1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận long biên, thành phố hà nội

88 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 780,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khi thành lập, chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở luôn được Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động quận quan tâm, chỉ đạo và tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng; Năng lực, nề nếp và tác pho

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

NGUYỄN TRƯỜNG GIANG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ: 834.0101

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOC HỌC: PGS.TS TRẦN THỊ THU

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Trường Giang

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Trần Thị Thu người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã có những gợi ý quý báu và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận văn này

Xin trân thành cảm ơn các thầy, cô Khoa quản trị kinh doanh và Khoa Đào tạo Sau Đại học viện Đại học mở Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ cho tôi trong học tập, nghiên cứu

Xin gửi lời cảm ơn đến Liên đoàn Lao động quận Long Biên và một số CĐCS đã hợp tác và giúp đỡ cung cấp các thông tin cần thiết, góp phần quan trọng vào sự thành công của luận văn

Qua đây, tôi cũng xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên khích lệ, giúp tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Trường Giang

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ 7

1.1 Các khái niệm 7

1.1.1 Khái niệm tổ chức công đoàn, đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở 7

1.1.2 Khái niệm năng lực 8

1.1.3 Khái niệm về đội ngũ 14

1.1.4 Khái niệm đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở 14

1.1.5 Khái niệm năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở 15

1.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở 15

1.2.1 Các tiêu chí về năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở 15

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở 21

1.2.3 Các hoạt động nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở 24

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 28

Chương 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 30

2.1 Tổng quan quận Long Biên ảnh hưởng đến năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở 30

2.2 Thực trạng năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên 32

2.2.1 Phân tích thực trạng năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận long biên 32

2.2.2 Phân tích thực trạng năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận long biên theo số liệu khảo sát 37

2.2.3 Thực trạng hoạt động của ban chấp hành công đoàn cơ sở 41

2.3 Thực trang các hoạt động nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên 45

2.4 Đánh giá khái quát về năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên 48

Trang 5

iv

2.4.1 Những điểm mạnh so với yêu cầu công việc 48

2.4.2 Những điểm yếu so với yêu cầu công việc 49

2.4.3 Nguyên nhân hạn chế 49

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 51

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, TP HÀ NỘI 53

3.1 Mục tiêu và định hướng phát triển và nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở 53

3.1.1 Mục tiêu nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở trong giai đoạn mới 53

3.1.2 Định hướng nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở trong giai đoạn mới 53

3.2 Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở 54

3.2.1 Đổi mới nhận thức về cán bộ và công tác cán bộ đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở cơ sở 54

3.2.2 Xây dựng tiêu chuẩn cho các chức danh đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở 56

3.2.3 Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng và rèn luyện đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở 58

3.2.4 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở 59

3.2.5 Đổi mới, hoàn thiện quy chế, quy trình về công tác tổ chức đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở 61

3.2.6 Xây dựng, hoàn thiện cơ chế chính sách bảo vệ, đãi ngộ đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở và tổ chức thực hiện nghiêm túc cơ chế, chính sách 65

3.2.7 Đẩy mạnh công tác kiểm tra, quản lý và bảo vệ đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở 65

3.2.8 Giải pháp khen thưởng, kỉ luật và luân chuyển đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở: 67

3.3 Một số kiến nghị, đề xuất 67

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 68

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: số lượng CĐCS, đoàn viên và Ủy viên BCH: 32

Bảng 2.2: Cơ cấu giới tính đội ngũ ban chấp hành công đoàn 33

Bảng 2.3: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo độ tuổi 33

Bảng 2.4: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo trình độ học vấn 34

Bảng 2.5: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo trình độ ngoại ngữ 34

Bảng 2.6: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo trình độ tin học 35

Bảng 2.7: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS về trình độ lý luận nghiệp vụ công tác công đoàn 36

Bảng 2.8: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo trình độ chuyên môn 36

Bảng 2.9: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo trình độ lý luận chính trị 37

Bảng 2.10: Đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn 37

Bảng 2.11: Mục đích tham gia công tác công đoàn cơ sở 38

Bảng 2.12: các phẩm chất khác 38

Bảng 2.13: Các phẩm chất về đạo đức, bản lĩnh chính trị, kiến thức pháp luật, công đoàn 39

Bảng 2.14: Các phẩm chất mối quan hệ với người sử dụng lao động, kỹ năng đàm phán, thương lượng tập thể, hòa đồng, thân thiện với người lao động, có khả năng tập hợp ý kiến người lao động: 40

Bảng 2.15: Đánh giá mức độ hài long và tin tưởng của người lao động đối với đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở: 40

Bảng 2.16: Vị trí làm việc của đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở: 41

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động) tự nguyện lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kể từ khi thành lập (ngày 28/7/1929) đến nay, Công đoàn Việt Nam luôn trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc, đã tổ chức vận động công nhân, viên chức, lao động đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

Trong nền kinh tế thị trường với sự phát triển đa dạng các thành phần kinh tế như hiện nay, số lượng các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước cũng ngày một tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên việc thành lập công đoàn cơ sở và tổ chức hoạt động phong trào công nhân viên chức lao động, công đoàn còn gặp rất nhiều khó khăn Việc phát triển, nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trong các thành phần kinh tế đang được đặt ra là một nhiệm vụ chiến lược, cấp bách cần được các cấp công đoàn thực hiện quyết liệt

Cùng với quá trình đổi mới phát triển của đất nước, lực lượng công nhân lao động cũng đã lớn mạnh không ngừng Từ khi thành lập trên cơ sở tách từ Liên đoàn Lao động huyện Gia Lâm (tháng 12/2003) đến nay, có thể khẳng định rằng Liên đoàn Lao động quận Long Biên đã lớn mạnh hơn cả về số lượng và chất lượng hoạt động phong trào Đặc biệt việc phát triển đoàn viên, xây dựng tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động,

và lợi ích của doanh nghiệp góp phần phát triển kinh tế xã hội của quận Long Biên Đây là vấn đề nhiều năm qua đã được lãnh đạo quận đặc biệt quan tâm, đầu tư tích cực

và đã có những kết quả, thành tích, song thực tế hoạt động của tổ chức công đoàn vẫn còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại, đặc biệt trong hoạt động của các công đoàn cơ sở như: các đơn vị khu vực ngoài nhà nước trên địa bàn hầu hết nhỏ về quy mô, thiếu tính

Trang 8

ổn định và khó kiểm soát Từ khi thành lập, chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ

sở luôn được Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động quận quan tâm, chỉ đạo và tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng; Năng lực, nề nếp và tác phong làm việc của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở đã có chuyển biến tốt, trình độ chuyên môn được nâng lên đáng

kể Tuy nhiên, đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở 100% là kiêm nhiệm nên thời gian dành cho công tác công đoàn hạn chế, đội ngũ Ban chấp hành công đoàn thường xuyên biến động, thay đổi sau mỗi kỳ đại hội nên ít kinh nghiệm hoạt động công đoàn 100% đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở hưởng lương của người sử dụng lao động nên quyền lợi của họ lại gắn chặt với doanh nghiệp, do chủ doanh nghiệp quyết định, tiếng nói không có sức nặng và không phát huy được vai trò đại diện bảo vệ cho người lao động Tỷ lệ đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở được đào tạo bài bản qua Đại học công đoàn hoặc lý luận nghiệp vụ công đoàn đạt tỷ lệ thấp, khoảng 4% Một bộ phận đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, đặc biệt là khối doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước còn bộc lộ một số khuyết điểm, hạn chế như năng lực thực tiễn trong thực thi nhiệm vụ, kỹ năng nghiệp vụ còn hạn chế, thiếu tinh thần trách nhiệm với công việc, thiếu ý thức tự học tập nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ

Xuất phát từ những cơ sở nêu trên với trách nhiệm, tâm huyết của một cán bộ chuyên trách công đoàn và vận dụng những kiến thức đã được học, tôi chọn đề tài:

“Nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là yếu tố quan trọng để quyết định chất lượng hoạt động của công đoàn cơ sở Vấn đề nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở rất được quan tâm và nghiên cứu Tuy nhiên những công trình nghiên cứu chỉ tập trung đi sâu vào một phương diện hoặc một khía cạnh của hoạt động tạo công đoàn và chưa tiến hành nghiên cứu tại quận Long Biên

Cụ thể như:

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tổng Liên đoàn: “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Công đoàn trong hội nhập kinh tế quốc tế” do TS Nguyễn Đức Tĩnh, trường Đại học Công đoàn chủ nhiệm Đề tài đã phân tích những cơ sở lý luận

về đội ngũ cán bộ công đoàn, chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn và bản chất của hội

Trang 9

nhập quốc tế, thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn hiện nay Từ những cơ

sở lý luận và thực tiễn, nhóm nghiên cứu đã đề xuất 7 nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn nâng trong hội nhập quốc tế Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện hiện nay, từ đó tạo cơ sở lý luận để Tổng Liên đoàn xây dựng chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ Công đoàn, đáp ứng nhu cầu hiện nay

- Đề tài về “Nâng cao vai trò công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội” do Ban Thường vụ Liên đoàn Lao động Thành phố Hà Nội làm chủ nhiệm Đề tài đã đánh giá tình hình thực trạng hoạt động CĐCS khu vực ngoài quốc doanh và chất lượng thương lượng, ký kết và thỏa ước lao động tập thể tại các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Qua đó đưa ra các giải pháp thực hiện hiệu quả hơn, góp phần cải thiện tình hình hoạt động của Công đoàn các doanh nghiệp Đề tài có tính lý luận thực tiễn cao, có tính cấp thiết trong bối cảnh hiện nay; phương pháp nghiên cứu hợp lý phù hợp mục tiêu, nhiệm vụ; công tác tổ chức hợp lý giúp cho hoạt động CĐCS ngoài quốc doanh, hoạt động thương lượng, ký kết và thỏa ước lao động tập thể tại các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà nội hiệu quả hơn

- Đề tài “Đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn” - Nguyễn Xuân Thái Đề tài đã cung cấp những phương pháp hay, mới, khả thi nhằm đổi mới cách thức đào tạo, tập huấn Phương pháp mới này giúp tiết kiệm chi phí và thời gian trong quá trình đào tạo cán bộ công đoàn

Hầu hết các đề tài nghiên cứu đều đi sâu nghiên cứu một khía cạnh của hoạt động nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn nói chung Chưa có công trình nghiên cứu năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên Hơn thế nữa, cho đến thời điểm này, tại quận Long Biên chưa có một đề tài nghiên cứu nào đề cập

đến nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở Với tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài như vậy, việc nghiên cứu toàn diện nâng cao năng lực đội ngũ

Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội là một việc làm hết sức cần thiết

3 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng lý luận năng lực cán bộ, đánh giá thực trạng năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ này

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu:

Năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở

Phạm vi nghiên cứu:

- Nội dụng: Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, với các khảo sát chuyên sâu tại một số công đoàn cơ sở đại diện theo khối

- Về thời gian: từ năm 2013 đến năm 2019

- Không gian: địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội

5 Câu hỏi nghiên cứu

Luận văn đặt trọng tâm trả lời câu hỏi nghiên cứu sau :

- Cơ sở lý luận nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là gì?

- Thực trạng các hoạt động nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn

cơ sở? Những giải pháp đó đã đạt được những kết quả gì? còn bất cập hạn chế gì ?

- Cần có những giải pháp nào để tiếp tục hoàn thiện đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên?

6 Phương pháp nghiên cứu

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:

Phương pháp thu thập dữ liệu:

Trang 11

+ Thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp được thu thập bằng phương pháp tổng hợp, các nguồn thu thập bao gồm: các báo cáo kết quả phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn các năm 2013 – 2019, Báo cáo tình hình CĐCS, đoàn viên các năm 2013 – 2018 của Liên đoàn Lao động quận Long Biên Các chương trình kế

hoạch hoạt động của Liên đoàn Lao động quận Long Biên các năm 2013 - 2019…để

đánh giá, phân tích số lượng CĐCS, số lượng đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở

theo độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn…

+ Thu thập dữ liệu sơ cấp: Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp bằng phương pháp phỏng vấn bằng Phiếu hỏi Đối tượng phỏng vấn là toàn bộ 104 ủy viên ban chấp hành công đoàn cơ sở của 21 CĐCS đại diện 3 khối: Hành chính sự nghiệp, Trường học

và Doanh nghiệp và 1.000 phiếu hỏi đoàn viên công đoàn, người lao động Bảng hỏi được thiết kế bao gồm có 2 phần: Phần 1: thông tin chung của đối tượng được phỏng vấn và phần 2: Đánh giá của đội ngũ ban chấp hành, đoàn viên công đoàn về trình độ học vấn, kiến thức, kỹ năng, điều hành họat động để có đánh giá khách quan về đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở trong quá trình thực thi nhiệm vụ

Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình xây dựng bảng hỏi, các tiêu chí đánh

giá về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức, chính trị được tham khảo dựa trên ý kiến của các chuyên gia Đồng thời, tác giả tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong quá trình đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở treen địa bàn quận Long Biên

Phương pháp thống kê mô tả: Được sử dụng để xử lý các dữ liệu và thông tin

thu thập được nhằm đảm bảo tính chính xác và từ đó, có thể đưa ra các kết luận có tính khoa học và độ tin cậy cao về vấn đề nghiên cứu Cụ thể, trong luận văn tác giả sử dụng thống kê mô tả để mô tả số lượng đội ngũ ban chấp hành, cơ cấu đội ngũ ban chấp hành theo độ tuổi, giới tính Đồng thời, thống kê mô tả các đánh giá của cán bộ công đoàn, đoàn viên, người lao động về kiến thức, kỹ năng và phẩm chất đạo đức, chính trị để có những đánh giá khách quan nhất về thực trạng năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội

Cùng với đó đề tài sử dụng một số phương pháp khác như: thống kê, so sánh, quy nạp kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, nhằm làm rõ nội dung cơ bản của

đề tài luận văn, bảo đảm tính khoa học và logic giữa các vấn đề được nêu ra Ngoài ra luận

Trang 12

văn cũng kế thừa, phát triển các kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài nhằm làm rõ những vấn đề chính của luận văn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm các chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở Chương 2 Thực trạng năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội

Chương 3 Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP

HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm tổ chức công đoàn, đội ngũ ban chấp hành Công đoàn cơ sở

Công đoàn là tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động, là thành viên của hệ thống chính trị xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Cán bộ công đoàn là cán bộ đoàn thể chính trị - xã hội Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn là một bộ phận của Đảng Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cũng có đầy đủ ba đặc trưng của cán bộ nói chung như:

- Là người được bổ nhiệm, hoặc được lựa chọn để đảm nhận công việc nhất định trong một tổ chức nào đó (đặc trưng này phân biệt cán bộ với người không có chức vụ, không có cương vị)

- Chức vụ, cương vị của người cán bộ liên quan đến việc lãnh đạo, quản lý, điều hành hoạt động của một tổ chức nhất định (Đặc trưng này phân biệt giữa cán bộ với những người cũng có chức vụ, cương vị nhưng không coi là cán bộ như trưởng tộc chẳng hạn)

- Cán bộ là người có tác động, có ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức, đồng thời

có vai trò điều chỉnh mối quan hệ liên quan đến lãnh đạo, quản lý điều hành hoạt động,

cũng như ảnh hưởng tới việc định hướng, duy trì, thúc đẩy sự phát triển của tổ chức

Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là cán bộ của tổ chức chính trị xã hội của giai cấp công nhân và người lao động nên có những đặc điểm riêng Có thể định

nghĩa về đội ngũ Ban chấp hành công đoàn như sau: Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là những người đứng trong tổ chức Công đoàn Việt Nam, được lựa chọn thông qua bầu cử tại công đoàn cơ sở, hoặc công đoàn cấp trên lựa chọn chỉ định giao một nhiệm vụ để thực hiện hiện chức năng, nhiệm vụ của công đoàn đã đề ra Hầu hết đội ngũ Ban chấp hành công đoàn đều trưởng thành từ phong trào công

nhân, công đoàn và được tín nhiệm, lựa chọn thông qua bầu cử Đội ngũ Ban chấp

Trang 14

hành công đoàn là những cán bộ có nhiệt tình trong công tác công đoàn, có kinh nghiệm vận động và có uy tín đối với CNVCLĐ Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn được bầu chọn trong các kỳ đại hội công đoàn các cấp nên tỷ lệ cán bộ thay đổi qua các kỳ đại hội là khá lớn, nhất là đối với đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở khu vực ngoài nhà nước Mặt khác, vì hoạt động công đoàn là hoạt động xã hội nên số đội ngũ Ban chấp hành công đoàn hoạt động kiêm nhiệm cũng chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng số cán bộ công đoàn, do vậy cũng gây ít nhiều khó khăn cho đội ngũ Ban chấp hành công đoàn nhất là đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở

Điều 4, Luật Công đoàn năm 2012 đã nêu rõ: “Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ sở

của Công đoàn, tập hợp đoàn viên công đoàn trong một hoặc một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, được công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở công nhận theo quy định của pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam”

1.1.2 Khái niệm năng lực

Trước khi bàn về năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn, chúng ta cần làm rõ hai vấn đề cơ bản có ý nghĩa phương pháp luận là : Năng lực nói chung của con người là gì? Năng lực và phẩm chất có quan hệ với nhau như thế nào trong bản thân mỗi con người?

Vấn đề thứ nhất: để trả lời câu hỏi năng lực của con người là gì? Vấn đề này

trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đã có nhiều phương thức tiếp cận nghiên cứu, giải thích khác nhau Có học thuyết nhìn nhận năng lực cá nhân một cách trừu tượng, tách rời mảnh đất hiện thực vốn có; chỉ gắn năng lực cho một bộ phận, một nhóm cá nhân (thường là tầng lớp tinh tú của xã hội), còn theo họ đại bộ phận quần chúng lao động

bị áp bức, những người không có năng lực, nên họ phải chấp nhận làm thuê Chủ nghĩa Mác-Lênin, trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử, đã đem lại một cách nhìn nhận thật sự khoa học về năng lực và các điều kiện để hình thành năng lực của cá nhân mỗi con người trong xã hội

Theo quan niệm Mác-xít, năng lực hiểu theo nghĩa rộng là những đặc tính tâm lý của cá thể điều tiết hành vi của cá thể và là điều kiện cho hoạt động sống của cá thể Năng lực chung nhất của cá thể là tính nhạy cảm được hoàn thiện trong suốt quá trình phát triển về mặt phát sinh loài và về mặt phát triển cá thể

Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì năng lực cá nhân là toàn bộ những đặc tính tâm lý

Trang 15

của con người khiến cho nó thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định đã được hình thành trong quá trình phát triển lịch sử Trái ngược với động vật năng lực của con người là sự tổng hợp những kinh nghiệm loài được truyền lại, nhờ cơ chế di truyền sinh vật và kinh nghiệm cá thể Nói một cách tổng quát năng lực của con người chính là sản phẩm của sự phát triển xã hội Do vậy nếu tách rời môi trường hoạt động thực tiễn của lịch sử – xã hội, thì không thể có năng lực thật sự của cá nhân Sự hình thành năng lực con người chính là sự đòi hỏi của cá thể con người, phải nắm được các hình thức hoạt động mà loài người đã tạo ra trong quá trình vận động, phát triển lịch sử – xã hội Vì vậy, năng lực của mỗi con người không chỉ do hoạt động của

bộ não con người quyết định, mà trước hết là do trình độ phát triển của xã hội mà loài người đã đạt được Theo ý nghĩa đó thì năng lực của mỗi con người nói chung của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn nói riêng luôn gắn liền và không thể tách rời với tổ chức lao động xã hội, hệ thống giáo dục thích ứng với tổ chức đó Trong xã hội có bóc lột,

do bản chất của giai cấp thống trị, nên người lao động có ít những điều kiện hiện thực cần thiết để hình thành những năng lực sáng tạo Mặt khác giai cấp thống trị cũng luôn tìm cách để chứng minh rằng, tình cảnh của các giai cấp bị bóc lột được quyết định bởi việc họ không có những năng lực cần thiết cho phát triển; theo các giai cấp thống trị

sự phân chia giai cấp xã hội là do đặc tính sinh học chi phối, con người không thể cưỡng lại được và không thể thay đổi địa vị của các giai cấp trong xã hội Phủ nhận tính phi lý, phản khoa học và ngụy biện của các loại quan điểm này, lý luận Mác – Lênin khẳng định sự phát triển năng lực của con người gắn với các điều kiện và quan

hệ xã hội, trong điều kiện lịch sử cụ thể; sự hình thành và hiện thực hóa năng lực vốn

có của cá nhân con người phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội Từ quan quan điểm khoa học, biện chứng về năng lục con người, chủ nghĩa Mác Lênin khẳng định việc phát triển năng lực con người một cách toàn diện, mở ra những điều kiện, con đường để mỗi người đi tới những nghề nghiệp và những hình thức hoạt động khác nhau, là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới, chế độ xã hội, xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở quan điểm tổng quan về năng lực cá nhân của chủ nghĩa Mác Lênin, bàn về khái niệm năng lực cuả con người, từ điển tiếng Việt năm 1998 do Hoàng Phê chủ biên, đã đưa ra định nghĩa cụ thể về năng lực

con người là: danh từ chỉ khả năng (cái vốn có) về vật chất hoặc tinh thần có thể làm được một việc nào đó, năng lực cá nhân là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con

Trang 16

người có khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao Còn khả

năng là cái vốn có của con người để có thể làm được một việc gì đó, trong một điều kiện nhất định, là tiềm năng của con người đã được bộc lộ hoặc chưa bộc lộ

Trên cơ sở quan điểm tổng quan và định nghĩa cụ thể về năng lực con người là cơ

sở phương pháp luận để chúng ta nghiên cứu đưa ra định nghĩa năng lực cán bộ nói chung, năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn nói riêng

Khi bàn về năng lực cán bộ, chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá cao năng lực hoạt động thực tiễn của các nhà cách mạng chuyên nghiệp, những người gắn bó mật thiết với quần chúng, trung thành với lợi ích của giai cấp, của dân tộc và chủ nghĩa quốc tế

vô sản Lênin cho rằng, ngoài lòng trung thành vô hạn đối với cách mạng, cán bộ lãnh đạo cần có tri thực lý luận rộng rãi, không bao giờ mềm yếu, do dự trong các vấn đề về

lý luận, có năng lực hoạt động thực tiễn, trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về con người Trong tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết” (4/1918) Lênin chỉ rõ: “Chúng ta đi con đường chúng ta, tìm cho ra và thử thách một cách nhẫn nại, hết sức thận trọng những người thực sự có tài tổ chức, những người có bộ óc sáng suốt

và có bản lĩnh tháo vát trong thực tiễn, những người vừa trung thành với xã hội, vừa có năng lực lặng lẽ (bất chấp sự hỗn loạn và ồn ào) tổ chức công tác chung vững chắc và nhịp nhàng của khối người to lớn trong phạm vi Xô Viết” Ông nhấn mạnh “Không có

sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm, thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được, vì chủ nghĩa xã hội đòi hỏi bước tiến có ý thức và có tính chất quần chúng để đi tới một năng suất lao động cao hơn năng suất của chủ nghĩa tư bản, dựa trên cơ sở những kết quả mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được”1 Khẳng định vai trò to lớn, quyết định của năng lực cán bộ, Lênin cũng nhắc nhở đảng của giai cấp Vô sản phải quan tâm đào tạo lại cán bộ “Phải học lại như thế nào để người cán bộ thực tiễn - cổ động có thể giữ cái địa vị tương xứng với người đó”, do đó cần “Phải học tập ngay kinh nghiệm thực tiễn của bản thân Cũng phải học tập kinh nghiệm của giai cấp tư sản nữa, họ biết cách giữ vững nền thống trị của giai cấp họ, họ có những kinh nghiệm mà chúng ta không thể bỏ qua được; gạt bỏ những kinh nghiệm đó tức là hết sức tự phụ và hết sức nguy hại cho cách mạng”2 Lênin còn đòi hỏi Cán bộ quản lý phải thành thạo chuyên môn trong lĩnh vực mình

1 V I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mat-Xơ-Va, 1979, t 36, tr.217

2

Trang 17

phụ trách, Ông nhấn mạnh: “Muốn quản lý thì phải là người thông thạo chuyên môn, phải biết một cách đầy đủ và chính xác tất cả những điều kiện sản xuất, phải hiểu được

kỹ thuật của nền sản xuất đó ở trình độ hiện đại của nó, phải có một trình độ khoa học nhất định”3, quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin Hồ Chí Minh cũng thường xuyên quan tâm đến năng lực cán bộ và vai trò quan trọng cũng như sự cần thiết phải nâng cao năng lực cán bộ Người luôn đề cao năng lực của cán bộ chuyên môn của cán bộ quản lý, Người nói “Những người lãnh đạo cần có một nhóm cán bộ nhiều kinh nghiệm, giàu năng lực để giúp mình đi kiểm tra Ai đi kiểm tra việc gì, nơi nào có sơ suất thì người ấy phải chịu trách nhiệm” (trang 251, tập 5) Người đặc biệt coi trọng việc phát huy tối đa năng lực của quần chúng nhân dân Do vậy ngay sau khi giải phóng đất nước nói chuyện với bộ đội và công an vào tiếp quản Thủ đô), Bác Hồ nói: “Việc thì rất nhiều, chỉ Bác cháu ta không làm hết việc đâu, chúng ta phải dùng năng lực của nhiều người” (tr 374, tập 7) Trong phát biểu với Hội nghị cán bộ quản lý

xí nghiệp toàn quốc (11/1955) Bác căn dặn: “Phải khéo đoàn kết và lãnh đạo công nhân, mọi việc đều dựa vào lòng nồng nàn yêu nước và năng lực sáng tạo dồi dào của công nhân, dùng phương pháp dân chủ mới đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất và tiết kiệm” (tr 85 tập 8) Theo Bác “Việc dùng nhân tài không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe Miễn là không phản lại quyền lợi của quần chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc là có thể dùng được, tài to dùng việc to, tài nhỏ dùng việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì ta đặt ngay vào việc ấy”(trang 39 tập 4) Tài mà Bác dùng đây chính là năng lực, sở trường, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi con người

Vậy năng lực cán bộ là gì? Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh về năng lực cán bộ, theo tôi có thể hiểu theo cách thông thường Năng lực cán bộ là khả năng, hay là sự khéo léo, sự thông minh, trí thông minh của người cán bộ đảm bảo để hoàn thành công việc được giao Như vậy theo cách hiểu này chúng ta cần phân biệt rõ giữa “người có tài” hay “tài năng của cá nhân” với năng lục

cá nhân Bởi người có tài hay tài năng của cá nhân là yêu cầu ở mức cao hơn năng lực

cá nhân, vì tài là “khả năng đặc biệt để làm một việc nào đó”, người có tài năng là người có “năng lực xuất sắc, khả năng làm giỏi và có sáng tạo một việc gì đó”4 Còn

3 Sđ d tr 248

4 Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng 1998, trang 825

Trang 18

năng lực chỉ là khả năng của người cán bộ để hoàn thành nhiệm vụ được giao Như vậy năng lực của người cán bộ, không chỉ đơn thuần là năng khiếu bẩm sinh, mà còn

là kết quả của sự khổ luyện trong quá trình học tập, nghiên cứu, rèn luyện để có được Tuy nhiên đoi khi trong thực tế nhiều lúc chúng ta vẫn quan niệm năng lực đồng nghĩa với tài năng

Vấn đề thứ hai: Mối quan hệ giữa năng lực và phẩm chất trong một con người

Khi nói về phẩm chất và năng lực; đạo đức và tài năng; “hồng” và “chuyên” là chúng

ta đã bước vào địa hạt phương thức tiếp cận cấu trúc nhân cách của một cá nhân Với

tư cách là một hệ thống Trong cấu trúc nhân cách cá nhân bao gồm hai bộ phận: bộ phận phẩm chất và bộ phận năng lực; bản thân “phẩm chất” và “năng lực” lại bao gồm một tiểu hệ thống các tiêu chuẩn, chuẩn mực cụ thể

Trong mỗi cá nhân mỗi con người, phẩm chất và năng lực có vị trí xác định, tác động biện chứng, chi phối và hỗ trợ lẫn nhau Hiện nay, trong công tác cán bộ Đảng ta khẳng định phẩm chất, đạo đức là gốc của người cán bộ, nghĩa là làm cán bộ nhất định phải có đạo đức, phẩm chất; Bác Hồ chỉ rõ “ Sức có mạnh mới gánh được nặng

và đi được xa, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Thực tế cho thấy, nếu cán bộ không có phẩm chất đạo đức thì cán bộ chẳng những không thể thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không thể đạt được hiệu quả cao trong công tác mà cán

bộ còn có thể bị vấp ngã, thất bại, suy vong Như vậy không xứng danh một cán bộ cách mạng theo đúng nghĩa là “công bộc” tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân Nhưng nếu trong công tác cán bộ chỉ tuyệt đối hóa mặt phẩm chất, đạo đức thì lại là sai lầm Bởi trong đời sống hiện thực, tài, năng lực cá nhân cũng rất quan trọng, vì không có năng lục thì không thể hoàn thành nhiệm vụ được giao Do vậy trong công tác cán bộ cần phải quán triệt sâu sắc quan điểm “phẩm chất đạo đức là gốc” – tức là trong nội hàm đó đã gắn liền giữa phẩm chất, đạo đức với năng lực cán bộ, nên khi nói đến phẩm chất đạo đức cán bộ tức là đã chứa đựng cả năng lực và phẩm chất của cán bộ, hai mặt này lồng vào nhau; cái này có trong cái kia và ngược lại: Trong phẩm chất có năng lực và trong năng lực cũng có phẩm chất Tuy nhiên trong đời sống thực tế có

Trang 19

người có phẩm chất đạo đức nhưng không có năng lực, những người như vậy không làm hại ai, nhưng không thể thực hiện tốt được nhiệm vụ giao Ngược lại cũng có những người có năng lực nhưng không có phẩm chất đạo đức, những người như vậy

dễ dẫn đến chết người, hại của, gây hậu quả xấu lâu dài Vì vậy, trong công tác cán

bộ phải gắn liền giữa phẩm chất, đạo đức và năng lực với nhau Tách riêng năng lực cán bộ ra thành một đối tượng độc lập trong nghiên cứu chỉ mang ý nghĩa tương đối;

nhằm khám phá các mặt hợp thành của tiểu hệ thống trong cấu trúc hệ thống của một nhân cách con người

Khi bàn đến quan hệ giữa phẩm chất đạo đức và năng lực, Lênin cho rằng, người cán bộ là sự hội tụ của hai yếu tố phẩm chất - đạo đức và tri thức - năng lực Hai yếu tố này đòi hỏi phải thống nhất, tập trung bất di bất dịch, không thay đổi, không thể thiếu đối với mỗi người cán bộ Cán bộ phải có “phẩm chất cao quý”, hiểu theo nghĩa là cán

bộ phải có lòng trung thành vô hạn đối với cách mạng, có tri thức lý luận rộng rãi, có năng lực hoạt động thực tiễn, trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về con người, có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với quần chúng, có uy tín lớn và được quần chúng nhân dân quý mến Tất cả những phẩm chất đó là điều kiện quan trọng đầu tiên, đối với mỗi người cán bộ

“Lòng trung thành được kết hợp với năng lực hiểu biết của con người, với năng lực giải quyết những vấn đề tổ chức, thì chỉ có lòng trung thành đó mới có thể rèn luyện ra những nhà tổ chức lớn”5 Đối với cán bộ lòng trung thành và năng lực được thể hiện không chỉ bằng những lời tuyên bố, hứa hẹn, mà quan trọng hơn hết , là việc chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và việc luôn phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Do vậy trong bất kỳ công việc gì muốn tổ chức thực hiện tốt công việc, nhất thiết phải có người cán bộ có tài, có đức; bởi đức và tài là hai phạm trù cơ bản hợp thành nhân cách của con người nói chung, người cán bộ nói riêng, không thể thiếu hoặc xem nhẹ một mặt nào Nếu xem nhẹ bất cứ mặt nào thì đều dẫn đến không xứng danh người cán bộ theo đúng nghĩa là “ công bộc của dân” Đức và tài của người cán bộ được thể hiện là người cán bộ phải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức cách mạng trung thanh và kiên định mục tiêu lý tưởng của giai cấp của dân tộc,

có trình độ tổng kết thực tiễn, từ tổng kết thực tiễn để khái quát nâng lên thành lý luận, có năng lực thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Khi bàn về quan hệ giữa tài và đức Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Có tài mà không có đức thì vô dụng, có đức mà không có tài thì làm

5 V I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mat-Xơ-Va, 1978, t.38, tr 94

Trang 20

việc gì cũng khó”, nhưng tài năng của người cán bộ phải trải qua quá trình học tập rèn luyện mà tiến bộ “khổ luyện thành tài”, đồng thời tài phải luôn đi cùng với tu dưỡng đạo đức cách mạng, có “tu thân tích đức” mới trưởng thành “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”6

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng tác phong làm việc gần gũi quần chúng nhân dân của cán bộ, trong một lần họp Chính phủ Người nói: “Tôi đề nghị các vị Bộ trưởng nên luyện cho mình có đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ, không nên chỉ ngồi bàn giấy, theo kiểu “đạo nhân phòng thủ”; phải khắc phục tình trạng là hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết rồi mà không làm”7 Đối với cán bộ dân vận (trong đó có đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở), Người dặn:

“Muốn thật sự gần gũi quần chúng, thì phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm mới biết sinh hoạt của quần chúng thế nào, mới biết khó khăn, biết chí khí của quần chúng như thế nào, mới biết nguyện vọng của quần chúng như thế nào”8 “Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm Chứ không chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh Họ thật thà phải nhúng tay vào việc”

1.1.3 Khái niệm về đội ngũ

Đội ngũ là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức như đội ngũ cán bộ công nhân viên chức, đội ngũ cán bộ khoa học Khái niệm đội ngũ được xuất phát từ thuật ngữ quân sự, đó là tổ chức gồm nhiều người tập hợp thành một lực lượng hoàn chỉnh Như vậy, đội ngũ có thể được hiểu là tập hợp một số người có cùng chức năng, nhiệm vụ và nghề nghiệp

1.1.4 Khái niệm Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở

Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là tập hợp những đồng chí trong Ban chấp hành công đoàn cơ sở được ghi trong Điều lệ Công đoàn Việt Nam, bao gồm: Những người được Đại hội công đoàn, Hội nghị công đoàn các cấp bầu ra hoặc được Ban chấp hành công đoàn cấp trên chỉ định vào Ban chấp hành công đoàn cơ sở với các chức danh cụ thể sau:

- Chủ tịch công đoàn cơ sở

6 HCM tt, t9, tr293

7 Biên niên tiểu sử HCM tập 10, tr 139

8

Trang 21

- Phó chủ tịch công đoàn cơ sở

- Các Ủy viên Ban chấp hành công đoàn cơ sở

1.1.5 Khái niệm năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở

Từ cách đặt và hiểu vấn đề năng lực, mối quan hệ giữa năng lực và phẩm chất trong một con người; cho phép chúng ta có thể đưa ra kết luận, xét về thực chất, năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là toàn bộ những đặc tính tâm lý vốn có của người cán bộ cách mạng đảm bảo đáp ứng được yêu cầu công tác vận động, tổ chức, giáo dục quần chúng công nhân, viên chức, lao động xứng đáng vai trò tiên phong cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

Như vậy năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là cái vốn có trong bản thân đội ngũ ban chấp hành, được bồi dưỡng, tích lũy để có thể tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ của các cấp công đoàn trong từng giai đoạn Phạm trù “năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở” mang tính lịch sử Ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau trong những điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau, do tiềm lực tích lũy của đội ngũ cán bộ, do mục tiêu, chức năng, yêu cầu hoàn thành các nhiệm vụ khác nhau,

mà đòi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có những năng lực tương ứng Tuy vậy, trong tổ chức hoạt động công đoàn ở thời kỳ nào cũng đòi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có những năng lực chung, mang tính phổ biến sau:

+ Trình độ hiểu biết chung

+ Năng lực chuyên môn nghiệp vụ

+ Trình độ lý luận chính trị

+ Năng lực lãnh đạo, tổ chức thực tiễn

+ Năng lực vận dụng, áp dụng các phương pháp vận động quần chúng

1.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở

1.2.1 Các tiêu chí về năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở

Công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, khi đánh giá cán bộ Đảng ta khẳng định dựa vào tiêu chí “Lấy hiệu quả công tác thực tế và

Trang 22

sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu” Đây là tiêu chí tổng hợp bao gồm

cả phẩm chất và năng lực của cán bộ đã được hiện thực hóa thông qua việc làm thực tế của cán bộ Tuy nhiên về năng lực cán bộ cũng có các tiêu chí cụ thể để đánh giá từng loại năng lực, như: năng lực chuyên môn; năng lực lãnh đạo, quản lý; năng lực tổ chức thực hiện các nhiệm vụ hàng ngày Vận dụng vào trong công tác cán bộ công đoàn theo tôi đánh giá năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở có thể sử dụng một

số các tiêu chí cơ bản sau:

+ Tiêu chí về trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và trình độ nghiệp vụ công tác công đoàn được đào tạo Xuất phát từ vị trí, yêu cầu của mỗi cấp, mỗi loại cán bộ công đoàn mà đòi hỏi về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ công tác công đoàn khác nhau Nghĩa là trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ của từng loại, từng cấp cán bộ và trên cơ sở điều kiện thực tế của từng giai đoạn lịch sử, vị trí, yêu cầu của mỗi loại, mỗi cấp cán bộ đòi hỏi cán bộ công đoàn phải có tiêu chuẩn nhất định về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác công đoàn Tiêu chí trình độ học vấn, tình độ chuyên môn, nghiệp vụ là tiêu chí rõ ràng cụ thể dễ lượng hóa để đánh giá, tuy nhiên trong chừng mực nào đó thì việc tiêu chuẩn hóa đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở thông qua các lớp đào tạo, tập huấn thể hiện thông qua (bằng cấp) được ghi trong lý lịch cán bộ cũng chưa thể đánh giá hoàn toàn đúng năng lực cán bộ Bởi trong thực tế những năm vừa qua không ít trường hợp chạy theo bằng cấp, chất lượng đào tạo của một số cơ sở chưa cao, dẫn đến có trường hợp người được đào tạo có bằng cấp cao nhưng không có khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Do vậy thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải kết hợp chặt chẽ giữa tiêu chuẩn bằng cấp với năng lực thực tế của cán bộ Trong giai đoạn hiện nay phát triển nền kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ của người lao động từng bước được nâng lên Do vậy đòi hỏi khách quan phải không ngừng nâng cao trình độ học vấn đội ngũ đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở thì mới đáp ứng được yêu cầu phong trào công nhân, hoạt động công đoàn, Từ yêu cầu thực tế trong phong trào công nhân, hoạt động công đoàn, từ yêu cầu của công tác vận động, tập hợp công nhân, lao động trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước trong điều kiện khoa học

kỹ thuật, công nghệ phát triển với tốc độ ngày càng lớn, toàn cầu hoá diễn ra như một

xu thế khách quan Theo tôi hiện nay trình độ học vấn của đội ngũ Ban chấp hành

Trang 23

công đoàn cơ sở chí ít cũng phải đạt mức trình độ trung bình khá của đội ngũ công nhân, lao động trong phạm vi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoạt động Mặt khác đã là đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở dù cán bộ chuyên trách hay cán bộ công đoàn kiêm nhiệm, dù cán bộ nghiệp vụ hay cán bộ phong trào, thì nhất thiết phải

có trình độ nghiệp vụ công tác công đoàn, nghĩa là tuỳ theo từng loại, từng cấp bậc cán

bộ công đoàn mà đòi hỏi cán bộ công đoàn phải am hiểu ở mức độ nhất định về lý luận, nghiệp vụ công tác công đoàn, về kỹ năng vận động, tổ chức hoạt động công đoàn Đây là tiêu chuẩn hết sức quan trọng cần phải có, bởi nếu không hiểu về lý luận, nghiệp vụ và kỹ năng hoạt động công đoàn thì đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở không thể hoàn thành nhiệm vụ, chắc chắn sẽ không được quần chúng tín nhiệm, như vậy sẽ không còn là cán bộ công đoàn nữa và nếu có còn là cán bộ công đoàn thì cũng không thể là cán bộ công đoàn thực thụ

Bên cạnh tiêu chí về trình độ học vấn, trình độ lý luận nghiệp vụ công tác công đoàn, một đòi hỏi khách quan đối với đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở công tác

ở đơn vị nào thì phải có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực đó, có như vậy đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở mới có điều kiện am hiểu thực tế, mới nắm chắc được tính chất công việc của từng loại công nhân, có điều kiện nắm được tâm tư nguyện vọng và điều kiện sống của công nhân, lao động để trong tổ chức hoạt động CNLĐ cảm thấy tiếng nói của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở vừa thể hiện trình độ hiểu biết chuyên môn nghề nghiệp, vừa thể hiện tiếng nói của người trong cuộc Còn đối với chính quyền thì thấy nhưng ý kiến của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở đưa ra

là hợp lý nó xuất phát từ thực tế sản xuất của ngành cũng như của cơ quan đơn vị xuất phát từ nhu cầu phát triển nghề nghiệp, phát triển cơ quan đơn vị Như vậy tổ chức hoạt động công đoàn mới thiết thực, hiệu quả Do vậy yêu cầu đặt ra là đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoạt động ở ngành nào, nhất thiết phải có chuyên môn về ngành đó Yêu cầu này cần phải được coi là nguyên tắc trong bố trí sử dụng đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở (ngoài yêu cầu về trình độ lý luận nghiệp vụ liên quan đến tổ chức hoạt động công đoàn), bởi chỉ có thực hiện nguyên tác này thì đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở mới có thể gần gũi, hiểu biết công việc của người lao động, hiểu và nắm được kế hoạch hoạt động của cơ quan, đơn vị, mới có điều kiện để tham gia xây dựng, tham gia quản lý có hiệu quả cơ quan đơn vị Hơn nữa, trên thực tế ở cơ

sở đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở hầu hết là kiêm nhiệm (bán chuyên trách),

Trang 24

nên thực hiện công việc đơn vị giao cho vẫn là nhiệm vụ chủ yếu vì vậy đòi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trước hết phải là người am hiểu và giỏi về chuyên môn để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Tức là trước hết đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải là người có đầy đủ tiêu chuẩn như một người lao động thực thụ của đơn vị nơi mình công tác, sau đó mới tùy theo từng vị trí công tác mà đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở đảm nhiệm, cũng như tùy theo điều kiện hoàn cảnh của từng khu vực, cơ quan, đơn vị để đặt ra tiêu chuẩn về trình độ lý luận, nghiệp vụ công tác công đoàn của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở Yêu cầu về năng lực chuyên môn, nghề nghiệp đối với đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở thuộc lĩnh vực công tác nó đặt ra cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng như sử dụng đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải là những người trưởng thành từ phong trào công nhân, được quần chúng công nhân, lao động tín nhiệm bầu ra , mặt khác nó cũng đặt ta yêu cầu đối với công tác quy hoạch, đào tạo đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải theo địa chỉ chứ không thể đào tạo chung chung được …

+ Tiêu chí về năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của công đoàn Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của công đoàn và để công đoàn khẳng định được vai trò vị trí của mình trong hệ thống chính trị và đối với công nhân, viên chức, lao động, thì tất yếu khách quan đòi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có năng lực quán triệt đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào việc đề ra chương trình kế hoach công tác của công đoàn và đồi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có năng lực vận động, tổ chức công nhân, lao động thực hiện có hiệu quả nghị quyết, chương trình kế hoạch hoạt động của công đoàn Như vậy đối với đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, đặc biệt là đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở chủ chốt đòi hỏi phải có năng lực đề ra chương trình

kế hoạch, nghị quyết và năng lực tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch, nghị quyết Yêu cầu năng lực tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở nó được thể hiện ở ba khâu cơ bản sau:

Một là, Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải quyết định mọi vấn đề một cách đúng đắn, có cơ sở khoa học, quyết định đưa ra phải sát thực tế phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo CNVCLĐ trong phạm vị mình phụ trách và những vấn

đề quyết định phải có khả năng thực thi

Trang 25

Hai là, Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải biết tận dụng, phát huy được mọi nguồn lực vốn có trong quần chúng CNVCLĐ để thực hiện có hiệu quả các quyết định đưa ra

Ba là, đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có khả năng tổ chức theo dõi, kiểm tra, kiểm soát, đánh giá tổng kết quá trình tổ chức thực hiện quyết định, nhằm rút

ra những bài học kinh nghiệm cho tổ chức thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo

Như vậy năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở hiện nay được quyết định bởi tác phong làm việc theo quan điểm quần chúng, dân chủ, thực tế của cán bộ công đoần, chứ không phải là tác phong làm việc theo cách quan liêu, hành chính, mệnh lệnh Nghĩa là đối với đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, đòi hỏi phải biết biến ý chí của Đảng, Nhà nước, của tổ chức công đoàn thành ý chí của đông đảo CNVCLĐ, phải biết biến sức mạnh, tiềm lực của từng người thành sức mạnh, tiềm lực của đông đảo quần chúng CNVCLĐ Do vậy yêu cầu về năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là rất cao và khá rõ ràng, Tuy nhiên trong thực

tế việc lượng hóa cụ thể các tiêu chí về năng lực để có thể đo đếm được năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở thì không hoàn toàn đơn giản Bởi trong thực

tế, tổ chức hoạt động công đoàn có nhiều việc làm có hiệu quả thấy được rõ ràng và

có thể thống kê được, như việc giải quyết các vấn đề nóng bỏng, bức xúc trong đơn vị, hoặc việc chỉ đạo các hoạt động cụ thể của công đoàn Nhưng cũng có không ít những hoạt động để đánh giá được hiệu quả là cả một quá trình không đơn giản chút nào Bởi vậy về cơ bản tiêu chuẩn chung về năng lực đối với đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở đòi hỏi phải có Khả năng xây dựng chương trình, kế hoạch công tác, xây dựng Nghị quyết của công đoàn, có khả năng tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết, chương trình công tác đạt kết quả, Cụ thể: khi người cán bộ đưa ra quyết định bất kỳ vấn đề nào đều phải đúng đắn, có cơ sở khoa học, có tính khả thi và thể hiện được ý chí nguyện vọng của động đảo công nhân, lao động; Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải biết phát huy nội lực và vận dụng sức mạnh tổng hợp ( của chính quyền, các tổ chức đoàn thể, cá nhân), tâm huyết với công việc và đầu tư công sức để quyết tâm thực hiện cho được những quyết định đưa ra Đồng thời biết tổ chức theo dõi, đốc thúc, kiểm tra, tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân và cho tổ chức công đoàn mà mình phụ trách Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải biết lắng nghe và học tập kinh nghiệm của tập thể công nhân, lao động, biết đoàn

Trang 26

kết gần gũi và thực sự quan tâm chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích của CNVCLĐ Biết lựa chọn những nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời điểm,biết tổ chức chỉ đạo điểm, để rút kinh nghiệm nhân rộng các điển hình tiên tiến, nhằm tạo thành phong trào hành động sôi nổi trong đơn vị

+ Tiêu chí về trình độ lý luận chính trị Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có kiến thức nhất định về lý luận chính trị , bởi chỉ có trình độ về lý luận chính trị mới có thế giới quan và phương pháp luận khoa học làm cơ sở cho nhận thức chính trị đúng đắn và phương pháp luận khoa học xem xét, giải quyết vấn đề đúng đắn, khách quan Đặc biệt do đặc điểm đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trưởng thành từ hoạt động thực tiễn, nên nếu hoạt động thực tiễn của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở được lý luận cách mạng soi sáng thì sẽ củng cố được quan điểm, lập trường của GCCN, giúp cho đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, kiên định đấu tranh bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp chính đáng của CNVCLĐ, có phương pháp hoạt động Mặt khác nếu đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở có trình độ lý luận sẽ có năng lực nhận thức, nắm bắt những vấn đề mà nhu cầu thực tiễn đề ra, đồng thời giúp cho đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở năm được các quy luật khách quan của cuộc sống trên cơ sở đó mà có phương pháp trong giải quyết thoả đáng các mâu thuẫn phát sinh hàng ngày, nhằm mạng lại hiệu quả tối ưu, phù hợp với nguyện vọng và thỏa mãn lợi ích của công nhân, lao động Ngày nay đảng ta lấy chủ nghĩa MácLêni,

tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động Do vậy yêu cầu về trình độ lý luận chính trị đối với đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ

sở là cần phải được trang bị lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam, trâng bị lý luận về giai cấp công nhân và tổ chức, hoạt động công đoàn Việt Nam Yêu cầu trình độ lý luận của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở không chỉ đơn giản là có các chứng chỉ, bằng cấp, vấn đề cốt lõi là đòi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có khả năng biến những vấn đề đã được học thành nhận thức, hành động, cụ thể, thiết thực trong công tác của mình, nghĩa là đòi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ

sở không chỉ học lý luận mà phải có khả năng vận dụng lý luận vào công việc hàng ngày, phải có khả năng tổng hợp thực tiễn, vận dụng lý luận vào mổ xẻ, xem xét so sánh, đánh giá thật kỹ thực tế, để rút ra nhưng bài học kinh nghiệm cho tổ chức hoạt động thực tế của mình

Trang 27

+ Năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở còn được đánh giá thông qua tiêu chí, có khả năng lựa chọn, sử dụng phương pháp tổ chức hoạt động công đoàn một cách khoa học, khả năng đoàn kết, vận động tập hợp quần chúng Bởi nét đặc thù của hoạt động công đoàn là hoạt động quần chúng, do vậy không cho phép hành chính hóa, luật pháp hóa phương pháp hoạt động công đoàn Hoạt động công đoàn phải mang tính giáo dục, thuyết phục cao, nên phương pháp hoạt động công đoàn phải đa dạng, muôn màu muôn vẻ chư không phải chỉ sử dụng cứng nhắc một phương pháp nào Do vậy đòi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải biết vận dụng linh hoạt các phương pháp để tổ chức hoạt động cho phù hợp, cũng như xử lý các tình huống tron tổ chức hoạt động công đoàn nhằm đem lại kết quả cao, đây chính là đòi hỏi năng lực cần có của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở

Bác Hồ nói: “Năng lực của con người không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, mà một phần do công tác, do tập luyện mà có.” (trang 280, tập 5) Như vậy tác động đến quá trình hình thành, phát huy năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở có rất nhiều các nhân tố, có thể phân ra thành nhân tố chủ quan, tức là những nhân tố thuộc bản thân đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, nhân tố khách quan là các nhân tố liên quan đến gia đình, và xã hội Tuy nhiên bàn đến các nhân tố tác động đên sự hình thành và phát huy năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, theo tôi có thể khái quát một số nhân tố cơ bản sau:

Một là, các nhân tố thuộc về cấu trúc tâm lý, nhân cách và truyền thống gia đình của người cán bộ Đây vừa là nhân tố nội lực mang tính chủ quan của con người, vừa mang tính chất tự nhiên, bẩm sinh, đó là nhân tố mang tính di truyền, về

tư chất thông minh, năng khiếu, sở thích của gia đình, của dòng họ Đồng thời những nhân tố đó lại vừa mang tính xã hội, đó là sự ảnh hưởng của truyền thống gia đình Nếu một gia đình có nhiều đời làm cùng một công việc thì các thế hệ đi sau sẽ kế thừa được những truyền thống, những kinh nghiệm quý báu của các thế hệ trước Do vậy nếu phát huy tốt (đúng nghĩa đích thực) truyền thống gia đình sẽ là điều kiện thuận lợi nhất cho việc đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp, tạo ra những thế hệ cán bộ, công nhân kế tục sự nghiệp vẻ vang của những người đi trước Hiện nay nhiều quốc gia, nhiều ngành nghề, lĩnh vực đang cố gắng xây dựng phát huy vai trò của “gia đình công nhân truyền thống”

Trang 28

Hai là, ảnh hưởng của hệ thống giáo dục, đào tạo đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở Đây là nhân tố tác động quan trọng nhất, quyết định nhất đến năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, hệ thống giáo dục tác động đến năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở bao gồm các giai đoạn giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục chuyên môn nghiệp vụ, giáo dục về lĩnh vực công đoàn Thông qua hệ thống giáo dục trên đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở được trang

bị một số kiến thức có tính hệ thống, bảo đảm trình độ học vấn phổ thông (là nền tảng

để tiếp thu mọi khoa học khác); trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật, đó

là cơ sở, nền tảng ban đầu để hình thành năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở Bởi năng lực tư duy, năng lục chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị và khả năng vận dụng linh hoạt các phương pháp hoạt động của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở đều được hình thành trong quá trình giáo dục đào tạo và bằng con đường giáo dục đào tạo Tuy nhiên trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghề nghiệp của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở mới chỉ là cơ sở nền tảng cho việc hình thành năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở chứ không phải là yếu

tố quyết định năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở Để đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở có năng lực thực sự thì vấn đề quan trọng hiện nay là phải quan niệm đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là một nghề, mang tính khoa học, Quan niệm công đoàn là một nghề cần phải có sự chỉ đạo thống nhất trong đào tạo và đầu tư cũng như trong tâm trí của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở để họ được đào tạo

cơ bản và yên tâm với nghề nghiệp mình đã chọn, đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ

sở chuyên trách phải được đào tạo nghề nghiệp, bình đẳng như bất cứ nghề nghiệp nào khác trong xã hội Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng xử dụng và đãi ngộ một bộ phận đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở chuyên nghiệp, nhất là đội ngũ đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở chuyên trách

Thứ ba, môi trường công tác và rèn luyện của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn

cơ sở có tác động quan trọng đến hình thành năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở, nếu công tác tuyển chọn, bố trí, sử dụng đội ngũ Ban chấp hành công đoàn

cơ sở khách quan, hợp lý, môi trường hoạt động của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn

cơ sở thật sự dân chủ, tập thể đoàn kết, thương yêu giúp đỡ nhau và tạo điều kiện cho nhau học tập, công tác và công hiến thì sẽ là động lực mạnh mẽ khuyến khích, động viên mọi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở gắn bó với tập thể, không ngừng

Trang 29

khắc phục mọi khó khăn, phấn đấu học tập, rèn luyện nâng cao năng lực công tác Ngược lại nếu môi trường công tác của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở không dân chủ, đoàn kết tôn trọng lẫn nhau thì không những không khuyến khích đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở nâng cao năng lực mà thậm trí còn kìm hãm , làm thui chột năng lục của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở Do vậy để nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở đòi hỏi công tác đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải thực hiện đúng quy trình, quy hoạch, tuyển chọn đào tạo bồi dưỡng, đề bạt cất nhắc bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ, phải thực sự dân chủ trong công tác cán bộ để căn cứ vào phẩm chất và năng lực cụ thể của từng người, yêu cầu của từng công việc mà cất nhắc, đề bạt, sử dụng cán bộ cho phù hợp Bởi việc đặt đúng người, đúng chỗ, sử dụng đúng yêu cầu, không chỉ có tác dụng khai thác triệt

để năng lực cán bộ mà còn là có tác dụng khuyến khích và tạo điều kiện để cán bộ không ngừng bồi đắp và hoàn thiện năng lực cá nhân đáp ứng nhu cầu công việc Thực

tế trong phong trào công nhân, hoạt động công đoàn nước ta cho thấy những đơn vị, cơ quan nào xây dựng được hệ thống quy chế hoạt động tốt, quan hệ tập thể trong sáng lành mạnh, có chính sách cán bộ phù hợp, người lao động sống với nhau có nghĩa, có tình thì nơi đó có môi trường tốt cho năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở được phát huy.Ngược lậi ở cơ quan đơn vị nào công tác cán bộ không khách quan, tập thể không đoàn kết thì kết quả hoạt động công đoàn cũng hạn chế, năng lực cán bộ cũng không được phát huy

Thứ tư, Năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở còn phụ thuộc vào cơ chế chính sách sử dụng, đãi ngộ, chính sách bảo vệ cán bộ và việc tổ chức thực hiện tốt cơ chế chính sách đối với cán bộ sẽ tạo động lực khuyến khích cán bộ lỗ lực vươn lên trong công tác, học tập tạo cho năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở không ngừng nâng cao Ngược lại nếu cơ chế, chính sách sử dụng, đãi ngộ và bảo vệ cán bộ không tốt thì không những không khuyến khích nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở mà còn có thể làm cho cán bộ công đoàn không thiết tha gắn bó với tổ chức công đoàn, dẫn đến hạn chế trượt tiêu năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở

Thứ năm: Năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở còn phụ thuộc vào lòng ham học hỏi, ham hiểu biết của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở Bởi trước hết để có năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải thực sự là người

Trang 30

“yêu nghề” có sở thích và hăng say hoạt động công đoàn, có ý chí nỗ lực vươn lên nhằm chinh phục những đỉnh cao của khoa học, trong đó có khoa học về tổ chức hoạt động công đoàn Thực tế kiến thức về chuyên môn, về công đoàn là rất lớn, việc nâng cao năng lực cán bộ thông qua trường học, hoặc các đợt tập huấn thì không thể đáp ứng được công việc hàng ngày Xã hội, cuộc sống luôn luôn biến đổi không ngừng, cho nên tự học, tự rèn luyện (trong đó có cả rèn luyện về thể chất) là phương pháp tốt nhất để nâng cao năng lực cho mỗi người Do vậy trong điều kiện nền kinh tế thị trường, thời gia và cường độ làm việc luôn luôn cao , Chỉ có những người đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở say mê với công việc của mình, mới có nghị lực vượt qua mọi khó khăn, mới quyết tâm sắp xếp công việc bề bộn trong cuộc sống hàng ngày, để học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao trình độ, năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác của mình

Như vậy có rất nhiều nhân tố tác động đến năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở Nên để nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở cần phải thực hiện đồng bộ các biện pháp, phải là kết quả của tổng hợp của việc thực hiện tất cả các khâu từ quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng, đánh giá, sử dụng, đến đề bạt, cất nhắc, kiểm tra, giám sát, phê bình cán bộ và phụ thuộc vào sự nỗ lực phấn đấu của từng cán bộ Chỉ cần một trong những khâu nào đó xem nhẹ, làm không đến nơi đến chốn sẽ khiến cho năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ

sở kém không được phát huy thậm chí còn bị hạn chế Về sử dụng, cất nhắc cán bộ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy Không phát huy và nâng cao “hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán

bộ, cất nhắc cán bộ, thương yêu cán bộ, phê bình cán bộ” Do vây quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, để có được đội ngũ đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở có đầy đủ năng lực đáp ứng yêu cầu phong trào công nhân, hoạt động công đoàn trong giai đoàn mới công đoàn các cấp cần quan tâm đến tất cả các khâu trong công tác cán bộ

1.2.3 Các hoạt động nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở

Trong quá trình chỉ đạo hoạt động, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và các cấp công đoàn đã có rất nhiều hoạt động nhằm nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn, trong đó điển hình là 3 hoạt động sau:

Hoạt động 1: Tăng cường chỉ đạo thực hiện công tác cán bộ

Trong những năm qua để chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn nói chung và đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở nói riêng, Tổng Liên đoàn

Trang 31

Lao động Việt Nam đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết: Nghị quyết 05/NQ-TLĐ ngày 05/11/2000 của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Khoá VIII

về “xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn trong tình hình mới"; Nghị quyết 03/NQ-TLĐ ngày 22/10/2004 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Khoá IX về

“Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn’’; Nghị quyết số TLĐ của Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Khoá X về “Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn giai đoạn 2010-2020”; Quyết định 1375/QĐ-TLĐ, ngày 01/9/2006 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về “Quy định tuyển sinh, đào tạo cán bộ công đoàn hệ chính quy tập trung”, Quyết định 482/QĐ- TLĐ, ngày 16/4/2009 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn về “Ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn”, “Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn 5 năm 2008 - 2013’’ Đây là những văn bản quan trọng để thống nhất trong hệ thống công đoàn trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở

04a/NQ-Hoạt động 2: Quan tâm đến nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ ban châp hành công đoàn cơ sở

Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề

nghiệp của đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị,

nhận thức sâu sắc quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, tích cực vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào hoạt động công đoàn Các cấp công đoàn đã tăng cường tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng nhằm nâng cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, hoài bão, lý tưởng say mê khoa học, bản lĩnh chính trị, vững vàng trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch hòng lôi kéo người lao động đi ngược lợi ích của đất nước, dân tộc Các cấp công đoàn đã gắn tuyên truyền, giáo dục đội ngũ công đoàn, người lao động với việc phát động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhờ

đó đã làm chuyển biến tích cực về nhận thức, đồng thời gắn với hành động làm theo lời Bác, nhất là việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của công đoàn

Đã chỉ đạo các cấp công đoàn thực hiện nghiêm túc nội dung các bước của cuộc vận động; tiến hành kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện; thông qua cuộc vận động để quản lý và rèn luyện, giám sát đạo đức, lối sống của cán bộ công đoàn Đã tiến hành triển khai học tập các chuyên đề như: Chuyên đề “Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm

Trang 32

gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”; Chuyên đề “Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu” và tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” của Bác; Chuyên đề: "Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân", gắn với 40 năm

thực hiện Di chúc của Bác Hồ Đã tổ chức hội thi “Kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ

Chí Minh” trong cán bộ công đoàn

Hoạt động 3: Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ ban châp hành công đoàn

Để thống nhất trong thực hiện các qui định của Quy chế đào tạo bồi dưỡng cán

bộ công đoàn ban hành kèm theo Quyết định số 482/QĐ-TLĐ ngày 16/4/2009, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hướng dẫn số 1114/HD-TLĐ ngày 09/07/2009 hướng dẫn thực hiện một số Điều của Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn

Phát huy tiềm năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn của các trường trong

hệ thống công đoàn

Hiện nay đã xây dựng được hệ thống các trường đào tạo cán bộ công đoàn trong

hệ thống Công đoàn Trong đó có 02 trường đại học (Đại học Công đoàn, Đại học Tôn Đức Thắng) và 4 trường công đoàn thuộc các Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố và Công đoàn ngành (Trường Trung cấp Công đoàn Hà Nội, Trường Trung cấp công đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Trung cấp Công đoàn Nam Định, Trường trung cấp nghiệp vụ Công đoàn Giao thông vận tải)

Muốn nâng cao hiệu quả đào tạo cán bộ công đoàn cần tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên (giảng viên cơ hữu và giảng viên kiêm chức) Chỉ đạo các trường thuộc hệ thống công đoàn, đặc biệt là trường Đại học Công đoàn và Đại học Tôn Đức Thắng trong việc đào tạo đa ngành, đa cấp, thực hiện đào tạo các trình độ như: Thạc sỹ; cử nhân; cao đẳng; trung cấp; liên thông từ trung cấp lên đại học, từ cao đẳng lên đại học; đại học phần; đào tạo ngắn hạn, nhất là đào tạo sau đại học, đại học phần về công đoàn

Thực hiện đổi mới nội dung, chương trình của các ngành đào tạo dành cho cán bộ công đoàn nói chung và đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở nói riêng Nội dung, chương trình của các ngành đào tạo dành cho cán bộ công đoàn luôn được các trường

Trang 33

quan tâm, chú trọng theo hướng bám sát với yêu cầu đào tạo cán bộ công đoàn, với mục tiêu sau khi tốt nghiệp người học không chỉ nắm vững những kiến thức về chuyên ngành được đào tạo, mà còn có khả năng vận dụng thành thạo những kiến thức đó vào hoạt động công đoàn ở địa phương Đối với đào tạo đại học phần về công đoàn với nội dung chủ yếu tập trung trang bị những kiến thức thiết thực, cần thiết, tối thiểu cho người cán bộ công đoàn Trong mỗi chương trình các môn học được thiết kế với hai phần kiến thức

lý thuyết và kiến thức thực hành, với mục tiêu học lý thuyết kết hợp với giải quyết các tình huống giả định trong thực tế, giúp cho người cán bộ công đoàn làm quen và có thể tập áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn

Đối với cán bộ công đoàn chuyên trách, tập trung đào tạo, bồi dưỡng về: Lý luận và nghiệp vụ công tác công đoàn ở các trình độ đại học công đoàn, trung cấp lý luận và nghiệp vụ công tác công đoàn, đại học phần công đoàn Về lý luận chính trị như: Cử nhân và cao cấp, Trung cấp, ngoài ra còn đào tạo về tin học, ngoại ngữ ở trình

độ trung cấp, cao đẳng, cử nhân và trình độ A,B,C

Đối với cán bộ công đoàn không chuyên trách tập trung đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, lý luận về công đoàn và để đảm bảo tiêu chuẩn để giới thiệu ứng cử, để cử để bầu cử vào Ban Chấp hành, Uỷ Ban kiểm tra công đoàn các cấp Thực hiện đào tạo lại đội ngũ cán bộ công đoàn, thực hiện thường xuyên cập nhật, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ, đặc biệt là kiến thức pháp luật, quản lý kinh tế, quản lý

xã hội, các kỹ năng mới để theo kịp với yêu cầu của phong trào công nhân và hoạt động công đoàn trong tình hình mới

Trang 34

TIỂU KẾT CHƯƠNG I

Trong chương 1, Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về công đoàn; năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở; nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở; các hoạt động nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở Trong đó, rút ra một số nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, Công đoàn là tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân

và người lao động, là thành viên của hệ thống chính trị xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là những người đứng trong tổ chức Công đoàn Việt Nam, được lựa chọn thông qua bầu cử tại công đoàn cơ sở, hoặc công đoàn cấp trên lựa chọn chỉ định giao một nhiệm vụ để

thực hiện hiện chức năng, nhiệm vụ của công đoàn đã đề ra

Hai là, năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở là cái vốn có trong bản

thân đội ngũ ban chấp hành, được bồi dưỡng, tích lũy để có thể tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ của các cấp công đoàn trong từng giai đoạn Phạm trù “năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở” mang tính lịch sử Ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau trong những điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau, do tiềm lực tích lũy của đội ngũ cán bộ, do mục tiêu, chức năng, yêu cầu hoàn thành các nhiệm vụ khác nhau, mà đòi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có những năng lực tương ứng Tuy vậy, trong tổ chức hoạt động công đoàn ở thời kỳ nào cũng đòi hỏi đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có những năng lực chung, mang tính phổ biến sau:

+ Trình độ hiểu biết chung

+ Năng lực chuyên môn nghiệp vụ

+ Trình độ lý luận chính trị

+ Năng lực lãnh đạo, tổ chức thực tiễn

+ Năng lực vận dụng, áp dụng các phương pháp vận động quần chúng

Ba là, có rất nhiều nhân tố tác động đến năng lực đội ngũ Ban chấp hành công

đoàn cơ sở Nên để nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở cần

Trang 35

phải thực hiện đồng bộ các biện pháp, phải là kết quả của tổng hợp của việc thực hiện tất cả các khâu từ quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng, đánh giá, sử dụng, đến đề bạt, cất nhắc, kiểm tra, giám sát, phê bình cán bộ và phụ thuộc vào sự

nỗ lực phấn đấu của từng cán bộ Chỉ cần một trong những khâu nào đó xem nhẹ, làm không đến nơi đến chốn sẽ khiến cho năng lực của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn

cơ sở kém không được phát huy thậm chí còn bị hạn chế

Những vấn đề lý luận về nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn

cơ sở được trình bày và phân tích trong Chương 1 là cơ sở lý luận quan trọng để xem xét, đối chiếu với thực trạng năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH

ta phát triển kinh tế, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế Tuy nhiên cũng đặt

ra cho chúng ta không ít khó khăn, thách thức cần giải quyết Song song với đó là những tác động tích cực - tiêu cực đối với tổ chức Công đoàn Việt Nam nói chung công đoàn Thủ đô Hà Nội và quận Long Biên nói riêng

Quận Long Biên nằm ở cửa ngõ phía Đông của Thủ đô Hà Nội Quận Long Biên

có 1 vị trí chiến lược rất quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của Hà Nội và đất nước Nơi đây có các tuyến đường giao thông quan trọng như đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, đường không nối liền với các tỉnh phía bắc, đông bắc; có sân bay Gia Lâm, khu vực quân sự, nhiều công trình kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, cơ quan nhà máy, đơn vị sản xuất kinh doanh của Trung ương, Thành phố và địa phương Đặc biệt với lợi thế vị trí cửa ngõ của Hà Nội, nối liền với trục tam giác kinh tế Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh, đồng thời cũng là trục kinh tế sôi động hội nhập nền kinh tế trong khu vực và thế giới Đó là những yếu tố cơ bản thuận lợi cho quận Long Biên phát triển nhanh, mạnh và bền vững về kinh tế- xã hội Trong những năm qua, Ban thường vụ Quận ủy, UBND Quận đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành và nhân dân toàn Quận chủ động khắc phục khó khăn, thách thức, đạt được nhiều kết quả quạn trọng, toàn diện trên các lĩnh vưc Kinh tế phát triển đúng hướng và có mức tăng trưởng khá; thương mại, dịch vụ phát triển nhanh, chất lượng được nâng lên, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 19,8%; sản xuất công nghiệp – xây dựng đạt mức tăng trưởng 17%; sản xuất nông nghiệp được quan tâm đầu tư, chất lượng, hiệu quả được nâng lên, giá trị sản xuất tăng bình quân 6,43%; thu ngân sách hàng năm tăng cao, đáp

Trang 37

ứng nhu cầu đầu tư, phát triển Công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý đô thị, quản lý đất đai đạt được kết quả tích cực, hạ tầng đô thị phát triển, tạo cảnh quan môi trường

đô thi khang trang, sạch, đẹp, góp phần thu hút đầu tư Giáo dục – Đào tạo phát triển mạnh theo hướng chuẩn hóa, xã hội hóa, từng bước hiện đại Chất lượng các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao được nâng lên rõ rệt; công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa được chú trọng Đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện tốt các chính sách Công tác dân số, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân được triển khai hiệu quả An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; công tác quốc phòng và quân sự địa phương được tăng cường

Hiện nay, trên địa bàn Quận có trên 6.000 doanh nghiệp với trên 60.000 CNVCLĐ; nhiều khu công nghiệp liên doanh với nước ngoài như: khu công nghiệp kỹ thuật cao Sài Đồng B, khu công nghiệp Sài Đồng A, khu công nghiệp Đài Tư đã thu hút hàng 100 doanh nghiệp Trên địa bàn quận có một số doanh nghiệp có số lượng đông CNLĐ như: Tổng công ty May 10 – Cty cổ phần, Tổng công ty Đức Giang – Cty

cổ phần, công ty TNHH MTV xăng dầu khu vực I, Cty cổ phần cầu 12, Cty cổ phần cầu 14, Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam, Tông công ty hàng không Việt Nam, Cty

cổ phần xây lắp I…; còn lại CNLĐ tập trung ở các công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã Với sự đô thị hóa nhanh, trên địa bàn quận cũng đã hình thành các trung tâm thương mại lớn như: trung tâm thương mại Aoen Mall, trung tâm thương mại Savico, Trung tâm thương mại VinCom… Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh thu hút nhiều lao động trên địa bàn quận và các tỉnh lân cận

Vì vậy, để góp phần hoàn thành các nhiệm vụ chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, thì công tác chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng cho người lao động trên địa bàn quận cần được đảm bảo, hoạt động Công đoàn các cấp, đặc biệt là hoạt động Công đoàn cơ sở cần phải được quan tâm chú trọng, nâng cao năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở

Trang 38

2.2 Thực trạng năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên

2.2.1 Phân tích thực trạng năng lực đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở trên địa bàn quận Long Biên

Theo báo cáo số liệu của Liên đoàn Lao động quận Long Biên (tính đến ngày 30/10/2019):

2.2.1.1 Số lượng CĐCS, đoàn viên và Ủy viên BCH

Liên đoàn Lao động quận Long Biên đang quản lý 309 CĐCS với 12.715 đoàn viên công đoàn, 1.164 ủy viên ban chấp hành, cụ thể như sau:

Bảng 2.1: số lượng CĐCS, đoàn viên và Ủy viên BCH:

Đơn vị tính: CĐCS, người

Loại hình CĐCS

Số lượng CĐCS

Số lượng đoàn viên

Trang 39

Bảng 2.2: Cơ cấu giới tính đội ngũ ban chấp hành công đoàn

51 tuổi trở lên là 80 đồng chí (chiếm 6,9%)

Bảng 2.3: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo độ tuổi

Từ 18 đến

30 tuổi

Từ 31 đến 40 tuổi

Từ 41 đến

50 tuổi

Từ 51 tuổi trở lên

Số lượng

Trang 40

Bảng 2.4: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo trình độ học vấn

Theo kết quả của LĐLĐ quận Long Biên, đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ

sở không biết ngoại ngữ chiếm 13,7%, trình độ A chiếm 55%, trình độ B chiếm 23%, trình độ C và trên C chiếm 8,3% Điều đó cho thấy, trình độ ngoại ngữ của đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở hiện nay còn thấp, nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu cao khi hội nhập kinh tế quốc tế Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thì đội ngũ Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải có một trình độ ngoại ngữ nhất định (có thể giao tiếp hoặc làm việc với người nước ngoài) nhất là trong những doanh nghiệp FDI

Bảng 2.5: Cơ cấu đội ngũ Ban chấp hành CĐCS theo trình độ ngoại ngữ

Chứng chỉ A Chứng chỉ B Chứng chỉ C

và trên C

Số lượng

Ngày đăng: 06/04/2020, 10:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w