1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ VIỆT NAM, 2001-2010

227 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 227
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm nghiên cứu cho rằng, cuộc nghiên cứu chỉ có thể coi là thành công và thực sự có ý nghĩa, nếu một số điểm chưa hợp lý trong Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010 được chỉ ra trong Báo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

VIỆN DÂN SỐ VÀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

207, đường Giải phóng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Tổng đài (04) 36-280-280 Máy lẻ Văn phòng: 5433, Viện trưởng: 5982; Viện phó: 5981; Fax : 8696-411

Email: viendanso@neu.edu.vn

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ

VIỆT NAM, 2001-2010

Hà Nội, 11/2009

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 5

LỜI NÓI ĐẦU 6

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ 9

1 Lý do đánh giá 9

2 Mục tiêu đánh giá 10

3 Nội dung đánh giá 11

4 Phương pháp đánh giá 16

4.1 Địa bàn điều tra 16

4.2 Đối tượng và phương pháp thu thập thông tin, số liệu 17

4.3 Xử lý, phân tích thông tin và viết báo cáo 19

4.4 Giám sát quá trình đánh giá 20

5 Tổ chức đánh giá và nhân lực 21

6 Kế hoạch, tiến độ thực hiện 24

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ VĂN BẢN CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ VIỆT NAM, 2001-2010 VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU 25

1 Đánh giá văn bản “Chiến lược Dân số Việt Nam, 2001-2010” 25

1.1 Chiến lược Dân số Việt Nam, 2001-2010 cơ bản đã đánh giá đúng kết quả thực hiện “Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000” nhưng vẫn còn những điểm chưa được đề cập hoặc thiếu chính xác

25 1.2 Chiến lược Dân số Việt Nam, 2001-2010 nhận định bối cảnh kinh tế-xã hội cho giai đoạn 2001-2010, những thách thức về dân số chuẩn xác nhưng chưa đầy đủ

27 1.3 Định hướng lớn và các quan điểm của Chiến lược Dân số Việt Nam, 2001-2010 cụ thể, rõ ràng, bao trùm hầu hết các vấn đề dân số quan trọng và trở thành nền tảng của Chiến lược

28 1.4 Mục tiêu và các chỉ báo kiểm định mục tiêu đảm bảo tính SMART nhưng còn nhiều trùng lắp 29

1.5 Hệ thống giải pháp đầy đủ đồng bộ nhưng quá nhiều hoạt động

31 2 Kết quả thực hiện mục tiêu 33

2.1 Về mục tiêu giảm sinh 33

2.1.1 Mục tiêu giảm sinh của chiến lược đã đạt được nếu xét chung trên phạm vi cả nước 33

2.1.2 Nhiều tỉnh đã đạt được mức sinh thay thế một cách bền vững nhưng cũng còn 26 tỉnh không đạt hoặc có thể không đạt được mục tiêu này

39 2.2 Về mục tiêu nâng cao chất lượng dân số 42

2.2.1 Mục tiêu nâng cao chất lượng dân số của chiến lược đã đạt được vững chắc trên phạm vi cả nước 42

2.2.2 Các tỉnh ở Việt Nam phát triển không đồng đều: Nhiều tỉnh đạt HDI ở mức rất cao nhưng cũng còn nhiều tỉnh HDI ở mức thấp và không đạt mục tiêu của Chiến lược

44 3 Kết quả thực hiện các mục tiêu khác 47

Trang 3

CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN 8 NHÓM GIẢI PHÁP

CHIẾN LƯỢC 64

1 Hệ thống tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ qua hai lần cải cách

vẫn còn nhiều bất cập

64

2 Thúc đẩy truyền thông - giáo dục thay đổi hành vi 73

3 Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ 82

4 Nâng cao chất lượng thông tin dữ liệu dân cư 99

5 Nâng cao dân trí, tăng cường vai trò của gia đình và bình đẳng giới 107

6 Đẩy mạnh xã hội hóa, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách

dân số và phát triển

119

7 Bảo đảm kinh phí và điều kiện hoạt động cho công tác dân số 128

8 Nâng cao chất lượng Đào tạo và sử dụng hiệu quả các nghiên cứu

hiện có và các nghiên cứu mới

137 CHƯƠNG IV: BÀI HỌC, KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 164

Phụ lục 1 Danh sách các địa phương, cơ quan và cán bộ được phỏng

vấn

177 Phụ lục 2 Kết quả thực hiện mục tiêu và chỉ báo kiểm định mục tiêu 179

Phụ lục 8 Số lượng học sinh, sinh viên giai đoạn 1999-2008 226 Phụ lục 9 Tỷ lệ học sinh, sinh viên nữ theo bậc học giai đoạn 1999-2008 227

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DS-GĐ-TE Dân số, gia đình và trẻ em

DS-KHHGĐ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình triển khai thực hiện đề tài, Nhóm nghiên cứu thuộc Viện Dân số và Các vấn đề xã hội, Trường đại học KTQD nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi, sự chia sẻ thông tin và những ý kiến tư vấn rất quý báu của các cán bộ thuộc nhiều cơ quan, tổ chức Nhân dịp hoàn thành báo cáo, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn:

- Lãnh đạo Tổng cục Dân số-KHHGĐ và Ban giám đốc Chương trình mục tiêu quốc gia về DS-KHHGĐ

- Ông Đinh Công Thoan - Vụ trưởng, Bà Tạ Thanh Hằng - Phó Vụ trưởng và các chuyên viên Vụ Kế hoạch - Tài vụ thuộc Tổng cục Dân số-KHHGĐ đã theo dõi, giúp đỡ và tư vấn từ khi xây dựng đề cương nghiên cứu cho đến khi báo cáo hoàn thành

- Ông Bùi Đại Thụ - Cán bộ Chương trình và TS Adrian Hayes - Chuyên gia tư vấn của UNFPA

- TS Bùi Thị Hà và các thành viên nhóm đánh giá Chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS của Trường đại học Y tế công cộng

- Cán bộ các Ban, ngành, các cơ quan Trung ương và cán bộ Dân số - Y tế các tỉnh Lào Cai, Nam Định, Hà Nội, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Gia Lai, Tp

Hồ Chí Minh, Bến Tre đã sẵn lòng trả lời phỏng vấn của nhóm nghiên cứu

Viện Dân số và Các vấn đề xã hội - Đại học KTQD

Trưởng nhóm nghiên cứu

GS TS Nguyễn Đình Cử

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Chiến lược Dân số Việt Nam, 2001-2010 sắp kết thúc và Chiến lược Dân SKSS cho giai đoạn 2011-2020 đang được khởi động xây dựng Vì vậy, đây là thời điểm có thể và cần phải đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược cũ, góp phần xác định trạng thái đầu vào cho Chiến lược mới thông qua việc trả lời hàng loạt câu hỏi, như: Mục tiêu và các chỉ báo kiểm định đã đạt được ở mức độ nào? Liệu đến năm 2010 có đạt được như Chiến lược đề ra hay không? Vì sao đạt được, vì sao không? Hệ thống giải pháp có được thực hiện thế nào? Thực hiện có đúng tiến độ không? Những thuận lợi, khó khăn khi triển khai từng hoạt động là gì? Từ việc xây dựng đến thực hiện Chiến lược có thể rút ra các bài học kinh nghiệm gì và đề xuất những khuyến nghị nào cho việc xây dựng và thực hiện Chiến lược mới?

số-Báo cáo “Nghiên cứu đánh giá Chiến lược Dân số Việt Nam, 2001-2010” là một

nỗ lực của Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Trường đại học KTQD nhằm đáp ứng yêu cầu nói trên Báo cáo là kết quả nghiên cứu văn bản Chiến lược, thu thập, phân tích hầu hết các tài liệu liên quan và khảo sát quá trình triển khai thực hiện Chiến lược tại 22 bộ, ngành, đoàn thể và 8 tỉnh, 16 huyện đại diện cho các vùng trong cả nước Cuộc nghiên cứu đánh giá này được tiến hành từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2009, trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu quốc gia về DS-KHHGĐ

Ngoài mở đầu và phụ lục, Báo cáo chia làm 4 chương:

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu, giúp bạn đọc hiểu rõ về bối cảnh, mục tiêu nội dung, phương pháp và địa bàn nghiên cứu Bạn đọc có thể thấy rằng, điểm đặc biệt của cuộc nghiên cứu này là nội dung rộng và phức tạp, bởi nó phân tích, đánh giá một Chiến lược lớn, được thực hiện trong một giai đoạn dài, trên phạm vi cả nước với hàng trăm hoạt động Phương pháp nghiên cứu được sử dụng ở đây cũng rất đa dạng, vừa tại bàn, vừa điền dã, vừa định tính, vừa định lượng

Chương 2 và chương 3, có thể coi là trung tâm cốt lõi của báo cáo này Đây là

chương đánh giá việc xây dựng Chiến lược và có thể xem như kết quả của một

cuộc nghiên cứu độc lập “tại bàn” Nhóm nghiên cứu đã sưu tầm, mổ xẻ, phân tích việc thiết kế chiến lược, kết quả thực hiện mục tiêu và các giải pháp của Chiến

Trang 7

lược Chương 3 phản ánh kết quả nghiên cứu “điền dã” tại 8 tỉnh nói trên và thông tin thu được từ các bộ ngành, tổ chức xã hội

Chương 4 trình bày những kết luận chủ yếu rút ra từ cuộc nghiên cứu này và các khuyến nghị cho việc xây dựng, bổ sung, hoàn thiện và thực hiện chính sách Chúng tôi hy vọng và tin tưởng rằng, những nội dung trong Chương 4 sẽ hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, quản lý DS-KHHGĐ nói chung và Chiến lược Dân số-SKSS, giai đoạn 2011-2020 nói riêng

Trong quá trình nghiên cứu đánh giá, nhóm nghiên cứu triệt để tuân theo 3 nguyên tắc: Khách quan, lịch sử và gợi mở Bạn đọc có thể thấy rằng công trình này đề cập nhiều nội dung, nhiều khía cạnh, nhiều cấp độ của quá trình xây dựng

và thực hiện Chiến lược trên cơ sở thu thập, xử lý một khối lượng đồ sộ các tài liệu, thông tin số liệu được mô tả trong phần phụ lục Báo cáo đã cố gắng bám sát mục tiêu và nội dung nghiên cứu Những câu hỏi đặt ra cho cuộc đánh giá đã được trả lời Báo cáo này đã trải qua 4 lần Dự thảo Hai hội thảo khoa học, nhiều buổi làm việc trực tiếp về các Bản thảo giữa chuyên gia tư vấn, các nhà quản lý hàng đầu của Tổng cục Dân số-KHHGĐ, Bộ Y tế và nhóm nghiên cứu Vì vậy, theo một

ý nghĩa nào đó, có thể coi Báo cáo này không phải là sản phẩm chỉ của riêng nhóm nghiên cứu Tuy nhiên, với vai trò là cơ quan đánh giá độc lập, Viện Dân số

và Các vấn đề xã hội đã tiếp thu tất cả những ý kiến tư vấn có cơ sở khoa học và thực tiễn, đồng thời tôn trọng các phân tích, kết luận dựa trên bằng chứng khách quan Mọi kết luận trong báo cáo này không phụ thuộc vào bất cứ cá nhân hay cơ quan nào và Nhóm nghiên cứu chịu trách nhiệm hoàn toàn với bản báo cáo

Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010 đã được xây dựng và thực hiện gần

10 năm nay Trong thời khoảng nói trên, bối cảnh kinh tế - xã hội nói chung và tình trạng dân số của nước ta nói riêng đã thay đổi rất căn bản Ngay bộ máy quản

lý cũng đã chuyển từ Ủy ban quốc gia DS-KHHGĐ đến Ủy ban DS-GĐ-TE và nay

là Tổng cục DS-KHHGĐ thuộc Bộ Y tế Rõ ràng, để đánh giá chính xác, khách quan thì quan điểm lịch sử là cần thiết trong quá trình đánh giá Chiến lược, nghĩa

là đánh giá sự kiện nào thì phải gắn với bối cảnh KT-XH-DS tại thời điểm sự kiện

đó xảy ra chứ không phải nhìn nhận tại thời điểm này (2009)

Trang 8

Do tính rộng lớn và phức tạp của cả nội dung và địa bàn nghiên cứu, sự hạn chế về thời gian, nhân lực và trình độ, những câu trả lời tìm thấy trong báo cáo này chưa thể coi là đầy đủ, hoàn thiện Hơn nữa, cuộc sống không ngừng biến đổi Một mục tiêu, một giải pháp, một định mức,… thời điểm này được đánh giá là hợp lý, hữu hiệu thì thời điểm sau đã có thể không còn phù hợp

Nhóm nghiên cứu cho rằng, cuộc nghiên cứu chỉ có thể coi là thành công và thực sự có ý nghĩa, nếu một số điểm chưa hợp lý trong Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010 được chỉ ra trong Báo cáo này sẽ được chỉnh sửa, những khoảng trống sẽ được “san lấp”, một số khó khăn trong quá trình thực thi chính sách sẽ được tháo gỡ trong Chiến lược mới, hoặc chí ít báo cáo cũng tạo ra cuộc tranh luận, thu hút sự chú ý của những người có trách nhiệm, các nhà khoa học về vấn

đề này

Nhóm nghiên cứu trân trọng cảm ơn tất cả những ai có ý kiến nhận xét, bình luận về báo cáo và xin gửi tới Viện Dân số và Các vấn đề xã hội, Trường đại học KTQD, 207 đường Giải phóng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

Trưởng nhóm đánh giá

GS TS Nguyễn Đình Cử

Viện trưởng Viện Dân số và Các vấn đề xã hội

Đại học Kinh tế quốc dân

Trang 9

ĐÁNH GIÁ CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ

VIỆT NAM 2001-2010

*

* * CHƯƠNG I GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ

1 LÝ DO ĐÁNH GIÁ

Công tác DS-KHHGĐ ở Việt Nam đã được bắt đầu từ năm 1961 với Quyết định số 216/CP của Chính phủ về việc sinh đẻ có hướng dẫn và trở thành một lĩnh vực được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Năm 1993, Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) đã ra Nghị quyết về Chính sách DS-KHHGĐ Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, ngay trong năm này Chính phủ ban hành Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000 Đây là Chiến lược Dân số đầu tiên của Việt Nam

Tiếp theo Chiến lược DS-KHHGĐ lần thứ nhất, ngày 22 tháng 12 năm 2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 147/2000/QĐ-TTg phê duyệt

“Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010” Chiến lược này đã đánh giá tình hình thực hiện Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000, phân tích những vấn đề đặt ra cho giai đoạn 2001-2010, chỉ rõ định hướng, quan điểm, mục tiêu, chỉ báo kiểm định, giải pháp và tổ chức thực hiện Các bộ, ngành, đoàn thể được được giao nhiệm vụ thực hiện Chiến lược phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Sau

5 năm triển khai, Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đã có báo cáo đánh giá giữa

kỳ, kết quả giai đoạn (2001-2005)

Đến nay, “Chiến lược Dân số Việt nam 2001-2010” sắp kết thúc và Việt Nam đang khởi động xây dựng Chiến lược Dân số mới cho giai đoạn 2011-2020 Ngày 1/4/2009, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 44-KL/TW về kết quả thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Tiếp tục đẩy

mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ” Bản Kết luận nêu rõ: “Ban cán sự Đảng,

Chính phủ chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Chiến lược dân số, Chiến lược sức khỏe

Trang 10

sinh sản giai đoạn 2001-2010, xây dựng Chiến lược DS-SKSS giai đoạn 2010- 2020, làm cơ sở cho việc hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”

Vì vậy, đây là thời điểm có thể và cần phải phân tích sâu sắc, đánh giá toàn diện kết quả thực hiện “Chiến lược Dân số Việt nam 2001-2010”

2 MỤC TIÊU ĐÁNH GIÁ

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá mức độ đạt được các mục tiêu, kết quả thực hiện các giải pháp, hoạt động và cơ chế, chính sách đã đặt ra trong Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010; đúc rút các bài học kinh nghiệm về thiết kế chiến lược, hoạch định chính sách, xây dựng các giải pháp can thiệp và tổ chức thực hiện Chiến lược Dân số giai đoạn 2001-2010; kiến nghị nội dung, mục tiêu, giải pháp chung cũng như nội dung, mục tiêu, giải pháp đặc thù cần triển khai phù hợp với trình độ phát triển và tình trạng dân số của các vùng trong Chiến lược Dân số giai đoạn 2011-2020

Mục tiêu cụ thể

Đánh giá “Chiến lược Dân số 2001-2010” theo các nội dung sau đây:

(1) Đánh giá Văn bản Chiến lược: Căn cứ vào tình hình kinh tế, dân số, xã hội

cho tới năm 2000, thông qua nội dung và hình thức của Chiến lược, cần đánh giá tính khoa học và tính thực tiễn của Chiến lược

(2) Đánh giá các thành tựu đạt được: Đánh giá chính xác, cụ thể và khách quan

mức độ đã đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu đặt ra trong Chiến lược và ước thực hiện đến hết năm 2010

(3) Đánh giá các hoạt động can thiệp: Mức độ thực hiện và lý giải tại sao

những hoạt động can thiệp cụ thể trong 8 nhóm giải pháp được thực hiện thành công hoặc không đạt được như đã đặt ra trong Chiến lược

(4) Đánh giá tính thích hợp: Trên cơ sở dự báo, đánh giá mức độ thích hợp của

các mục tiêu, giải pháp của Chiến lược trong khuôn khổ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ

(5) Rút ra các bài học kinh nghiệm: Rút ra những bài học từ kinh nghiệm thực hiện

chiến lược từ việc xây dựng đến thực hiện bao gồm cả giám sát và đánh giá kết

Trang 11

thúc Chiến lược; xác định các yếu tố thuận lợi và những trở ngại, rào cản trong quá trình thực hiện, cách thức phát huy thuận lợi và vượt qua trở ngại

(6) Đề xuất các khuyến nghị: Từ kết quả đánh giá và các bài học kinh nghiệm,

đề xuất những khuyến nghị cho việc xây dựng và thực hiện Chiến lược Dân

số giai đoạn 2011-2020

3 NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ

3.1 Đánh giá văn bản “Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010”

3.1.1 Về nội dung

Trên cơ sở thu thập thông tin kinh tế - xã hội và dân số để trả lời các câu hỏi đối với “Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010”, như:

(1) Việc đánh giá tình hình thực hiện “Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000”

đã đầy đủ và chính xác hay chưa?

(2) Việc nhận định bối cảnh kinh tế - xã hội cho giai đoạn 2001-2010, những thách thức về dân số có chuẩn xác hay chưa? Thực tế 10 năm qua có minh chứng cho nhận định không?

(3) Định hướng lớn và các quan điểm của Chiến lược có cụ thể, rõ ràng và đã bao trùm hết các vấn đề dân số quan trọng của nước ta hay không? Sự biến đổi dân số trong 10 năm qua có khẳng định cho Định hướng và quan điểm không?

(4) Mục tiêu và các chỉ báo kiểm định mục tiêu có đảm bảo tính SMART (Đặc trưng, đo được, phù hợp, khả thi và xác định về thời gian) hay không? Chẳng hạn, để cụ thể hóa về tính phù hợp của mục tiêu cần trả lời các câu hỏi, như: Mục tiêu đề ra có hỗ trợ thực hiện mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 không? Bộ chỉ báo kiểm định mục tiêu có liên hệ chặt chẽ với mục tiêu không? Thừa hay thiếu? hay vừa đủ?

Có tương thích với các Chiến lược khác không? Có phù hợp với các văn bản quốc tế mà Việt Nam đã ký kết?

(5) Hệ thống giải pháp

(6) Đối với mỗi nhóm giải pháp của Chiến lược dân số 2001-2010, báo cáo đánh giá cần luận giải được những câu hỏi sau:

Trang 12

- Kết quả (đầu ra) mong muốn cụ thể là gì? Cơ sở luận chứng, lý giải cho việc

tập trung vào những kết quả đầu ra đó?

- Hệ thống giải pháp mà Chiến lược nêu lên liệu đã đầy đủ, khả thi và đảm

bảo hướng đến thực hiện được mục tiêu hay chưa?

3.1.2 Về hình thức

(1) Cấu trúc của Chiến lược có hợp lý và chặt chẽ? Phần/mục nào là không cần thiết nhưng có trong Chiến lược và ngược lại phần/mục nào cần thiết nhưng không có trong Chiến lược?

(2) Cách trình bày, nhất là các phụ lục có sáng sủa, dễ hiểu Ngôn ngữ và câu văn trong Chiến lược thế nào?

(3) So sánh sự tương đồng với các Chiến lược trong và ngoài nước khác

3.2 Đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu và tất cả chỉ báo kiểm định mục tiêu của Chiến lược cho đến nay Từ đó ước lượng mức độ hoàn thành mục tiêu và các chỉ báo này vào năm 2010

Thông tin, số liệu đã được thu thập, phân tích để trả lời các câu hỏi đánh giá sau:

(1) Mục tiêu và các chỉ báo kiểm định mục tiêu hiện đã đạt được bao nhiêu phần trăm so với Chiến lược đề ra?

(2) Căn cứ trên các thông tin, số liệu sử dụng các phương pháp phân tích, ngoại suy để ước lượng xem: Liệu đến năm 2010 có đạt (hoặc vượt) mục tiêu và các chỉ báo kiểm định mục tiêu do Chiến lược đề ra hay không?

Hai mục tiêu cụ thể của Chiến lược (về TFR và HDI) không chỉ được phân tích trên phạm vi cả nước mà còn được phân tích quá trình đạt đến mục tiêu theo thời gian và chi tiết đến từng vùng miến/tỉnh

3.3 Phân tích và đánh giá việc thực hiện các giải pháp

Để đạt được các mục tiêu, Chiến lược đề ra hệ thống 8 giải pháp Mỗi giải pháp lại bao gồm một số nhóm hoạt động Tổng cộng có 30 nhóm hoạt động Có thể mô hình hóa mối quan hệ giữa hoạt động (X), đầu ra Y và mục tiêu như sau:

Giải pháp 1:

1 X1  1Y1 }

1X3  1Y3 v….v } = = =  Mục tiêu 1

Trang 13

v….v }

trong đó : iXj là nhóm hoạt động (nhóm can thiệp) thứ j của giải pháp i

iYj là đầu ra của nhóm hoạt động thứ j của giải pháp i

Cần cố gắng lượng hóa cả biến X và biến Y

Do có tới nhóm 30 hoạt động, vì vậy với mỗi giải pháp chỉ chọn một số nhóm hoạt động tiêu biểu để đánh giá Trong mỗi nhóm lại có thể chỉ chọn một số hoạt động

cụ thể

Tiêu chí để lựa chọn hoạt động đánh giá như sau:

(1) Ngân sách dành cho hoạt động này (lớn/nhỏ)

(2) Phạm vi tác động của hoạt động

(3) Cấp nào điều hành hoạt động này

Các thông tin định tính và định lượng đã được thu thập để phân tích và trả lời các câu hỏi đối với hoạt động được lựa chọn đánh giá, như sau:

(1) Hoạt động thuộc giải pháp đề ra trong Chiến lược có được thực hiện không? Thực hiện có đúng tiến độ không?

(2) Những thuận lợi, khó khăn khi triển khai từng hoạt động là gì? Đặc biệt là vấn đề nguồn lực để triển khai chiến lược, cho từng cấp và từng địa phương?

Có huy động được sự hỗ trợ có hiệu quả của các cơ quan đối tác không? Các khó khăn, cản trở đã được xử lý ra sao?

(3) Thực tế, (hoạt động) can thiệp đó có đem lại kết quả gì không? Có đạt được kết quả đầu ra như mong muốn và đã được thiết kế không?

(4) Vấn đề điều hành, phối hợp, giám sát việc thực hiện Chiến lược (thực chất là thực hiện các giải pháp) diễn ra như thế nào?

Trang 14

(5) Để có được những kết quả đầu ra đó cần phải có những thay đổi, điều chỉnh

gì về mặt thể chế/tổ chức bộ máy?

(6) Trong giải pháp này rút ra được những bài học kinh nghiệm chủ chốt gì? Vận dụng như thế nào trong Chiến lược mới?

3.4 Tính thích hợp

Chiến lược Dân số là một bộ phận quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế

xã hội Vì vậy, nó phải phù hợp và thúc đẩy việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Dựa trên kết quả thực hiện Chiến lược Dân số và Chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội và Dự báo kết quả năm tới,

đã trả lời những câu hỏi, như:

(1) Các mục tiêu, giải pháp của Chiến lược Dân số đã được thực hiện có thích hợp với Chiến lược phát triển kinh tế xã hội hay không? Có cản trở việc

thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội hay không?

(2) Chiến lược Dân số đóng góp như thế nào vào việc thực hiện Chiến lược

phát triển kinh tế xã hội?

3.5 Rút ra các bài học kinh nghiệm

Các bài học kinh nghiệm rút ra từ việc xây dựng và thực hiện “Chiến lược Dân

số Việt Nam, 2001-2010” đã được tổng kết thành 2 nhóm:

Nhóm 1: Các bài học về xây dựng Chiến lược:

(1) Tổ chức xây dựng Chiến lược như thế nào? Sự hợp tác giữa các nhà hoạch định Chiến lược, các nhà quản lý và các nhà khoa học

(2) Bài học về thu thập, xử lý, phân tích thông tin, số liệu đầu vào cho xây dựng Chiến lược

(3) Bài học về phân tích phát hiện các vấn đề dân số nổi bật mà Chiến lược cần giải quyết

(4) Bài học về xây dựng các nội dung của Chiến lược, nhất là xây dựng mục tiêu, chỉ tiêu kiểm định và giải pháp

(5) Các bài học khác căn cứ vào kết quả đánh giá

Nhóm 1 bao gồm cả bài học thành công và bài học chưa thành công

Trang 15

Nhóm 2: Các bài học về thực hiện Chiến lược:

(1) Bài học về cụ thể hóa Chiến lược thành các Chương trình/Dự án ở Trung ương và địa phương?

(2) Bài học về điều phối thực hiện Chiến lược

(3) Bài học về giám sát, hỗ trợ thực hiện Chiến lược

(4) Các bài học khác căn cứ vào kết quả đánh giá

Nhóm 2 cũng bao gồm cả bài học thành công và bài học chưa thành công

3.6 Đề xuất các khuyến nghị cho việc xây dựng Chiến lược Dân số mới giai đoạn 2011-2020

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đánh giá “Chiến lược Dân số Việt Nam, 2010” ba nhóm khuyến nghị cho việc xây dựng và thực hiện “Chiến lược Dân số Việt Nam, 2011-2020” đã được đề xuất với các nội dung sau:

2001-Nhóm khuyến nghị 1: Về tên gọi và kết cấu của Chiến lược:

(1) Nên đặt tên Chiến lược như thế nào?

(2) Chiến lược bao gồm mấy phần? Gồm những phần nào?

Nhóm khuyến nghị 2: Về xây dựng Chiến lược

(1) Điểm khác nhau căn bản giữa hoàn cảnh dân số, kinh tế, xã hội của Chiến

lược mới và Chiến lược cũ cần nhấn mạnh là gì?

(2) Những vần đề dân số nổi bật nào trên phạm vi cả nước hay đặc thù của các

vùng miền Chiến lược này cần ưu tiên giải quyết?

(3) Quan điểm cơ bản của Chiến lược này cần nhấn mạnh là gì?

(4) Mục tiêu cần đạt được là gì? Bằng cách nào?

(5) Trong hoàn cảnh mới nên tổ chức thực hiện Chiến lược như thế nào?

Nhóm khuyến nghị 3: Về thực hiện Chiến lược

(1) Làm thế nào để sớm cụ thể hóa Chiến lược thành các Chương trình/Dự án ở Trung ương và địa phương?

(2) Làm thế nào để phổ biến, tuyên truyền Chiến lược một cách hiệu quả?

(3) Làm thế nào để điều phối tốt việc thực hiện Chiến lược?

(4) Làm thế nào để theo dõi, giám sát chặt chẽ hỗ trợ xử lý khó khăn thực thi Chiến lược một cách hiệu quả?

Trang 16

(5) Các khuyến nghị khác căn cứ vào kết quả đánh giá

Mặc dù đánh giá này đề cập một hệ thống các nội dung nói trên nhưng quan trọng nhất là các nội dung 2 và 3 Các câu hỏi quan trọng nhất được trả lời là:

(1) Có đạt được mục tiêu hay không?

(2) Các giải pháp có được thực hiện hay không?

(3) Khi giải pháp nào đó được thực hiện thì có dẫn đến kết quả mô tả hay không?

phục vụ đánh giá Chiến lược Vì vậy, chiến lược thu thập thông tin là: Hệ thống hóa, phân tích sâu sắc thông tin mà Viện đã có sẵn trước khi thu thập thông tin tại các cơ

quan trung ương và các địa phương

4.1 Địa bàn điều tra

4.1.1 Tại các cơ quan Trung ương

Đã thu thập thông tin, số liệu ở:

 Tất cả các Bộ, Ban ngành, tổ chức xã hội đã được Đảng và Nhà nước giao trách nhiệm thực hiện, kiểm định và báo cáo kết quả thực hiện Chiến lược, như: (1) Bộ Y tế/Tổng cục DS-KHHGĐ, (2) Bộ Kế hoạch và Đầu tư/Tổng cục thống kê, (3) Bộ Tài chính, (4) Bộ Giáo dục và Đào tạo, (5) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, (6) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (7) Bộ Tư pháp, (8) Bộ Công an, (9) Bộ Quốc phòng, (10) Bộ Khoa học và Công nghệ, (11) Bộ Tài nguyên và Môi trường, (12) Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch, (13) Bộ Thông tin và Truyền thông, (14) Ủy ban Dân tộc, (15)

Trang 17

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, (16) Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, (17) Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản HCM, (18) Hội KHHGĐ, (19) Ban Tuyên giáo Trung ương, (20) Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội

 Những cán bộ quản lý Dự án Dân số - SKSS do các cơ quan quốc tế như: UNFPA và GTZ,… tài trợ

 Các cơ quan khoa học có uy tín đã thực hiện các cuộc điều tra khảo sát thu được số liệu đáng tin cậy, có ý nghĩa đánh giá

4.1.2 Tại các địa phương

Việc lựa chọn địa bàn khảo sát cấp tỉnh, căn cứ vào tiêu chuẩn sau:

(1) Trình độ phát triển (Khá, Trung bình, Thấp) và mức sinh (Cao, Trung bình, Thấp) tại thời điểm trước năm 2001

(2) Đại diện cho các vùng lãnh thổ

(3) Có thành phố lớn và tỉnh nông nghiệp

(4) Những tỉnh có Dự án của Quỹ Dân số LHQ và có tỉnh không

Dựa vào các tiêu chuẩn trên, nhóm nghiên cứu đã chọn các tỉnh/thành phố/ quận/huyện/thị xã như ở bảng sau: (xem bảng 1.1)

Bảng 1.1: Địa bàn khảo sát

4.2 Đối tượng và phương pháp thu thập thông tin, số liệu

 Tại các địa bàn điều tra, các đối tượng sau đây (kể cả những người giữ vị trí quản lý quan trọng, giai đoạn 2001-2010, nay đã về hưu hoặc chuyển công tác)

đã được phỏng vấn sâu:

Trang 18

(1) Người chịu trách nhiệm triển khai Chiến lược Dân số

(2) Những người quản lý hệ thống Dân số-KHHGĐ cấp Trung ương, tỉnh và huyện, giai đoạn 2001-2010

(3) Các nhà khoa học, các chuyên gia có nghiên cứu và hiểu biết sâu về KHHGĐ ở Việt Nam

DS-(4) Những người thuộc tổ biên soạn Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010 (5) Những người quản lý các Chương trình/ Dự án tài trợ cho lĩnh vực DS-KHHGĐ ở Việt Nam, như: UNFPA, GTZ,…

 Số người được phỏng vấn sâu như trong Bảng 1.2 (xem bảng 1.2)

Bảng 1.2: Số người được phỏng vấn sâu tại địa bàn điều tra

1.3 Các nhà khoa học và chuyên gia

2 Tại các địa phương (8 tỉnh)

 Ngoài phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân, các số liệu, thông tin, có sẵn tại

các địa bàn điều tra cũng được thu thập Bộ công cụ thu thập thông tin đã

được thiết kế, bao gồm:

(1) Bảng hướng dẫn thu thập thông tin, số liệu có sẵn Bảng này sẽ liệt kê: Số thứ tự các chỉ tiêu; Mức đạt được các chỉ tiêu của Chiến lược Dân số; năm; nguồn,…(Xem Phụ lục 2)

(2) Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu Để tránh “lạc đề” và để tập trung vào những vấn đề cần thiết, Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu được chuẩn bị sẵn

Trang 19

cho các điều tra viên, nhằm cung cấp cho điều tra viên những câu hỏi chủ yếu, những nội dung cần “xoáy sâu”,…(Xem Phụ lục 3)

4.3 Xử lý, phân tích thông tin và viết báo cáo

4.3.1 Xử lý và phân tích số liệu định lượng

Các số liệu định lượng đã được tổng hợp, phân tích và trình bày theo các phương pháp thống kê Phương pháp phân tổ, so sánh, hồi quy tương quan Các biểu đồ cũng đã được sử dụng khi thích hợp Việc xử lý số liệu được thực hiện trên phần mềm SPSS

4.3.2 Xử lý số liệu định tính

Trước hết đã tổ chức gỡ băng các cuộc phỏng vấn sâu Các dữ liệu này được chuyển thành các file văn bản dưới sự hỗ trợ của phần mềm Word Sau khi làm sạch, các dữ liệu này cũng được chuyển sang định dạng có thể sử dụng với phần mềm NVIVO để xử lý và phân tích định tính Các thông tin thu được từ các cuộc phỏng vấn sâu cá nhân được phân tích bằng các kỹ thuật định tính nhằm làm rõ

nguyên nhân và hoàn thiện các kết quả của điều tra định lượng 4.3.3 Viết và hoàn thiện báo cáo

Để phân tích sâu, nhiều chuyên đề đã được biên soạn Báo cáo kết quả đánh giá cuối cùng được tổng hợp, phân tích từ các Báo cáo chuyên đề và các kết quả nghiên cứu khác

Báo cáo chuyên đề và Báo cáo kết quả đánh giá cuối cùng do các chuyên gia bậc cao thực hiện theo quy trình: Dự thảo - Hội thảo góp ý - Hoàn thiện

Sản phẩm của nghiên cứu đánh giá:

 Chuyên đề 1: “Rà soát phân tích, đánh giá Văn bản Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010”

 Chuyên đề 2: “Đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu Chiến lược”

 Chuyên đề 3: “Kết quả thực hiện các Giải pháp của Chiến lược”

 Chuyên đề 4: “Các bài học rút ra từ việc xây dựng và thực hiện Chiến lược”

Trang 20

 Chuyên đề 5: “Các khuyến nghị cho việc xây dựng và thực hiện CLDS, giai đoạn 2011-2020”

 Chuyên đề 6: “Quản lý và Điều hành thực hiện CLDS ở cấp trung ương”

 Chuyên đề 7: “Quản lý và Điều hành thực hiện CLDS ở cấp tỉnh”

 Báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá cuối cùng

 Bản tóm tắt và Bản trình bày trên Powerpoint của Báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá cuối cùng

4.4 Giám sát quá trình đánh giá

Viện Dân số và Các vấn đề xã hội luôn đặt chất lượng nghiên cứu lên hàng đầu Về phương diện này, nguyên tắc “quản lý chất lượng toàn bộ” dựa trên việc giám sát chặt chẽ chất lượng, thúc đẩy tiến độ trong từng bước của quá trình nghiên cứu, từ thiết kế nghiên cứu, thu thập số liệu đến xử lý, phân tích số liệu Cụ thể, Ban chủ nhiệm đề tài có trách nhiệm thực hiện các biện pháp giám sát và bảo đảm chất lượng sau:

- Lựa chọn chuyên gia, điều tra viên, cộng tác viên:

Dựa trên nguyên tắc số một là phải đảm bảo năng lực chuyên môn, có kinh nghiệm

điều tra, nghiên cứu, đặc biệt là điều tra tại cộng đồng, có khả năng giao tiếp, có kinh nghiệm nghiên cứu ít nhất là 5 năm, và cam kết dành thời gian cho nghiên cứu (Xem Phụ lục 4)

- Tập huấn điều tra:

Các chuyên gia, điều tra viên đã được tập huấn kỹ trước khi điều tra Họ cũng được thực hành điều tra thử

Trang 21

Quy trình này bao gồm các bước, bước sau sử dụng kết quả của bước trước và cho phép hiểu sâu vấn đề hơn

- Giám sát công tác thu thập số liệu:

Các chuyên gia làm giám sát viên độc lập theo dõi việc thu thập số liệu để đảm bảo chất lượng công tác này So sánh số liệu về cùng một chỉ tiêu từ nhiều nguồn để kiểm tra tính chính xác

5 TỔ CHỨC VÀ NHÂN SỰ

5.1 Cơ quan thực hiện đánh giá: Viện Dân số và Các vấn đề xã hội

Viện Dân số và Các vấn đề xã hội tiền thân là Trung tâm Dân số thuộc Đại

học KTQD, được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký quyết định thành lập

thành lập ngày 22 tháng 1 năm 1992 Viện có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng

và tài khoản riêng Viện được sở Khoa học và công nghệ Thành phố Hà Nội cấp giấy phép hoạt động khoa học công nghệ số 145/ĐK-KH&CN Viện có chức năng nghiên cứu khoa học, đào tạo và tư vấn khoa học trong lĩnh vực dân số và các vấn

đề xã hội Viện có 12 cán bộ, trong đó 10 là PGS, TS, Thạc sỹ

Trong giai đoạn 1991-2009 Viện đã nghiên cứu 20 đề tài liên quan đến Đánh giá các Chính sách, Chương trình, Dự án

5.2 Nhóm nghiên cứu đánh giá

Viện Dân số và Các vấn đề xã hội lập Nhóm nghiên cứu đánh giá 15 người,

bao gồm: Cán bộ của Viện, các chuyên gia trong và ngoài Trường đại học KTQD

Đó là các nhà khoa học về Dân số, Kinh tế, Xã hội học có trình độ cao về lý thuyết

và nhiều kinh nghiệm điều tra nghiên cứu điền dã (Xem Phụ lục 4)

Chủ nhiệm Đề tài: GS TS Nguyễn Đình Cử

GS TS Nguyễn Đình Cử - Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội có bằng Tiến sỹ về Dân số học và Kinh tế học Dân số năm 1987, tại Đại học Tổng hợp Matxcơva, được phong PGS năm 1996 và GS năm 2009

Ông Cử nghiên cứu về dân số từ năm 1978 và đã viết gần 100 cuốn sách, công trình nghiên cứu khoa học, bài báo thuộc lĩnh vực DS-SKSS, DS&PT, trong đó có hàng chục đề tài liên quan đến Chính sách Dân số, Pháp lệnh Dân số, đánh giá các Chương trình, Dự án dân số có quy mô điều tra khảo sát trên phạm vi toàn quốc

Trang 22

Các thành viên khác trong nhóm đánh giá được phân công nhiệm vụ cụ thể, chi tiết (Xem Phụ lục 4)

5.3 Nhân lực điều tra

Nhân lực nghiên cứu đánh giá này chia thành ba nhóm như sau:

- Nhóm nghiên cứu viên chính (chuyên gia bậc cao)

Nhóm nghiên cứu viên chính được tuyển chọn tại Viện Dân số và Các vấn đề

xã hội, Trường Đại học có trình độ Tiến sỹ và có kinh nghiệm nghiên cứu Họ đã trực tiếp thực hiện các đề tài về dân số Họ phải sử dụng thành thạo các phần mềm chuyên dụng để xử lý thông tin, thành thạo phân tích định lượng và định tính Họ

đã từng tổ chức toàn bộ quá trình nghiên cứu, trong đó có phỏng vấn sâu cá nhân,

xử lý số liệu và viết báo cáo nghiên cứu đánh giá

Nghiên cứu viên chính thực hiện những công việc sau:

- Tham gia thiết kế nghiên cứu

- Hướng dẫn những yêu cầu đối với cơ quan địa phương

- Giám sát và kiểm tra các điều tra viên về quy trình thu thập số liệu xem có đúng với các yêu cầu đặt ra hay không

- Phỏng vấn sâu

- Nghiệm thu các băng ghi âm phỏng vấn sâu từ các điều tra viên, đảm bảo rằng các băng đã được ghi đầy đủ

- Phúc tra số liệu điều tra

- Viết các Báo cáo và Chuyên đề được phân công

- Nhóm điều tra viên:

Điều tra viên đã được tuyển chọn và tập huấn về nội dung nghiên cứu và kỹ năng điều tra, phỏng vấn sâu cá nhân Điều tra viên đã được chọn từ các giảng viên, cán bộ nghiên cứu khoa học dân số, khoa học xã hội trong các trường Đại học

Các điều tra viên có trách nhiệm hoàn thành các công việc sau:

- Thu thập thông tin, số liệu có sẵn

- Hỗ trợ nghiên cứu viên chính thực hiện phỏng vấn sâu

- Bàn giao đầy đủ sản phẩm điều tra cho chuyên gia

- Gỡ băng, nhập liệu, xử lý thông tin trên máy

Trang 23

5.4 Cơ quan cộng tác nghiên cứu đánh giá

Viện Dân số và Các vấn đề xã hội trong 20 năm nay là Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu về Dân số nên Viện có quan hệ công việc và đối tác truyền thống ở tất

cả các cơ quan thực hiện Chiến lược Dân số cấp Trung ương cũng như Bộ máy DS-KHHGĐ cấp tỉnh/huyện

5.5 Tập huấn điều tra

+ Xây dựng tài liệu hướng dẫn điều tra thực địa

Cơ quan đánh giá xây dựng “Tài liệu hướng dẫn điều tra thực địa” và Đề xuất

kỹ thuật và các tài liệu liên quan khác để làm tài liệu tập huấn.Tài liệu này có tác dụng tích cực đối với các nghiên cứu viên trong quá trình điều tra

+ Tập huấn cho các thành viên nhóm đánh giá:

Trước khi tiến hành điều tra, các thành viên nhóm đánh giá được tập huấn, hội

thảo tại Hà Nội để:

- Nghiên cứu lại Văn bản Chiến lược Dân số 2001-2010

- Nắm được toàn bộ Đề xuất kỹ thuật đánh giá

- Thống nhất phương án xử lý các tình huống bất trắc trong quá trình điều tra

- Xác định và thống nhất kế hoạch phối hợp triển khai điều tra tại các địa bàn

- Xác định rõ ràng nhiệm vụ của từng thành viên

- Tiến hành thử nghiệm các bảng hướng dẫn thu thập thông tin

5.6 Tổ chức điều tra thực địa

5.6.1 Biên chế:

Mỗi địa bàn điều tra đã lập một nhóm gồm 1 Nghiên cứu viên chính và 1 điều tra viên Nghiên cứu viên chính làm Trưởng nhóm, chịu toàn bộ trách nhiệm triển khai nghiên cứu trên địa bàn

5.6.2 Trình tự

Thông tin, số liệu có sẵn đã được thu thập trước Sau đó đến phỏng vấn sâu cá nhân Trong quá trình thu thập thông tin, số liệu có sẵn, chuyên gia bậc cao và điều tra viên sẽ phát hiện những câu hỏi bổ sung cho Hướng dẫn phỏng vấn sâu cá nhân

5.6.3 Báo cáo

Trang 24

Trưởng nhóm Điều tra thực địa trên các địa bàn (Bộ, Ban, Tỉnh) đã có Báo cáo

về nghiên cứu đánh giá trên địa bàn sau khi hoàn thành khảo sát

5.6.4 Hậu cần cho điều tra

Cơ quan nghiên cứu đã chịu trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ mọi cơ sở vật chất,

kỹ thuật và các điều kiện hậu cần cho quá trình điều tra, như: Trang thiết bị kỹ thuật phục vụ điều tra (Máy ghi âm, băng, vở ghi, bút viết ); Bộ công cụ điều tra và các văn bản liên quan; Phương tiện đi lại, liên lạc; Kinh phí, thuốc men…

6 TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN ( Xem Phụ lục 5)

Trang 25

CHƯƠNG II CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ VIỆT NAM 2001-2010

VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỤC TIÊU

1 Đánh giá văn bản “Chiến lược Dân số Việt Nam, 2001-2010”

1.1 Chiến lược Dân số Việt Nam, 2001-2010 cơ bản đã đánh giá đúng kết quả thực hiện “Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000” nhưng vẫn còn những điểm chưa được đề cập hoặc thiếu chính xác

Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010 đã đánh giá khá toàn diện tình hình thực hiện “Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000”, bao gồm kết quả thực hiện mục tiêu và giải pháp, đúc kết các hạn chế, tồn tại và rút ra các bài học kinh nghiệm

Về mục tiêu, thành công nổi bật của Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000

được đánh giá là: “Kết quả giảm sinh đã đạt được sớm hơn so với mục tiêu đề ra”

Đánh giá như vậy không sai nhưng chưa hết tầm thành công của Chiến lược này, nếu so sánh mục tiêu đến năm 2000 tổng tỷ suất sinh đạt 2,9 con, quy mô dân số

82 triệu người và kết quả tương ứng là 2,28 con và 77,63 triệu người Cũng cần để

ý rằng, chưa có giai đoạn nào mức sinh giảm nhanh và có tính chất bước ngoặt, đột phá như vậy Chẳng hạn, giai đoạn (1974-1979), TFR trung bình là 4,8 con nhưng

hơn 10 năm sau, TFR vẫn còn cao ở mức 3,8 con, nghĩa là chỉ giảm được 1 con Còn trong giai đoạn thực hiện Chiến lược (1993 -2000), chỉ trong 7 năm, TFR đã giảm tới 1,2 con! Việc giảm hơn 4 triệu người so với mục tiêu đề ra, đã tiết kiệm được một khối lượng lớn các nguồn lực mà lẽ ra phải chi cho ăn, mặc, ở, đi lại, giáo dục, chữa bệnh và phát triển việc làm

Tuy nhiên, sự phân tích mức sinh chưa thực sự chi tiết và sâu sắc, mới chỉ chú ý đến cấp vùng chung chung chứ chưa nói đến vùng lãnh thổ cụ thể, như: Tây Bắc, Tây Nguyên… và càng chưa nói đến sự khác nhau về mức sinh của các tỉnh để có cách tiếp cận thích hợp

Theo kết quả Tổng điều tra Dân số 1999, tức là ngay trước khi bắt đầu thực hiện Chiến lược Dân số (2001-2010) vẫn còn một số tỉnh có mức sinh rất cao (TFR > 3.5), như: Điện Biên, Sơn La, Hà Giang, Lào Cai, Gia Lai Đặc biệt, Lai Châu và Kon Tum

có TFR > 5! Mặc dù Chiến lược đã chú ý đến các tỉnh “vùng sâu, vùng xa và vùng

Trang 26

nghèo” và lùi thời hạn đạt được mức sinh thay thế cho các tỉnh này vào năm 2010

nhưng cũng khó thực hiện, nếu không có những giải pháp đặc biệt Bởi giai đoạn (1989-1999), mức sinh giảm mạnh và Việt Nam được LHQ tặng Giải thưởng Dân số

nhưng TFR cũng chỉ giảm được 1,5 con Vì thế, các tỉnh “vùng sâu, vùng xa và vùng nghèo” như: Lai Châu và Kon Tum khó có thể giảm tới hơn 2 con cũng chỉ trong 10

năm (2001-2010)

Ngược lại, theo Tổng điều tra Dân số, ngay từ năm 1999, đã có tới 17 tỉnh đạt mức sinh thay thế Đó là các tỉnh: Hà Nội - Hải Phòng - Hải Dương - Thái Nguyên - Quảng Ninh - Phú Thọ - Vĩnh Phúc - Thái Bình - Đà Nẵng - Tp HCM - Tây Ninh -

Bình Dương - Long An - Tiền Giang - Vĩnh Long - Bến Tre - Cần Thơ nhưng Chiến lược không có những chú ý đặc biệt cho các tỉnh đã có mức sinh thấp ngay từ năm đầu thực hiện Chiến lược Câu hỏi được đặt ra là: Các tỉnh đã đạt mức sinh thay thế

sẽ phải làm gì trong 10 năm (2001-2010) thay vì phấn đấu giảm sinh? Câu hỏi này, đáng tiếc đã không được đặt ra trong Chiến lược Dân số (2001) “Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000” đề ra 7 giải pháp nhưng đánh giá chỉ tập trung vào Hệ thống tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ, công tác thông tin - giáo dục - truyền

thông, cung cấp dịch vụ KHHGĐ và việc ban hành chính sách chế độ Đáng tiếc là

các giải pháp điều kiện mang tính tạo nguồn lực thực hiện Chiến lược, như huy động

kinh phí, đào tạo cán bộ đã không được đề cập Cần nhấn mạnh là, nếu năm 1991 kinh phí cho DS-KHHGĐ chỉ là 15 tỷ thì đến năm 1994, con số này là đã là 300 tỷ, đào tạo cán bộ đã được đẩy mạnh và khá thành công Nếu không có những nguồn lực này thật khó thực thi Chiến lược

Chiến lược (2001) đã nêu chính xác các hạn chế của Chiến lược (1993), như: (1) Các giải pháp của chương trình DS-KHHGĐ còn có một số nội dung chưa thích hợp với vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo, (2) Chương trình dân số trong những năm qua còn có sự mất cân đối (mới chỉ tập trung vào giảm mức sinh thông qua KHHGĐ), (3) Bộ máy tổ chức chưa ổn định và (4) chưa lồng ghép các yếu tố dân

số vào lập kế hoạch và xây dựng chính sách kinh tế-xã hội Tuy nhiên, nếu nhận

định rằng: “Trong những năm qua, chương trình DS-KHHGĐ và chăm sóc SKSS thực tế mới chỉ thành công ở vùng thành thị và vùng nông thôn phát triển” là chưa

Trang 27

chính xác Giai đoạn (1989-1999), mức sinh ở Tây Nguyên đương nhiên cao hơn

nhưng cũng giảm mạnh hơn ở Đồng bằng sông Hồng, (xem Bảng 2.1)

Bảng 2.1: Biến đổi mức sinh ở ĐBSH và Tây Nguyên (1989-1999)

Tổng điều tra dân số 1989 Tổng điều tra dân số 1989

Nguồn: Ban chỉ đạo Tổng điều tra Dân số , năm 1999 Kết quả mẫu NXB Thế giới, 2000 Trang 47

Kết quả được mô tả trong Bảng 2.1 và mức sinh giảm mạnh ở miền núi phía Bắc chứng tỏ một cách thuyết phục rằng Chiến lược Dân số (1993) đã được triển khai tốt

cả ở vùng sâu, vùng xa, miền núi chứ không phải chỉ ở khu vực phát triển

Chiến lược (2001) đánh giá nguyên nhân số 1 tạo nên thành công là Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4 (khóa VII), tuy nhiên lại chưa nhấn mạnh bài

học về tổ chức thực hiện Chiến lược: Chia thực hiện Chiến lược thành 2 giai đoạn, thiết kế 3 Chương trình (VDS1, VDS2, VDS3) và phân công nhiệm vụ cho các Ban ngành, đoàn thể

Chiến lược (2001) đã sớm nhận thấy, một trong những nguyên nhân hạn chế kết

quả của Chiến lược (1993) là “Chưa có cơ chế chính sách toàn diện về dân số và phát triển Việc chuyển hướng mở rộng nội dung của chương trình và việc xây dựng hệ thống chính sách thích hợp chưa được tiến hành kịp thời Trong khi mức sinh giảm gần đến mức thay thế, lại chưa có các chính sách và giải pháp thích hợp

để giải quyết các hài hoà các nội dung về quy mô dân số, chất lượng dân số và phân bổ dân cư” Nhận định này còn thích hợp đến tận ngày nay, khi chúng ta vẫn

nhấn mạnh DS-KHHGĐ

1.2 Chiến lược Dân số Việt Nam, 2001-2010 nhận định bối cảnh kinh tế - xã hội cho giai đoạn 2001-2010, những thách thức về dân số chuẩn xác nhưng chưa đầy đủ

Về bối cảnh KT-XH, Chiến lược (2001) dự báo một cách đúng đắn về sự phát triển kinh tế mạnh mẽ trong giai đoạn (2001-2010) Tuy nhiên, yếu tố xã hội - môi trường, sự bùng nổ của viễn thông, giáo dục, di dân, biến đổi khí hậu…có ảnh hưởng sâu sắc đến các quá trình dân số hầu như lại không được phân tích Những

cơ hội và thách thức cho phát triển do dân số đem lại đã được phát hiện khá đầy đủ

Trang 28

trên các khía cạnh quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng và có chứng minh chặt chẽ Tuy nhiên, nhận định về kết quả giảm sinh chưa thực sự vững chắc dường như

là không có cơ sở, khi chúng ta liệt kê các chỉ báo về mức sinh (CBR và TFR) trong suốt 30 năm 1969-1999, (xem Bảng 2.2)

Bảng 2.2: Số con trung bình của một phụ nữ (TFR) thời kỳ 1969 - 1999

1.3 Định hướng lớn và các quan điểm của Chiến lược Dân số Việt Nam, 2001-2010 cụ thể, rõ ràng, bao trùm hầu hết các vấn đề dân số quan trọng và trở thành nền tảng của Chiến lược

Chiến lược dân số 2001-2010 đã nêu định hướng tập trung giải quyết tất cả các vấn đề của dân số, như sớm ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý, giải quyết đồng

bộ, từng bước và có trọng điểm từng yếu tố của chất lượng, cơ cấu dân số và phân

bố dân cư đồng thời xây dựng và kiện toàn hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Tuy nhiên, có thể thấy rằng, định hướng này là quá rộng và một số nội dung không được cụ thể hóa trong mục tiêu, cũng như chưa có hoạt động nhằm thực hiện định hướng, thí dụ về cơ cấu và phân bố dân cư

Hệ quan điểm của Chiến lược đã đề cập: (1) Vị trí của công tác Dân số, (2) Nội dung hay nhiệm vụ của công tác dân số, (3) Kinh phí cho công tác Dân số, (4) Giải pháp của công tác Dân số, (5) Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và chính quyền các cấp Những nội dung mà Hệ quan điểm này đề cập tương tự như Hệ quan điểm của Chiến lược (1993) nhưng nội dung chi tiết có một số điểm khác nhau Trước hết có

Trang 29

thể thấy rằng, nội dung quan điểm 2 là quá rộng “Thực hiện đồng bộ, từng bước và

có trọng điểm việc điều hoà quan hệ giữa số lượng với chất lượng dân số, giữa phát triển dân số với phát triển nguồn nhân lực, giữa phân bố và di chuyển dân cư với phát triển kinh tế- xã hội” Tuy nhiên, đây vẫn được coi là “là nhiệm vụ trọng tâm của công tác dân số” Có thể thấy quan điểm này khó khả thi trong thực tế Quan điểm 3 về hiệu quả công tác dân số, đã nêu thêm hiệu quả xã hội Đây là điểm mới

so với Chiến lược (1993) nhưng có điểm “lùi” là chỉ đánh hiệu quả “rõ rệt” chứ không phải “rất cao” như Chiến lược (1993) Mặt khác cần nêu thêm hiệu quả về môi trường hay nói chung là hiệu quả đối với sự phát triển của Việt Nam (cả kinh tế,

xã hội và môi trường) Nguồn kinh phí cũng mang nặng tính bao cấp, vì “Nhà nước cần đảm bảo đủ nguồn lực cho công tác dân số, đồng thời huy động sự đóng góp của cộng đồng và tranh thủ sự viện trợ của quốc tế” Như vậy, ở đây không thấy vai trò của cá nhân

Hệ quan điểm cũng mới nhìn nhận sự tác động của dân số đến phát triển mà không đề cập vai trò ngược lại của phát triển đối với dân số Vấn đề quyền sinh sản cũng chưa được xem xét, trong khi đây là một nền tảng rất căn bản để giải quyết vấn đề DS-KHHGĐ và khi mức sinh thấp, đã có thể đề cập vấn đề này Nếu có quan điểm về quyền sinh sản thì đã có thể không cần thiết sửa Pháp lệnh Dân số và thực tế hiện nay cũng cho thấy như vậy

1.4 Mục tiêu và các chỉ báo kiểm định mục tiêu đảm bảo tính SMART nhưng còn nhiều trùng lắp

Hệ thống mục tiêu có cấu trúc chặt chẽ, bao gồm: Mục tiêu tổng quát, các mục tiêu cụ thể được phát biểu một cách định tính và được định lượng bởi các chỉ báo mục tiêu Tuy nhiên, để lựa chọn chính xác các mục tiêu này, cần xác định rõ ràng vị trí, vai trò của Chiến lược DS-KHHGĐ Định hướng của Chiến lược đã xác định:

“Chiến lược dân số 2001-2010 là một bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 … góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-

2010 và các chiến lược khác” Như vậy cần phân biệt mục tiêu của “Chiến lược bộ phận” và mục tiêu của Chiến lược phát triển KT-XH nói chung Từ đó có thể thấy

rằng, mục tiêu tổng quát: “Thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh, tiến tới ổn định

Trang 30

quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc Nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất

nước” chỉ hợp lý một nửa là “Thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh, tiến tới ổn định

quy mô dân số ở mức hợp lý” Nội dung “Nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” không thể giải quyết bằng riêng Chiến lược Dân số (2001) và do đó không thể là mục tiêu trực tiếp của Chiến lược này Như vậy, cũng

có thể thấy rằng, trong các mục tiêu cụ thể, chỉ có mục tiêu 1 là hợp lý và mục tiêu 2 phải là mục tiêu của Chiến lược phát triển KT-XH và Chiến lược Dân số chỉ tham gia, góp phần thực hiện mục tiêu này

Mục tiêu cụ thể 1 và Mục tiêu cụ thể 2 hoàn toàn đảm bảo tính SMART Chẳng hạn:

S – Specific (Riêng biệt: Mục tiêu cụ thể 1 giải quyết vấn đề số lượng dân số Mục

tiêu cụ thể 2 giải quyết vấn đề chất lượng dân số

M – Measurable (Đo được): Mục tiêu cụ thể 1 đo bằng TFR, Mục tiêu cụ thể 2 đo

bằng HDI….Tuy nhiên, các chỉ báo kiểm định mục tiêu khác lại chứa đựng nhiều vấn đề chưa hợp lý, như:

• Chiến lược ít hoặc không tác động trực tiếp để đạt được muc tiêu:

Chẳng hạn, các chỉ báo mục tiêu: “Tỷ lệ lao động qua đào tạo”, “Tỷ lệ dân đô thị”, “ Số năm đi học trung bình”

• Thiếu tính độc lập: Hệ thống bao gồm các chỉ tiêu không độc lập với nhau,

theo nghĩa từ chỉ tiêu này có thể suy ra chỉ tiêu kia Chẳng hạn, chỉ tiêu số dân và chỉ tiêu “Tỷ lệ tăng dân số”; Chỉ tiêu HDI cũng có thể suy ra được từ GDP, tuổi thọ, số năm đi học trung bình

• Khó thu thập số liệu chính xác: Lao động được đào tạo; Số nhiễm mới HIV,

Di dân tự do có đăng ký…hoặc không rõ nghĩa, hoặc không khách quan nên khó thu thập số liệu chính xác Có tới 4/24 chỉ báo giám sát không có số liệu, dẫn đến khó đánh giá kết quả thực hiện

Trang 31

• Trùng lắp: Có tới 17/24 chỉ báo kiểm định mục tiêu của Chiến lược Dân số

trùng với mục tiêu của các Chiến lược khác Riêng với Chiến lược phát triển KT-XH, đã có tới 9 chỉ tiêu bị trùng (xem bảng 2.3)

Bảng 2.3: Các chỉ báo kiểm định mục tiêu bị trùng lắp giữa CLDS (2001) và Chiến lược

phát triển KT-XH (2001)

4 Số năm học trung bình 9 Tỷ lệ tăng dân số

Ngoài ra, các chỉ báo kiểm định mục tiêu của Chiến lược Dân số cũng trùng với Chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS, Chiến lược phòng chống HIV/AIDS, Chiến lược tổng thể về xóa đói giảm nghèo (xem bảng 2.4)

Bảng 2.4: Các chỉ tiêu trùng với các Chiến lược khác

10 Tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng BPTT Chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS

16 Số ca mới nhiễm HIV Chiến lược phòng chống HIV/AIDS

17 Giảm tỷ lệ hộ nghèo Chiến lược tổng thể về xóa đói giảm nghèo

Điều đáng chú ý là 4 trong 6 chỉ báo kiểm định mục tiêu của Chiến lược Dân số không trùng với Chiến lược khác lại không có số liệu để đánh giá

Việc trùng lắp giữa các chỉ tiêu của các Chiến lược đặt ra hàng loạt câu hỏi: Rốt cuộc, các mục tiêu bị trùng lắp do Chiến lược nào thực hiện? Nếu mục tiêu đó được thực hiện thì do “công” của Chiến lược nào? Và nếu mục tiêu đó không được thực hiện thì do “lỗi” của Chiến lược nào? Để tránh trùng lắp thì nên để mục tiêu

đó ở Chiến lược nào? Trùng lắp chỉ tiêu của các Chiến lược sẽ gây khó khăn

Trang 32

trong việc tổ chức thực hiện, phân bố kinh phí, nguồn lực để thực hiện mục tiêu Chiến lược, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược

1.5 Hệ thống giải pháp đầy đủ đồng bộ nhưng quá nhiều hoạt động

Các giải pháp thực hiện mục tiêu chiến lược được chia thành 3 nhóm Nhóm giải pháp tiên quyết bao gồm giải pháp Lãnh đạo, Tổ chức và Quản lý Nhóm giải pháp

cơ bản gồm các giải pháp Truyền thông - Giáo dục thay đổi hành vi; Chăm sóc

SKSS & KHHGĐ; Tăng cường vai trò gia đình và bình đẳng giới, và Xã hội hóa và

cơ chế chính sách Nhóm giải pháp điều kiện gồm các giải pháp Nâng cao chất

lượng thông tin dữ liệu dân cư; Tài chính và hậu cần; Đào tạo và nghiên cứu

Mỗi giải pháp được trình bày trong Chiến lược lại là một nhóm các hoạt động Chẳng hạn, giải pháp “Lãnh đạo, tổ chức và quản lý” bao gồm các nhóm các hoạt động sau:

(1) Kiện toàn, củng cố và ổn định hệ thống tổ chức làm công tác dân số từ trung ương đến địa phương

(2) Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chính quyền đối với công tác dân số

(3) Thực hiện đầy đủ cơ chế quản lý theo ngành, lãnh thổ, xây dựng kế hoạch từ dưới lên theo chương trình mục tiêu

(4) Phân bổ công khai toàn bộ nguồn lực, tập trung cho cơ sở, tăng hiệu quả sử dụng

(5) Đảm bảo việc kiểm tra, giám sát và đánh giá định kỳ trên cơ sở hệ thống các chỉ báo đánh giá được xây dựng thống nhất

Mỗi nhóm các hoạt động nói trên lại có nhiều hoạt động, chẳng hạn nhóm các hoạt động “Kiện toàn, củng cố và ổn định hệ thống tổ chức làm công tác dân số từ trung ương đến địa phương” có 4 hoạt động sau:

- Kiện toàn hệ thống tổ chức từ Trung ương đến cơ sở phù hợp với sự chuyển hướng toàn diện về nội dung của chương trình và yêu cầu cải cách hành chính

- Thực hiện tốt cả hai chức năng quản lý nhà nước và điều phối các hoạt động thuộc lĩnh vực dân số và SKSS/KHHGĐ

Trang 33

- Bổ sung và hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của hệ thống Uỷ ban quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm

vụ mới

- Nâng cao chất lượng cán bộ, quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách theo hướng chuyên nghiệp hoá, có năng lực quản lý và điều hành chương trình dân số và SKSS-KHHGĐ

Như vậy, Hệ thống giải pháp của Chiến lược có 8 nhóm giải pháp Tám nhóm giải pháp này lại bao gồm 30 nhóm các hoạt động với 151 hoạt động được thiết kế (Xem

Phụ lục 3) Có thể nói rằng, Chiến lược đã thiết kế quá nhiều hoạt động Ngay một

hoạt động cũng có rất nhiều việc phải làm, chẳng hạn chúng ta có thể hình dung hoạt

động: “Nâng cao chất lượng cán bộ, quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách theo hướng chuyên nghiệp hoá, có năng lực quản lý và điều hành chương

trình dân số và SKSS/KHHGĐ” sẽ có rất nhiều việc phải làm! Nhiều hoạt động lớn

nhưng không rõ ai làm và không được bố trí nguồn kinh phí nên dường như có

thiết kế hoạt động nhưng không được triển khai, chẳng hạn, hoạt động 4.1 “Thiết

lập hệ cơ sở dữ liệu dân cư dùng chung, là hệ thống động, được tin học hóa, đảm nhận vai trò nòng cốt trong trao đổi thông tin dữ liệu với các hệ cơ sở dữ liệu chuyên ngành liên quan đến dân cư” thuộc giải pháp 4 “Nâng cao chất lượng

thông tin dữ liệu dân cư”

2 Kết quả thực hiện mục tiêu

2.1 Về mục tiêu giảm sinh

2.1.1 Mục tiêu giảm sinh của chiến lược đã đạt được nếu xét chung trên phạm vi

cả nước

Mục tiêu cụ thể thứ nhất của Chiến lược có thể coi là mục tiêu quan trọng nhất, cụ

thể nhất mà Chiến lược hướng đến là: “Duy trì vững chắc xu thế giảm sinh để đạt mức sinh thay thế bình quân trong toàn quốc chậm nhất vào năm 2005, ở vùng sâu, vùng xa và vùng nghèo chậm nhất vào năm 2010 để quy mô, cơ cấu dân số và phân

bổ dân cư phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội vào năm 2010”

Trang 34

Mục tiêu này được lượng hóa bằng chỉ báo Tổng tỷ suất sinh (TFR) đạt 2.1 vào

năm 2005 trên phạm vi toàn quốc còn tại các vùng vùng sâu, vùng xa và vùng nghèo chậm nhất vào năm 2010

Tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng thật ra, mục đích “đạt mức sinh thay thế”

đã có từ rất lâu trong Chính sách Dân số của Việt Nam Ngay trong Chỉ thị 99/TTg

ngày 16 tháng 10 năm 1963 của Thủ tướng Chính phủ đã nêu mục tiêu “Mỗi gia

đình có 2-3 con” (Ủy ban DS-KHHGĐ Kỷ yếu Chính sách DS-KHHGĐ Việt Nam NXB Thống kê.1996, tr 65) Đến năm 1978, mục tiêu “2 con” đã thể hiện rõ trong Thông tư 4200/ BYT-CB ngày 20 tháng 11 năm 1978 của Bộ Y tế: “Phải vận động

tích cực những cặp vợ chồng đã có 2 con rồi, giải quyết thuyết phục không nên đẻ

con thứ 3, thứ tư nữa” (Ủy ban DS-KHHGĐ Kỷ yếu Chính sách DS-KHHGĐ Việt Nam NXB Thống kê.1996, tr.71) Rõ ràng, mục tiêu “Dừng ở 2 con” đã được thể

hiện và ngày càng rõ trong các văn bản Chính sách dân số sau này Tuy nhiên, gần

30 năm sau, mục tiêu của Chiến lược Dân số, 2001-2010 và mục đích Chính sách

giảm sinh mới được thực hiện Bảng 2.5 cho thấy quá trình đạt được mục tiêu nói

trên (xem bảng 2.5)

Bảng 2.5: Quá trình thực hiện mục tiêu 1: Giảm mức sinh (TFR)

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

Nguồn: Tổng cục Thống kê: Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1- 4 hàng năm

Mặc dù có một vài thời điểm mức sinh “lên xuống” với biên độ dao động nhỏ

(dưới 6%) nhưng nhìn chung, xu thế giảm sinh đã được duy trì vững chắc và không thể đảo ngược,nhất là 5 năm gần đây nhất, từ 2004 đến 2008 (xem Bảng 2.5)

Số liệu trong Bảng 2.5 được dẫn từ Kết quả điều tra biến động DS-KHHGĐ do Tổng cục Thống kê tiến hành vào thời điểm 1- 4 hàng năm Như vậy, cuộc Điều tra 1-4-2006 sẽ phản ảnh mức sinh 9 tháng của năm 2005 và chỉ có 3 tháng thuộc năm

2006 Do vậy, có thể coi đây là mức sinh của năm 2005 Nếu yêu cầu tuyệt đối, mức sinh thay thế là TFR = 2,1 thì đúng như Chiến lược đề ra, tính chung trên

phạm vi toàn quốc, Việt Nam đã đạt được mức sinh thay thế từ năm 2005 Một

cách tương đối, nếu coi TFR = 2,1 là đã đạt mức sinh thay thế thì theo kết quả

Trang 35

điều tra 1-4-2005, Việt Nam thực hiện được mục tiêu từ năm 2004, tức là sớm 01 năm so với mục tiêu của Chiến lược

Hơn nữa, theo Điều tra Dân số Sức khỏe (2002) được thực hiện trên 7.048 hộ gia đình, thì Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế ngay từ năm 2002 với TFR = 1.87

(Ủy ban DS-GĐ và TE Dự án DS - Sức khỏe gia đình: Điều tra Nhân khẩu học và Sức khỏe.2002 Hà Nội 9-2003)

Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc thì Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế trong giai đoạn 2005-2010, (xem bảng 2.6)

Bảng 2.6: Xu hướng giảm sinh ở Việt Nam

http://esa.un.org/unpp, Monday, September 28, 2009

Văn phòng thông tin Dân số (The Population Reference Bureau - PRB), có trụ sở đặt tại Washington DC (Mỹ) còn đánh giá, ngay từ năm 2004, mức sinh của Việt

Nam đã thấp hơn 2.1, (xem bảng 2.7)

Bảng 2.7: Mức sinh theo đánh giá của PRB

Năm TFR Xếp hạng Tỷ lệ thay đổi (%) Thời điểm đánh giá

Trang 36

Mức sinh của Việt Nam trong suốt giai đoạn (2000-2008) thậm chí đã thấp hơn mức sinh năm 2008 của 10 nước ASEAN tính chung (2,3) và chỉ cao hơn hai nước

có mức sinh rất thấp là Thái Lan và Singapore (xem bảng 2.8)

Bảng 2.8: Mức sinh (TFR) của các nước ASEAN năm 2008

Nguồn: 2008 ESCAP Population Data Sheet

Như vậy, có thể khẳng định rằng: Việt Nam đã duy trì được xu thế giảm sinh và đạt được mức sinh thay thế một cách vững chắc, mục tiêu cụ thể thứ nhất của Chiến lược Dân số, 2001-2010, xét trên phạm vi cả nước đã đạt được Đây không

chỉ là đạt được mục tiêu của Chiến lược Dân số, 2001-2010 mà còn là đạt được mục đích lâu dài về giảm sinh của Chính sách Dân số Việt Nam, được đặt ra từ

năm 1961 Như vậy, sau 45 năm kiên trì và đẩy mạnh KHHGĐ, mục đích của

Chính sách giảm sinh đã được thực hiện Điều đặc biệt cần chú ý là, chúng ta đạt được thành tựu này trong điều kiện có những thay đổi căn bản về quản lý và nhiều tác động không thuận lợi cho công tác KHHGĐ, như:

- Hai lần “xáo trộn” lớn về bộ máy tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ Đó là hợp nhất Ủy ban DS-KHHGĐ và Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em (2002)

và giải thể Ủy ban DS- GĐ-TE, thành lập Tổng cục DS-KHHGĐ thuộc Bộ Y

tế (2007)

- Ban hành Pháp lệnh Dân số (2003) và Điều 10 của Pháp lện này quy định:

“Các cặp vợ chồng có quyền quyết định số con và khoảng cách giữa các lần sinh” đã từng gây lo ngại về việc bùng nổ mức sinh

Phân cấp mạnh về quản lý kinh phí dành cho Chương trình mục tiêu quốc gia

về DS-KHHGĐ Nguồn kinh phí chuyển về cho các tỉnh do UBND tỉnh quản lý chứ không còn được quản lý theo ngành dọc

Thành tựu nói trên chứng tỏ xu hướng giảm sinh trên phạm vi quốc gia là vững chắc và có thể vượt qua được thách thức của những biến động mạnh về quản lý ở tầm vĩ mô Kết quả này do chính sách giảm sinh của Việt Nam vẫn được duy trì

Trang 37

trong khung cảnh những tiến bộ nhanh về KT-XH đồng thuận và hỗ trợ mạnh mẽ

xu hướng giảm sinh Chẳng hạn:

(1) Kinh tế Việt Nam phát triển tốt GDP bình quân đầu người đã gấp đôi trong thời gian qua

Có thể thấy rằng ở nước ta hiện nay có sự tỉ lệ nghịch giữa mức sống và mức sinh, khi mà mức sống càng cao thì số con càng ít, cụ thể là thu nhập càng cao thì quy mô hộ gia đình càng nhỏ, (xem bảng 2.9)

Nguồn: TCTK Điều tra mức sống dân cư 2002; 2004; 2006

(2) Mức sinh phụ thuộc mạnh vào trình độ giáo dục và trình độ giáo dục cũng ngày càng nâng cao

Bảng 2.10: TFR chia theo trình độ học vấn người mẹ

Nguồn: TCTK Điều tra mức sống dân cư 2002; 2004; 2006

Số liệu bảng 2.10 cho thấy: Ngày nay, phụ nữ có trình độ học vấn càng cao thì mức sinh càng thấp, thậm chí, chỉ cần tốt nghiệp Tiểu học đã có thể đạt mức sinh thay thế Trong khi đó, trình độ học vấn của phụ nữ Việt Nam ngày càng cao và bình đẳng giới trong giáo dục ngày càng thể hiện rõ: Số học sinh nam và nữ ở tất

cả các cấp học, bậc học gần như tương đương, thậm chí càng ở cấp và bậc học cao,

tỷ lệ nữ còn cao hơn nam (Xem Phụ lục 6)

Trang 38

(3) Mức sinh cũng phụ thuộc mạnh vào nơi cư trú: Thành thị hay nông thôn, (xem bảng 2.11) trong khi đó tỷ lệ dân đô thị của Việt Nam đã tăng mạnh trong 20 năm qua, từ 20 % năm 1989 đã tăng lên 30% vào năm 2009

Bảng 2.11: Sự khác biệt về Mức sinh (TFR) giữa thành thị và Nông thôn

(4) Hệ thống truyền thông đại chúng của Việt Nam phát triển rất mạnh.

Tính đến tháng 7/2009, cả nước đã có trên 21 triệu người sử dụng internet, số thuê bao điện thoại ước đạt 96,7 triệu, trong đó có 81 triệu thuê bao di động Truyền hình cáp, truyền hình số, truyền hình internet, truyền hình trên điện thoại di động… ra đời, hệ thống kênh chương trình đa dạng (VTV6, VTV9, VTV7, InforTV, O2, VCTV, VTC…) Tỷ lệ phủ sóng khu dân cư của Đài TNVN đạt gần 99% Sự phát triển mang tính bùng phát của hệ thống truyền thông, góp phần hữu hiệu cho việc phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách DS-KHHGĐ

và lợi ích của mô hình gia đình nhỏ… tới người dân

Bên cạnh các điều kiện thuận lợi về kinh tế - xã hội, mức sinh thay thế có thể được duy trì bền vững nhờ nâng cao khả năng nhận thức của người dân để họ tiếp cận tới các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và kế hoạch hóa gia đình bằng việc đa dạng hóa phương tiện, đa dạng hóa kênh và chế độ cung cấp phương tiện và dịch vụ KHHGĐ Chính vì vậy, tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng BPTT, từ năm 2002 đến nay luôn ở mức cao, trên 75% Theo phương trình Norman, với tỷ lệ này hoàn toàn

có thể đảm bảo mức sinh thay thế Và đặc biệt là hiện nay xu hướng các cặp chồng sử dụng BPTT hiện đại không ngừng nâng lên, (Bảng 2.12) thể hiện rất rõ nhận định này

vợ-Bảng 2.12: Tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại (MCPR) - Đơn vị : %

Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 MCPR 61,1 64,7 63,5 64,6 65,8 67,1 68,2 68,8

Sự suy giảm mức sinh đã tác động trực tiếp, mạnh tiếp cận mẽ đến tình trạng dân số Việt Nam: Quy mô dân số được giới hạn ở mức gần 86 triệu năm 2009 và

Trang 39

chắc chắn sẽ không lên tới 88 triệu như Chiến lược đề ra Sức ép của dân số lên kinh tế - xã hội và môi trường rõ ràng đã giảm đáng kể Mặt khác, cơ cấu dân số thay đổi nhanh chóng, theo hướng: Giảm nhanh tỷ lệ trẻ em, tăng nhanh dân số già

và dân số trong độ tuổi lao động Cơ cấu “dân số vàng” đã xuất hiện vào năm 2008

và sẽ kéo dài khoảng 32 năm, (Xem Phụ lục 6)

2.1.2 Nhiều tỉnh đã đạt được mức sinh thay thế một cách bền vững nhưng cũng

còn 26 tỉnh không đạt hoặc có thể không đạt được mục tiêu này

Trình độ phát triển giữa các tỉnh của Việt Nam không đồng đều, (Xem Phụ lục 2) Nhiều tỉnh/thành phố có trình độ phát triển khá cao, như: Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải phòng, Bà Rịa – Vũng Tàu,… nhưng cũng có nhiều tỉnh, đặc

biệt là các tỉnh miền núi có trình độ phát triển còn thấp Điều này dẫn tới mức sinh rất khác nhau giữa các tỉnh, mặc dù cùng chung một chính sách dân số và một chiến lược dân số

Căn cứ vào quy ước mức sinh thay thế với TFR = 2,1 và theo Kết quả điều tra Dân số-KHHGĐ 1-4- năm 2007, sai số chuẩn của TFR là 0,2, mức sinh ở các tỉnh của nước ta có thể phân thành 3 nhóm, như ở Bảng 2.13 sau:

Bảng 2.13: Phân nhóm mức sinh

Trung bình 2.1 < TFR ≤ 2.5 Mức sinh không vượt quá mức sinh thay thế

cộng với 02 lần sai số chuẩn

02 lần sai số chuẩn

Căn cứ vào Kết quả điều tra Dân số - KHHGĐ 1- 4- năm 2006, có thể thấy, tuy

cả nước đã đạt được mức sinh thay thế vào năm 2005 nhưng xét ở cấp độ vùng/khu vực thì việc thực hiện mục tiêu Chiến lược có những đặc điểm còn tồn tại sau đây: (1) Mới chỉ có 3 vùng với khoảng 60% dân số cả nước đạt được mức sinh thay thế một cách vững chắc là: (1) Đồng bằng Sông Hồng, từ 2004 đến nay, (2) Đồng Bằng sông Cửu Long và (3) Đông Nam Bộ đều đạt mục tiêu từ 1998 đến nay Hiện dân số đang tích tụ mạnh vào các vùng này Do vậy, lối sống

ít con sẽ có sức ảnh hưởng, lan tỏa mạnh

Trang 40

(2) Chỉ còn vùng Tây Nguyên cho đến Điều tra DS-KHHGĐ năm 2007 vẫn có mức sinh cao (Tổng tỷ suất sinh gần 2,8) và xu hướng giảm sinh từ 2004 đến nay chậm Do vậy, cả vùng khó đạt mục tiêu giảm sinh vào năm 2010 như Chiến lược đề ra

(3) Khu vực thành thị đã đạt mức sinh thay thế từ năm 1989 và hiện đã đạt mức rất thấp, TFR= 1,7 vào năm 2005, dưới mức sinh thay thế Trong khi đó nông thôn khoảng 2.3, tức là cao gấp rưỡi đô thị và vẫn chưa đạt mức sinh thay thế

Chi tiết hơn nữa, có thể xét tình trạng đạt mục mục của Chiến lược ở cấp độ tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương để hiểu sâu hơn việc đạt mục tiêu của cả nước Việc phân tích này sẽ cho thấy mức độ đồng đều hay không đồng đều của việc đạt được mục tiêu đề ra Xét ở cấp độ tỉnh/thành phố thì việc thực hiện mục tiêu Chiến lược có những đặc điểm sau đây:

(1) Năm 2005 mới có 32 tỉnh đạt được mục tiêu Chiến lược, trong đó 17 tỉnh

đã đạt được từ trước khi thực hiện Chiến lược, từ năm 1999 Nghĩa là trong thời gian thực hiện Chiến lược chỉ có thêm 15 tỉnh đạt được mục tiêu Như vậy, tổng cộng mới có một nửa số tỉnh đạt được mục tiêu Chiến lược và số dân của 32 tỉnh nói trên khoảng 53 triệu, tức là chiếm 62% dân số cả nước

(2) Ở cấp độ tỉnh thì khả năng duy trì được mức sinh thay thế không cao Ở cấp độ toàn quốc thì khi đạt được mức sinh thay thế, mức sinh này được giữ vững liên tục cho đến nay Ở cấp độ tỉnh, ta thấy trong số 32 tỉnh đạt được mức sinh thay thế năm 2005, có 28 tỉnh, giữ được mức sinh này 2 năm liên tục Như vậy, 87,5% số tỉnh (28/32), chiếm 55,8% dân số cả nước có thể đạt mức sinh thay thế một cách bền vững (Xem bảng 2.14: Số tỉnh đạt mức sinh thay thế)

Ngày đăng: 06/04/2020, 10:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w