ii) có liên quan tới tính chất quốc tế của tranh chấp
Hiện nay, chưa có một khái niệm “thương mại” được chấp nhận chung trên toàn thế giới Mặc dù Công ước New York 1958 về công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài nước ngoài đã nỗ lực ghi nhận một sự giải thích về thuật ngữ “thương mại” nhưng lại dành cho các nước thành viên quyền bảo lưu đối với khái niệm này
Thuật ngữ “thương mại” được hiểu theo nghĩa hẹp là dùng để chỉ các hoạt động buôn bán hàng hóa của các thương nhân với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì khái niệm
“thương mại” được hiểu theo nghĩa rất rộng
Trong phần chú thích khoản 1 Điều 1 Luật Mẫu (UNCITRAL) năm
1985, sửa đổi, bổ sung năm 2006 (Luật Mẫu của UNCITRAL), thuật ngữ
“thương mại” được giải thích như sau:
Thuật ngữ “thương mại” phải được giải thích theo nghĩa rộng, để chỉ những vấn đề liên quan đến các quan hệ có tính chất thương mại, dù quan hệ
đó phát sinh từ hợp đồng hay không có hợp đồng Ví dụ, quan hệ có tính chất thương mại gồm một số giao dịch như sau: giao dịch cung cấp trao đổi hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện thương mại; ủy nhiệm thu hồi nợ; thuê mua; xây dựng nhà xưởng; dịch vụ tư vấn; hợp đồng tổng thầu; li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc giao thầu công chính; liên doanh hoặc các hình thức hợp tác sản xuất, kinh doanh khác; vận tải hàng hóa hoặc hành khách bằng đường không, đường biển, đường sắt hoặc đường bộ
Luật thương mại Thái Lan có phạm vi điều chỉnh khái niệm “thương mại” khá rộng, bao gồm: mua bán hàng hóa, thuê tài sản, tín dụng, thế chấp,
Trang 18đại diện, môi giới, bảo hiểm, công ty, hợp danh…Luật thương mại Philippine định nghĩa thương mại là hoạt động của con người nhằm thúc đẩy sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ với mục đích thu lợi nhuận và bao gồm các giao dịch thương mại trong tất cả các lĩnh vực, kể cả lĩnh vực vận chuyển hành khách
và hàng hóa.[28, tr.32]
Bộ Luật Thương mại Cộng Hòa Pháp hiện hành dù không đưa ra bất kỳ định nghĩa nào về “thương mại” nhưng, tại Điều L 110-1 đã liệt kê khá nhiều hành vi thương mại được thực hiện bởi các thương nhân, như: Mua hàng hóa
để bán lại; mua bất động sản để bán lại; mọi hoạt động trung gian về mua, thuê, hoặc bán các công trình xây dựng, các cơ sở kinh doanh hay cổ phần của các công ty bất động sản; cho thuê tài sản,…
Như vậy, tuy được định nghĩa với những ngôn từ khác nhau, song đều dùng để chỉ những hoạt động có mục đích sinh lợi của thương nhân Điều này giúp phân biệt với mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của các giao dịch dân sự như việc chia tài sản thừa kế, hay các hợp đồng tặng cho, hoặc việc chia tài sản trong quan hệ ly hôn
Theo Susan Gualtier, Trọng tài Thương mại Quốc tế là giải quyết các tranh chấp phát sinh dưới hợp đồng thương mại quốc tế Nó được sử dụng như là sự thay thế cho việc kiện tụng tại tòa và được kiểm soát chủ yếu bởi các điều khoản đã được các bên ký kết trước đó, thay vì theo pháp luật quốc gia hoặc các quy tắc tố tụng Hầu hết các hợp đồng có một điều khoản giải quyết tranh chấp quy định rằng mọi tranh chấp phát sinh trong hợp đồng sẽ được xử lý thông qua Trọng tài thay vì Tố tụng tại Tòa án Các bên có thể chỉ định nơi giải quyết tranh chấp, quy tắc tố tụng và luật điều chỉnh tại thời điểm hợp đồng.[39] Theo tác giả Trần Minh Ngọc, Trọng tài Thương mại Quốc tế
là một phương thức giải quyết tranh chấp mà sự bắt đầu của nó dựa trên sự thỏa thuận của các bên tham gia tranh chấp nhằm giải quyết các tranh chấp thương mại có yếu tố quốc tế (hay yếu tố nước ngoài) giữa các thương nhân
Trang 19với nhau bởi một Hội đồng trọng tài gồm một hoặc nhiều trọng tài viên trên
cơ sở trình tự thủ tục do các bên tranh chấp thỏa thuận chọn ra Tính quốc tế của trọng tài được quyết định dựa trên hai yếu tố, hoặc được sử dụng riêng rẽ hoặc được kết hợp với nhau đó là tính chất quốc tế của tranh chấp (International Nature of the dispute) và đặc điểm của chủ thể tham gia tranh chấp (Identity of the parties).[32, tr.29]
Tóm lại, Trọng tài Thương mại Quốc tế là một phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên sự thỏa thuận của các bên tham gia tranh chấp, nhằm giải quyết các tranh chấp liên quan trong lĩnh vực thương mại có yếu tố quốc tế Tính quốc tế của trọng tài thể hiện ở tính chất quốc tế của tranh chấp hoặc/và đặc điểm của chủ thể tham gia tranh chấp Các bên tham gia trọng tài có quyền chọn Trọng tài viên, nơi giải quyết tranh chấp, quy tắc tố tụng trọng tài
1.1.2 Các tranh chấp Thương mại Quốc tế phổ biến được giải quyết bằng Trọng tài
Tranh chấp Thương mại Quốc tế là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên phát sinh từ hoặc có liên quan đến giao dịch thương mại giữa họ Sau đây
là một số tranh chấp phổ biến:
- Tranh chấp từ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Tranh chấp này là dạng tranh chấp phổ biến nhất trong Thương mại Quốc tế Tranh chấp xảy ra khi các bên đã không hoàn thành một hay nhiều nghĩa vụ của mình theo quy định trong hợp đồng, kể cả việc thực hiện không đúng quy cách hoặc thực hiện chậm Ví dụ như: Tranh chấp liên quan tới việc không giao nhận hàng hay giao nhận hàng chậm trễ; Tranh chấp do giao hàng không đúng quy cách, số lượng, chất lượng; Tranh chấp liên quan tới nghĩa
vụ mua bảo hiểm hàng hóa, vận chuyển; Tranh chấp liên quan tới trách nhiệm hoàn tất thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa; Tranh chấp do vi phạm nghĩa vụ thanh toán;…
Trang 20- Tranh chấp từ hợp đồng phân phối, đại lý
Loại tranh chấp này thường liên quan tới các bí mật thương mại và quan
hệ làm ăn lâu dài, liên quan đến uy tín lâu năm giữa nhà phân phối đại lý với người sản xuất, người bán Ví dụ như: Nhà sản xuất, người bán không cung cấp hàng hóa cho nhà phân phố, đại lý theo đúng hợp đồng, hoặc vào thời điểm quy định trong hợp đồng; Nhà sản xuất, người bán cung cấp hàng hóa cho các đối thủ cạnh tranh của nhà phân phối đại lý; trong trường hợp, hợp đồng phân phối quy định rõ ràng sự độc quyền cho nhà phân phối, đại lý; Nhà phân phối, đại lý phân phối hàng hóa ngoài khu vực mà nhà sản xuất người bán cho phép; Nhà phân phối, đại lý chỉ định nhà phân phối phụ, đại lý phụ, trong trường hợp nhà sản xuất, người bán không cho phép điều này…
- Tranh chấp từ hợp đồng xây dựng
Tranh chấp này là vô cùng đa dạng, do xuất phát từ tính chất những hợp đồng xây dựng như: thiết kế công trình kỹ thuật, tiến độ hoàn thành công việc, chi phí xây dựng lắp đặt các thiết bị, việc thanh toán chi phí toàn bộ hay một phần công trình của chủ đầu tư, thi công không đúng quy định hoặc chậm thi công theo quy định tại hợp đầu đã được thỏa thuận giữa nhà thầu và chủ đầu tư…Tranh chấp này được giải quyết bởi một ủy ban phân xử, gồm một hoặc ba thành viên theo thủ tục được quy định trong điều kiện hợp đồng của Liên đoàn Quốc tế các Kỹ sư Tư vấn (FIDIC – International Federation of Consulting Engineers) Mặc dù vậy, phương thức giải quyết tranh chấp này không có tính chất bắt buộc với các bên tranh chấp mà trông chờ vào sự tự nguyện thi hành Vì vậy vẫn cần tới tòa án hay Trọng tài để giải quyết tranh chấp
- Tranh chấp từ hợp đồng vận chuyển quốc tế
Các tranh chấp này thường xuất phát từ một số nguyên nhân như: tranh cãi về nghĩa vụ lập vận đơn, người thuê vận chuyển đã giao hàng vận chuyển
Trang 21vượt quá số lượng, trọng lượng, khối lượng theo thỏa thuận, chậm thanh toán cước phí vận chuyển, người chuyên chở không giao hàng đúng địa điểm và thời hạn được ghi trong vận đơn, hàng hóa vận chuyển bị hư hỏng, hao hụt, hoặc chậm giờ vận chuyển hành khách, mất mát thất lạc hành lý ký gửi hay xách tay….Một số phương thức vận chuyển như đường hàng không, hàng hải, đường bộ hay đường sắt….Vì vậy sẽ tạo ra các loại hợp đồng vô cùng đa dạng, nhiều tình huống tranh chấp có thể xảy ra
- Tranh chấp từ hợp đồng sở hữu trí tuệ
Có nhiều loại hợp đồng sở hữu trí tuệ nhưng loại phổ biến nhất là hợp đồng li xăng (license) Ví dụ như: phạm vi sử dụng đối tượng được chuyển giao, thanh toán trong hợp đồng, phát triển đối tượng li xăng trong hợp đồng cấm đoán hành động này, chuyển giao đối tượng li xăng cho người thứ ba, các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng,…Tuy nhiên, pháp luật ở một số quốc gia không cho phép Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến sở hữu trí tuệ
- Tranh chấp từ hợp đồng liên doanh
Thông thường, các nước trên thế giới sẽ lựa chọn Tòa án hoặc Trọng tài
để giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư quốc tế Các tranh chấp này xuất phát từ các vấn đề như góp vốn, sử dụng vốn, phân bổ nguồn vốn, phân chia lợi nhuận, bổ nhiệm các vị trí lãnh đạo, đào tạo nguồn nhân lực, chấm dứt liên doanh,…
- Tranh chấp tên miền
Ngày nay, mạng Internet là một công cụ không thể thiếu và đem lại nguồn thu nhập lớn Vì vậy, các tên miền trên Internet rất hay xảy ra tranh chấp, bắt nguồn từ những việc như: sử dụng tên miền không được sự đồng ý của chủ sở hữu, đăng ký và sử dụng tên miền đã được dùng trước đó hoặc có nội dung tương tư gây nhầm lẫn,…
Trang 22- Các tranh chấp ngoài hợp đồng
Bên cạnh tranh chấp từ hợp đồng còn có những tranh chấp khác liên quan đến bán phá giá, độc quyền, tung tin thất thiệt, hạ uy tín của đối thủ cạnh tranh, cản trở quyền tự do kinh doanh của người khác, tranh chấp về bồi thường ngoài hợp đồng…[34, tr.27] Mặc dù, hầu hết các tranh chấp ngoài hợp đồng trong thương mại quốc tế đều có thể giải quyết bằng Trọng tài, tuy nhiên cũng có những tranh chấp liên quan tới bán phá giá, độc quyền, cạnh tranh chỉ thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tóm lại, Trọng tài càng ngày càng trở nên được ưa chuộng trên thế giới, bởi các ưu điểm vượt trội của mình như sự linh hoạt của các quy tắc tố tụng trọng tài, sự độc lập của trọng tài viên, sự mềm dẻo của các thủ tục hay tính bí mật của phiên xét xử, và cuối cùng phải nhắc đến sự hỗ trợ giúp đỡ của Tòa
án trong nhiều khâu của tố tụng trọng tài kể cả khâu thi hành phán quyết trọng tài
1.2 Khái quát về sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế
1.2.1 Sự cần thiết phải có sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế
Có thể khẳng định rằng hoạt động của trọng tài thương mại không thể thoát ly khỏi sự kiểm soát của Nhà nước Trong quá trình tố tụng trọng tài, Nhà nước luôn đóng vai trò quan trọng và có tác động nhất định đến hoạt động của trọng tài Sự can thiệp đó sẽ là tích cực nếu Nhà nước quan tâm đúng thời điểm và cần thiết nhằm giúp đỡ các bên tham gia tố tụng trọng tài Tuy nhiên, sự can thiệp đó sẽ gây hại nếu quyền và lợi ích của một trong các bên không được đảm bảo công bằng Theo thông lệ và tập quán thương mại của nhiều nước trên thế giới và quốc tế, trọng tài là một quá trình giải quyết tranh chấp dựa trên sự lựa chọn tự nguyện của các bên tranh chấp Các bên tự
Trang 23thỏa thuận về phạm vi tranh chấp mà trọng tài được quyền giải quyết, thỏa thuận về luật áp dụng, thỏa thuận về tính chung thẩm và hiệu lực bắt buộc của phán quyết trọng tài Trong khi đó, Tòa án sẽ là cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ và giám sát hoạt động của Trọng tài Tòa án là
cơ quan Nhà nước xét xử theo pháp luật của Quốc gia giải quyết các tranh chấp trong phạm vi thẩm quyền mà pháp luật cho phép Các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực bắt buộc đối với mọi công dân, tổ chức có liên quan và được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Do vậy, chính sự khác biệt về nguồn gốc quyền lực đã tạo nên sự cần thiết phải gắn kết mối quan hệ của Tòa án và Trọng tài
Thứ nhất, sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế là một đòi hỏi tất yếu
Hoạt động của Trọng tài Thương mại đòi hỏi sự hỗ trợ của Tòa án xuất phát từ bản chất “Phi Chính phủ” của trọng tài: Trong tài không đại diện cho nhà nước nên cũng không có tính quyền lực nhà nước Trọng tài
là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên sự tự nguyện của các bên Bằng một Điều khoản trọng tài trong hợp đồng hay một thỏa thuận trọng tài lập ra sau khi có tranh chấp phát sinh Các bên tự thỏa thuận về phạm
vi các tranh chấp mà trọng tài được quyền giải quyết, thủ tục trọng tài, trọng tài viên,…vì thế, thẩm quyền của trọng tài thương mại bắt nguồn từ quyền lực trong hợp đồng hay quyền lực đại diện do các bên tranh chấp giao phó, ủy nhiệm Ngược lại, Tòa án là cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước để xét xử các tranh chấp trong phạm vi quyền hạn của mình Mọi bản án, quyết định của Tòa án sẽ có hiệu lực bắt buộc đối với mọi cá nhân, tổ chức có liên quan và được đảm bảo thi hành bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước
Trang 24Về sự hỗ trợ, Trọng tài có quyền quyết định có hiệu lực bắt buộc đối với các bên tranh chấp nhưng lại không có quyền ra lệnh bắt buộc đối với bất kỳ bên thứ ba nào khác có liên quan đến tranh chấp; Hay như việc thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc, thay đổi trọng tài viên, việc tòa án hỗ trợ áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời Trọng tài chỉ có thể hoạt động trong phạm vi thẩm quyền do các bên giao phó, cụ thể là trọng tài chỉ được giải quyết một số loại tranh chấp nhất định và theo cách thức nhất định do các bên lựa chọn và thỏa thuận trong điều khoản trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài Nếu trọng tài vượt quá thẩm quyền được ủy nhiệm hoặc không tuân thủ các nguyên tắc tố tụng trong thỏa thuận trọng tài, không thực hiện đầy đủ, đúng đắn, khách quan, vô tư, công bằng trách nhiệm được các bên giao phó thì theo nguyên tắc đại diện, các quyết định của trọng tài sẽ có thể bị chính các bên tranh chấp yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, hủy bỏ, không công nhận
và không cho thi hành để bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của họ và để thực thi công lý Mặc dù phán quyết của trọng tài là chung thẩm và có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành, tuy nhiên trọng tài lại không có quyền lực bắt buộc các bên phải thi hành quyết định của mình Bởi sự hạn chế về mặt quyền lực của mình, nên quá trình trọng tài muốn diễn ra suôn sẻ và đạt hiệu quả thì sự giúp
đỡ của Tòa án đóng vai trò vô cùng quan trọng để lấp khoảng trống này của trọng tài
Thứ hai, sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động Trọng tài Thương mại Quốc tế là nhu cầu mang tính lịch sử
Giai đoạn trước khi PLTTTM 2003 ra đời, Tòa án và Trọng tài dường như hoàn toàn biệt lập với nhau Sự hỗ trợ của Tòa án đối với các hoạt động của Trọng tài thương mại gần như là mờ nhạt
BLTTDS 2004 và PLTTTM 2003 ra đời đã đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình cải thiện mối quan hệ giữa Tòa án và Trọng tài thương mại
Trang 25Các văn bản pháp luật đã thừa nhận vai trò, trách nhiệm của Tòa án Nhân dân trong việc hỗ trợ, giám sát hoạt động tố tụng giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại PLTTTM 2003 đã có những quy định về sự hỗ trợ của Tòa án đối với các Trung tâm trọng tài như:
-Tòa án chỉ định Trọng tài viên trong trường hợp các bên thỏa thuận giải quyết vụ án tranh chấp tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập được quy định tại Điều 26 PLTTTM 2003
-Thay đổi Trọng tài viên theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 27 PLTTTM 2003
-Áp dụng, thay đổi hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 33 PLTTTM 2003
-Hủy bỏ phán quyết của Trọng tài, theo quy định tại Điều 54 PLTTTM
Xuất phát từ thực tiễn đó, LTTTM 2010 đã ra đời nhằm khắc phúc những hạn chế của PLTTTM 2003 Về cơ bản, quy định của LTTTM 2010 đã thúc đẩy sự hỗ trợ từ phía cơ quan nhà nước và đẩy mạnh sự giám sát của cơ quan Tòa án Tuy nhiên, một số quy định vẫn còn chưa rõ ràng cần có văn bản hướng dẫn thi hành và cần có sự giúp đỡ thêm từ một số quy định của BLTTDS
Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của LTTTM 2010 thông qua ngày 20 tháng 03 năm 2014 và có hiệu lực ngày
01 tháng 07 năm 2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao
Trang 26Nghị quyết đã giải quyết một số vấn đề còn chưa rõ ràng của LTTTM 2010 như phân định thẩm quyền giữa trọng tài và Tòa án, việc hỗ trợ và giám sát của Tòa án đối với hoạt động trọng tài nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, các vấn đề về thỏa thuận trọng tài hay làm rõ các căn cứ hủy phán quyết trọng tài, đặc biệt là khái niệm “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” Hơn nữa, các quy định của Nghị quyết đã thể hiện sự thúc đẩy và ủng hộ cho thỏa thuận trọng tài được thi hành, ưu tiên lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp là trọng tài thương mại
Nghị định 63/2011/NĐ-CP ngày 28 tháng 7 năm 2011 đã quy định về các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về trọng tài, hoạt động của Trung tâm trọng tài và Chi nhánh Trung tâm trọng tài, Văn phòng đại diện cả Tổ chức trọng tàu nước ngoài tại Việt Nam, thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài
BLTTDS 2015 ra đời nhằm bổ sung những khiếm khuyết của Bộ luật trước đó và bù đắp cho các quy định tại LTTTM 2010 BLTTDS 2015 còn khuyến khích sự phát triển của việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải và trọng tài thương mại mà đặc biệt là cả trọng tài nước ngoài
Ở nước ta, Trọng tài thương mại đã có lịch sử tồn tại khá lâu dài, tuy nhiên, chưa phải là hình thức được các doanh nghiệp và các nhà kinh doanh ưu chuộng Dẫn đến một tình trạng xảy ra đó là quá nhiều án tồn trọng tại các Tòa án, với số lượng khá lớn, đặc biệt ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng Lý do căn bản là do thiếu sự hỗ trợ từ phía cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan Tòa án nói riêng nên phương thức giải quyết tranh chấp là Trọng tài thương mại không được ưu tiên Bên cạnh đó, sự giám sát của Tòa án sẽ giúp hoạt động trọng tài thương mại nằm trong tầm kiểm soát của Nhà nước, đảm bảo sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Đồng thời cũng không làm mất đi ưu thế của
Trang 27hình thức giải quyết tranh chấp trọng tài là tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của các đương sự
Thứ ba, sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động trọng tài
Nhà nước nói chung và các cơ quan nhà nước nói riêng có thẩm quyền quản lý hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội, trong đó có trọng tài Nhà nước thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật quy định về trọng tài đã thể hiện sự quản lý của mình đối với hoạt động của trọng tài, đồng thời tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động của trọng tài Như vậy, mối quan hệ đặc trưng giữa Toà án và Trọng tài Thương mại Quốc tế là mối quan hệ hỗ trợ
và giám sát Nhờ có mối quan hệ này, mà Trọng tài Thương mại Quốc tế tuy
là tổ chức tài phán phi chính phủ nhưng vẫn hoạt động một cách có hiệu quả Việc thừa nhận vai trò, trách nhiệm của Toà án nhân dân trong hỗ trợ, giám sát hoạt động tố tụng giải quyết tranh chấp của Trọng tài Thương mại Quốc tế
là một sự tiếp sức cho Trọng tài, thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc
đa dạng hoá phương thức giải quyết tranh chấp và tạo điều kiện thuận lợi tối
đa cho các chủ thể kinh doanh được sự bảo hộ của Nhà nước về mặt pháp lý trong quá trình thực hiện giao dịch thương mại
Thứ tư, sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động Trọng tài Thương mại Quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam
Sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế Việt Nam đã mở cửa cho rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài Khi quan
hệ kinh tế trở nên sôi động, đa dạng và phức tạp thì những tranh chấp kinh doanh thương mại là vấn đề không thể tránh khỏi, mà còn là vấn đề lớn đòi hỏi phải có sự giải quyết xử lý một cách thỏa đáng Tại các quốc gia phát
Trang 28triển, khi thương lượng và hòa giải không thể cứu vãn được mối quan hệ kinh doanh thì trọng tài lại là sự lựa chọn tối ưu so với Tòa án
Các hiệp định liên quan đến đầu tư và thương mại mà Việt Nam đã
ký kết đều có quy định về việc cho phép các bên nếu có tranh chấp sẽ được lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và được viện dẫn đến các quy tắc trọng tìa mẫu, điều ước quốc tế về trọng tài hay dựa trên sự thỏa thuận Trong trương hợp không có điều ước quốc tế điều chỉnh thì mối quan hệ giữa Tòa án và Trọng tài phải dựa trên quy định của pháp luật Trọng tài Việt Nam Do đó, hoàn thiện không ngừng quy định của pháp luật trong nước là đòi hỏi khách quan trong quá trình hội nhập với thị trường kinh tế quốc tế Tòa án sẽ có sơ sở để hỗ trợ hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế
1.2.2 Nội dung sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế
Hiểu theo nghĩa chung nhất, “Hỗ trợ” là giúp đỡ lẫn nhau, giúp đỡ thêm vào” (Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành năm 2003, trang 457)
Như vậy, sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế là hoạt động của Tòa án nhằm giúp đỡ, tiếp sức cho Trọng tài và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Trọng tài Thương mại Quốc tế trong toàn bộ quá trình trọng tài giải quyết tranh chấp bao gồm cả khâu thi hành phán quyết của trọng tài Tòa án hỗ trợ Trọng tài Thương mại Quốc tế trong một số vấn đề sau đây:
- Thi hành thỏa thuận trọng tài
- Thành lập hội đồng trọng tài
- Thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời
- Tòa án hỗ trợ trọng tài trong việc thu thập chứng cứ
Trang 29- Tòa án giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng Trọng tài về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài
- Công nhận và thi hành phán quyết của Trọng tài
a Tòa án hỗ trợ thi hành thỏa thuận trọng tài
Theo quy định tại khoản 3 Điều II Công ước New York 1958 về công
nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài: “Tòa án của Quốc
gia thành viên, khi nhận được một đơn khởi kiện về tranh chấp đã được các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, theo yêu cầu của một trong các bên tranh chấp sẽ chuyển các bên đến Trọng tài có thẩm quyền, trừ khi thấy rằng thỏa thuận Trọng tài bị vô hiệu hoặc không có khả năng thi hành”
Và căn cứ theo khoản 1 Điều 8 Luật Mẫu của UNCITRAL năm 1985:
“Tòa án tiếp nhận đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp về một vấn đề đã có thỏa thuận trọng tài sẽ phải trả lại đơn kiện cho các bên để đưa tranh chấp ra Trọng tài giải quyết nếu có yêu cầu của một trong các bên được đưa ra chậm nhất vào ngày bên đó nộp bản luận cứ bảo vệ đầu tiên về nội dung tranh chấp, trừ trường hợp Tòa án thấy rằng thỏa thuận Trọng tài đó vô hiệu hoặc không thể thực hiện được.”
Theo quy định của pháp luật về trọng tài Liên bang Nga, Tòa án trọng tài nhà nước có thẩm quyền xác định giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài Ngay trong Điều 8 của Đạo luật về Trọng Thương mại Quốc tế Liên bang Nga năm 1993 đã quy định Tòa án có thể tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu, mất hiệu lực hoặc không thể thực hiện được.[27, tr.16-23] Khoản 1 Điều 1032 Luật Trọng tài Đức 1998 cũng quy định tương tự, quy định này là phù hợp với Công ước New York 1958
Khi Tòa án nhận được đơn yêu cầu hay đơn khởi kiện về tranh chấp mà
đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại Trọng tài thì Tòa án sẽ phải hỗ trợ
Trang 30Trọng tài bằng cách trả lại đơn khởi kiện hoặc chuyển tranh chấp đến Trọng tài
b Tòa án hỗ trợ thành lập hội đồng trọng tài
Quy tắc tố tụng trọng tại ICC năm 1998 quy định tại Điều 8.2: “Khi các
bên không có quy định về số lượng Trọng tài viên, thì Tòa án sẽ chỉ định Trọng tài viên duy nhất…”
Luật Mẫu của UNCITRAL năm 1985 quy định các bên được thỏa thuận
số lượng Trọng tài viên, nếu không thỏa thuận được thì số lượng trọng tài viên sẽ là ba người (Điều 10) Hay khoản 1 Điều 1034 Luật Trọng tài Đức
1998 quy định: “Các bên tự do thỏa thuận về số lượng các Trọng tài viên
Nếu không thỏa thuận được thì số Trọng tài viên là ba”
Việc thành lập Hội đồng trọng tài cũng có thể gặp khó khăn nếu một bên không muốn tham gia Trọng tài khi tranh chấp phát sinh Ví dụ, một bên (thường là bị đơn) trong Trọng tài vụ việc có thể:
-Từ chối hoặc không chỉ định một Trọng tài viên trong trường hợp phải thành lập một Hội đồng Trọng tài gồm ba Trọng tài viên;
-Từ chối tham gia chỉ định Trọng tài viên duy nhất; hoặc
-Từ chối tham gia chỉ định chủ tịch Hội đồng trọng tài
Trong những trường hợp đó, bên kia (thường là nguyên đơn) trong tố tụng Trọng tài sẽ phải nhờ một Tòa án chỉ định Trọng tài viên Khoản 3 Điều
1035 Luật Trọng tài Đức 1998 quy định: “Khi các bên không đạt được thỏa
thuận về việc chỉ định các Trọng tài viên, một Trọng tài viên duy nhất sẽ được Tòa án chỉ định theo yêu cầu của một bên nếu các bên không thể thỏa thuận
về sự chỉ định một Trọng tài viên đó Trong tố tụng Trọng tài có ba thành viên thì mỗi bên sẽ chỉ định một Trọng tài viên và hai Trọng tài viên tiếp theo đó
sẽ chỉ định Trọng tài viên thứ ba, đóng vai trò Chủ tịch Ủy ban Trọng tài Nếu một bên không chỉ định được Trọng tài viên trong vòng một tháng từ khi
Trang 31nhận được yêu cầu chỉ định từ phía bên kia, hoặc nếu hai Trọng tài viên của các bên không thỏa thuận được về Trọng tài viên thứ ba trong vòng một tháng
kể từ ngày họ được chỉ định thì Tòa án sẽ chỉ định theo yêu cầu của một bên.”
Một trong những yêu cầu đối với Trọng tài viên khi giải quyết tranh chấp
là họ phải khách quan, vô tư, nếu có căn cứ để cho rằng họ không đủ điều kiện trên thì Trọng tài viên đó phải bị thay đổi Theo Điều 12(2) Luật Mẫu của UNCITRAL thì Trọng tài viên có thể bị khước từ chỉ khi có hoàn cảnh đem lại sự nghi ngờ chính đáng liên quan đến tính khách quan và độc lập của Trọng tài viên này hoặc khi người đó không có đủ phẩm chất như các bên đã thỏa thuận Bên có ý định khước từ Trọng tài viên sẽ gửi văn bản yêu cầu Hội đồng trọng tài, nếu Trọng tài viên bị khước từ không tự nguyện rút lui thì việc quyết định sẽ do Hội đồng trọng tài Nếu không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài, các bên có thể yêu cầu Tòa án quyết định về việc từ chối này của mình (Điều 13 – Thủ tục khước từ, Luật Mẫu của UNCITRAL năm 1985) Tương tự, theo khoản 1 Điều 24 Luật Trọng tài Anh 1996, các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi Trọng tài viên khi có căn cứ theo quy định tại khoản này
Theo như Luật mẫu năm 1985, tại Điều 11 Chỉ định Trọng tài viên trong trường hợp không có thỏa thuận của các bên:
-Trong trọng tài với ba trọng tài viên, mỗi bên sẽ chỉ định một trọng tài viên, và hai trọng tài viên được chỉ định sẽ bầu trọng tài viên thứ ba; nếu một bên không chỉ định trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu làm như vậy của phía bên kia hoặc nếu hai trọng tài viên không thỏa thuận được trọng tài viên thứ ba trong vòng 30 ngày kể từ ngày họ được chỉ định, căn cứ yêu cầu của một bên, tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền được xác định tại Điều 6 sẽ tiến hành chỉ định
Trang 32-Trong hội đồng trọng tài với một trọng tài viên duy nhất, nếu các bên không thể thỏa thuận chọn trọng tài viên này, căn cứ vào yêu cầu của một bên, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền được xác định tại Điều 6 sẽ tiến hành chỉ định trọng tài viên duy nhất này
c Tòa án hỗ trợ thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời
Việc ngăn chặn kịp thời các trường hợp tẩu tán tài sản, chuyển dịch giấy
tờ chứng cứ liên quan đến vụ việc luôn là việc quan trọng của các chủ thể và
là mối quan tâm của Hội đồng trọng tài Bản thân là một phương thức giải quyết tranh chấp tư, Trọng tài không thể bắt buộc bên thứ ba phải thực hiện theo lệnh của mình hay bắt ngân hàng phong tỏa tài sản Vì vậy, cần đến sự giúp đỡ của Toàn án áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời như: bảo toàn chứng cứ, kê biên tài sản tranh chấp, cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp, kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ, phong tỏa tài khoản tại ngân hàng
Điều 23 Quy tắc tố tụng trọng tài ICC năm 1998 quy định: “Việc một
bên nộp đơn ra một cơ quan tư pháp yêu cầu áp dụng các biện pháp [khẩn cấp tạm thời hoặc bảo vệ] hoặc việc thi hành các biện pháp được hội đồng trọng tài ra lệnh áp dụng sẽ không được coi là sự vi phạm hoặc sự khước từ thỏa thuận trọng tài…”
Điều 1033 Luật Trọng tài Đức 1998 quy định: “…trước hoặc trong quá
trình tố tụng Trọng tài, một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án cấp có thẩm quyền áp dụng một biện pháp bảo vệ tạm thời liên quan đến các vấn đề đối tượng của Trọng tài” Luật Anh lại rất thận trọng khi quy định về vấn đề
này trong mục 44 Đạo luật năm 1996, Tòa án có “thẩm quyền hành động
nhằm hỗ trợ quá trình tố tụng trọng tài”, bao gồm cả việc bảo toàn chứng cứ,
thanh tra tài sản, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và chỉ định người quản
lý tài sản:
Trang 33(i) Nếu trong trường hợp khẩn cấp, dựa trên đơn yêu cầu của một bên hoặc một bên được đề xuất tham gia tố tụng trọng tài, Tòa án có thể đưa ra lệnh nếu thấy cần thiết vì mục đích bảo toàn chứng cứ hoặc tài sản;
(ii) Nếu trong trường hợp không khẩn cấp, Tòa án chỉ hành động dựa trên đơn yêu cầu của một bên tham gia tố tụng trọng tài nếu có sự chấp thuận của hội đồng trọng tài hoặc được thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên;
(iii) Trong bất cứ trường hợp nào, Tòa án chỉ hành động nếu hoặc trong trường hợp hội đồng trọng tài không có thẩm quyền hoặc tại thời điểm đó không thể hoạt động một cách hiệu quả
Ở Mỹ, các bên có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi hội đồng trọng tài được thành lập Sau khi trọng tài viên được lựa chọn, các bên có quyền yêu cầu tòa án áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời khi nào hội đồng trọng tài không thực hiện yêu cầu đó đúng thời hạn quy định hoặc không thể áp dụng các biện pháp đó (phần 8 Luật Trọng tài Hoa Kỳ năm 2000) Ở Anh các bênh tranh chấp có quyền trao cho Hội đồng trọng tài thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 39 Luật trọng tài) Hội đồng trọng tài có trách nhiệm ban hành quyết định cuối cùng
d Tòa án hỗ trợ trọng tài trong việc thu thập chứng cứ
Tài liệu, chứng cứ luôn là một bộ phận quan trọng cấu thành nên hồ sơ
vụ án Không có hồ sơ vụ án nào lại không có tài liệu, chứng cứ.[31, tr.229] Các vụ án do Trọng tài thụ lý giải quyết thì tài liệu, chứng cứ chủ yếu do các bên đương sự xuất trình, giao nộp cho Trọng tài để làm căn cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, hay phản đối yêu cầu của phía bên kia Hay trọng tài
có thể trực tiếp thu thập chứng cứ trong trường hợp họ thấy là cần thiết để làm
rõ sự thật Tuy nhiên, trong quá trình đó, đôi khi họ sẽ gặp một số trở ngại khó khăn trong việc thu thập chứng cứ thì Tòa án sẽ là cơ quan có khả năng
hỗ trợ Trọng tài
Trang 34Theo quy định tại Điều 27 Luật Mẫu UNCITRAL năm 1985: “Hội đồng
Trọng tài hoặc một bên với sự đồng ý của Hội đồng Trọng tài có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền của nước liên quan trợ giúp thu thập chứng cứ Tòa án
có thể thực hiện yêu cầu đó trong phạm vi thẩm quyền của mình và theo nguyên tắc về thu thập chứng cứ”
Điều 148 Đạo luật Tư pháp quốc tế của Thụy Sỹ 1987, Luật trọng tài Singapore (Điều 14) cũng quy định tương tự
Đạo luật Anh năm 1996 có quy định cụ thể hơn tại mục 43:
“(1) Một bên tham gia tố tụng trọng tài có thể sử dụng cùng thủ tục tố tụng Tòa án có sẵn trong quá trình tố tụng pháp lý để đảm bảo sự có mặt trước hội đồng trọng tài của nhân chứng nhằm tiến hành thẩm vấn bằng miệng hoặc cung cấp tài liệu hoặc các chứng cứ văn bản khác
(2) Việc này chỉ có thể được tiến hành với sự đồng ý của hội đồng trọng tài hoặc thỏa thuận của các bên
(3) Thủ tục Tòa án chỉ có thể được sử dụng nếu:
(a) Nhân chứng tại Anh, và
(b) Quá trình tố tụng trọng tài được tiến hành tại Anh và xứ Wale, hoặc như vụ việc tại Bắc Ireland.” 1
Có thể thấy, việc Trọng tài có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ mình trong việc thu thập chứng cứ không phải là việc Tòa án làm hộ, làm thay cho trọng tài mà được pháp luật quy định rõ ràng để đảm bảo các nguyên tắc tố tụng
đ Tòa án giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng Trọng tài về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài
Trong quá trình trọng tài, một trong các bên phản đối về thẩm quyền của trọng tài thì Hội đồng trọng tài sẽ có thẩm quyền xem xét nó có thẩm quyền
Trang 35
giải quyết tranh chấp hay không Nguyên tắc này được gọi là thẩm quyền của thẩm quyền (Competence to competence)
Khoản 1 Điều 21 Quy tắc Trọng tài UNCITRAL 1976 có quy định: “Hội
đồng trọng tài có quyền quyết định về việc phản đối Hội đồng trọng tài không
có thẩm quyền giải quyết, kể cả những sự phản đối về sự tồn tại hoặc giá trị pháp lý của điều khoản trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài riêng biệt” Hay
khoản 1 Điều 23 Quy tắc trọng tài UNCITRAL 1976 đã được sửa đổi, bổ
sung năm 2010 quy định: “Hội đồng Trọng tài có quyền quyết định về thẩm
quyền giải quyết tranh chấp của mình, kể cả những phản đối về sự tồn tài hoặc giá trị pháp lý của thỏa thuận Trọng tài” Nguyên tắc này dễ dàng tìm
thấy trong pháp luật của trọng tài Thụy Sỹ, Đức, Hoa Kỳ, Pháp, Anh,…Ví dụ,
khoản 1 Điều 1040 Luật Trọng tài Đức 1998: “Hội đồng Trọng tài có thể
phán quyết về thẩm quyền của chính nó và sự tồn tại hay hiệu lực của thỏa thuận Trọng tài…” Hay tại khoản 1 Điều 16 Luật Mẫu của UNCITRAL
2006 cũng có những quy định tương tự: “Hội đồng trọng tài có thể quyết định
về thẩm quyền xét xử của chính mình, kể cả những ý kiến phản đối về sự tồn tại hoặc giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài”
Để xác định xem Trọng tài có thẩm quyền không, Hội đồng Trọng tài sẽ căn cứ vào thỏa thuận Trọng tài và luật điều chỉnh thỏa thuận Trọng tài Thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cho thấy, Hội đồng trọng tài thường tôn trọng luật áp dụng cho thỏa thuận Trọng tài do các bên thỏa thuận lựa chọn để quyết định về hiệu lực thỏa thuận Trọng tài Nếu các bên không lựa chọn luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài thì Hội đồng trọng tài thường theo một trong ba hướng sau:
Một là, một số trọng tài viên đã đưa ra phán quyết rằng, nếu thiếu vắng
sự chọn luật của các bên, thỏa thuận Trọng tài sẽ được điều chỉnh bởi luật của nước nơi tiến hành Trọng tài (place of arbitration); Hai là, thỏa thuận trọn tài
Trang 36được điều chỉnh bởi luật áp dụng đối với nội dung tranh chấp; và thứ ba, dựa vào các quy tắc Trọng tài của tổ chức Trọng tài mà các bên đã lựa chọn để giải quyết tranh chấp Các Trọng tài nên cho rằng, cần phải dựa vào những quy tắc này để điều chỉnh các vấn đề của thỏa thuận trọng tài
Tuy nhiên, nếu các bên không đồng ý với quyết định này của Hội đồng trọng tài, họ có quyền khiếu nại ra Tòa án quốc gia Phán quyết của Tòa án mới là phán quyết cuối cùng về thẩm quyền của hội đồng trọng tài Khoản 3
Điều 16 Luật Mẫu của UNCITRAL năm 1985 quy định: “Nếu trong quyết
định tiền tố tụng Hội đồng Trọng tài xác định rằng mình có thẩm quyền thì, trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Hội đồng trọng tài, các bên có thể yêu cầu Tòa án theo quy định tại Điều 6 quyết định
về vấn đề này Quyết định của Tòa án không thể bị kháng cáo, kháng nghị Trong khi đợi quyết định của Tòa án, Hội đồng trọng tài có thể tiếp tục tố tụng Trọng tài và ra phán quyết” Hay tại khoản 3 Điều 1040 Luật trọng tài
Đức 1998 cũng có quy định tương tự
Bộ luật Tố tụng Trọng tài của Liên bang Nga 2002 quy định Tòa án trọng tài nhà nước có thẩm quyền xem xét yêu cầu về việc xác định thẩm
quyền của các trung tâm trọng tài Cụ thể, Điều 35: “trong trường hợp quy
định trong các hợp đồng quốc tế của liên bang và pháp luật liên bang, mỗi bên tranh chấp đều có quyền yêu cầu Tòa án trọng tài nhà nước hủy bỏ quyết định trọng tài về việc trọng tài tự xác định thẩm quyền của mình” Kết quả
việc xem xét được thể hiện trong quyết định của Tòa án: hoặc không công nhận thẩm quyền hoặc bác đơn yêu cầu của bên tranh chấp
e Công nhận và thi hành phán quyết của Trọng tài
Đại đa số pháp luật trọng tài của các nước trên thế giới đều quy định phán quyết trọng tài (quyết định cuối cùng) có hiệu lực chung thẩm, không thể kháng cáo, kháng nghị Các bên tham gia trọng tài có nghĩa vụ thi hành
Trang 37phán quyết trọng tài Nếu một bên không tự nguyện thi hành thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế thi hành phán quyết Trong trường hợp này phán quyết trọng tài sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước tương tự như đối với thi hành bản án của tòa án quốc gia
Để phán quyết trọng tài có thể thi hành được trên thực tế, pháp luật một số nước quy định phán quyết trọng tài phải được đăng ký tại tòa án địa phương nơi phán quyết trọng tài được tuyên trong một khoảng thời gian ngắn sau khi phán quyết được tuyên hoặc phải phụ thuộc vào một lệnh công bố có hiệu lực của toà án Nếu không thực hiện đầy đủ những quy định như vậy, phán quyết trọng tài sẽ không có hiệu lực Pháp luật trọng tài của Nga, Ca Na
Đa, Hà Lan, Đức, Ấn Độ, Dim Ba Bu Ê thừa nhận phán quyết trọng tài có hiệu lực bắt buộc ngay với các bên mà không cần đăng ký phán quyết tại toà án, nhưng để có thể được thi hành thì phán quyết trọng tài phải được toà án ban hành lệnh thi hành dựa trên đơn thỉnh cầu thi hành phán quyết trọng tài của bên được thi hành.[32, tr.145] Trong khi đó một số nước bắt buộc phán quyết trọng tài phải đăng ký hay ký thác tại toà án trước khi tòa án ra lệnh thi hành Chẳng hạn, khoản 4 Điều 32 Luật Trọng tài Hàn Quốc 1999 quy định: “…Phán quyết trọng tài gốc phải được gửi tới và lưu ký tại toà án có thẩm quyền, kèm theo một tài liệu chứng thực việc gửi phán quyết đó” Điều 55 Luật Trọng tài Ai Cập 1994 quy định: “Các phán quyết trọng tài được đưa ra phù hợp với quy
định của luật này có uy quyền res judicata và sẽ được bắt buộc thi hành không
phương hại tới các quy định của luật hiện hành” Và Điều 56 Luật này bổ sung thêm: “Thẩm quyền ban hành một lệnh thi hành phán quyết trọng tài thuộc về Chánh án Toà án theo Điều 9 hoặc thuộc về bất kỳ Thẩm phán thuộc Toà án mà Chánh án có thể uỷ quyền…” Hoặc theo Điều 184 Bộ Luật tố tụng và dân sự thương mại Cô Oét 1995, bản gốc của phán quyết trọng tài
Trang 38phải được nộp cho Phòng đăng ký của Tòa án tối cao trong vòng 10 ngày kể
từ ngày quyết định được tuyên Nếu không nộp thì phán quyết trọng tài bị vô hiệu
Tuy nhiên, pháp luật trọng tài của một số nước khác lại cởi mở hơn với trọng tài bằng cách quy định phán quyết trọng tài có hiệu lực thi hành ngay sau khi tuyên mà không bắt buộc phải đăng ký phán quyết tại tòa án hay chờ một lệnh công bố phán quyết có hiệu lực của toà án Chẳng hạn, khoản 5 Điều
61 Luật trọng tài thương mại 2010 của Việt Nam quy định: "Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành." Và khoản 1 Điều 66, Điều 67 Luật này quy định trong trường hợp hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật thì bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài Phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự Tức là được thi hành như phán quyết có hiệu lực pháp luật của tòa án Việt Nam Tuy nhiên, đối với phán quyết của trọng tài vụ việc thì mặc dù khoản 1 Điều 62 không quy định bắt buộc phải đăng ký phán quyết trọng tài tại tòa án (tùy thuộc vào mong muốn của một hoặc các bên tranh chấp) thì phán quyết trọng tài mới có hiệu lực nhưng khoản 2 Điều 66 quy định phán quyết trọng tài vụ việc chỉ được thi hành sau khi phán quyết đã được đăng ký tại tòa án
Về nguyên tắc, phán quyết do trọng tài nước nào tuyên chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ nước ấy Trong rất nhiều trường hợp, phán quyết trọng tài cần được công nhận về hiệu lực pháp lý và cho phép thi hành ở nước ngoài
do bên thua kiện không tự nguyện thi hành phán quyết của trọng tài Mỗi quốc gia đều có quy định riêng về trình tự, thủ tục, công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài Trên bình diện quốc tế, một số điều ước
Trang 39quốc tế đa phương trong lĩnh vực này cũng đã được xây dựng nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thi hành các phán quyết của trọng tài nước ngoài[34, tr.212] như: Công ước Liên Mỹ về Trọng tài Thương mại Quốc tế năm 1975, Công ước Châu Âu về Trọng tài Thương mại Quốc tế năm 1961, Công ước Ả Rập về Trọng tài Thương mại năm 1987, Công ước về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa quốc gia tiếp nhận đầu tư và công dân của các quốc gia khác năm 1965 Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài là công ước quốc tế đa phương và tiêu biểu nhất,
có 157 quốc gia là thành viên chính thức Công ước New York 1958 có một
số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, phán quyết trọng tài thuộc diện điều chỉnh của Công ước Quy
định tại Điều I của Công ước: “Công ước này áp dụng đối với việc công nhận
và thi hành các quyết định trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành quyết định trọng tài đó, xuất phát từ các tranh chấp giữa các thể nhân hay pháp nhân Công ước còn được áp dụng cho những quyết định trọng tài không được coi là quyết định trong nước tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu.”
Thứ hai, quyền của các quốc gia thành viên Khi ký kết, phê chuẩn, hoặc gia nhập Công ước này, hoặc thông báo phạm vi áp dụng Công ước theo điều
X, bất kỳ Quốc gia nào cũng có thể trên cơ sở có đi có lại tuyên bố rằng Quốc gia đó sẽ áp dụng Công ước đối với việc công nhận và thi hành các quyết định được đưa ra tại lãnh thổ một Quốc gia thành viên khác Quốc gia đó còn có thể tuyên bố chỉ áp dụng Công ước cho các tranh chấp phát sinh từ các quan
hệ pháp lý/ dù là quan hệ hợp đồng hay không, được coi là quan hệ thương mại theo pháp luật quốc gia của Quốc gia đó
Trang 40Thứ ba, những trường hợp có thể từ chối việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài ở một nước thành viên của Công ước Các trường hợp này được nêu tại Điều V như sau:
-Các bên của thỏa thuận nói ở Điều II, theo luật áp dụng đối với các bên, không có đủ năng lực, hoặc thoả thuận nói trên không có giá trị theo luật mà các bên chịu sự điều chỉnh, nếu không có chỉ dẫn về điều này, theo luật của Quốc gia nơi ra quyết định
-Nếu bên phải thi hành quyết định không được thông báo thích đáng về việc chỉ định trọng tài viên hay về tố tụng trọng tài hoặc do một nguyên nhân
gì khác không thể trình bày vụ việc của mình; hoặc Quyết định giải quyết một tranh chấp không được dự liệu trong các điều khoản của đơn yêu cầu đưa ra trọng tài giải quyết hay nằm ngoài các điều khoản đó, hoặc quyết định trọng tài gồm các quyết định về các vấn đề ngoài phạm vi yêu cầu xét xử bằng trọng tài, tuy nhiên, nếu các quyết định về các vấn đề được yêu cầu xét xử bằng trọng tài có thể tách rời khỏi các quyết định về các vấn đề không được yêu cầu, thì phần của quyết định trọng tài gồm các quyết định về vấn đề được yêu cầu có thể được công nhận và thi hành
-Thành phần trọng tài xét xử hoặc thủ tục xét xử trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc, nếu không có thoả thuận đó, không phù hợp với luật của nước tiến hành trọng tài
-Quyết định chưa có hiệu lực ràng buộc đối với các bên, hoặc bị huỷ hay đình hoãn bởi cơ quan có thẩm quyền của nước hoặc theo luật của nước nơi quyết định được lập
Việc công nhận và thi hành quyết định trọng tài còn có thể bị từ chối nếu như cơ quan có thẩm quyền của nước, nơi việc công nhận và thi hành đó được yêu cầu cho rằng: