Ngoài ra, một số tác giả cũng đã công bố những bài báo khoa học cómột phần nội dung đề cập đến những hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự: Th.s Nguyễn Thị Thủy, Hoàn thiện thủ tụ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THANH DUNG
MéT Sè VÊN §Ò Lý LUËN Vµ THùC TIÔN
VÒ HO¹T §éNG SAU PHI£N TßA XÐT Xö Vô ¸N H×NH Sù
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG QUANG PHƯƠNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ luật học này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ
và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét và cho phép tôi được bảo vệ Luận văn thạc sỹ luật học của mình theo quy định của Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Thanh Dung
Trang 3PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ 10 1.1 KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT XỬ
VỤ ÁN HÌNH SỰ 10 1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT XỬ
VỤ ÁN HÌNH SỰ 12 1.3 PHÂN LOẠI HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT XỬ
VỤ ÁN HÌNH SỰ 14 1.4 VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG SAU
PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ 15 1.4.1 VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT
XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ 15 1.4.2 Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT
XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ 17 1.5 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ
HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH
SỰ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2003 18 CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN
HÌNH SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ 2003 24 2.1 HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
Trang 4ÁN HÌNH SỰ 24 2.1.1 HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA TRONG TRƯỜNG
HỢP HỘI ĐỒNG XÉT XỬ RA BẢN ÁN 24
2.1.2 Hoạt động sau phiên tòa trong trường hợp Hội đồng xét xử ra
Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự 45 2.1.3 Hoạt động sau phiên tòa trong trường hợp Hội đồng xét xử ra
quyết định hoãn phiên tòa 50
2.1.4 HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA TRONG TRƯỜNG
Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc thẩm 67 2.2.3 Hoạt động sau phiên tòa trong trường hợp Hội đồng xét xét
xử ra Quyết định hoãn phiên tòa 71
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI
HÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ NĂM 2003 VỀ HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT
XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ 76 3.1 T HƯ C ̣ TIÊ ̃ N THI HA ̀ NH CA C ́ QUY ĐI NH ̣ CU ̉ A B Ô ̣ LUÂ ̣ T TỐ TỤNG
HÌNH SỰ NĂM 2003 VÊ ̀ HOA ̣ T ĐÔ ̣ NG SAU PHIÊN TO ̀ A XE T ́ XƯ ̉ VU ̣
A ́ N HI ̀ NH SƯ ̣ 76 3.2 N GUYÊN NHÂN CỦA CÁC HẠN CHẾ TRONG VIỆC ÁP DỤNG
CÁC QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS VỀ HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN
Trang 5TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ 81
3.3 C A ́ C GIA ̉ I PHA ́ P NÂNG CAO HIÊ ̣ U QUA ̉ HOA ̣ T ĐÔ ̣ NG SAU PHIÊN TO ̀ A XE ́ T XƯ ̉ VU ̣ A ́ N HI ̀ NH SƯ ̣ 83
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 83
3.3.2 Giải pháp đối với Cơ quan tiến hành tố tụng 88
3.3.3 Giải pháp đối với người tiến hành tố tụng 92
3.3.4 Giải pháp đối với các chủ thể khác 94
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh phòng chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ quantrọng, hàng đầu mà bất kỳ một nhà nước nào, một xã hội nào cũng cần phảiquan tâm Để việc đấu tranh này được thực hiện một cách kiên quyết, kịpthời, có hiệu quả, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luậtquan trọng, trong đó có các văn bản về pháp luật hình sự và pháp luật tố tụnghình sự Pháp luật hình sự mà trọng nhất là Bộ luật hình sự quy định hành vinào là nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt, tức làđưa ra các căn cứ giúp cho việc phát hiện, xác định tội phạm và người phạmtội Tuy nhiên, để đảm bảo cho việc phát hiện, xác định tội phạm và ngườiphạm tội được chính xác, xử lý nghiêm minh, không để lọt tội phạm, khônglàm oan người vô tội đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân thì pháp luật tố tụng hình sự nói chung, Bộ luật tố tụng hình sự nóiriêng lại đóng vai trò quan trọng Bởi lẽ, Bộ luật tố tụng hình sự quy địnhtrình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
Như vậy, diễn tiến giải quyết một vụ án sẽ diễn ra theo các giai đoạn:giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử và giaiđoạn thi hành án Đan xen giữa những giai đoạn chính đó là những “giai đoạnphụ”, những hoạt động nhỏ khác nhưng rất quan trọng Hoạt động sau phiêntòa xét xử vụ án hình sự là “một trong những giai đoạn như thế” Hoạt độngnày bắt đầu sau khi Hội đồng xét xử đưa ra một bản án hoặc quyết định tốtụng và kết thúc sau khi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
và người tham gia tố tụng thực hiện hết các hoạt động mà luật tố tụng hình sựquy định họ phải thực hiện Như vậy, về mặt thời gian hoạt động sau phiêntòa xét xử vụ án hình sự có thể có sự đan xen với giai đoạn xét xử sau và giaiđoạn thi hành án
Trang 8Các hoạt động sau phiên tòa xét xử các vụ án hình sự là một chuỗi cáchoạt động đa phần không mang nhiều tính chất tố tụng, mà thông thườngmang tính chất hành chính tư pháp, báo cáo Tuy nhiên, những hoạt động nàylại giữ một vai trò quan trọng, mà thiếu đi những hoạt động này, việc giảiquyết vụ án hình sự sẽ không được khách quan, minh bạch, có thể dẫn đếnnhững hậu quả nghiêm trọng, thậm chí khiến cho những giai đoạn tố tụngtrước đó trở nên vô nghĩa Điều đó dẫn đến mục đích đấu tranh, phòng chốngtội phạm của Đảng và Nhà nước ta không đạt được.
Khi xã hội càng phát triển, trình độ pháp luật của người dân được nângcao và khi các phương tiện truyền thông luôn theo sát với từng vụ án, đặc biệt
là những vụ án hình sự nhạy cảm như an ninh quốc gia, giết người, thì hoạtđộng sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự lại càng trở nên quan trọng và cầnđược chú trọng hơn
Song song sự phát triển dân trí đó là quá trình phát triển toàn diện củađất nước trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và qua thực tiễn ápdụng, nhiều quy định hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự của Bộluật tố tụng hình sự năm 2003 vẫn còn một số bất cập và hạn chế (như: chưaquy định về thời hạn gửi bản án của Viện kiểm sát cấp dưới tới Viện kiểm sátcấp trên trực tiếp, chưa quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tốtụng sau khi kết thúc phiên tòa, các quy định về hoạt động sau phiên tòa xét
xử vụ án hình sự trong quy chế của các ngành Tòa án, Viện kiểm sát còn cầnđược bổ sung và quy định cụ thể hơn; v.v )
Một số tồn tại và hạn chế nêu trên về mặt pháp luật đã gây ra nhữngvướng mắc, lúng túng trong hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự của
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng người tham gia tố tụng vàcác tổ chức, cá nhân khác trong thực tiễn Dẫn tới hệ quả, hoạt động sau phiêntòa chưa được chú trọng, còn mang tính hình thức, đối phó, làm cho có màchưa phát huy được tối qua hiệu quả, mục đích của hoạt động này
Trang 9Hiện nay, khoa học luật tố tụng hình sự trong nước mới chỉ có các côngtrình nghiên cứu nghiên cứu về hoạt động xét xử vụ án hình sự nói chunghoặc hoạt động xét xử sơ thẩm, hoạt động xét xử phúc thẩm hình sự, trong đóphần nào đề cập tới một số quy định về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ ánhình sự Tuy nhiên, sự đề cập đó mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê ra các quyđịnh trong Bộ luật tố tụng hình sự mà chưa có một công trình nghiên cứu độclập nào nghiên cứu có hệ thống, toàn diện về hoạt động sau phiên tòa xét xử
vụ án hình sự, đề cập tới những mặt được và những mặt hạn chế, vướng mắccủa hoạt động này
Về mặt thực tiễn công tác, với vị trí là một chuyên viên của Viện kiểmsát nhân dân, một kiếm sát viên tương lai, việc nghiên cứu vấn đề hoạt độngsau phiên tòa xét xử vụ án hình sự lại càng có ý nghĩa quan trọng, nhất làtrong bối cảnh pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay vẫn đang duy trìchức năng kiểm sát hoạt động xét xử đối với Tòa án của Viện kiểm sát Quátrình nghiên cứu sẽ giúp người thực hiện đề tài có tầm nhìn bao quát về nhữnghoạt động cần phải thực hiện sau phiên tòa của các cơ quan, tổ chức có liênquan, từ đó xác định cần kiểm sát những vấn đề gì, những vấn đề gì hay bị viphạm, những vấn đề nào không cần sự kiểm sát của Viện kiểm sát, v.v Mặtkhác, luận văn cũng sẽ giúp các cơ quan, người tiến hành tố tụng hiểu rõ hơn
về hoạt động của ngành bạn, từ đó có thể hỗ trợ, phối hợp giúp đỡ nhau thựchiện có hiệu quả các hoạt động sau phiên tòa Đặc biệt, công trình nghiên cứu
sẽ giúp người tham gia tố tụng, tổ chức, cá nhân khác có thêm những kiếnthức về quyền, nghĩa vụ của mình sau phiên tòa, từ đó có thể thuận lợi thựchiện quyền, nghĩa vụ của mình trên thực tế
Với những lý do trên cho thấy việc nghiên cứu các quy định của pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ ánhình sự và thực tiễn áp dụng để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra giải
Trang 10pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc ápdụng những quy định đó có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng.
Chính vì vậy, người nghiên cứu đã lựa chọn đề tài " Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự theo quy định pháp luật Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ luật học.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức
độ khác nhau, những khía cạnh, phương diện khác nhau về các hoạt động của
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong các giai đoạn xét xử,trong đó ít nhiều cũng đã đề cập đến những hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ
án hình sự
Cấp độ luận văn thạc sỹ Luật học có các đề tài của các tác giả như: Tôn Thất Cẩm Đoàn, Thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự: Lý luận và thực tiễn
áp dụng tại tỉnh Thừa Thiên Huế, Khoa luật, 2002; Nguyễn Thị Hoàng, Xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự trong công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Khoa luật, 2006; Nguyễn Hồng Phương, Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Khoa luật, 2012; Nguyễn Thị Lan Hương, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân, Khoa luật, 2012, Ngô Huyền Nhung, Giai đoạn xét xử sơ thẩm trong Tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa luật, 2012; Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Hải Phòng – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoa luật, 2012; v.v
Bên cạnh đó sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu khoa học có các công
trình sau: Mai Thanh Hiếu - Nguyễn Chí Công, Trình tự, thủ tục giải quyết vụ
án hình sự, Hà Nội – 2008; Đinh Văn Quế, Trình tự thủ tục xét xử các vụ án hình sự: xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, Nxb Tp Hồ Chí
Trang 11Minh – 2003; Hoàng Văn Hạnh, Giai đoạn xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn – Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
trường, Trường đại học Luật Hà Nội, 2003; v.v
Ngoài ra, một số tác giả cũng đã công bố những bài báo khoa học cómột phần nội dung đề cập đến những hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án
hình sự: Th.s Nguyễn Thị Thủy, Hoàn thiện thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nhà nước
và pháp luật, số 7/2009; Thái Chí Bình, Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về xét xử phúc thẩm, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5/2003; Nguyễn Huy Tiến, Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật,
số 1/2010; Đinh Thế Hưng, Quan hệ giữa các cơ quan công tố với điều tra và xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12/2011; Phạm Văn An, Một số kinh nghiệm trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình sự tại phiên tòa hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Kiểm sát, số 10/2011, v.v
Như vậy, ở nước ta đã có nhiều công trình nhiên cứu về các vấn đề xungquanh giai đoạn xét xử vụ án hình sự, nhưng nhìn một cách tổng quan có thểkhẳng định hiện chưa có một công trình nào nghiên cứu về hoạt động sau phiêntòa xét xử vụ án hình sự theo pháp luật hiện hành Bởi các công trình đó chủ yếuchỉ đề cập đến thủ tục tố tụng, các hoạt động diễn ra trước và trong phiên tòa;hoạt động diễn ra sau phiên tòa được đề cập tới rất ít và không có sự phân tích,bình luận, nhận xét về thực trạng cũng như phương hướng hoàn thiện các quyđịnh pháp luật về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự
Tình hình nghiên cứu trên đây lại một lần nữa cho phép khẳng định
việc nghiên cứu đề tài "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động sau
Trang 12phiên tòa xét xử vụ án hình sự theo pháp luật Việt Nam" là đòi hỏi khách
quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nêu và phân tích các quy định của Bộ luật TTHS cũng nhưcác văn bản quy phạm pháp luật khác có liên hoạt động sau phiên tòa xét xử
vụ án hình sự nhằm mục đích: đưa ra khái niệm và đặc điểm của hoạt độngsau phiên tòa xét xử vụ án hình sự, từ đó phân biệt với các hoạt động tố tụngkhác; đánh giá được sự hình thành và phát triển các quy định về hoạt độngsau phiên tòa xét xử vụ án hình sự từ sau năm 1945 đến nay Từ kết quả đó,nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về hoạt động sau phiên tòa xét xử
vụ án hình sự trên thực tế, những tồn tại, hạn chế; nguyên nhân của những tồntại đó và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định củapháp luật về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề chung về hoạt động sau phiêntòa xét xử vụ án hình sự như: Khái niệm, đặc điểm của hoạt động sau phiêntòa xét xử vụ án hình sự; phân biệt hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình
sự với hoạt động xét xử và hoạt động thi hành án;
- Nghiên cứu các quy định cụ thể về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ
án hình sự trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự hiện hành của ViệtNam, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá;
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định hiện hành vềhoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự, đồng thời phân tích làm rõnhững tồn tại, hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân cơbản của nó;
Trang 13- Từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quyđịnh về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự trong các văn bản phápluật tố tụng hình sự của Việt Nam hiện hành, cũng như những giải phápnâng cao hiệu quả áp dụng của hình phạt này trong thực tiễn.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Theo quy định tại Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam, nước ta thực hiện chế độ hai cấp xét xử; vì vậy Luận văn chỉ tập trungnghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh hoạt động sau phiên tòaxét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án hình sự; nghiên cứu các quy định củapháp luật về tố tụng hình sự hiện hành, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giátình hình áp dụng các quy định này của các Cơ quan tiến hành tố tụng, ngườitiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng và các cá nhân, tổ chức kháctrong thực tiễn Luận văn cũng sẽ làm rõ nguyên nhân của những tồn tại, hạnchế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệuquả của các hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tổng quan các quy định có liên quan trong lịch sử phát triểncủa pháp luật tố tụng hình sự của nước ta từ năm 1945 đến nay; nghiên cứucác quy định về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự năm trong Luật
tố tụng hình sự 2003 và các văn bản pháp luật hướng dẫn khác Đồng thời,luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài từ các báo cáo tháng, năm
từ đơn vị nơi cá nhân công tác – Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội từnăm 2011-2014
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vậtlịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Trang 14Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhànước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thểhiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 vềChiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng cácphương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật tố tụng hình sự như: phươngpháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương phápdiễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học
để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự, luật tố tụng hình sự và luậnchứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
6 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện
lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ởcấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ ánhình sự, mà trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễnliên quan tới hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự trong hệ thống phápluật tố tụng hình sự Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu thamkhảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp, các nhà nghiêncứu, học viên chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kếtquả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thứcchuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan tiến hành
tố tụng, đặc biệt là cơ quan Tòa án và Viện Kiểm sát để hoạt động sau phiêntòa được thực hiện, góp phần phát huy tối đa hiệu quả của các hoạt động tốtụng khác – hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Đặcbiệt luận văn sẽ giúp các tổ chức, công dân trong xã hội nhận thức rõ hơn
Trang 15quyền – nghĩa vụ của mình, của các cơ quan tiến hành tố tụng – những vấn đềđược quy định rất ít và rải rác trong các văn bản pháp luật, từ đó thực hiện cóhiệu quả các quyền và nghĩa vụ này trên thực tế.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm có 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề chung về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ
án hình sự
Chương 2 Hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự theo quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
Chương 3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự 2003 về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự
Trình tự tố tụng hình sự (TTHS) bao gồm nhiều bước, diễn ra liên tục,
hỗ trợ nhau: giai đoạn khởi tố; giai đoạn điều tra; giai đoạn truy tố; giai đoạnxét xử (bao gồm xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm); giai đoạn thi hành bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trong đó, giai đoạn xét xử làgiai đoạn trung tâm Chính vì tầm quan trọng của xét xử như vậy, mà đối vớimột vụ án, dư luận không chỉ quan tâm tới nội dung diễn biến tại phiên tòa
mà còn quan tâm tới các hoạt động diễn ra sau phiên tòa đó
Có thể nói rằng hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự là kháiniệm chưa được nghiên cứu sâu và đầy đủ trong khoa học luật tố tụng hình sựViệt Nam từ trước tới nay Để đưa ra được khái niệm này, cần thiết nghiêncứu một số khái niệm liên quan như: hoạt động, hoạt động tố tụng hình sự,hoạt động hành chính tư pháp
Theo Triết học, hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa conngười và thế giới để tạo ra sản phẩm cả về thế giới và cả về phía con người.Hoạt động được Luận văn nghiên cứu là những hoạt động diễn ra sau phiêntòa xét xử các vụ án hình sự Hiện nay, kết thúc phiên tòa xét xử có hai cáchhiểu khác nhau: kết thúc phiên tòa theo lịch công việc và kết thúc phiên tòatheo bản chất công việc
Kết thúc phiên tòa theo lịch công việc là sự kết thúc đã được định sẵn
theo kế hoạch, thường được thể hiện trong lịch phiên tòa, quyết định đưa vụ
án ra xét xử Hết thời điểm được định sẵn đó, phiên tòa được coi là kết thúc
Cụ thể, đến thời điểm này, vụ án được đưa ra xét xử và kết thúc khi Tòa án ra
Trang 17một quyết định tố tụng bất kỳ (bản án, quyết định hoãn phiên tòa, quyết địnhtrả hồ sơ để điều tra bổ sung, ), quyết định này có thể đã giải quyết được nộidung vụ án hoặc cũng có thể chưa; sau khi kết thúc phiên tòa, vụ án có thểđược xóa khỏi sổ thụ lý (trường hợp ra bản án, đình chỉ xét xử, ), nhưngcũng có thể vẫn là án tồn tại Tòa (trường hợp tạm đình chỉ, hoãn phiên tòa, )
Kết thúc phiên tòa theo bản chất công việc là sự chấm dứt hoàn toàn vụ
án, được biểu hiện bằng việc đưa ra một quyết định giải quyết nội dung của
vụ án như: bản án, quyết định đình chỉ, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổsung, v.v Lúc này, Tòa án chấm dứt việc giải quyết đối với vụ án Hay nóicách khác, sau khi kết thúc phiên tòa, vụ án không còn được coi là án chưagiải quyết (án tồn) tại Tòa án nữa
Như vậy, theo phân tích trên, khái niệm kết thúc phiên tòa theo bản chấtcông việc hẹp hơn khái niệm kết thúc phiên tòa theo lịch công việc Thời điểmkết thúc phiên tòa được luận văn nghiên cứu được hiểu theo nghĩa thứ nhất
Theo nguyên tắc hai cấp xét xử được quy định trong Hiến Pháp và Bộluật tố tụng hình sự (BLTTHS) hiện hành, Tòa án thực hiện nguyên tắc haicấp xét xử nên thuật ngữ “phiên tòa” được đề cập trong Luận văn là phiên tòa
sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án hình sự
Các hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự bao gồm các hoạtđộng tố tụng hình sự, hoạt động hành chính tư pháp và các hoạt động khác
Hoạt động tố tụng hình sự sau phiên tòa là toàn bộ hoạt động của các
chủ thể TTHS sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự nhằm hướng tới việc giảiquyết cũng như kết quả vụ án khách quan, công bằng, góp phần đấu tranhchống và phòng ngừa tội phạm
Hoạt động hành chính tư pháp sau phiên tòa được hiểu là các quy
trình, thủ tục mang tính chất hành chính hỗ trợ cho hoạt động của các cơquan tiến hành tố tụng, giải quyết các yêu cầu của người dân sau các phiên
Trang 18tòa xét xử và các hoạt động quản lý, chỉ đạo điều hành của lãnh đạo của các
cơ quan tiến hành tố tụng Hoạt động này bao gồm các công việc như: việctiếp dân; tiếp nhận và xử lý đơn khởi kiện, cấp sao lục bản án, quyết địnhcủa Tòa án, v.v
Các hoạt động khác sau phiên tòa là hoạt động của những người bị kết
án, bị cáo, người giám hộ của họ, luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của người bị kết án, bị cáo, Trong thực tế, một vụ án mang theo sự quantâm của rất nhiều người, của cả xã hội, vì vậy, bên cạnh các những chủ thể tiếnhành tố tụng được thực hiện những hoạt động tố tụng hình sự, hoạt động hànhchính tư pháp thì một bộ phận lớn các chủ thể khác: người tham gia tố tụng, cơquan báo chí, các cá nhân, cơ quan, tổ chức xã hội khác liên quan đến vụ án.Tuy nhiên thể hiện quyền và nghĩa vụ sau phiên tòa rõ nét nhất chính là các chủthể đã đề cập đến ở trên: người bị kết án, bị cáo, người đại diện, luật sư, ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án, bị cáo
Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm sau về hoạt động sau
phiên tòa xét xử vụ án hình sự: hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự là các hoạt động diễn ra giữa hai giai đoạn chính của tố tụng hình sự là xét xử và thi hành án hoặc xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm, trong đó, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, bị cáo và các tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hoạt động tố tụng, hoạt động hành chính tư pháp hoặc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTHS và các văn bản pháp luật khác để việc giải quyết vụ án theo đúng trình tự, thời gian do pháp luật quy định, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS.
1.2 Đặc điểm của hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự.
Thứ nhất, các hoạt động sau phiên tòa bao gồm đa dạng các hoạt động:
tố tụng hình sự, hành chính tư pháp và các hoạt động khác Như đã phân tíchtrong phần khái niệm, hoạt động sau phiên tòa có thể là hoạt động kháng cáo
Trang 19bản án, quyết định hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật hoặc hoạt độngkháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định hình sự chưa có hiệu lựcpháp luật hoặc kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định hình sự
đã có hiệu lực pháp luật, – đây là những hoạt động TTHS Hoạt động sauphiên tòa còn có thể là các hoạt động như đánh máy, chỉnh sửa bản án, quyếtđịnh hình sự, tống đạt các quyết định, – đây là những hoạt động hành chính
tư pháp Cả hai hoạt động này đều có sự tham gia của các chủ thể là đại diệncủa Cơ quan tư pháp nhà nước là Tòa án và Viện kiểm sát Tuy nhiên, sauphiên tòa còn có sự tham gia của các chủ thể khác nữa như người bị kết án, bịcan, bị cáo trong việc viết các đơn khiếu nại, tố cáo, hoạt động thông tin vụ áncủa các phương tiện truyền thông đại chúng, v.v Đây là những hoạt độngkhông mang cả tính chất tố tụng và hành chính tư pháp nên được Luận văngọi là các hoạt động khác
Thứ hai, chủ thể của hoạt động sau phiên tòa đa dạng: Cơ quan tiến
hành tố tụng mà chủ yếu là Tòa án, Viện kiểm sát; người tiến hành tố tụng; bịcáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo và những ngườitham gia tố tụng khác, v.v Các hoạt động sau phiên tòa chủ yếu là các hoạtđộng tố tụng hình sự và các hoạt động hành chính tư pháp nên các chủ thểtham gia hoạt động sau phiên tòa cũng chủ yếu là các chủ thể có thẩm quyềntiến hành hoạt động tố tụng hình sự và hoạt động hành chính tư pháp Cáchoạt động của các chủ thể là bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữacủa họ và những người tham gia tố tụng khác rất hạn chế Vì vậy, đối với cáchoạt động này, Luận văn chủ yếu đi sâu phân tích hoạt động của các chủ thể
là bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo
Thứ ba, hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự có thể được coi là
một giai đoạn của tố tụng hình sự, mặc dù còn chưa được xem xét là một giaiđoạn chính, một giai đoạn độc lập trong chế định của Luật TTHSVN Một
Trang 20giai đoạn của TTHS thường được xác định bởi hai thời điểm là bắt đầu và kếtthúc Hoạt động sau phiên tòa đáp ứng được cả hai thời điểm đó Hoạt độngnày bắt đầu sau khi tại phiên tòa, Tòa án tuyên một trong các văn bản tố tụngsau: Bản án, Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ xét xử đối với vụ án hoặc đốivới bị cáo, Quyết định hoãn phiên tòa, Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổsung Thời điểm kết thúc của hoạt động này là khi Bản án có hiệu lực phápluật, Tòa án cùng cấp ra Quyết định thi hành án hoặc Tòa án cấp tiếp theo thụ
lý vụ án để xét xử phúc thẩm, xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, táithẩm Như vậy, giai đoạn sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự là một giai đoạnđộc lập trong TTHS VN Tuy nhiên, giai đoạn này hiện nay còn có sự bỏ ngỏ,chưa được quy định riêng biệt và các thiếu nhiều quy định điều chỉnh hành vicủa các chủ thể tham gia các hoạt động trong giai đoạn này Vì vậy, điều này
sẽ dẫn đến rất nhiều vướng mắc khi các chủ thể hoạt động này trên thực tiễn.Mặc dù vậy, là một giai đoạn độc lập nhưng giai đoạn sau phiên tòa lại khôngphải là một giai đoạn chính của TTHS TTHS Việt Nam chỉ bao gồm các giaiđoạn chính như: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Bởi lẽ, đây lànhững hoạt động thể hiện rõ nét nhất bản chất của TTHS, nhiệm vụ, vai tròcủa Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tốtụng; tập trung đầy đủ và chủ yếu nhất các hoạt động TTHS - hoạt động đặctrưng của TTHS
Thứ tư, mục đích của hoạt động sau phiên tòa là nhằm mục đích tạo
bước đệm giữa các giai đoạn tố tụng khác, đảm bảo cho kết quả của các giaiđoạn tố tụng trước được công bằng, minh bạch, có căn cứ, đúng pháp luật,đảm bảo quyền con người; để việc giải quyết vụ án theo đúng trình tự, thờigian do pháp luật quy định, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS
1.3 Phân loại hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự.
Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà có nhiều cách phân loại các hoạt
Trang 21động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự khác nhau Dựa theo nguyên tắc haicấp xét xử, hoạt động sau phiên tòa bao gồm: hoạt động sau phiên tòa xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự và hoạt động sau phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ ánhình sự Dựa vào chủ thể tham gia, hoạt động sau phiên tòa gồm: hoạt độngcủa Tòa án, hoạt động của Viện kiểm sát, hoạt động của các chủ thể khác.Dựa vào tính chất của hoạt động, hoạt động sau phiên tòa xét xử các vụ ánhình sự bao gồm: các hoạt động tố tụng hình sự, các hoạt động hành chính tưpháp và các hoạt động khác
Luận văn có sự kết hợp của cả ba cách phân loại trên, trong đó, lấycách phân loại thứ nhất để thể hiện trong kết cấu
1.4 Vai trò và ý nghĩa của hoạt động sau phiên tòa xét
xử vụ án hình sự
1.4.1 Vai trò của hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự
Các hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự có vai trò rất quantrọng trong tố tụng hình sự nói riêng và trong đời sống pháp luật, đời sống xãhội nói chung Tuy nhiên, có thể điểm lại ở ba vai trò chính sau:
Thứ nhất, hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự thực hiện nhiệm
vụ là cầu nối cho các hoạt động của các giai đoạn khác Điển hình nhất là sựnối tiếp cho giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án Các hoạt động sauphiên tòa không những là sự nối tiếp về mặt thời gian (kết thúc phiên tòa –các hoạt động sau phiên tòa – thi hành án) mà còn là sự nối tiếp về mặt nộidung công việc Trong một vài trường hợp, nếu không có hoạt động sau phiêntòa nào đó thì hoạt động thi hành án sẽ không thể diễn ra Ví dụ, nếu có hoạtđộng bắt tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án của Hội đồng xét xử tronggiai đoạn xét xử thì các hoạt động trong giai đoạn thi hành án đối với bị cáo
sẽ diễn ra suôn sẻ, tránh được những trường hợp phải tạm đình chỉ do bị cáotrốn Hay nếu không có hoạt động chuyển hồ sơ kháng cáo cho Tòa án cấp
Trang 22phúc thẩm đúng thời hạn thì tất yếu hoạt động xét xử phúc thẩm sẽ bị ảnhhưởng rất lớn.
Bên cạnh đó, hoạt động sau phiên tòa còn là cầu nối cho các giai đoạnkhác như giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Sự xuất hiện củahoạt động kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát sẽ làm tiền đềcho một loạt các hoạt động tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, táithẩm như: tiếp nhận hồ sơ, phân công thẩm phán, xét xử phúc thẩm, xét lạibản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, v.v
Thứ hai, hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự góp phần cho vụ
án được giải quyết hoàn thiện đúng trình tự, thủ tục, thời gian Nếu như cácgiai đoạn tố tụng trước đó đã được thực hiện đúng trình tự thủ tục, nhưng đếnsau khi phiên tòa kết thúc, các hoạt động sau phiên tòa không được thực hiệnmột cách đầy đủ thì vụ án vẫn chưa được coi là đã được giải quyết triệt để.Đối với các hoạt động sau phiên tòa mà Bộ luật TTHS có quy định, nếu cáchoạt động này không được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục thì vẫn có thể
bị coi là vi phạm tố tụng, mặc dù không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng vẫn
có thể bị khiếu nại, tố cáo Và quay trở lại, chính việc khiếu nại, tố cáo này sẽkhiến cho vụ án bị dây dưa, kéo dài, gây mất niềm tin của nhân dân, xã hộivào các cơ quan tiến hành tố tụng Vì vậy, thực hiện đúng và đầy đủ các hoạtđộng sau phiên tòa sẽ giúp vụ án được hoàn thiện hơn, hoàn thiện cả về mặtthủ tục và về mặt thời gian
Thứ ba, hoạt động sau phiên tòa góp phần tăng cường pháp chế, đảm
bảo quyền con người Một trong những hoạt động sau phiên tòa được biết đến
là hoạt động kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm và hoạt động phát hiện ra các
vi phạm pháp luật để kháng nghị hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khángnghị giám đốc thẩm, tái thẩm Đây là những hoạt động biểu hiện rõ ràng nhấtcho công cuộc phát hiện những khiếm khuyết, thậm chí là những vi phạm
Trang 23pháp luật, từ đó có thể khắc phục được các vi phạm đó, góp phần tăng cườngpháp chế Ngoài ra, việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật hiện hành
về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự cũng là thể hiện sự tôn trọngpháp luật, đề cao tính tối cao của pháp luật, gìn giữ pháp chế trong xã hội.Đảm bảo mọi chủ thể liên quan đến vụ án đều tuân theo pháp luật khi thựchiện quyền và nghĩa vụ của mình sau phiên tòa cũng chính là cơ chế để bảo
vệ quyền con người Bởi lẽ quyền của chủ thể này chính là nghĩa vụ của chủthể khác Các chủ thể khi tham gia hoạt động sau phiên tòa phải tôn trọng vàtạo điều kiện cho các chủ thể còn lại thực hiện quyền của mình Quyền đượckháng cáo là một ví dụ Nếu bị cáo thấy bản án còn có vi phạm hoặc chưatương xứng với hành vi của mình thì bị cáo có quyền kháng cáo trong thờihạn luật định để tìm lại sự công bằng Trên thực tế, rất nhiều vụ án được đưa
ra xét xử nhiều lần, ở nhiều cấp khác nhau, và quyết định cuối cùng lại khácvới quyết định ban đầu Như vậy, phải chăng là công lý đã được tìm thấy,quyền con người của bị cáo đã được bảo vệ Ngoài ra các hoạt động khác nhưhoạt động được nhận bản án, các quyết định tố tụng, hoạt động bắt tạm giamđúng pháp luật của Tòa án đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án, quyền thựchiện việc khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, v.v đều mang trong mìnhcác nội dung về việc đảm bảo quyền con người và thể hiện tính dân chủ trong
Tố tụng hình sự của Nhà nước ta
1.4.2 Ý nghĩa của hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự
Về mặt lý luận, hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự góp phần
thực hiện đúng đắn các quy định của BLTTHS Bên cạnh đó, đa phần cáchoạt động sau phiên tòa được quy định trong các văn bản nghiệp vụ nội bộ, vìvậy tiến hành các hoạt động sau phiên tòa sẽ giúp hoàn thiện, thực hiện triệt
để được các hoạt động sau phiên tòa đã được quy định trong Luật, từ đó, các
Trang 24quy định nghiệp vụ tiến bộ dần dẫn có thể được pháp điển hóa thành các quyđịnh của pháp luật TTHS.
Về mặt pháp lý, thứ nhất, hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự
góp phần làm cho hoạt động tố tụng trong giai đoạn xét xử của người, cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thực hiện đúng pháp luật, kịp thờiphát hiện và khắc phục các vi phạm pháp luật trong các quyết định, hành vi tốtụng đó Thứ hai, hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự là bước đệm,tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo
Về mặt xã hội, hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự góp phần
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của Cơ quan, tổchức, cá nhân, phát huy quyền tự do, dân chủ của các chủ thể này Không cócác hoạt động sau phiên tòa thì quyền và lợi ích của các chủ thể nêu trênchưa được thực hiện triệt để Trong quá trình tố tụng, đa phần các chủ thểđều phải thực hiện các nghĩa vụ nhiều hơn là được hưởng quyền: cung cấpthông tin, khai báo, giao nộp tài liệu, bị tạm giam, v.v Chỉ đến khi sauphiên tòa, các quyền của các chủ thể mới được thể hiện nhiều hơn như: tìmlại sự công bằng cho người bị hại, người có quyền lợi bị xâm phạm thì đượcbồi thường, ngay cả bị cáo cũng có các quyền như: được giao nhận bản án,được gặp người thân thích trước khi chấp hành hình phạt,v.v Tất cả nhữnghoạt động này đồng thời cũng thể hiện ý nghĩa, chủ trương nhân đạo xã hộichủ nghĩa của Đảng và Nhà nước ta
1.5 Tổng quan pháp luật Tố tụng hình sự về hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự từ năm 1945 đến năm 2003
Hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự là một bộ phận không thểtách rời của tố tụng hình sự, cho dù chúng có được quy định một cách chínhthức trong các văn bản pháp luật hay không Về mặt pháp luật, từ năm 1945đến nay, cùng với sự thay đổi của các thời kỳ lịch sử, các quy định về các
Trang 25hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự đã và đang có sự phát triển rõrệt, từ chỗ chưa được ghi nhận trong các văn bản pháp lý đến chỗ được ghinhận một cách khái quát, rồi quy định ngày càng chi tiết và tiến bộ hơn.
Trước Cách mạng tháng Tám hệ thống pháp luật TTHS đã có những quyđịnh về chế độ xét xử, số lượng, nhiệm vụ của các thẩm phán, lục sự, thư ký,tần suất tổ chức một phiên tòa, v.v… [8] Tuy nhiên, tại các văn bản này, nhữnghoạt động sau phiên tòa lại chưa được đề cập, quy định một cách chính thức.Mặc dù vậy, các hoạt động này vẫn diễn ra như một phần không thể tách rờisau khi kết thúc một vụ án hình sự, tất nhiên là những hoạt động này được thựchiện một các tùy nghi, theo kinh nghiệm, tiền lệ của chính các cơ quan đó
Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc tiến hành xâydựng các thể chế xã hội chủ nghĩa, trong đó pháp luật tố tụng hình sự dầnđược chú ý Đỉnh cao của thời kỳ này là việc Quốc hội quyết định Tòa ánnhân dân tối cao và hệ thống các Tòa án địa phương, Viện công tố trung ươngcùng hệ thống Viện công tố các cấp vào năm 1958 Để rồi trên cơ sở Hiếnpháp 1959, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 và Luật tổ chức Việnkiểm sát nhân dân năm 1960 được ban hành Ở Miền Nam, sau ngày giảiphóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã banhành Sắc lệnh số 01 ngày 15/3/1976 về tổ chức Tòa án nhân dân và Việnkiểm sát nhân dân các cấp Tại các văn bản này, ít nhiều đã có quy định giántiếp về các hoạt động sau phiên tòa Ví dụ, theo Điều 9 và Điều 10 Luật tổchức Tòa án nhân dân 1960 thì các hoạt động sau phiên tòa xét xử vụ án hình
sự bao gồm một số hoạt động như:
- Hoạt động chống án của đương sự: Sau phiên tòa, đương sự có quyềnchống bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân xử sơ thẩm lên Toà ánnhân dân trên một cấp
- Hoạt động kháng nghị của Viện Kiểm sát
Trang 26- Hoạt động duyệt lại các bản án tử hình – được tiến hành bởi Hồi đồngtoàn thể thẩm phán của Toà án nhân dân tối cao duyệt lại trước khi thi hành.
- Hoạt động phát hiện những sai lầm trong bản án, quyết định đã cóhiệu lực pháp luật để thực hiện việc xét xử lại [26]
Hoặc theo quy định tại các Điều 3, 11, 17 và 18 Luật tổ chức Việnkiểm sát nhân dân năm 1960 cho thấy có các hoạt động sau phiên tòa baogồm:
- Trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết các việc khiếu nại và tố cáo củanhân dân về việc vi phạm pháp luật và trả lời người khiếu nại hoặc tố cáocủa Viện KSND;
- Kháng nghị phúc thẩm những bản án hoặc quyết định sơ thẩm củaToà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới một cấp;
- Báo cáo lên VKSND TC về các sai lầm trong bản án hoặc các quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp mình hoặc cấp dưới để Việnkiểm sát nhân dân tối cao để kháng nghị [27]
Như vậy, dù quy định một cách trực tiếp hay gián tiếp nhưng những nộidung trên về hoạt động sau phiên tòa cũng đã góp phần vào công cuộc bảo vệchế độ dân chủ nhân dân, trật tự xã hội, tài sản công cộng và những quyền lợihợp pháp của công dân, góp phần bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nướcnhà được tiến hành thắng lợi
Năm 1980, Quốc hội thông qua Hiến Pháp mới Trên cơ sở đó, Luật tổchức Tòa án nhân dân và Luật tổ chức VKSND năm 1981 thay thế các Luậtnày từ năm 1960 Các văn bản pháp luật mới đã có sự quy định chi tiết hơn,góp phần đáng kể vào việc khắc phục những thiếu sót, sai lầm trong việc giảiquyết vụ án hình sự, tuy nhiên hầu hết các nội dung này vẫn được hiểu một
Trang 27cách gián tiếp như những quy định trong các văn bản trước đây.
Theo quy định tại Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1981 thì các hoạt độngsau phiên tòa xét xử vụ án hình sự bao gồm:
- Hoạt động kháng cáo của bị cáo và đương sự khác, hoạt động khángnghị của Viện KSND đối với những bản án và quyết định sơ thẩm của Tòa ánnhân dân;
- Hoạt động kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm;
- Hoạt động kiến nghị của Tòa án với các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp,hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân khắc phục những thiếu sót trong côngtác quản lý đã là nguyên nhân hoặc điều kiện phát sinh tội phạm hoặc việclàm vi phạm pháp luật;
- Hoạt động nghiên cứu và thực hiện những chủ trương, biện pháp nhằmphòng ngừa và chống các tội phạm và các việc làm vi phạm pháp luật [28]
Quy định tại Luật tổ chức Viện kiêm nhân dân 1981 cho thấy có các hoạtđộng sau phiên tòa như hoạt động Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúcthẩm các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà ánnhân dân cùng cấp và dưới một cấp và giám đốc thẩm đối với các bản án, quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp dưới [29, Điều 13]
Năm 1988 đánh dấu một bước ngoặt trong pháp luật Tố tụng hình sựViệt Nam và cũng từ đây các hoạt động sau phiên tòa được quy định một cách
cụ thể, chi tiết hơn Xuất phát từ thực tế xã hội đang chuyển biến, xây dựngnền kinh tế thị trường, căn cứ vào thực tế các văn bản quy phạm pháp luật tốtụng hình sự đơn hành chưa toàn diện, đầy đủ Chính vì vậy, ngày 28/6/1988,Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật tốtụng hình sự đầu tiên của nước ta - Bộ Luật Tố tụng hình sự năm1988, sau đósửa đổi bổ sung lần thứ nhất vào năm 1990, sửa đổi lần thứ hai năm 1992, sửađổi lần thứ ba năm 2000 Trên tinh thần lấy dân làm gốc, bảo vệ các quyền và
Trang 28lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý kiên quyết và triệt để mọi hành vi phạmtội, không hạn chế quyền của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng;bảo đảm hoạt động có hiệu quả của các cơ quan bảo vệ pháp luật trước yêucầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, các hoạt động sauphiên tòa phần nào đã được quy định trong các điều luật cụ thể như:
Điều 174 đề cập tới hoạt động kiểm tra, xem biên bản phiên tòa: s aukhi kết thúc phiên toà, chủ toạ phiên toà phải kiểm tra biên bản và cùng vớithư ký phiên toà ký vào biên bản đó; bị cáo, người bào chữa, người bị hại,nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liênquan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của những người đó được xem biênbản phiên toà, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bảnphiên toà và ký xác nhận [30]
Điều 199 đề cập tới hoạt động yêu cầu yêu cầu sửa chữa những khuyếtđiểm trong công tác quản lý [30]
Điều 203 đề cập tới hoạt động giao bản án:
Chậm nhất là mười lăm ngày sau khi tuyên án, Toà án phảigiao bản sao bản án cho bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, người bàochữa, gửi bản sao bản án cho những người bị xử vắng mặt và thôngbáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi
bị cáo cư trú hoặc làm việc Trong trường hợp xử vắng mặt bị cáotheo quy định tại điểm a hoặc điểm b, khoản 2 Điều 162 Bộ luật nàythì trong thời hạn nói trên bản sao bản án phải được niêm yết tại trụ
sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việccuối cùng của bị cáo Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp có liên quan đến vụ án hoặcđại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Toà án cấp trích lục bản
án hoặc bản sao bản án [30]
Trang 29Điều 207, 208 đề cập tới hoạt động, thời hạn kháng cáo, kháng nghị:
1- Người kháng cáo phải gửi đơn đến Toà án đã xử sơ thẩmhoặc Toà án cấp phúc thẩm Trong trường hợp bị cáo đang bị tạmgiam, Ban giám thị trại giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiệnquyền kháng cáo
Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Toà án đã
xử sơ thẩm về việc kháng cáo Toà án phải lập biên bản về việckháng cáo đó
2- Viện kiểm sát kháng nghị bằng văn bản, có nói rõ lý do.Kháng nghị được gửi đến Toà án đã xử sơ thẩm [30, Điều 207].Tuy nhiên, dần dần, cùng với sự phát triển của xã hội, Bộ luật TTHS
1988 không còn phù hợp nữa, Bộ luật TTHS 2003 ra đời nhằm nâng cao chấtlượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranhphòng chống tội phạm trong tình hình mới; nêu cao hơn nữa trách nhiệm của
Cơ quan nhà nước đối với công dân, đảm bảo quyền tự do, dân chủ của côngdân đã được hiến pháp và pháp luật quy định; đề cao nhiệm vụ và xác địnhchức năng, nhiệm vụ của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, xác định rõhơn quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng; các quy định vềtrình tự, thủ tục tố tụng được sửa đổi rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, có tính khả thihơn, tạo điều kiện cho những người tiến hành và tham gia tố tụng thực hiệnđầy đủ quyền và trách nhiệm của mình [52]
Trang 30Chương 2 HOẠT ĐỘNG SAU PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003
2.1 Hoạt động sau phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, nếu thấy có đầy đủ các điều kiện thìTòa án cấp sơ thẩm ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử Thực tiễn chothấy sau khi khai mạc phiên tòa thì không phải trong mọi trường hợp Hộiđồng xét xử sơ thẩm đều ra Bản án mà tùy theo từng trường hợp cụ thể sẽ banhành các quyết định tương ứng Sau mỗi quyết định tương ứng đó là các hoạtđộng cần thiết phải tiến hành
2.1.1 Hoạt động sau phiên tòa trong trường hợp Hội đồng xét xử ra Bản án
Bản án hình sự sơ thẩm là kết quả xét xử của quá trình truy cứu TNHSngười phạm tội do Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa sơ thẩm,
mà trong đó quyết định về việc người bị đưa ra xét xử có bị coi là có tội haykhông có tội, cũng như về việc có áp dụng hay không áp dụng hình phạt, biệnpháp cưỡng chế về hình sự khác đối với người đó theo quy định của pháp luậthình sự và pháp luật TTHS
Trong thực tế, Tòa án sơ thẩm có thể tuyên 4 dạng bản án sau:
- Bản án tuyên vô tội, theo đó, người bị xét xử tại phiên tòa không bịTòa án tuyên coi là có tội nên không phải chịu TNHS
- Bản án tuyên hành vi của người phạm tội có đầy đủ các yếu tố cấuthành tội phạm, nhưng có căn cứ để miễn TNHS cho người phạm tội theo cácquy định của pháp luật hình sự
- Bản án kết tội tuyên người bị kết án là có tội, nhưng nhận thấy có căn
cứ để miễn hình phạt cho họ và có thể kèm theo việc áp dụng biện pháp tưpháp nhất định theo các quy định của pháp luật hình sự
Trang 31- Bản án kết tội tuyên người bị kết án là có tội và phải chịu hình phạt,đồng thời còn có thể kèm theo việc áp dụng biện pháp tư pháp nhất định theocác quy định của pháp luật hình sự.
2.1.1.1 Hoạt động của Tòa án
Sau khi kết thúc một phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Tòa án mà
cụ thể là các thư ký và thẩm phán phải thực hiện nhiều thao tác nghiệp vụ để
vụ án được hoàn tất Có thể nói, trong tất cả các chủ thể, Tòa án là chủ thểthực hiện nhiều hoạt động sau phiên tòa nhất và hầu hết các hoạt động nàyđều là các hoạt động mang tính chất quan trọng, bắt buộc phải thực hiện
Hoạt động của Tòa án cấp sơ thẩm
Đầu tiên và cũng là phổ biến nhất, hoạt động phát hành bản án, cấptrích lục, bản sao bản án
Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, Thư ký Tòa án cần kiểm tra biênbản phiên tòa, ký và sửa đổi bổ sung biên bản phiên tòa Thư ký vào sổ kếtquả, lấy số, đánh máy bản án, quyết định tố tụng chỉnh theo mẫu ban hành khiThẩm phán yêu cầu, soát xét và trình thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ký theomẫu bản án hình sự sơ thẩm ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP, Tiếp theo, Tòa án sẽ tiến hành việc giao, gửi hoặc niêm yết bản án.Hoạt động này được quy định cụ thể và chi tiết tại Điều 229 BLTTHS 2003.Theo đó, những đối tượng mà Tòa án bắt buộc phải giao bản án là: người đãtham gia tố tụng với tư cách là bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp,người bào chữa, người bị xử vắng mặt, cơ quan công an cùng cấp Những đốitượng mà Tòa án không bắt buộc phải giao bản án là: người bị hại, nguyênđơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ ánhoặc người đại diện hợp pháp của họ Tòa án có thể “cấp” bản sao bản án khinhững chủ thể này có yêu cầu, hoặc không “cấp” bản sao bản án mà chỉ cungcấp cho họ trích lục bản án Ngoài việc phải giao bản án, Tòa án còn phải
Trang 32thực hiện việc niêm yết bản án trong trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt bịcáo Việc niêm yết này được thực hiện tại trụ sở chính quyền xã, phường, thịtrấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo, được lập thành biênbản và lưu vào hồ sơ vụ án
Cùng với đó, khi kết thúc một vụ án, Thư ký Tòa án soạn thảo Thôngbáo kết quả xét xử trình Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ký rồi gửi đếnchính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị cáo cư trúhoặc làm việc
Ngoài hoạt động giao bản án, Tòa án còn thực hiện một số các thao tácnghiệp vụ khác như:
Hoạt động sắp xếp lại hồ sơ vụ án, đánh số thứ tự tiếp theo và lập bản kê
tài liệu hồ sơ Nếu hồ sơ vụ án có kháng cáo, kháng nghị thì chuyển hồ sơ vụ
án lên cho Tòa án cấp phúc thẩm; nếu hồ sơ vụ án không có kháng cáo, khángnghị hoặc kháng cáo quá hạn không được chấp nhận thì chuyển cho bộ phậnlưu trữ Đối với hồ sơ vụ án hình sự có bị cáo bị xử phạt tử hình thì dù không
có kháng cáo, kháng nghị thì sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ
sơ vụ án phải được gửi ngay lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (qua BanThư ký TAND tối cao) và bản án phải được gửi ngay lên Viện VKSND tối cao
Hoạt động ban hành kiến nghị sửa chữa những khuyết điểm trong công tác quản lý để gửi riêng cho các cơ quan, tổ chức hữu quan Đây là
những kiến nghị chưa đề cập trong bản án, quyết định tố tụng mà cần phảiban hành riêng [32, Điều 225]
Hoạt động tiến hành các thủ tục để trả tự do cho bị cáo quy định tại
Điều 227 BLTHS hoặc bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án quy định tạiĐiều 228 BLTTHS Sau khi kết thúc phiên tòa, trong trường hợp phải trả tự
do cho bị cáo đang bị tạm giam ngay tại phiên Tòa, thư ký sẽ soạn thảo Quyếtđịnh trả tự do cho bị cáo theo mẫu 5d ban hành kèm Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP trình thẩm phán – chủ tọa phiên tòa ký Đối với trường hợp bắt tạm
Trang 33giam bị cáo ngay sau khi tuyên án, thư ký sẽ soạn Quyết định bắt và tạm giamtheo mẫu 1đ (nếu bị cáo không bị tạm giam) ban hành kèm Nghị quyết04/2004/NQ-HĐTP trình thẩm phán – chủ tọa phiên tòa ký Cũng giống nhưcác quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án, BLTTHS hiện hành chưa quyđịnh thời hạn, chủ thể được nhận các quyết định tố tụng này Vì vậy, cũngnhư đã phân tích ở trên, căn cứ vào thời hạn được kháng nghị phúc thẩm cácquyết định tố tụng của VKS thì những Quyết định này phải được gửi choVKS trong vòng 7 ngày, kể từ ngày Tòa án ban hành Quyết định này.
Hoạt động tiếp nhận đơn kháng cáo, kháng nghị và thông báo bằng văn
bản về việc kháng cáo, kháng nghị cho Viện kiểm sát cùng cấp và nhữngngười tham gia tố tụng trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khángcáo, kháng nghị [32, Điều 236] Thủ tục cụ thể của hoạt động này như sau:đối với những đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị nhận trực tếp, Thư kýTòa án sẽ vào sổ nhận đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị Nếu ngườikháng cáo trình bày trực tiếp về việc kháng cáo thì tiến hành lập biên bản vềviệc kháng cáo theo quy định tại Điều 95 BLTTHS và theo mẫu 01a ban hànhkèm Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 8/12/2005 hướng dẫn thi hànhmột số quy định trong phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của BLTTHS năm
2003 Nếu đơn kháng cáo được gửi qua Bưu điện thì thư ký ghi vào sổ nhậnđơn ngày công văn đến, lưu kèm đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị làphong bì có đóng dấu của bưu điện nơi gửi để xác định ngày kháng cáo,kháng nghị Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua Ban giám thị Trại tạmgiam hoặc nhà tạm giữ thì Tòa án phải yêu cầu ban giám thị trại tạm giamhoặc nhà tạm giữ xác nhận ngày nhận đơn và thụ lý đơn như trường hợp gửiqua bưu điện [32, Điều 324]
Hoạt động kiểm tra tính hợp lệ của kháng cáo, kháng nghị Theo yêu
cầu của Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa, Thư ký kiểm tra kháng cáo, khángnghị xem có hợp lệ không theo cách thức sau:
Trang 34Nếu chủ thể, nội dung và thời hạn kháng cáo, kháng nghị đúng vớinhững quy định pháp luật TTHS thì căn cứ vào Điều 236 BLTTHS, Thư kýgiúp Thẩm phán soạn thảo thông báo kháng cáo, kháng nghị gửi cho Viện kiểmsát cùng cấp và những người tham gia tố tụng theo mẫu số 01đ ban hành kèmtheo Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP Cùng với đó, Tòa án cấp sơ thẩm phảigửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa áp cấp phúc thẩm trong thờihạn 7 ngày, kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị [32, Điều 327].
Hoạt động tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Đây là công việc được thực hiện xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án Với Tòa
án, thời điểm này bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ truy tố từ Viện kiểm sát cùngcấp chuyển sang Trên thực tế, các đơn khiếu nại, tố cáo thường được gửi trướckhi phiên tòa diễn ra vì người gửi hi vọng những đơn thư đó sẽ đem lại hiệu quảtích cực đối với việc giải quyết vụ án Tuy nhiên, việc gửi đơn khiếu nại, tố cáovẫn có thể diễn ra sau phiên tòa xét xử vụ án hình sự, những đơn này thể hiện nộidung kháng cáo – lúc này hoạt động của Tòa án là hướng dẫn người viết đơn viếtlại thành đơn kháng cáo và thực hiện các thao tác nghiệp vụ tiếp nhận đơn, thôngbáo kháng cáo như đã đề cập ở trên Đối với những đơn không mang tính chấtkháng cáo mà đơn thuần chỉ là khiếu nại, tố cáo các quyết định tố tụng, hành vi tốtụng của người tiến hành tố tụng, Tòa án cần thực hiện việc phân loại đơn vàchuyển đơn đến Cơ quan có thẩm quyền giải quyết nếu nội dung khiếu nại, tốcáo không liên quan đến quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của đơn vị mình.Nếu đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của đơn vị thì cần vào sổ thụ lý và tiếnhành giải quyết theo quy định của pháp luật Cụ thể:
Đối với việc giải quyết khiếu nại, Bộ luật TTHS hiện hành chỉ quy định
thẩm quyền, thời hạn giải quyết khiếu nại trước khi mở phiên tòa Sau phiêntòa, những đơn khiếu nại về nội dung bản án, quyết định tố tụng sẽ đượchướng dẫn để người nộp đơn viết lại thành kháng cáo (nếu họ là những chủ
Trang 35thể được quyền kháng cáo) Song, những đơn khiếu nại về hành vi tố tụng,quyết định khác của Thẩm phán tại phiên tòa như: khiếu nại về quyết địnhhoãn phiên tòa, khiếu nại về quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung thì sẽ đượcgiải quyết như thế nào, BLTTHS không quy định rõ Trên thực tế, đối với cáckhiếu nại này vẫn được áp dụng Điều 331 BLTTHS để giải quyết như sau:
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, PhóChánh án trước khi mở phiên toà do Chánh án Toà án giải quyếttrong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại Nếukhông đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyềnkhiếu nại đến Toà án cấp trên trực tiếp Trong thời hạn mười lămngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Toà án cấp trên trực tiếp phảixem xét, giải quyết Toà án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giảiquyết cuối cùng
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Toà ántrước khi mở phiên tòa do Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết trongthời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại Toà áncấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng [32]
Đối với việc giải quyết tố cáo, quy định dường như có sự cụ thể hơn tại
Điều 337 về Thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo Cụ thể, về thẩmquyền, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tốtụng thuộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì người đứng đầu
cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết
Trong trường hợp người bị tố cáo là Chánh án Toà án thì Toà án cấp trêntrực tiếp có trách nhiệm giải quyết Về thời hạn, thời hạn giải quyết tố cáokhông quá sáu mươi ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thờihạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá chín mươi ngày [32]
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm thì tố cáo này
Trang 36được coi như là tin báo, tố giác tội phạm Vì thế những tố cáo này sẽ đượcgiải quyết theo Điều 103 Bộ luật TTHS Tuy nhiên tại Điều 103, các quy địnhnày mới chỉ đề cập đến trách nhiệm tiếp nhận tin báo, tố giác của Viện kiểmsát và Cơ quan điều tra Vậy trong trường hợp này, Tòa án là đơn vị tiếp nhận,vậy sẽ cần thực hiện thao tác chuyển đơn tố cáo này tới Viện kiểm sát hoặc
Cơ quan điều tra; nếu đã thực hiện việc xác minh đơn tố cáo và thực sự có viphạm pháp luật trong đó thì viết kiến nghị khởi tố tới Viện kiểm sát và Cơquan điều tra Cần chú ý, vấn đề này không được quy định trong BLTTHS
2003, vì vậy, hoạt động trên không mang tính bắt buộc và được thực hiện tùyvào quy chế nghiệp vụ của từng Tòa án
Từ sự phân tích ở trên có thể thấy công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
là một hoạt động sau phiên tòa vô cùng quan trọng, góp phần lớn trong việcgiải quyết dứt điểm vụ án, đồng thời thông qua những đơn thư đó, Tòa án cóthể phát hiện được những vi phạm pháp luật nói chung, vi phạm pháp luậttrong hoạt động tư pháp nói riêng, từ đó kịp thời có biện pháp chấn chỉnh,phòng ngừa
Hoạt động của Tòa án cấp trên
Mặc dù không trực tiếp giải quyết một vụ án hình sự nhưng Tòa án cấptrên của Tòa án đã xét xử sơ thẩm cũng được quyền tiến hành một số hoạtđộng sau phiên tòa như sau:
Hoạt động nghiên cứu bản án và đề nghị của Các cơ quan khác để quyết
định kháng nghị bản án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩmhoặc đề nghị VKS có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm (trongtrường hợp Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm)
Việc kháng nghị giám đốc thẩm được thực hiện theo Điều 275 BLTTHS,kháng nghị tái thẩm được thực hiện theo Điều 293 BLTTHS Theo đó,những chủ thể được quyền kháng nghị giám đốc thẩm sau khi Tòa án cấp sơ
Trang 37thẩm xét xử một vụ án hình sự là: Chánh án Tòa án hoặc Viện trưởng Việnkiểm sát cấp trên của cấp đã xét xử sơ thẩm (không nhất thiết phải là cấptrên trực tiếp); thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm là Viện trưởng Việnkiểm sát cấp trên của cấp đã xét xử sơ thẩm (không nhất thiết phải là VKScấp trên trực tiếp) [32].
Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Đối với khiếu nại Điều 331 Bộ luật TTHS quy định 2 trường hợp Tòa
án cấp trên trực tiếp của cấp đã xét xử phải giải quyết khiếu nại là:
Thứ nhất, khi không đồng ý với kết quả giải quyết của Tòa án cấp sơthẩm thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Toà án cấp trên trực tiếp.Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Toà án cấptrên trực tiếp phải xem xét, giải quyết Toà án cấp trên trực tiếp có thẩmquyền giải quyết cuối cùng
Thứ hai, khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Toà ántrước khi mở phiên tòa do Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết trong thời hạnmười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại Toà án cấp trên trực tiếp cóthẩm quyền giải quyết cuối cùng [32]
Đối với tố cáo, Tòa án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết tốcáo khi người bị tố cáo là Chánh án Toà án thì Toà án cấp trên trực tiếp cótrách nhiệm giải quyết Thời hạn giải quyết tố cáo không quá sáu mươi ngày,
kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo cóthể dài hơn, nhưng không quá chín mươi ngày.Tố cáo hành vi vi phạm phápluật có dấu hiệu tội phạm thì được giải quyết theo quy định tại Điều 103 của
BL TTHS [32, Điều 337]
2.1.1.2 Hoạt động của Viện kiểm sát
Các hoạt động sau phiên tòa của Viện kiểm sát được quy định rất rõràng trong BLTTHS 2003 và trong Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm
Trang 38sát xét xử các vụ án hình sự (ban hành kèm quyết định 960/QĐ-VKSTC ngày17/9/2007) Theo đó, sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, Viện kiểm sát cấp sơthẩm cần thực hiện các hoạt động nghiệp vụ sau:
Ngay sau khi phiên tòa kết thúc, Kiểm sát viên phải kiểm tra biên bản phiên tòa.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 200 BLTTHS thì Kiểm sát viên đượcxem biên bản phiên toà, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vàobiên bản phiên toà và ký xác nhận Để kiểm tra biên bản phiên tòa, Kiểm sátviên đối chiếu bút ký của mình tại phiên tòa với biên bản phiên toà xem biênbản phiên tòa có ghi đầy đủ hay mâu thuẫn không Nếu phát hiện sai sót thìyêu cầu Hội đồng xét xử sửa chữa, bổ sung để Kiểm sát viên và Thư ký Tòa
Bộ phận kiểm sát điều tra và Kiểm sát xét xử Phúc thẩm của VKSND cấp trêntrực tiếp Đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghịthì Kiểm sát viên đã tham gia xét xử sơ thẩm làm báo cáo kèm theo các vănbản, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ án gửi Viện kiểm sát sẽ xét xửphúc thẩm để giải quyết theo thẩm quyền [47]
Hoạt động kiểm sát việc giao bản án.
Sau khi xét xử sơ thẩm xong, Kiểm sát viên kiểm sát việc giao bản áncủa Hội đồng xét xử bảo đảm việc giao bản án thực hiện theo quy định tạiĐiều 229 BLTTHS Quy chế cũng quy định việc giao bản án ở đây phải đượcthể hiện bằng biên bản giao - nhận, có chữ ký của người nhận
Trang 39Hoạt động kiểm sát bản án của Tòa án.
Sau khi Tòa án chuyển bản án cho Viện kiểm sát – trong vòng 10 ngày
kể từ ngày tuyên án, Kiểm sát viên phải kiểm tra bản án của Toà án nhằmphát hiện những sai sót và vi phạm của Toà án trong việc ra bản án Khi kiểmtra bản án hoặc quyết định của Toà án Kiểm sát viên căn cứ Điều 224BLTTHS để tiến hành kiểm sát bản án Nếu phát hiện những vi phạm, thiếusót của bản án thì phải có hướng xử lý tuỳ theo mức độ Những sai sót nhỏkhông ảnh hưởng đến bản chất của vụ án thì kiến nghị Thẩm phán Chủ toạphiên toà khắc phục, sửa chữa kịp thời Những thiếu sót, vi phạm nghiêmtrọng ảnh hưởng đến bản chất của vụ án, không đúng với thực tế khách quanthì phải xem xét thận trọng, kịp thời đề xuất với Lãnh đạo Viện xem xét quyếtđịnh kháng nghị Ngoài việc kiểm sát về nội dung, Kiểm sát viên cũng kiểmsát cả về hình thức cũng như thời hạn gửi bản án của Tòa án sang cho Việnkiểm sát Cần chú ý việc kiểm sát bản án, quyết định tố tụng phải được lậpdưới dạng văn bản “Phiếu kiểm sát bản, quyết định tố tụng” và bản chính phảiđược lưu vào hồ sơ kiểm sát
Sau đó, phiếu kiểm sát Bản án và Bản án phải được Kiểm sát viên gửitới đơn vị kiểm sát xét xử phúc thẩm của Viện kiểm sát cấp trên trong thờihạn 15 ngày kể từ ngày Tòa ra Bản án [48]
Hoạt động kháng nghị phúc thẩm bản án của tòa án chưa có hiệu lực pháp luật.
Trên cơ sở nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ bản án, quyết định
sơ thẩm, Kiểm sát viên báo cáo đề xuất Lãnh đạo Viện, nêu rõ quan điểm cókháng nghị phúc thẩm hay không, lý do kháng nghị
Sau khi đã quyết định kháng nghị phúc thẩm, việc kháng nghị bản án củaTòa án cấp sơ thẩm thuộc thẩm quyền của cả Viện kiểm sát cùng cấp và Việnkiểm sát cấp trên trực tiếp Lúc này, Kiểm sát viên sẽ soạn thảo Kháng nghị
Trang 40theo mẫu số 138 ban hành kèm theo Quyết định số 960/2007/QĐ-VKSTC ngày17/9/2007, trình Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng phụ trách ký Sau đó, quyếtđịnh kháng nghị phải được gửi tới Tòa án cấp sơ thẩm Thời hạn kháng nghịđối với bản án là 15 ngày ở Viện kiểm sát cùng cấp [32, Điều 234].
Hoạt động kiểm sát việc kháng cáo, kháng nghị.
Sau phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên còn phải chú ý kiểm sát việckháng cáo, kháng nghị Việc bản án bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp sơthẩm phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 7 ngày kể từngày nhận được kháng cáo, kháng nghị [32, Điều 236] Khi tiến hành kiểm sátviệc kháng cáo, kháng nghị cần chú ý các quy định tại các điều luật củaBLTTHS về những người có quyền kháng cáo; thủ tục kháng cáo và khángnghị; thời hạn kháng cáo, kháng nghị; kháng cáo quá hạn; thông báo về việckháng cáo, kháng nghị; hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị; bổ sung,thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị
Hoạt động kiến nghị khắc phục vi phạm.
Kiến nghị đối với Tòa án: khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét
xử hình sự, nếu phát hiện Toà án có vi phạm pháp luật trong việc xét xử vụ ánthì tuỳ từng trường hợp, Kiểm sát viên tự mình hoặc báo cáo Lãnh đạo Việnkiến nghị với Toà án khắc phục vi phạm Kiến nghị có thể ban hành ngay sauphiên toà, nhưng thường là tổng hợp lại thành một dạng để kiến nghị chungtheo định kỳ 6 tháng, 1 năm
Kiến nghị với cơ quan, tổ chức và đơn vị hữu quan: khi thực hành
quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, nếu phát hiện nguyên nhân, điềukiện phát sinh tội phạm thì Kiểm sát viên báo cáo Lãnh đạo Viện để xem xétkiến nghị với cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan khắc phục, áp dụng biệnpháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
Hoạt động theo dõi kết quả xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.