1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước từ thực tiễn thành phố hải phòng

97 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong một thời gian dài việc nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa và tầm quan trọng của nước đối với đời sống, sức khỏe và sự phát triển bền vững của đất nước, chưa chú trọng quản

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TÀI NGUYÊN NƯỚC

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

ĐOÀN ANH TÚ

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới

sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Thu Hạnh Các số liệu, kết luận được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả

ĐOÀN ANH TÚ

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô đã truyền đạt kiến thức

và kinh nghiệm trong hai năm học vừa qua, đặc biệt là PGS.TS Vũ Thu Hạnh đã trực tiếp hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô tại Trường Đại học Mở Hà Nội đã giúp

đỡ và tạo điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình học tập

Chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các đồng nghiệp các Sở ban ngành tại thành phố Hải Phòng đã đỡ tác giả trong thời gian thu thập số liệu để hoàn thành luận văn

Cảm ơn các tác giả của các ấn phẩm, sách báo, dự án mà tác giả đã tham khảo và phục vụ cho luận văn của mình

Và cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viên và khích

lệ tác giả trong thời gian qua, cảm ơn tất cả những ai sẽ đọc và đóng góp ý kiến vào luận văn tốt nghiệp này

Tác giả

ĐOÀN ANH TÚ

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Ý nghĩa của lý luận và thực tiễn của đề tài 8

7 Kết cấu của luận văn 9

1 CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TÀI NGUYÊN NƯỚC 10

1.1 Lý luận về kiểm soát tài nguyên nước 10

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và giá trị của tài nguyên nước 10

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và các biện pháp kiểm soát tài nguyên nước 17

1.2 Lý luận pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước 21

1.2.1 Khái niệm pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước 21

1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật kiểm soát tài nguyên nước 23

1.2.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước

24

1.2.4 Những yếu tố tác động đến pháp luật kiểm soát tài nguyên nước 26

1.2.5 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước 27

Trang 6

iv

1.3 Pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước tại một số quốc gia trên thế

giới và giá trị tham khảo với Việt Nam 30

1.3.1 Pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước tại một số quốc gia trên thế giới 30

1.3.2 Giá trị tham khảo với Việt Nam 33

Kết luận chương 1 34

2 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 36

2.1 Thực trạng pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước tại Việt Nam 36

2.1.1 Ưu điểm của pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước 36

2.1.2 Hạn chế của pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước 43

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước tại Thành phố Hải Phòng 48

2.2.1 Tình hình kiểm soát tài nguyên nước tại Thành phố Hải Phòng 48

2.2.2 Những kết quả đã đạt được trong thi hành pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước 53

2.2.3 Những hạn chế trong thi hành pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước và nguyên nhân của hạn chế, khó khăn, vướng mắc 56

Kết luận chương 2 63

3 CHƯƠNG 3 DỰ BÁO, ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT TÀI NGUYÊN NƯỚC TẠI VIỆT NAM VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 64

3.1 Dự báo về tài nguyên nước, kiểm soát tài nguyên nước tại Việt Nam 64 3.1.1 Dự báo về tài nguyên nước 64

3.1.2 Dự báo về kiểm soát tài nguyên nước tại Việt Nam 65

Trang 7

v

3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước tại

Việt Nam và nâng cao hiệu quả thi hành tại Thành phố Hải Phòng 67

3.2.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về kiểm soát TNN tại Việt Nam 67

3.2.2 Định hướng nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước tại Thành phố Hải Phòng 70

3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát TNN tại Việt Nam 71

3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước tại Thành phố Hải Phòng 75

Kết luận chương 3 82

KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 8

vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BVMTLVS Bảo vệ môi trường lưu vực sông

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

QLTHTNN Quản lý tổng hợp tài nguyên nước TN&MT Tài nguyên và môi trường

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, khoa học ngày càng tiên tiến, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì việc được sống trong một môi trường trong lành lại trở nên khó khăn hơn Bởi quá trình sinh sống và phát triển của con người không tránh khỏi tác động xấu gây ảnh hưởng tới môi trường, trong

đó có môi trường nước

Nước là tài nguyên, là tư liệu thiết yếu cho cuộc sống Không có nước không

có sự sống Chúng ta cần nước sạch cho sinh hoạt, bảo vệ sức khỏe và vệ sinh Nước cần cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp và các ngành kinh tế khác Nước còn cần cho phát triển thủy điện và giao thông thủy Nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự trong lành và bền vững của môi trường, duy trì mối quan hệ láng giềng hữu nghị với các nước có chung nguồn nước liên Quốc gia Nước là tài nguyên quý giá, có hạn và dễ bị ô nhiễm

Trong những thập niên qua việc khai thác tài nguyên nước và công tác phòng, chống tác hại do nước gây ra đã có những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, trong một thời gian dài việc nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa và tầm quan trọng của nước đối với đời sống, sức khỏe và sự phát triển bền vững của đất nước, chưa chú trọng quản lý

và bảo vệ tài nguyên nước dẫn đến tài nguyên nước ở nước ta đã có những biểu hiện suy thoái cả về số lượng lẫn chất lượng, tình trạng ô nhiễm nguồn nước, thiếu nước, khan hiếm nước đã xuất hiện ở nhiều nơi và đang có xu hướng gia tăng; tình trạng

sử dụng nước lãng phí, kém hiệu quả, thiếu quy hoạch, thiếu tính liên ngành còn khá phổ biến Trong khi đó nhu cầu dùng nước của các ngành kinh tế không ngừng gia tăng về số lượng và đòi hỏi cao hơn về chất lượng, các nước láng giềng có chung nguồn nước với Việt Nam đang tăng cường khai thác nguồn nước ở thượng nguồn, cân bằng nước giữa cung và cầu nhiều lúc, nhiều nơi không đảm bảo và trở

Trang 10

2

thành áp lực lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện dân số gia tăng, khí hậu toàn cầu diễn biến ngày một phức tạp, Tình hình đó đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lý, bảo vệ để phát triển bền vững tài nguyên nước và phòng, chống có hiệu quả các tác hại do nước gây ra Do đó pháp luật về kiểm soát ô nhiễm và chống suy thoái tài nguyên nước có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ nguồn nước quốc gia

Hải Phòng là nơi tất cả các nhánh của sông Thái Bình đổ ra biển nên có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mang lại nguồn lợi rất lớn về nước Những năm gần đây, nền kinh tế Hải Phòng có những bước phát triển mạnh Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được đã phát sinh những vấn đề về ô nhiễm môi trường nước ở mức độ đáng báo động do nhiều nguyên nhân khác nhau Đặc biệt là tình trạng ô nhiễm nguồn nước

Hải Phòng đã có chính sách bảo vệ nguồn nước từ năm 2013 thông qua đề án: “Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ nguồn nước ngọt tại các sông: Rế, Giá,

Đa Độ, Chanh Dương, kênh Hòn Ngọc, hệ thống trung thủy nông Tiên Lãng trên địa bàn Thành phố Hải Phòng giai đoạn 2013-2020” Theo đề án này, ngoài các biện pháp tuyên truyền nâng cao ý thức người dân trong sử dụng, bảo vệ nguồn nước, thành phố Hải Phòng còn triển khai các biện pháp như thiết lập, xây dựng cơ

sở dữ liệu, thông tin và ứng dụng mô hình tổng thể để đánh giá và dự báo một cách

hệ thống, đầy đủ diễn biến, số lượng, chất lượng nguồn nước của thành phố, phạm

vi, mức độ và các mối quan hệ giữa các nguồn gây ô nhiễm tới chất lượng nguồn nước các sông cấp nước ngọt, xử lý những vi phạm pháp luật về khai thác và xả thải vào nguồn nước…

“Nghị quyết số 33/2014/NQ-HĐND ngày 10/12/2014 về thông qua quy hoạch tài nguyên nước Thành phố Hải Phòng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” Nội dung chủ yếu nhằm quy hoạch hợp lý việc bảo vệ, phân bổ tài nguyên nước và phòng chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra đảm bảo cấp đủ nước cho cộng đồng dân cư và cho sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội Thành

Trang 11

3

phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng Đồng thời đề xuất các khu vực cần bảo vệ và giải pháp bảo vệ môi trường nước nhằm phát triển bền vững tài nguyên nước trên địa bàn thành phố cũng như các giải pháp nhằm giảm thiểu tác hại do nước gây ra

Tuy nhiên, công tác kiểm soát tài nguyên nước trên địa bàn trong thời gian qua bên cạnh một số kết quả đạt được vẫn còn có những hạn chế chưa khắc phục do việc am hiểu và chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân còn yếu kém Bên cạnh

đó là trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong vấn đề thực thi pháp luật còn nhiều bất cập

Do đó, Hải Phòng cần thể chế hóa pháp luật về tài nguyên nước trên địa bàn thành phố, tập trung triển khai Luật Tài nguyên nước và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành; rà soát, đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả của các quy định pháp luật về tài nguyên nước, từ đó bổ sung, hoàn thiện, đảm bảo tính hoàn chỉnh, thống nhất và đồng bộ; rà soát, cập nhật, chỉnh sửa, bổ sung các thủ tục hành chính về tài nguyên nước

Xuất phát từ các vấn đề nêu trên, tôi đã chọn đề tài: ‘Pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước từ thực tiễn Thành phố Hải Phòng” làm công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Trong nước

Môi trường hiện đang là vấn đề quan tâm của toàn xã hội, vì vậy, vấn đề thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và vấn đề bảo vệ tài nguyên nước nói riêng được Đảng và Nhà nước rất quan tâm Để nghiên cứu vấn đề pháp luật về bảo

vệ môi trường tác giả đã tham khảo các đề tài nghiên cứu, các luận văn, luận án để tìm ra những điểm riêng của pháp luật về bảo vệ môi trường Vấn đề này trong thời gian qua đã có một số luận văn và công trình nghiên cứu sau:

Luận văn Thạc sĩ “Luật Tài nguyên nước Việt Nam thực trạng và giải pháp” của học viên Đỗ Bích Ngọc (2010), Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn tập

Trang 12

4

trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của Luật Tài nguyên nước về khai thác, sử dụng, bảo vệ và quản lý tài nguyên nước; những kết quả đạt được, những nội dung còn hạn chế, bất cập để từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện Luật Tuy nhiên đề tài này mới chỉ tập trung nghiên cứu Luật Tài nguyên nước và chưa tìm hiểu các văn bản dưới luật

Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về tài nguyên nước và thực tiễn - áp dụng tại đồng bằng sông Cửu Long” của Sơn Thị Chanh Thu (2012), Đại học Cần Thơ Tác giả đã đưa ra một cái nhìn chung nhất về sự ô nhiễm nguồn nước do tác động của con người, chỉ ra những hạn chế của pháp luật tài nguyên nước, đồng thời đưa ra những kiến nghị để tài nguyên nước được bảo vệ và phát triển một cách bền vững

Đề tài “Pháp luật tài nguyên nước Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” của Nguyễn Thị Phương (2010) đã tổng quan tài nguyên nước Việt Nam Tiếp cận, nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn những nội dung cơ bản của pháp luật tài nguyên nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đang hoàn chỉnh và từng bước hội nhập với khu vực và thế giới Nêu những kết quả đạt được, những nội dung còn hạn chế, bất cập của pháp luật tài nguyên nước Kiến nghị phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật tài nguyên nước

Luận văn “Tài nguyên nước mặt Thành phố Hải Phòng và công tác kiểm soát

ô nhiễm môi trường nước” của Tô Thị Kiều Miên (2012) đã tổng quan được số liệu

về tài nguyên nước của Hải Phòng cũng như đánh giá được hiện trạng cách thức quản lý và sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn thành phố Ngoài ra, luận văn cũng đưa ra được một số giải pháp góp phần kiểm soát tài nguyên nước nhưng vẫn còn những hạn chế

Ngoài nước

Báo cáo “The Emergence of Polycentric Water Governance in Northern Thailand” của các tác giả Uraivan Tan-Kim-Yong, Pakping Chalad Bruns, and Bryan Randolph Bruns (2002) được trình bày tại hội thảo của Viện Công nghệ Châu

Á, Bangkok, Thái Lan Nội dung về việc quản trị nước tại miền Bắc Thái Lan

Trang 13

5

Trong quá trình quản trị có sự xung đột giữa các tổ chức thủy lợi địa phương, cộng đồng, các cơ quan chính phủ và các tổ chức xã hội khác về lưu lượng nước, chất lượng nước, dòng chảy… Những thay đổi xảy trong quản trị nước ở miền Bắc Thái Lan đã cấu thành sự xuất hiện của mô hình quản trị đa trung tâm đi ngược lại với quản lý tài nguyên nước từ chính phủ Sự xuất hiện của mô hình quản trị nước đa trung tâm ở miền Bắc Thái Lan đã tạo ra sự mới mẻ nhưng có nhiều cơ hội và thách thức [20, tr.1]

Bài báo “Water resource management: A comparative evaluation of Brazil, Rio de Janeiro, the European Union, and Portugal” của các tác giả Ronaldo S.AraújoaMaria da GloriaAlvesaM TeresaCondesso de MelobZélia M.P.ChrispimaM PaulaMendesb Gerson C.Silva Júniorc đăng trên tạp chí Science

of The Total Environment (2015) Bài viết này trình bày tổng quan về quản lý tài nguyên nước ở Brazil, đặc biệt là bang Rio de Janeiro và Liên minh châu Âu, với trọng tâm là nước thành viên Bồ Đào Nha Nghiên cứu xem xét các luật chủ yếu, cơ quan chủ quản và kế hoạch quản lý tài nguyên nước Bài viết mô tả mối quan tâm

và lợi ích của cộng đồng khoa học và các lĩnh vực xã hội khác liên quan đến quản lý tài nguyên nước Ngoài ra, còn đề cập đến những thách thức và cơ hội liên quan đến mục tiêu chính của quản lý tài nguyên nước, đó là đảm bảo nguồn nước có chất lượng cao và bền vững Đồng thời, quan tâm đến quản lý tài nguyên nước tích hợp

và giám sát tài nguyên nước Những lý do chính cho nghiên cứu này là sự khan hiếm ngày càng tăng của nước ngọt trên thế giới, các vấn đề tái diễn trong việc quản

lý tài nguyên và mong muốn đóng góp vào việc cải thiện tình hình hiện tại Cả Brazil và Liên minh châu Âu đang phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến số lượng và chất lượng nước Các vấn đề như khan hiếm nước ngọt, ô nhiễm, nhiễm mặn và lũ lụt Điều này làm cho thực tế của các nước khá gần nhau, bất chấp khoảng cách địa lý Nhìn chung, Brazil, Rio de Janeiro, Liên minh châu Âu và Bồ Đào Nha có các yêu cầu quản lý tài nguyên nước tương tự Nếu các quốc gia này muốn cung cấp chất lượng nước tốt cho hiện tại và tương lai, thì họ cần luật pháp và

Trang 14

Nhận xét chung: Các đề tài về Pháp luật tài nguyên nói chung và Pháp luật tài nguyên nước nói riêng tại Việt Nam ngày càng được quan tâm, nhiều tác giả đã

và đang nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, phần lớn nội dung vẫn còn mang tính chung chung, một số nội dung khác còn hạn chế, bất cập Các kiến nghị, đề xuất phương hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật tài nguyên nước còn mang tính lý thuyết, chưa áp dụng vào thực tế hoặc áp dụng nhưng chưa thực sự hiệu quả

Các nghiên cứu ở nước ngoài cũng đã quan tâm nhiều đến lĩnh vực tài nguyên nước Tại một số quốc gia đã triển khai mạnh các hoạt động quản lý, kiểm soát nhằm bảo vệ, sử dụng tài nguyên nước một cách hiệu quả Đây là những giá trị

mà chúng ta có thể tham khảo và áp dụng

Trang 15

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nêu trên, cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về kiểm soát tài nguyên nước, pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước

- Đánh giá thực trạng pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước (chỉ rõ những ưu điểm và hạn chế, bất cập của pháp luật tài nguyên nước)

- Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước trên địa bàn Thành phố Hải Phòng (chỉ rõ những kết quả đạt được và những hạn chế, khó khăn, vướng mắc nảy sinh)

- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước và nâng cao hiệu quả thi hành trên địa bàn Hải Phòng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của

pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước và hoạt động thi hành pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước tại Thành phố Hải Phòng

Trang 16

8

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, gồm các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng; Luật, Nghị định của Chính phủ; các quy định của bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới thực hiện pháp luật về tài nguyên nước ở nước ta nói chung và tại Hải Phòng nói riêng

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu là trong Chương 1 và Chương 2 để phân tích các cơ sở lý luận, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về bảo vệ tài nguyên nước

- Phương pháp thống kê: Là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, đánh giá về kết quả thi hành pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước tại Thành phố Hải Phòng

- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực ngành Tài nguyên nước trên địa bàn Thành phố Hải Phòng

6 Ý nghĩa của lý luận và thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm soát tài nguyên nước bằng biện pháp hành chính và thực trạng thực thi pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước trên thực tế Luận văn có những đóng góp về mặt lý luận và mặt thực tiễn như sau:

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và nghiên cứu thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn về thực hiện pháp luật kiểm soát tài nguyên nước trên địa bàn cả nước nói chung và Thành phố Hải Phòng nói riêng

Trang 17

9

Hệ thống các vấn đề kiểm soát tài nguyên nước, đánh giá những mặt tích cực

và hạn chế của hệ thống pháp luật kiểm soát tài nguyên nước của Việt Nam hiện hành, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề liên quan, những giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước tại Việt Nam nói chung và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước tại Thành phố Hải Phòng nói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Cung cấp thông tin thực tiễn và đề xuất giải pháp tham khảo đối với cơ quan quản lý về thực hiện pháp luật kiểm soát tài nguyên nước từ thực tiễn thành phố Hải Phòng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương với kết cấu như sau:

Chương 1: Lý luận về kiểm soát tài nguyên nước và pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước

Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước ở Việt Nam

và thực tiễn thi hành tại Thành phố Hải Phòng

Chương 3: Dự báo, định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước tại Việt Nam và nâng cao hiệu quả thi hành trên địa bàn Thành phố Hải Phòng

Trang 18

10

NGUYÊN NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT

TÀI NGUYÊN NƯỚC 1.1 Lý luận về kiểm soát tài nguyên nước

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và giá trị của tài nguyên nước

1.1.1.1 Khái niệm tài nguyên nước

Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến và sử dụng [8, tr.1]

Theo “Thuật ngữ thuỷ văn và môi trường nước”, tài nguyên nước là lượng nước trên một vùng đã cho hoặc lưu vực, biểu diễn ở dạng nước có thể khai thác (nước mặt và nước dưới đất)

Nước là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển môi trường sống Nước

là một loại tài nguyên thiên nhiên quý giá và có hạn, là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế của con người Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải, chăn nuôi, thủy sản … Bởi vậy, tài nguyên nước có giá trị kinh tế và được coi là một loại hàng hóa [8, tr.7]

Nước là dạng tài nguyên đặc biệt Nó vừa là thành phần thiết yếu của sự sống

và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội, vừa có thể mang tai họa đến cho con người Nước có khả năng tự tái tạo về lượng, về chất và về năng lượng

J.A.Jonnes chia tài nguyên nước thành ba loại: Tài nguyên tiềm năng tương lai, là toàn bộ lượng nước có trên Trái Đất mà trong điều kiện hiện nay loài người hầu như chưa có khả năng khai thác, như nước ngầm nằm rất sâu, nước trong băng tuyết hai cực, nước biển và đại dương… Tài nguyên tiềm năng thực tại, là lượng nước có trong lãnh thổ, nhưng ở trạng thái tự nhiên con người khó khai thác và có nguy cơ bị nó gây hại, hoặc xảy ra rủi ro, ví dụ như nước lũ, nước ngầm nằm sâu… Tài nguyên hiện thực của một vùng, là khái niệm trùng với quan điểm truyền thống

Trang 19

có thể khai thác sử dụng được, xét cả về mặt lượng và chất, cho sinh hoạt, sản xuất,

trong hiện tại và tương lai

1.1.1.2 Đặc điểm tài nguyên nước

So với các nguồn tài nguyên khác, tài nguyên nước có một số đặc điểm như sau:

Một là, tính tuần hoàn của tài nguyên nước

Tuần hoàn nước là quá trình nước tự vận động khép kín, từ bốc hơi do bị đốt nóng bởi bức xạ Mặt Trời, chuyển dịch theo dòng khí do chênh lệch áp suất, mật

độ, đến ngưng tụ sinh mưa rơi xuống mặt đất, tạo dòng chảy trên mặt hoặc trong đất, đổ vào sông và chảy đến các thuỷ vực nơi nó đã bốc hơi dưới tác động của trọng lực

Tuần hoàn nước có vai trò to lớn trong việc phân phối và tái tạo tài nguyên nước, điều tiết nhiệt năng theo thời gian và không gian, tạo khí hậu thời tiết và làm sạch môi trường Tuần hoàn nước là một chu trình nhạy cảm với biến động, chỉ cần lượng bốc hơi đại dương tăng 2% có thể khiến lượng mưa lục địa tăng 10% Các hiện tượng khí hậu thời tiết bị chi phối bởi hoàn lưu khí quyển rất nhạy cảm với những biến động thành phần và tính chất của môi trường không khí

Hai là, tính phân bố theo không gian

Tài nguyên nước phân bố không đồng đều theo không gian Việc tính chính xác tỷ phần nước trong các thuỷ vực khác nhau còn gặp một số khó khăn Theo J.A Jonnes, 97,41% thể tích nước Trái Đất nằm trong biển và đại dương, 1,98% trong

Trang 20

có tính tương tự địa lý Hai lưu vực có kích thước gần như nhau, phân bố trong cùng một vùng khí hậu, có đặc điểm bề mặt lưu vực tương tự nhau, tức có cùng điều kiện hình thành dòng chảy, gọi là lưu vực tương tự, thì sẽ có dòng chảy sông ngòi gần như nhau

Bốn là, tính lưu vực

Một số yếu tố khí hậu có tính phân hoá theo lưu vực (ví dụ như mưa ); Kết hợp với các yếu tố bề mặt lưu vực, chúng tạo ra tác động tổng hợp làm cho lượng và phân phối dòng chảy mang tính đặc thù của lưu vực rõ nét và có tính quy luật

Tính lưu vực của các hiện tượng và quá trình thuỷ văn làm cho nó có tính đa quốc gia, phi biên giới hành chính Không một quyền lực nhân tạo nào có thể đóng cửa biên giới để ngăn cản những hệ quả xấu do các quốc gia, dân tộc khác gây ra ở thượng lưu đi sang địa giới hành chính của mình Do đó quản lý phát triển theo lưu vực đang trở thành một hướng đi cần thiết và đúng đắn để khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên nước và phát triển bền vững toàn khu vực, toàn cầu [13, tr.22-23]

1.1.1.3 Phân loại tài nguyên nước

Tài nguyên nước được sử dụng vào các mục đích khác nhau Căn cứ vào đặc tính hóa lý phân chia thành nước ngọt và nước mặn, căn cứ vào cấu tạo tự nhiên phân chia thành nước mặt và nước ngầm:

Trang 21

13

Nước ngọt

Nước ngọt hay nước nhạt là loại nước chứa một lượng tối thiểu các muối hòa tan, đặc biệt là clorua natri (thường có nồng độ các loại muối hay còn gọi là độ mặn trong khoảng 0,01 - 0,5 ppt hoặc tới 1 ppt), vì thế nó được phân biệt tương đối rõ ràng với nước lợ hay các loại nước mặn và nước muối Tất cả các nguồn nước ngọt

có xuất phát điểm là từ các cơn mưa được tạo ra do sự ngưng tụ tới hạn của hơi nước trong không khí, rơi xuống ao, hồ, sông của mặt đất cũng như trong các nguồn nước ngầm hoặc do sự tan chảy của băng hay tuyết Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy nhiên việc cung cấp nước ngọt và sạch trên thế giới đang từng bước giảm đi Các hệ sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh học hiện đang suy giảm nhanh hơn các hệ sinh thái biển và đất liền

Nước mặn

Nước mặn là thuật ngữ chung để chỉ nước chứa một hàm lượng đáng kể các muối hòa tan (chủ yếu là NaCl) Hàm lượng này thông thường được biểu diễn dưới dạng phần nghìn (ppt) hay phần triệu (ppm) hoặc phần trăm (%) hay g/l Các mức hàm lượng muối được USGS Hoa Kỳ sử dụng để phân loại nước mặn thành ba thể loại Nước hơi mặn chứa muối trong phạm vi 1.000 tới 3.000 ppm (1 tới 3 ppt) Nước mặn vừa phải chứa khoảng 3.000 tới 10.000 ppm (3 tới 10 ppt) Nước mặn nhiều chứa khoảng 10.000 tới 35.000 ppm (10 tới 35 ppt) muối Trên Trái Đất, nước biển trong các đại dương là nguồn nước mặn phổ biến nhất và cũng là nguồn nước lớn nhất Độ mặn trung bình của đại dương là khoảng 35.000 ppm hay 35 ppt hoặc 3,5%, tương đương với 35 g/l

Nước mặt

Có hai loại nước mặt là nước ngọt hiện diện trong sông, ao, hồ trên các lục địa và nước mặn hiện diện trong biển, các đại dương mênh mông, trong các hồ nước mặn trên các lục địa

Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy

Trang 22

14

vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất Lượng giáng thủy này được thu hồi bởi các lưu vực, tổng lượng nước trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố khác Các yếu tố này như khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nước và các hồ chứa nhân tạo, độ thấm của đất bên dưới các thể chứa nước này, các đặc điểm của dòng chảy mặt trong lưu vực, thời lượng giáng thủy và tốc độ bốc hơi Sự bốc hơi nước trong đất, ao, hồ, sông, biển; sự thoát hơi nước ở thực vật

và động vật , hơi nước vào trong không khí sau đó bị ngưng tụ lại trở về thể lỏng rơi xuống mặt đất hình thành mưa, nước mưa chảy tràn trên mặt đất từ nơi cao đến nơi thấp Trong quá trình chảy tràn, nước hòa tan các muối khoáng trong các nham thạch nơi nó chảy qua, một số vật liệu nhẹ không hòa tan được cuốn theo dòng chảy

và bồi lắng ở nơi khác thấp hơn Bên cạnh đó, sự tích tụ muối khoáng trong nước biển sau một thời gian dài của quá trình lịch sử của quả đất dần dần làm cho nước biển càng trở nên mặn

Nước ngầm

Nước ngầm hay còn gọi là nước dưới đất, là nước ngọt được chứa trong các

lỗ rỗng của đất hoặc đá Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầng ngậm nước bên dưới mực nước ngầm Đôi khi người ta còn phân biệt nước ngầm nông, nước ngầm sâu và nước chôn vùi "Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới

bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người" [6, tr.7-8]

1.1.1.4 Giá trị của tài nguyên nước

Nước có giá trị to lớn trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, thiếu nước thì không có sự sống trên trái đất

Đối với kinh tế:

Phần lớn các hoạt động kinh tế đều phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên nước

vì nước là yếu tố đầu vào cho hầu hết các ngành sản xuất:

Trang 23

15

Trong công nghiệp: nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn Mỗi ngành công nghiệp, mỗi loại hình sản xuất yêu cầu một lượng nước khác nhau Tiêu biểu là các ngành khai khoáng, sản xuất nguyên liệu công nghiệp như than, thép, giấy…đều cần một trữ lượng nước rất lớn Nếu thiếu nước thì các hoạt động sản xuất công nghiệp sẽ ngừng trệ

Trong nông nghiệp: tất cả các cây trồng, vật nuôi đều cần nước để tồn tại và phát triển Theo FAO, nước là một trong những yếu tố quyết định hàng đầu cho nhu cầu thiết yếu, đồng thời đóng vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, tác động đến tốc độ tăng sản lượng của lương thực Trong du lịch: Du lịch đường sông, du lịch biển đang ngày càng phát triển Đặc biệt ở một nước nhiệt đới có nhiều sông hồ và đường bờ biển dài hàng ngàn kilomet như ở nước ta

Trong giao thông: Là một trong những con đường tiềm năng và chiến lược, giao thông đường thủy mà cụ thể là đường sông và đường biển có ý nghĩa lớn Cụ thể Hải Phòng là cảng biển lớn thứ 2 ở Việt Nam, hiện đón được nhiều tàu siêu trường, siêu trọng trên hải trình thế giới

Đối với xã hội:

Đời sống sinh hoạt: Nước là một loại thức uống không thể thiếu được đối với cơ thể chúng ta Nước chiếm 70% trọng lượng cơ thể và nó phân phối khắp nơi trong cơ thể Ngoài ra, nước giúp cho mọi sinh hoạt của con người như tắm, giặt, rửa, nấu, nướng… đảm bảo được chất lượng cuộc sống của mỗi con người và sức khỏe cho cộng đồng

Hợp tác quốc tế: Việt Nam chỉ có hơn 30% nước tự sản sinh trong nội địa, còn lại hơn 60% được sản sinh từ nước ngoài chảy vào với 02 dòng chính là sông Hồng và sông Cửu Long, vì vậy cần có sự chủ động trong hợp tác với nước láng giềng trong việc giữ gìn tài nguyên nước nói riêng và hài hòa lợi ích kinh tế, chính trị nói chung, tạo sự phát triển bền vững cho các nước vùng hạ nguồn

Trang 24

16

Đối với môi trường:

Nguồn nước, môi trường và khí hậu luôn có mối quan hệ khăng khít Khi khí hậu biến đổi theo chiều hướng xấu sẽ dẫn đến sự đi xuống trong chất lượng của các yếu tố khác, đặc biệt là nguồn nước Khi nhiệt độ trái đất tăng gây ra những tác động đáng kể đối với nguồn cung cấp nước sạch, đồng thời hơi nước bốc hơi nhiều hơn sẽ dẫn đến tình trạng hạn hán Ngoài ra, nhiệt độ ngày càng tăng làm tan băng ở mức chưa từng có, gây hiện tượng nước biển dâng, gây ngập lụt ở nhiều nơi, đặt biệt còn làm biến mất các đảo, các vùng đất thấp

Tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước vẫn tiếp tục gia tăng trong khi cơ chế kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, các hoạt động chặt phá rừng chưa hiệu quả cộng với tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước đang ngày càng rõ rệt hơn Thiên tai bão, lũ, lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, ngập úng, nước biển dâng, đang ngày càng gia tăng cả về mức độ nghiêm trọng và phạm vi ảnh hưởng Nguồn nước hiện có trên trái đất ngày càng bị đe dọa bởi mức độ ô nhiễm

và khan hiếm nước sạch Việc khai thác tài nguyên nước quá mức hay việc xả thải chưa qua xử lý gây ô nhiễm lớn đến môi trường, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và sức khỏe con người

Có thể thấy tài nguyên nước là nhân tố quan trọng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường Cụ thể sự tăng trưởng kinh tế và yêu cầu chất lượng cuộc sống ngày càng cao sẽ cần nhiều nước hơn cho các hoạt động sản xuất và dân sinh Các hoạt động này phát sinh ra nước thải ảnh hưởng đến môi trường… Đây là thách thức lớn cho vấn đề kiểm soát tài nguyên nước Vì vậy, việc kiểm soát tài nguyên nước là quan trọng, nếu kiểm soát không tốt sẽ ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt hàng ngày, đến hoạt động sản xuất, vấn đề môi trường cũng như nhiều lĩnh vực khác

Trang 25

17

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và các biện pháp kiểm soát tài nguyên nước

1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của kiểm soát tài nguyên nước

Định nghĩa kiểm soát tài nguyên nước là các hoạt động giám sát tài nguyên nước thông qua các biện pháp hoặc chính sách nhằm đảm bảo rằng các hoạt động

đó được thực hiện theo đúng như quy định đã đặt ra

Cũng giống như kiểm soát các thành phần môi trường khác, kiểm soát tài nguyên nước được hiểu một cách chung nhất là tổng hợp các biện pháp nhằm bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp trong việc khai thác, sử dụng, quản lý và bảo vệ các nguồn tài nguyên nước, không để xảy ra tình trạng ô nhiễm, suy thoái tài nguyên nước Tuy nhiên, xuất phát từ một số đặc điểm riêng có của tài nguyên nước, như: tính tuần hoàn, tính phân bổ theo không gian, tính địa đới, tính lưu vực… (đã nêu ở trên), nên kiểm soát tài nguyên nước cũng có một số điểm khác với kiểm soát các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, như sau:

Thứ nhất, để kiểm soát tài nguyên nước có hiệu quả cần phải kiểm soát từ

đầu nguồn Lý do là vì đầu nguồn là nơi cung cấp nước sạch cho vùng hạ du, điều tiết được lượng nước vào mùa mưa lũ và duy trì dòng chảy tối thiểu vào mùa khô

Thứ hai, để làm tốt công tác kiểm soát tài nguyên nước cần có cách tiếp cận

quản lý tài nguyên nước theo lưu vực Lý do là vì lưu vực là nơi thu thập nước trong khu vực và chảy về sông Vì vậy, chất lượng và lưu lượng nước của sông phụ thuộc rất lớn từ lưu vực sông, một lưu vực sông sạch, khỏe sẽ cung cấp nguồn nước tốt

Thứ ba, để kiểm soát có hiệu quả tài nguyên nước, cần quản lý tổng hợp tài

nguyên nước Lý do là vì tài nguyên nước là đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường Đồng thời, còn liên quan đến các vấn đề kinh tế - xã hội, an ninh quốc gia, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước Vì vậy, đây không chỉ là việc lập quy hoạch, kế hoạch mà đây là một quá trình, trong

đó cần nỗ lực quản lý theo hướng tổng hợp, cần giải quyết tốt các mối quan hệ tương tác giữa con người và tự nhiên; giữa nước mặt và nước dưới đất; giữa khối lượng và chất lượng; giữa thượng lưu và hạ lưu; giữa nước ngọt và các vùng ven

Trang 26

18

biển; giữa trong nước và ngoài nước; giữa các đối tượng sử dụng nước

Thứ tư, để kiểm soát tài nguyên nước có hiệu quả cần phải gắn liền với việc

thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm về việc khai thác sử dụng tài nguyên nước cũng như việc xả thải gây ô nhiễm nguồn nước Lý do là vì việc vi phạm các hoạt động ảnh hưởng đến môi trường nước ngày càng tăng Các đơn vị, tổ chức và cá nhân không nhận thức được hoặc cố tình lờ đi trách nhiệm BVMT Vì vậy chỉ có kiểm soát chặt chẽ, áp dụng các chế tài mạnh thì mới ngăn chặn, giảm thiểu được các vấn đề khai thác quá mức hoặc xả thải nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước

Thứ năm, để đảm bảo công tác kiểm soát tài nguyên nước cần phải có chính

sách chia sẽ, hợp tác nguồn nước liên quốc gia Lý do là vì hơn 2/3 lượng nước trên các hệ thống sông của Việt Nam được hình thành từ ngoài lãnh thổ Các nước đầu nguồn sử dụng nguồn nước quá mức nên nguồn nước về đến nước ta giảm dần và phụ thuộc vào điều tiết của các quốc gia phía thượng nguồn Đồng thời, làm giảm lượng phù sa, tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp cũng như sự đa dạng sinh học của lưu vực sông, đặc biệt phía hạ nguồn

1.1.2.2 Các biện pháp kiểm soát tài nguyên nước

Các biện pháp thực hiện để kiểm soát hiệu quả các nguồn tài nguyên nước gồm:

Biện pháp kinh tế: sẽ tác động trực tiếp vào chủ thể, vì vậy các cá nhân, tổ

chức sẽ vì lợi ích của mình mà điều chỉnh hành vi có lợi cho môi trường

- Thu thuế và các loại phí đối với việc khai thác nước mặt, nước ngầm và sử dụng các lọai tài nguyên nước khác; cấp phép và thu phí đối với các hoạt động xả thải vào nguồn nước

- Thuế tài nguyên là một khoản thu ngân sách nhà nước đối với các doanh nghiệp khai thác, sử dụng tài nguyên nước

- Phí môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường và giá sản phẩm theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” Đối với tài nguyên nước thì nhằm mục đích giảm lượng nước thải vào môi trường

Trang 27

19

- Phạt tiền, bồi thường theo quy định của pháp luật đối với các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước không đúng quy định hoặc việc xả thải không đảm bảo đạt tiêu chuẩn trước khi thải môi trường Ưu đãi các loại thuế, phí đối với các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có các hoạt động bảo vệ môi trường nước như tái sử dụng hoặc tuần hoàn nước trong quá trình sản xuất

- Cấp giấy phép môi trường nước, cụ thể là giấy phép xả thải, giấy phép khai thác nước mặt, nước ngầm

- Trợ cấp quá trình sản xuất: thúc đẩy việc áp dụng các công nghệ sản xuất ít gây ô nhiễm môi trường nước, tiết kiệm nước, tái chế, tái sử dụng nước

- Đền bù thiệt hại: bắt buộc bồi thường cho việc gây ô nhiễm môi trường nước đối với các cá nhân hoặc tổ chức, doanh nghiệp

Biện pháp kỹ thuật:

- Xây dựng quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông liên tỉnh và quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh, thành phố; rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch chuyên ngành có khai thác, sử dụng tài nguyên nước Chú trọng xây dựng các giải pháp, biện pháp phòng, chống

ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; các biện pháp ứng phó và khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước

- Điều tra, tìm kiếm, đánh giá tài nguyên nước dưới đất, cần tiếp tục triển khai công tác điều tra, đánh giá tổng thể tài nguyên nước mặt, nước dưới đất và lập bản đồ tài nguyên nước để có dữ liệu phục vụ lập quy hoạch tài nguyên nước miền, vùng và các tỉnh Đẩy mạnh công tác điều tra tìm kiếm nguồn nước dưới đất và cấp nước sinh hoạt ở hải đảo và các vùng thường xuyên khan hiếm nước, hạn hán

- Xây dựng, hoàn thiện mạng lưới quan trắc, cảnh báo và dự báo tài nguyên nước Ứng dụng các công nghệ hiện đại trong quan trắc môi trường, cảnh

Trang 28

20

báo và phát hiện sự cố ô nhiễm như GIS, SCADA… khai thác, sử dụng dữ liệu các trạm quan trắc tự động (AMS)

- Xây dựng Hệ thống tích hợp, quản lý, cung cấp chia sẻ thông tin dữ liệu theo

mô hình dữ liệu lớn (big data) nhằm chuẩn hóa, quản lý thống nhất; nâng cao hiệu quả công tác dự báo, cảnh báo phục vụ mục tiêu chống hạn, xâm nhập mặn và ứng phó với biến đổi khí hậu

- Áp dụng các mô hình và phần mềm quản lý, kiểm soát nguồn nước: Mô hình tính toán chất lượng nước lan truyền ô nhiễm; mô hình tối ưu hệ thống nguồn nước; mô hình tính toán thủy lực…

- Bảo vệ phát triển nguồn nước: nghiên cứu đề xuất các giải pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước; tăng cường công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên nước trong điều kiện khô hạn, xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu

- Xây dựng hệ thống giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước bằng công nghệ tự động, trực tuyến

- Xây dựng các chương trình, dự án tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý môi trường một cách dài hạn, bài bản, có hệ thống, kết hợp với trang

bị các phương tiện và thiết bị phù hợp phục vụ quan trắc ô nhiễm nước thải công nghiệp

Biện pháp pháp lý:

- Thực thi các luật, nghị định, thông tư, quy định pháp luật được Chính phủ và các bộ, sở ban ngành ban hành và áp dụng trong việc kiểm soát tài nguyên nước, như các thủ tục cấp phép và cho phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước; Các quy định đối với đơn vị, tổ chức về trách nhiệm kiểm tra, giám sát các hoạt động xả thải vào môi trường nước Quy định các nguyên tắc quốc tế trong vấn đề sử dụng tài nguyên nước…

- Xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tài nguyên nước, trọng tâm là

rà soát, điểu chỉnh, bổ sung các quy định về cấp phép khai thác, sử dụng

Trang 29

21

nước, xả nước thải vảo nguồn nước; đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước; xử lý, trám lấp giếng không sử dụng; bảo vệ nước dưới đất; các định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá… để đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình mới; xây dựng các quy định, hướng dẫn xác định và công bố dòng chảy tối thiểu ở hạ lưu hồ chứa để quản lý, giám sát chặt chẽ hơn các hoạt động vận hành hồ chứa

- Triển khai các quy định của pháp luật về tài nguyên nước, trọng tâm là các quy định mới như: ưu đãi đối với việc sử dụng nước tiết kiệm hiệu quả, lập

và quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước;

- Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về quản lý ô nhiễm nước thải công nghiệp, khắc phục những chồng chéo Xây dựng quy trình cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan khác như Thanh tra, Chi cục BVMT, các chế tài xử lý vi phạm

Các biện pháp kinh tế, kỹ thuật để kiểm soát môi trường nước nói trên có tác động nhưng chắc chắn không phát huy hết tác dụng nếu không có sự trợ giúp của pháp luật Tài nguyên nước bị tác động chủ yếu là do các hoạt động trực tiếp và gián tiếp của con người Vì vậy, muốn kiểm soát được vấn đề này thì trước hết là tác động đến hành vi của con người Pháp luật thông qua các hệ thống quy phạm để điều chỉnh hành vi xử sự của con người và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước nên sẽ có tác dụng rất lớn Do đó, trong các biện pháp nêu trên thì biện pháp pháp lý có vai trò quan trọng nhất trong việc kiểm soát tài nguyên nước

1.2 Lý luận pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước

1.2.1 Khái niệm pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước

Pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ kiểm soát tài nguyên nước Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh cách xử sự của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi trường Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi khai thác và sử dụng các yếu tố của môi trường; quy định các chế tài hình sự, kinh tế, hành chính để buộc các

Trang 30

22

cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong việc khai thác và sử dụng các yếu tố của môi trường; quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các tổ chức kiểm soát tài nguyên nước Đồng thời pháp luật còn quyết định các tiêu chuẩn kiểm soát tài nguyên nước, là cơ sở pháp lý cho việc xác định vi phạm và truy cứu trách nhiệm đối với những hành vi vi phạm luật về kiểm soát tài nguyên nước Ngoài ra, pháp luật còn đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo

sự ổn định các mối quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình kiểm soát tài nguyên nước, qua việc giải quyết các tranh chấp, xung đột liên quan đến tài nguyên nước Tranh chấp về tài nguyên nước có thể xảy ra giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với các doanh nghiệp hoặc các cơ quan nhà nước liên quan tới việc khai thác,

sử dụng các yếu tố trong tài nguyên nước, rất cần có sự điều chỉnh của pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước

Nhà nước ta đã xây dựng và không ngừng hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước, có phạm vi và đối tượng điều chỉnh đa dạng phức tạp bao gồm các quan hệ phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đến một hoặc vài yếu tố của tài nguyên nước Điều này có nghĩa là không phải bất cứ sự tác động nào của các chủ thể vào các yếu tố trong tài nguyên nước cũng làm phát sinh quan hệ pháp luật kiểm soát tài nguyên nước Các vấn đề pháp luật kiểm soát tài nguyên nước chỉ nảy sinh khi nào có sự tác động đó gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hại đến tài nguyên nước

Các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước có thể kể đến như: quan hệ giữa một bên là các cá nhân, tổ chức với một bên là Nhà nước phát sinh từ hoạt động quản lý nhà nước về kiểm soát tài nguyên nước Nhóm quan hệ này có những đặc trưng của quan hệ pháp luật hành chính, nhất là quan hệ phát sinh từ việc xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực kiểm soát tài nguyên nước, lĩnh vực khiếu nại, tố cáo các hành vi của các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật kiểm soát tài nguyên nước

Trang 31

23

Từ những phân tích và luận giải trên có thể rút ra khái niệm pháp luật về

kiểm soát tài nguyên nước như sau: Pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước là hệ

thống các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc khai thác, sử dụng, bảo vệ, giữ gìn, quản lý kiểm soát tài nguyên nước (tổ chức quản lý hoạt động kiểm soát tài nguyên nước) nhằm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường nước trong lành, gắn kết hài hoà với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến

bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước, góp phần bảo vệ tài nguyên nước khu vực và toàn cầu

1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật kiểm soát tài nguyên nước

Xuất phát từ nhận thức chung "nguyên tắc của pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo mà trên cơ sở đó pháp luật được xây dựng và thực hiện“, pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước được xây dựng và thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, việc kiểm soát tài nguyên nước phải bảo đảm tính thống nhất theo

lưu vực sông, theo nguồn nước, kết hợp với quản lý theo địa bàn hành chính

Thứ hai, kiểm soát tài nguyên nước đi đôi với việc khai thác, sử dụng tài

nguyên nước phải tiết kiệm, an toàn, có hiệu quả; bảo đảm sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu, công bằng, hợp lý, hài hòa lợi ích, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các tổ chức, cá nhân Đồng thời, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra phải tuân theo chiến lược, quy hoạch tài nguyên nước đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; gắn với bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh và các tài nguyên thiên nhiên khác; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội

Thứ ba, phải xem xét việc kiểm soát tài nguyên nước là trách nhiệm của mọi

cơ quan, tổ chức, cá nhân và phải lấy phòng ngừa là chính, gắn với việc bảo vệ, phát triển rừng, khả năng tái tạo tài nguyên nước, kết hợp với bảo vệ chất lượng nước và

hệ sinh thái thủy sinh, khắc phục, hạn chế ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước

Trang 32

24

Thứ tư, kiểm soát tài nguyên nước gắn liền với việc thanh tra, kiểm tra, xử lý

các vi phạm về việc khai thác sử dụng tài nguyên nước cũng như việc xả thải gây ô nhiễm nguồn nước

Thứ năm, kiểm soát tài nguyên nước bằng cách tăng cường phòng, chống và

khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra phải có kế hoạch và biện pháp chủ động; bảo đảm kết hợp hài hòa lợi ích của cả nước, các vùng, ngành; kết hợp giữa khoa học, công nghệ hiện đại với kinh nghiệm truyền thống của nhân dân và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội

Thứ sáu, sự tham gia của cộng đồng trong công tác kiểm soát ô nhiễm tài

nguyên nước đóng vài trò quan trọng Thực tế, cộng đồng có vai trò giám sát trên quy mô rộng và rất kịp thời

1.2.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước

Pháp luật kiểm soát tài nguyên nước là chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường Kiểm soát tài nguyên nước hiệu quả sẽ góp phần bảo vệ môi trường hướng tới sự phát triển bền vững Nội dung cơ bản của pháp luật

về kiểm soát tài nguyên nước gồm những nhóm quy định sau:

Thứ nhất, nhóm quy định về quy hoạch tài nguyên nước, gồm các quy định

cụ thể về: chiến lược tài nguyên nước; các loại quy hoạch tài nguyên nước; nguyên tắc, căn cứ lập quy hoạch tài nguyên nước; nội dung của quy hoạch tài nguyên nước chung của cả nước, quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông liên tỉnh và quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; nhiệm vụ quy hoạch tài nguyên nước; lập, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch tài nguyên nước; công bố, tổ chức thực hiện quy hoạch tài nguyên nước và quy định điều kiện của đơn vị tư vấn lập quy hoạch tài nguyên nước

Thứ hai, nhóm quy định về điều tra cơ bản tài nguyên nước, gồm các quy

định cụ thể về: trách nhiệm của Nhà nước trong điều tra cơ bản tài nguyên nước; quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước; các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước và tổ chức thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên nước

Trang 33

25

Thứ ba, nhóm quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, gồm các quy

định cụ thể về: các biện pháp sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; hạn chế thất thoát nước trong các hệ thống cấp nước; ưu đãi đối với hoạt động sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; phát triển khoa học, công nghệ sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước; đăng ký, cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước; khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sinh hoạt và khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sản xuất nông nghiệp, thủy điện, sản xuất muối và nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp, khai thác, chế biến khoáng sản, giao thông thủy và các mục đích khác; thăm dò, khai thác nước dưới đất và quy định về hồ chứa, khai thác, sử dụng nước hồ chứa; về điều hòa, phân phối tài nguyên nước; chuyển nước lưu vực sông; bổ sung nhân tạo nước dưới đất và gây mưa nhân tạo

Thứ tư, nhóm quy định về bảo vệ tài nguyên nước, gồm các quy định cụ thể

về: trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước; phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước và phục hồi nguồn nước bị ô nhiễm, cạn kiệt; quan trắc, giám sát tài nguyên nước; bảo vệ và phát triển nguồn sinh thủy; bảo đảm sự lưu thông của dòng chảy; hành lang bảo vệ nguồn nước; bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt; bảo vệ chất lượng nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản và các hoạt động khác; phòng, chống ô nhiễm nước biển; bảo vệ nước dưới đất; hành nghề khoan nước dưới đất; xả nước thải vào nguồn nước; quyền và nghĩa vụ

của tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước

Thứ năm, nhóm quy định về trách nhiệm quản lý tài nguyên nước, gồm các

quy định cụ thể về: trách nhiệm quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ; của Ủy ban nhân dân các cấp; điều phối, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông, như: trách nhiệm ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên nước; về thẩm quyền cấp phép khai thác, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước; về thanh

Trang 34

1.2.4 Những yếu tố tác động đến pháp luật kiểm soát tài nguyên nước

Pháp luật kiểm soát tài nguyên nước thường chịu tác động bởi các yếu tố sau:

Thứ nhất, đường lối chính sách Đường lối chính sách của Đảng định ra mục

tiêu và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong một giai đoạn nhất định, định ra những phương pháp cách thức cơ bản để có thể thực hiện những mục tiêu và phương hướng đó Những mục tiêu, phương hướng, phương pháp và cách thức đó sẽ được nhà nước thể chế hóa thành pháp luật và tổ chức thực hiện trong thực tế Vì thế đường lối chính sách của Đảng là một trong những yếu tố có sức ảnh hưởng lớn nhất đến nội dung của pháp luật nói chung, pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước nói riêng Nội dung các quy định trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật, từ hiến pháp, luật cho đến các văn bản dưới luật đều phải phù hợp, không được trái với đường lối, chính sách của Đảng

Thứ hai, thực trạng tài nguyên nước Pháp luật được ban hành nhằm điều

chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng nhất định mà nhà nước đề ra Mục đích điều chỉnh pháp luật ở mỗi lĩnh vực không có gì khác ngoài mục điều đảm bảo an sinh xã hội, trật tự xã hội Vì vậy, pháp luật tài nguyên nước khi được các nhà làm luật ban hành nhất thiết phải dựa trên cơ sở thực trạng tài nguyên nước để có những định hướng điều chỉnh phù hợp

Thứ ba, dư luận xã hội Sự bất bình của dư luận xã hội đối với những hành vi

vi phạm pháp luật có tác động mạnh mẽ đến việc uốn nắn, điều chỉnh ý thức pháp luật của các cá nhân Do đó, cần xây dựng và khuyến khích những hành vi đấu tranh tích cực đối với những biểu hiện coi thường, bất chấp pháp luật Dư luận xã hội chính

Trang 35

27

là một loại chế tài mạnh mẽ trong việc đảm bảo trật tự, kỷ cương và văn hoá pháp luật trong các lĩnh vực hoạt động xã hội, trong đó có lĩnh vực về tài nguyên nước

Thái độ quan tâm, phẫn nộ, lãnh đạm, thờ ơ hay trung lập đối với các hành vi

vi phạm pháp luật đều là những biểu hiện đa dạng, nhạy cảm về tâm lý pháp luật của các cá nhân Các trạng thái tâm lý pháp luật này thường xuất hiện ở các cá nhân trong quá trình tác động qua lại giữa các quy phạm pháp luật và thực tiễn thực hiện Tâm lý pháp luật của cá nhân và của các nhóm đối tượng nhất định cũng thường xuyên thay đổi dưới tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan đó Hành vi pháp luật vừa là: “Hệ quả, vừa là thước đo đối với ý thức pháp luật, thể hiện ý thức pháp luật, trình độ văn hoá pháp luật của các chủ thể một cách cụ thể”

1.2.5 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước

Luật Tài nguyên nước xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1998, đây là văn bản pháp luật đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên nước ở nước ta Nhiều quy định của Luật Tài nguyên nước 1998 đã được triển khai trên thực tế, đem lại những kết quả tích cực, đặc biệt là đã khai thác, sử dụng tốt hơn các nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Công tác quản lý nhà nước

về kiểm soát tài nguyên nước đã có nhiều tiến bộ và từng bước đi vào nề nếp; hệ thống chính sách, pháp luật từng bước được hoàn thiện, ý thức của người dân trong khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước đã được nâng cao Một số văn bản pháp luật liên quan đến kiểm soát tài nguyên nước cũng được ban hành như: Nghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30/12/1999 của Chính phủ quy định về việc thi hành Luật tài nguyên nước; Nghị định số 67/2003/ NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải; Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ về cấp phép, thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước,

xả thải vào nguồn nước; Nghị định số 120/2008/NĐ-CP ngày 1/12/2008 của Chính phủ về quản lý lưu vực sông; Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm

2020 với mục tiêu là bảo vệ, khai thác hiệu quả, phát triển bền vững tài nguyên

Trang 36

28

nước quốc gia trên cơ sở quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên nước nhằm đáp ứng nhu cầu nước cho dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; chủ động phòng, chống, hạn chế đến mức thấp nhất tác hại do nước gây ra; từng bước hình thành ngành kinh tế nước nhiều thành phần phù hợp với nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nâng cao hiệu quả hợp tác, bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các nước có chung nguồn nước với Việt Nam

Năm 2012, Quốc hội đã thông qua Luật tài nguyên nước 2012 để quản lý và

sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên nước và góp phần làm giảm thiểu thách thức

do tài nguyên nước gây ra Đây là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong các văn bản quy định về kiểm soát tài nguyên nước Ngoài ra còn có các Luật liên quan đến tài nguyên nước như Luật bảo vệ môi trường 2014; Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến môi trường nước tính đến đầu năm 2019 đã có hơn 100 văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến BVMT nước còn hiệu lực, tạo hành lang pháp lý quan trọng nhằm thực hiện Luật tài nguyên nước có hiệu quả: Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 6/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải; Nghị định số 54/2015/NĐ-CP ngày 8/6/2015 của Chính phủ về ưu đãi đối với hoạt động sử dụng nước tiết kiệm; Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường; Nghị định số 73/2017/NĐ-CP ngày 14/6/2017 của Chính phủ về thu thập, quản lý, khai thác và

sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường; Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; Nghị định số 167/2018/NĐ-CP ngày 26/12/2018 của Chính phủ quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất; Nghị định số 66/2019/NĐ-CP ngày 29/7/2019 của Chính phủ về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước; Thông tư liên tịch số 63/2013/TTLT-BTC-BTNMT ngày 15/5/2013 của Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện

Trang 37

29

NĐ 25/2013 về Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; Thông tư số BTNMT ngày 29/12/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ; Thông tư số 42/2015/TT-BTNMT ngày 29/9/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định

76/2017/TT-kỹ thuật quy hoạch tài nguyên nước; Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 05/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã đề ra các mục tiêu và nội dung nhằm giải quyết cơ bản các vấn đề môi trường tại các LVS; nội dung và biện pháp hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ đô thị, khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt yêu cầu, cải tạo, phục hồi môi trường các khu vực đã bị ô nhiễm, suy thoái, đẩy mạnh cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường Quyết định

số 81/2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020; Quyết định số 10/2007/QĐ-BTNMT ngày 5/7/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật hoạt động quan trắc môi trường không khí xung quanh và nước mặt lục địa

Trên cơ sở các Chiến lược, Kế hoạch quốc gia về BVMT nước, các địa phương cũng đã triển khai xây dựng và đưa vào thực hiện các kế hoạch, quy hoạch, văn bản cũng như các chỉ thị ở cấp địa phương nhằm tăng cường công tác BVMT nước của địa phương Ở cấp địa phương, tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng nước, xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước ; ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn phục vụ công tác quản lý, bảo vệ môi trường nước; cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn nước, xả nước thải vào nguồn tiếp nhận và quy định về quản lý và BVMT nước trên địa bàn, tạo cơ sở pháp lý cho việc đẩy mạnh công tác BVMT nước và giúp cho việc kiểm soát tài nguyên nước hiệu quả

Trang 38

30

1.3 Pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước tại một số quốc gia trên thế giới

và giá trị tham khảo với Việt Nam

1.3.1 Pháp luật về kiểm soát tài nguyên nước tại một số quốc gia trên thế giới 1.3.1.1 Tại Hoa Kỳ

Các nhà chức trách trong lĩnh vực tài nguyên nước ở thành phố New York đóng vai trò như những đối tác trong quản lý lưu vực sông về các vấn đề như đối mặt với việc giảm chất lượng nước đầu vào, thành phố New York đã lựa chọn giải pháp xây dựng một nhà máy xử lý nguồn nước cấp mới với kinh phí 6 tỷ USD và thực hiện các biện pháp toàn diện để cải thiện, bảo vệ chất lượng nguồn nước ở Croton và Catskill /lưu vực sông Delaware Các lưu vực sông có diện tích khoảng 5 nghìn km2 và cung cấp nước cho hơn 9 triệu người dân New York Mục tiêu đặt ra

là bảo vệ chất lượng nước và duy trì tiềm lực kinh tế cho các cộng đồng sinh sống ở vùng đầu nguồn

Quan hệ đối tác được phát triển giữa thành phố New York, bang New York,

Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA), các quận thuộc lưu vực sông, thị trấn

và làng bản; và các nhóm vì lợi ích môi trường và cộng đồng Các chương trình được triển khai để cân bằng ngành nông nghiệp, nước thải đô thị và nông thôn và cơ

sở hạ tầng thoát nước, môi trường và chất lượng nước tại 19 hồ chứa và 3 hồ đã được kiểm soát

Một chương trình nông nghiệp được thực hiện bằng việc thu hồi đất, các quy định trong lưu vực, các chương trình hợp tác kinh tế và môi trường, nâng cấp các nhà máy xử lý nước thải và các biện pháp bảo vệ các hồ chứa

Kết quả đạt được: Hơn 350 trang trại trong lưu vực sông đang thực hiện việc quản lý tốt nhất, do đó làm giảm tải ô nhiễm; khoảng 280 km2 đất được thu hồi để bảo vệ; các quy định về lưu vực sông có hiệu lực; vấn đề về 2000 hệ thống tự hoại

bị hỏng đã được khắc phục; và các nhà máy xử lý nước thải hiện nay được nâng cấp bằng việc xử lý cấp 3 Hiện nay, vi khuẩn coliform, tổng phốt pho và một số chất gây ô nhiễm chính khác đã giảm hơn 50% Kết quả, chất lượng nước đã được cải

Trang 39

31

thiện, nguồn nước cấp của thành phố không cần lọc lại, dân số thuộc lưu vực sông được hưởng một môi trường có chất lượng tốt hơn và thành phố đã tiết kiệm được tổng số tiền 4,4 tỷ USD [14, tr.17]

1.3.1.2 Tại Trung Quốc

Tỉnh Liêu Ninh có hơn 40 triệu dân đang trải qua quá trình phát triển nhanh chóng, dẫn đến tình trạng thiếu nước và ô nhiễm nước nghiêm trọng Vào những năm 1980, hiệu quả sử dụng nước ở các khu vực đô thị, khu công nghiệp và cho thủy lợi là rất thấp Ô nhiễm nước tràn lan, không có loài cá nào sinh sống tại 70% con suối và các chức năng của hệ sinh thái đã ngừng hoạt động tại 60% con suối Những người dân không biết đến các vấn đề bảo tồn nước Nước thải đô thị chưa qua xử lý được thải trực tiếp vào các sông suối và trong một số trường hợp đã thâm nhập vào các tầng nước ngầm

Khung thể chế được thiết lập bao gồm Văn phòng Dự án nước sạch Liêu Ninh, Ủy ban hợp tác lưu vực sông Liêu và Văn phòng dự án quy hoạch tài nguyên nước EU-Liêu Ninh cùng triển khai Dự án quy hoạch QLTHTNN Theo dự án này, đánh giá tài nguyên nước đã được thực hiện, cải cách chính sách khai thác và sử dụng nước được thực hiện, giá nước đã được điều chỉnh, mạng lưới quan trắc được thành lập và xây dựng năng lực trong khuôn khổ QLTHTNN được khuyến khích

Ngoài ra, Dự án nước sạch đã xây dựng cơ sở hạ tầng khuyến khích quy hoạch lại khu vực gây ô nhiễm thấp và gây ô nhiễm cao nhằm ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm Phát triển lưu vực sông Liêu được lập kế hoạch và chương trình trồng cây gây rừng đã được thực hiện

Kết quả đạt được: Tình trạng ô nhiễm đã giảm 60% và chất lượng nước sông được cải thiện đáng kể Mâu thuẫn giữa thượng nguồn và hạ nguồn giảm, nạn phá rừng đã tạm dừng Nước uống sử dụng từ nguồn lưu vực sông đã an toàn hơn và các

hệ sinh thái dọc một số nhánh sông đã được phục hồi Ô nhiễm nước ngầm giảm, đồng thời nhận thức của người dân về quản lý nhu cầu nước và nguy cơ ô nhiễm nguồn nước đã được nâng lên [14, tr.18]

Trang 40

32

1.3.1.3 Tại Chilê

Chiến lược xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh ở Chilê đã dẫn đến

sự bùng nổ xuất khẩu hàng hoá mà vấn đề sử dụng nước cho quá trình sản xuất đã kéo theo sự gia tăng mạnh về nhu cầu nước, thường ở những lưu vực thiếu nước Điều này dẫn đến sự cạnh tranh về nước trong nhiều lĩnh vực Hiện nay, nhu cầu sản xuất đang cạnh tranh với nhu cầu nước sinh hoạt và canh tác nông nghiệp dẫn đến nước đang tăng giá

Do đó, hiệu quả sử dụng nước được cải thiện đáng kể, đặc biệt trong các lĩnh vực liên quan đến sản xuất Trong những năm 1980, các chính sách về tài nguyên nước của Chilê đã được hướng dẫn theo các nguyên tắc định hướng thị trường tương tự như được sử dụng để cải cách nền kinh tế của đất nước Điều này đảm bảo nước được phân bổ cho những sử dụng có giá trị cao nhất - nước được coi là một mặt hàng kinh tế Đầu tư cho lĩnh vực tư nhân về cải thiện điều kiện vệ sinh đang được Chilê khuyến khích tập trung vào việc duy trì trạng thái cân bằng kinh tế vĩ

mô, cùng với nhiều biện pháp an toàn khác được áp dụng Điều này đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của ngành cấp thoát nước

Kết quả đạt được: Chilê đã quản lý để hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp, các lĩnh vực có nhu cầu sử dụng nước và đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao Nước được phân bổ cho những sử dụng có giá trị cao dựa trên các cơ chế thị trường [14, tr.21]

1.3.1.4 Một số quốc gia tại Châu Âu

Đa-nuýp là sông liên quốc gia có chiều dài 2.857 km, bắt nguồn từ khu vực rừng Đen của nước Đức, chảy qua 10 quốc gia Trung và Đông Âu rồi đổ vào biển Đen thuộc lãnh thổ Rumani, diện tích lưu vực 817.000 km2, chiếm 8% diện tích châu Âu Hệ thống sông Đa-nuýp là nguồn cung cấp nước thiết yếu cho các hoạt động kinh tế, xã hội của 80 triệu dân trong lưu vực Tuy nhiên, dưới tác động của các hoạt động kinh tế, chất lượng nước sông Đa-nuýp ngày càng suy giảm, điển hình là ô nhiễm vi sinh do nước thải đô thị và nước mưa chảy tràn, ô nhiễm chất

Ngày đăng: 06/04/2020, 10:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm