Nội dung, phương thức hoạt động phòng, chống tham nhũng và mối quan hệ giữa công tác kiểm tra của Đảng với các cơ quan chức năng liên quan trong phòng, chống tham nhũng đối với các cơ qu
Trang 1TRẦN VĂN TĨNH
PHÕNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TRUNG ƯƠNG THÔNG QUA CÔNG TÁC KIỂM TRA
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
HÀ NỘI - 2020
Trang 2TRẦN VĂN TĨNH
PHÕNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TRUNG ƯƠNG THÔNG QUA CÔNG TÁC KIỂM TRA
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số: 62 38 01 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Lê Minh Thông
HÀ NỘI - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả
Trần Văn Tĩnh
Trang 4
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 6
1.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án, giả thuyết nghiên cứu
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÕNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG
CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TRUNG ƯƠNG THÔNG QUA
2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò phòng, chống tham nhũng trong các cơ quan hành
chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng 26 2.2 Nội dung, phương thức hoạt động phòng, chống tham nhũng và mối quan hệ giữa
công tác kiểm tra của Đảng với các cơ quan chức năng liên quan trong phòng,
chống tham nhũng đối với các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương 47 2.3 Điều kiện bảo đảm công tác kiểm tra của Đảng trong phòng, chống tham nhũng
đối với các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương 67 2.4 Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của Trung Quốc và những giá trị tham
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ PHÕNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG BỘ
MÁY NHÀ NƯỚC VÀ CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TRUNG
ƯƠNG THÔNG QUA CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG 81 3.1 Quá trình phát triển quan điểm của Đảng về phòng, chống tham nhũng trong bộ
máy nhà nước, các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công
3.2 Ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng về phòng, chống tham nhũng
trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP PHÕNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG
CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TRUNG ƯƠNG THÔNG QUA
4.1 Quan điểm phòng, chống tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước
4.2 Giải pháp phòng, chống tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp
Trang 5BCS đảng Ban Cán sự đảng
Công tác kiểm tra của Đảng Công tác kiểm tra của Đảng Cộng sản Việt Nam MTTQ Mặt trận Tổ quốc
PCTN Phòng, chống tham nhũng
UBKT Ủy ban Kiểm tra
UBND Ủy ban nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 6Trang
Hình 2.1: Mô hình tổ chức của các cơ quan hành chính nhà nước cấp
Hình 2.2: Mô hình tổ chức của Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Cơ quan
Ủy ban Kiểm tra Trung ương 36
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tồn tại khách quan trong bộ máy nhà nước, là một trong những căn bệnh gắn liền với quyền lực nhà nước, luôn ăn sâu bám
rễ trong mọi chế độ xã hội Một số nơi trên thế giới, tham nhũng làm suy kiệt cơ thể xã hội, gây xáo trộn, mất ổn định chính trị Phòng, chống tham nhũng (PCTN) là công việc khó khăn, phức tạp, cần có sự quyết liệt và kiên trì, là chính sách ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia và sự nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế
Tham nhũng là sự vụ lợi bằng việc lợi dụng quyền lực, được coi là một tệ nạn ở hầu hết các nước trên thế giới Đối với Việt Nam, trong những năm gần đây, tệ nạn tham nhũng đã nổi lên một cách tràn lan, xâm phạm kỷ cương phép nước, làm mất lành mạnh của cơ quan, tổ chức, gây thiệt hại cho lợi ích tài sản nhà nước, tập thể và cá nhân, làm tăng thêm sự phân hóa giàu nghèo bất chính, nẩy sinh mâu thuẫn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến khối đại đoàn kết dân tộc, xói mòn truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, đảo lộn các giá trị xã hội và ảnh hưởng tiêu cực đến thế hệ tương lai, làm tổn thất đến đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thậm chí làm hư hỏng một số cán bộ
đã được đào tạo, rèn luyện qua nhiều thời kỳ từ đó làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước và ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta Đảng và Nhà nước ta
đã xác định tham nhũng là “quốc nạn”, một nguy cơ lớn, thậm chí đe dọa sự tồn vong của chế độ Tham nhũng hiện diện trong hầu hết các lĩnh vực đời sống xã hội mà chủ thể là những cá nhân có chức, có quyền, có cơ hội lợi dụng quyền để vụ lợi Trong các
cơ quan hành chính nhà nước nói chung và đặc biệt là cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương nói riêng, cơ quan thực thi quyền lực nhà nước, quản lý mọi mặt đời sống xã hội, có thẩm quyền quyết định đơn phương, thì tham nhũng càng có điều kiện nảy sinh và phát triển, do đó việc PCTN ở những cơ quan này càng phải chú trọng Nhiệm vụ này được quy định cho nhiều chủ thể, bao gồm các cơ quan quyền lực, cơ quan thực thi pháp luật, cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị
xã hội, các tổ chức xã hội và nhân dân, trong đó vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua công tác kiểm tra của Đảng có ý nghĩa, tác dụng rất quan trọng
Trên thực tế những năm qua, vai trò PCTN của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua công tác kiểm tra của Đảng đã được đẩy mạnh và tỏ rõ có hiệu quả cao Cần thiết
Trang 8phải có sự nghiên cứu sâu về mặt lý luận để làm rõ ý nghĩa, nội dung, hình thức, phương pháp của hoạt động PCTN này, cũng như phải có sự đánh giá thực trạng để từ
đó đề xuất các giải pháp tiến hành thể chế hóa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy hơn nữa vai trò công tác kiểm tra của Đảng trong PCTN đối với các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương Đề tài luận án này là một cố gắng theo hướng đó, nó có tính cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý luận
và thực tiễn lớn
Vì vậy, việc nghiên cứu về PCTN trong các cơ quan nhà nước thông qua công tác kiểm tra của Đảng vừa có ý nghĩa lý luận đối với Đảng cầm quyền, vừa có ý nghĩa thực tiễn lớn trong PCTN ở nước ta giai đoạn hiện nay Xuất phát từ những phân tích
trên đây, nghiên cứu sinh đã lựa chọn vấn đề “Phòng, chống tham nhũng trong các
cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng cộng sản Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu viết luận án tiến sỹ luật học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cở sở nghiên cứu về lý luận và đánh giá thực trạng, luận án có mục đích xây dựng các quan điểm và đề xuất giải pháp khoa học nâng cao vai trò, hiệu quả công tác PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua hoạt động
kiểm tra của Đảng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, phân tích, làm rõ tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tìm ra
những nội dung đã nghiên cứu và xác định những vấn đề cần tập trung nghiên cứu
Thứ hai, phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò công tác
kiểm tra của Đảng và đặc điểm, nội dung, phương thức kiểm tra của Đảng đối với PCTN trong cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương; Làm rõ kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc phát huy vai trò của công tác kiểm tra của Đảng về phòng, chống tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng PCTN trong cơ quan hành chính nhà
nước cấp trung ương: quá trình phát triển quan điểm của Đảng, ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
Thứ tư, phân tích rõ quan điểm của Đảng về đấu tranh PCTN trong các các cơ
quan hành chính nhà nước cấp trung ương Trên cơ sở đó đề xuất các nhóm giải pháp
Trang 9nâng cao vai trò, hiệu quả công tác kiểm tra của Đảng trong PCTN đối với các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động đấu tranh PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận án giới hạn ở những vấn đề về công tác kiểm tra của
Đảng trong PCTN đối với các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương
- Phạm vi thời gian: Mốc thời gian nghiên cứu của đề tài luận từ Đại hội X của
Đảng năm 2006 đến thực Đại hội lần thứ XII của Đảng năm 2019
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của Luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về đấu tranh PCTN, lãng phí trong bộ máy nhà nước nói chung và các
cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương nói riêng Ngoài ra, Luận án nghiên cứu thực tiễn về kết quả PCTN trong bộ máy nhà nước, về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong PCTN, kiểm soát quyền lực nhà nước…của các nhà khoa học, tác giả đi
trước cũng là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng của luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình viết Luận án, tác giả đã sử dụng các phương pháp phân tích và
tổng hợp, phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp so sánh - thống kê, khái quát hóa, phương pháp trao đổi, xin ý kiến chuyên gia
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Luận án tiếp cận thực tiễn nghiên cứu về
PCTN bộ máy nhà nước và công tác kiểm tra của Đảng trong PCTN đối với các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương ở trong và nước ngoài có liên quan đến nội dung luận án Trên cơ sở đó hệ thống hóa, khái quát và so sánh để làm sáng tỏ cơ sở lý luận của luận án, nghiên cứu vấn đề PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng ở Việt Nam Đồng thời xác định rõ
những vấn đề mà luận án cần triển khai tiếp tục nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận án nghiên cứu tổng kết công tác thực
tiễn để thống kê, phân tích, so sánh và đánh giá tình hình về những kết quả, hạn chế,
Trang 10cùng với nguyên nhân của PCTN trong bộ máy nhà nước và các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung; đồng thời, đánh giá, phân tích thực trạng về những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước thông qua công tác kiểm tra của Đảng
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: luận án sử dụng phương pháp phân tích và
tổng hợp, phương pháp lịch sử và lôgíc phân tích, luận chứng để làm sáng tỏ các quan điểm và giải pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả PCTN trong các cơ quan hành chính cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng ở Việt Nam hiện nay
- Phương pháp chuyên gia: thông qua việc gặp gỡ, trao đổi trực tiếp những nội
dung về cơ chế, pháp lý, tổ chức bộ máy hoặc góp ý vào luận án, tác giả luận án có điều kiện tranh thủ được kiến thức của các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ chuyên ngành về công tác PCTN và công tác kiểm tra của Đảng để củng cố thêm những căn cứ khoa học, kinh nghiệm thực tiễn góp phần hoàn thiện luận án Trong đó, cách thức chọn mẫu theo nội dung về cơ chế thành lập UBKT cấp ủy; xây dụng mô hình sát nhập UBKT với Thanh tra, Nội chính; bổ sung quy định, cơ chế UBKT cấp ủy thực hiện PCTN và giám sát, kiểm soát quyền lực; nghiên cứu xây dựng Luật Giám sát và cơ quan Giám sát; mô hình về tổ chức bộ máy của UBKT cấp ủy trong các bộ, ngành trung ương đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
Cách thức tiến hành khảo sát thực hiện phỏng vấn cá nhân (trao đổi trực tiếp hoặc qua điện thoại) theo các hình thức phỏng vấn bán tiêu chuẩn: có một số câu hỏi có tính chất quyết định được tiêu chuẩn hóa, còn các câu hỏi khác có thể phát biểu tùy tình hình cụ thể và phỏng vấn sâu: thực hiện phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia đi sâu vào một số nội dung
Về đối tượng khảo sát bao gồm các đồng chí là thành viên UBKT Trung ương (phó chủ nhiệm và Ủy viên UBKT Trung ương) và lãnh đạo một số ban đảng Trung ương (kể cả một số đồng chí đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu); các đồng chí là bí thư đảng ủy các bộ, ngành cơ quan hành chính nhà nước trung ương (các đồng chí đối tượng này cơ bản giữ chức vụ chính quyền là thứ trưởng và tương đương); một số đồng chí là Bí thư, Phó bí thư Đảng Khối các cơ quan Trung ương; với tổng số khoảng 30 đồng chí
5 Những điểm mới về khoa học của luận án
Một là, trên cơ sở nghiên cứu khái quát hóa lý luận về PCTN trong các cơ quan
hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng, làm rõ
Trang 11khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương thức cũng như sự cần thiết về cơ sở chính trị và
cơ sở pháp lý trong việc xác lập vai trò công tác kiểm tra của Đảng trong PCTN của các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương trong điều kiện chính trị do một Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta hiện nay
Hai là, luận án xác định chính xác ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực
trạng phòng, chống tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua hoạt động kiểm tra của Đảng
Ba là, đề xuất các quan điểm và giải pháp đột phá, khả thi, khoa học nhằm nâng
cao hiệu quả công tác kiểm tra của Đảng trong đấu tranh PCTN tại các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương Đặc biệt xác định cơ chế, mô hình tổ chức cơ quan phù hợp thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh PCTN và giám sát kiểm soát quyền lực nhà nước; góp phần tích cực vào việc thực hiện chủ trương đẩy mạnh cuộc đấu tranh PCTN, xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần bổ sung và phát triển và làm phong phú thêm các vấn đề lý luận về PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng; góp phần làm sáng tỏ quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của UBKT Trung ương, UBKT các cấp trong cuộc đấu PCTN thông qua công tác kiểm tra của Đảng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án là công trình khoa học có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, nhà nghiên cứu giảng dạy những nội dung liên quan đến PCTN trong các Trường Đại học chuyên luật và không chuyên luật, trong hệ thống các Trường chính trị từ Trung ương đến địa phương Đặc biệt Luận án góp phần cung cấp cơ sở khoa học về PCTN thông qua công tác kiểm tra của Đảng cho những người trực tiếp tham gia hoạt động PCTN trong bộ máy nhà nước và các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương
7 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả đã công
bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án được kết cấu gồm 4 chương, 10 tiết
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về phòng, chống tham nhũng
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng góc độ tiếp cận đầu tiên phải xuất phát từ việc tìm hiểu kiến thức nền tảng về tham nhũng và PCTN Trên phương diện này, có thể điểm danh một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
- Sách “Phòng, chống tham nhũng trong hoạt động công vụ ở Việt Nam - Lý
luận và thực tiễn” của Nguyễn Quốc Sửu [63] Nội dung sách đề cập tương đối toàn
diện và có hệ thống về tham nhũng và PCTN trong hoạt động công vụ ở nước ta hiện nay Tác giả đã phân tích, làm rõ những hành vi tham nhũng có nguy cơ nảy sinh trong quá trình cán bộ, công chức thi hành nhiệm vụ như: tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ… Phân tích tình hình tham nhũng và thực trạng công tác đấu tranh PCTN ở nước ta hiện nay, dự báo tình hình tham nhũng trong những năm tới là cơ sở để tác giả đưa ra bốn nhóm giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm nâng cao hiệu quả công tác PCTN trong hoạt động công vụ Cuốn sách là một tài liệu tham khảo có giá trị cho học viên, sinh viên, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách
về PCTN ở Việt Nam
- Đề tài về “Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược phòng ngừa và
nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam cho đến năm 2020” do Thanh tra Chính phủ chủ trì [66] Đề tài xây dựng 9 chuyên đề bao gồm: hệ
thống các tiêu chí điều tra nhận diện tham nhũng; phương pháp tính và các chỉ tiêu tổng hợp; phần mềm xử lý số liệu; chiến lược, chính sách chống tham nhũng của Trung Quốc, Hàn Quốc, EU, Hungary; các biện pháp chống rửa tiền và báo cáo kết quả điều tra xã hội học về thực trạng và nguyên nhân tham nhũng, cùng với Báo cáo kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, ngừa, đấu tranh chống tham nhũng và việc xây
Trang 13dựng Chiến lược PCTN của Việt Nam Nội dung của Đề tài là cơ sở lý luận và căn cứ khoa học cho việc nghiên cứu xây dựng nội dung cơ bản của luận án cả về lý thuyết và thực tiễn
- Đề tài khoa học: “Đấu tranh chống tham nhũng: những vấn đề lý luận và giải
pháp thực tiễn” của Quách Lê Thanh [65] đã xây dựng khái niệm, đặc trưng cơ bản về
tham nhũng, đánh giá tình hình và nguyên nhân tham nhũng và những kết quả, hạn chế, yếu kém trong đấu tranh chống tham nhũng Trên cơ sở đó đề ra mục tiêu, quan điểm
và một số giải pháp đấu tranh PCTN trong thời gian tới
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong khu
vực tư ở Việt Nam” của Đinh Văn Minh [51] Đề tài cho rằng tham nhũng sẽ xuất hiện
và tồn tại ở nhiều lĩnh vực và hoạt động của khu vực tư Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số định hướng và giải pháp PCTN trong khu vực
tư ở Việt Nam; gắn PCTN trong khu vực tư với PCTN trong khu vực công; tạo cơ chế phát huy mạnh mẽ tiềm năng to lớn của khu vực kinh tế tư nhân gắn với tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Bên cạnh đó, cần khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng và thực hiện quy tắc kinh doanh không tham nhũng, không hối lộ, chống xung đột lợi ích
- Đề tài khoa học cấp Bộ: “Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực
trong thể chế chính trị nhằm ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở Việt Nam” của Nguyễn Văn Mạnh [47] là công trình nghiên cứu sâu về kiểm soát quyền lực
chính trị ở Việt Nam hiện nay Trong một chừng mực nhất định Đề tài cũng đã đề cập đến tham nhũng và PCTN trong hệ thống trị nói chung và bộ máy nhà nước nói riêng, cũng như việc xây dựng cơ chế để kiểm soát chặt chẽ quyền lực chính trị, trong đó có quyền lực nhà nước hiện nay
- Chuyên đề “Chống tham nhũng của Việt Nam và một số nước trên thế giới”
của Lê Văn Giảng [30] Nội dung chuyên đề đã đề cập những quan niệm về tham nhũng của Lênin, Hồ Chí Minh và quan niệm về tham nhũng của các học giả trên thế giới và Việt Nam hiện nay để đưa ra khái niệm về tham nhũng Qua đó xác định nguồn gốc, bản chất và đặc trưng của tham nhũng Đồng thời tác giả cũng đánh giá thực trạng, tác hại và nguyên nhân tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam Trên
cơ sở đó đưa ra quan điểm, mục tiêu, yêu cầu và giải pháp đấu tranh chống tham nhũng trong thời gian tới ở nước ta
Trang 14- Bài “Nguyên tắc xử lý tài sản tham nhũng” [7] Nội dung bài báo thể hiện
nguyên tắc xử lý tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu, trả lại cho chủ sở hữu, quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước kể cả tài sản tham nhũng có yếu tố nước ngoài Theo bài báo này thì nguyên tắc công khai là một trong những nguyên tắc xử lý tài sản tham nhũng có hiệu quả và phải quán triệt
- Bài “Giám sát xã hội như một giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí”
của Tạ Ngọc Tấn [64] đã phân tích và luận giải sự cần thiết của hoạt động giám sát xã hội đối với hoạt động của bộ máy nhà nước Xét về bản chất, giám sát xã hội thực chất
là sự kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nắm giữ quyền lực nhà nước Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), hoạt động giám sát xã hội cần phải được coi trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ Trên cơ sở đánh giá thực trạng về hoạt động của bộ máy nhà nước, tác giả đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát xã hội, góp phần đấu tranh, PCTN, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của quản lý nhà nước
- Bài “Bổ sung quyền giám sát của nhân dân” của Nguyễn Văn Hải [33] cho
rằng trong giai đoạn mới động viên, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người dân được tham gia giám sát hoạt động của bộ máy Đảng, chính quyền và giám sát cán
bộ, công chức là một trong những biện pháp ngăn ngừa, PCTN, lãng phí, tiêu cực có hiệu quả Đó là đòi hỏi tất yếu để xây dựng Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của dân,
do dân và vì dân và đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự là “công bộc, đầy tớ” trung thành, tận tụy của nhân dân
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
- Theo từ điển Oxford Unabridged Dictonary [39] tham nhũng là sự bóp méo hoặc phá hoại tính liêm chính trong thực hiện công vụ bởi hối lộ hay thiên vị Từ điển Webster's Collegiate Dictonary [39] tham nhũng là sự khích lệ làm điều sai trái bởi những phương tiện không đúng đắn hoặc bất hợp pháp (như hối lộ) Theo từ điển bách khoa của Cộng hòa Liên bang Đức [39] thì tham nhũng là hiện tượng mất phẩm chất, hối lộ, đút lót, thường xảy ra đối với công chức có quyền hành [39, tr.10] Áo cho rằng tham nhũng là hiện tượng lừa đảo, hối lộ, bóc lột [39, tr.10] Từ điểm bách khoa Thụy
sỹ tham nhũng là hậu quả nghiêm trọng của sự vô tổ chức của tầng lớp có trách nhiệm trong bộ máy nhà nước, đó là hành vi phạm pháp để phục vụ lợi ích cá nhân [39, tr.10]
Trang 15- Học giả Nye đưa ra định nghĩa tổng quát về bản chất của tham nhũng: “Tham nhũng là hành vi làm sai lệch trách nhiệm, bổn phận chính thống của một vai trò công
vì tiền hoặc tài sản trục lợi cho cá nhân (hoặc cho người thân), xâm phạm các quy tắc, ngược lại với các hành xử chẩn mực, liên quan đến quyền lợi cá nhân” [29]
- Sách, Ngân hàng thế giới: Kiềm chế tham nhũng hướng tới một mô hình xây
dựng sự trong sạch quốc gia, của Rick Stapenhurst, Sahr J Kpundeh [62] Sách gồm
một tập hợp có chọn lọc các công trình về tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng của các nhà nghiên cứu thuộc các quốc tịch khác nhau của Ngân hàng Thế giới Nội dung chủ yếu của cuốn sách tập trung tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề tham nhũng trên mọi khía cạnh của vấn đề Bằng những phân tích cụ thể, thông qua những nghiên cứu tình huống về đấu tranh chống tham nhũng thành công và chưa thành công ở một số nước
và lãnh thổ trên thế giới, các tác giả của cuốn sách đã nêu bật tầm quan trọng của cuộc đấu tranh chống tham nhũng, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu và đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhất để khắc phục và kiểm soát được nạn tham nhũng đang hoành hành trên thế giới ngày nay
- Sách, Ngân hàng thế giới: Đương đầu với tham nhũng ở châu Á - Những bài
học thực tế và khuôn khổ hành động của Vinay Bhargava, Emil Bolongaita [103]
Với nội dung chính là những vấn đề về tham nhũng khu vực công những tác phẩm được viết dựa trên kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm có được tại các quốc gia của Ngân hàng thế thế giới với vai trò là một động lực phát triển tài chính toàn cầu Các tác giả cũng nhấn mạnh việc lựa chọn các công cụ chống tham nhũng phù hợp với môi trường quản lý - những yếu tố then chốt trong cuộc chiến chống tham nhũng Đó
là những kinh nghiệm quý báu mà Ngân hàng thế giới tổng kết thực tiễn chống tham nhũng ở các nước Châu Á có giá trị tham khảo đối với những người làm công tác nghiên cứu và thực thi chính sách PCTN ở Việt Nam nói chung và các học viên nghiên cứu sinh nói riêng
- Cuốn sách của Hồng Vĩ “Tham nhũng và biện pháp chống tham nhũng ở
Trung Quốc” [100] Tác giả khái quát về tác hại của tham nhũng gây lãng phí lớn về
nguồn tài nguyên kinh tế, làm lung lay cơ sở ổn định chính trị của một đất nước, phá hoại việc thực thi pháp luật, cản trở sự phát triển kinh tế, đầu độc không khí xã hội Đồng thời tác giả đã phác họa 23 dạng tham nhũng ở Trung Quốc hiện nay Trên cơ sở
đó tác giả đi vào phân tích nguyên nhân của thực trạng này; trong các nguyên nhân
Trang 16thực tế làm cho hiện tượng tham nhũng sinh sôi nảy nở ở Trung Quốc hiện nay thì kinh
tế là một nguyên nhân quan trọng Các thể chế chính trị chậm chạp, quyền lực không bị khống chế là căn nguyên sâu xa sinh ra hiện tượng tham nhũng ở Trung Quốc hiện nay
Từ đó, tác giả giới thiệu cụ thể một số cách làm của các địa phương, ban, ngành trong quá trình đấu tranh PCTN những năm gần đây ở Trung Quốc
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu về phòng, chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
* Nhóm công trình nghiên cứu về phòng, chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước nói chung:
- Sách: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Lê Minh Thông [72] Nội dung khẳng
định nhân dân là chủ thể duy nhất tối cao của hệ thống chính trị Do vậy, các tổ chức đảng, nhà nước và Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức thành viên đều phục tùng
ý chí của nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân Đồng thời, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật PCTN thông qua các tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức xã hội, trong đó có Đảng cộng sản Việt Nam là nhiệm vụ có tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Giải pháp đột phá đấu tranh phòng, chống hiệu quả
tham nhũng trong bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Cảnh Quý [61]
Nội dung Đề tài đã đưa ra cơ sở lý luận sâu sắc và biện chứng về PCTN trong bộ máy nhà nước Đồng thời đánh giá thực trạng một cách toàn diện về kết quả đấu tranh phòng, chống hiệu quả tham nhũng trong bộ máy nhà nước Trên cở sở đưa ra giải pháp mang tính đột phá có tính khả thi và chiến lược cao trong việc PCTN bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay Nội dung Đề tài có ý nghĩa và tác dụng quan trọng trong việc nghiên cứu và triển khai thực hiện công tác PCTN trong bộ máy nhà nước hiện nay, cũng như có giá trị tham khảo đối với việc nghiêm cứu về PCTN trong tình hình hiện nay
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Tổ chức và hoạt động của các cơ quan có chức năng
phòng, chống tham nhũng và một số vấn đề đặt ra” của Đinh Văn Minh [50] Nội dung
Đề tài đưa ra cơ sở lý luận và sự cần thiết về việc hoàn thiện cơ quan có chức năng
Trang 17PCTN Đồng thời đánh giá thực trạng theo chức năng nhiệm vụ của cơ quan có chức năng PCTN hiện nay Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp xây dựng và hoàn thiện các cơ quan có chức năng PCTN để thực hiện có hiệu quả nhiệm công tác này trong tình hình hiện nay Đây là một công trình có ý nghĩa thực tiễn cao, giúp cho việc nghiên cứu xây dựng hoàn thiện hơn nữa cơ quan có chức năng PCTN đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đấu tranh PCTN hiện nay
- Đề tài khoa học cấp Bộ: “Phòng, chống tham nhũng trong các cơ quan thực
hiện chức năng phòng, chống tham nhũng” của Tạ Thu Thủy [75] Nội dung Đề tài
đưa ra cơ sở lý luận và sự cần thiết về PCTN trong các cơ quan có chức năng thực hiện PCTN Đồng thời đánh giá thực trạng việc thực hiện PCTN trong các cơ quan thực hiện chức năng PCTN hiện nay Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp thực hiện PCTN trong các cơ quan có chức năng PCTN để thực hiện có hiệu quả nhiệm công tác này trong tình hình hiện nay Đây là một công trình có ý nghĩa thực tiễn cao, giúp cho việc nghiên cứu thực hiện có hiệu quả việc PCTN trong các cơ quan có chức năng PCTN đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đấu tranh PCTN hiện nay
- Luận văn về“Thanh tra và vấn đề phòng, chống tham nhũng” của Phạm
Thị Huệ [37], nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của công tác thanh tra trong đấu tranh PCTN như: những vấn đề lý luận về vai trò của thanh tra đối với quản lý Nhà nước; quan điểm của Đảng, Nhà nước và của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của công tác thanh tra trong quản lý nhà nước nói chung và trong đấu tranh PCTN nói riêng Từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm tăng cường công tác thanh tra góp phần hữu hiệu nâng cao hiệu quả trong cuộc đấu tranh PCTN
- Bài “chống tham nhũng xét từ góc độ quyền lực” của Vũ Quốc Tuấn [84] Nội
dung bài viết đề cập vấn đề tham nhũng trên cơ sở quyền lực, từ những quyền lực tha hóa là điều kiện cơ sở thực hiện hành vi tham nhũng Vấn đề lớn nhất ở đây là phải xác định rõ vai trò của Nhà nước trong kinh tế thị trường Do đó, phải tìm cách hạn chế quyền lực cụ thể của mỗi cơ quan công quyền cũng như của mỗi công chức, không cho
họ bành trướng thêm ngoài quy định của pháp luật, nghĩa là cơ quan nào người nào làm việc gì, chịu trách nhiệm cá nhân đến đâu, phải rõ ràng và phải được giám sát Các thủ tục hành chính của từng việc phải công bố công khai, minh bạch, được niêm yết công khai nơi công sở Bộ máy càng hợp lý, gọn nhẹ, công chức được sử dụng và được đãi ngộ xứng đáng, càng dễ chống tham nhũng Quan trọng hơn nữa là những công chức
Trang 18nhũng nhiễu doanh nghiệp phải bị trừng trị đích đáng, không để cho họ bênh che nhau, vì thông thường trong hệ thống quyền lực, họ rất dễ có mối quan hệ mật thiết với nhau, cho nên phải đưa sự giám sát của doanh nghiệp vào từng khâu, từng mắt xích của hệ thống
- Một số báo cáo như: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN của Chính phủ [12]; Báo cáo số 419/BC-CP, ngày 17/10/2016 công tác PCTN năm 2016 của Chính phủ [13]; Báo cáo số 460/BC-CP, ngày 18/10/2017 công tác PCTN năm 2017 của Chính
phủ [14] Nội dung báo cáo đánh giá thực trạng về những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế, đồng thời đề ra giải pháp thực hiện thời gian tới đối với việc PCTN trong 10 năm thực hiện Luật PCTN của Chính phủ và trong hai năm 2016 và 2017
* Nhóm công trình nghiên cứu về phòng, chống tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương:
- Luận án: Hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành
chính nhà nước ở Việt Nam của Hoàng Minh Hội [36] Đã luận giải pháp luật về giám
sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước Trên cơ sở làm sáng tỏ cơ sở lý luận của hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước, đề xuất được các giải pháp hoàn thiện pháp luật giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam Trong một chừng mực nhất định Luận án đã đề cập đến việc giám sát, kiểm soát quyền lực trong việc PCTN đối với cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam
- Luận văn về “Phòng, chống tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà
nước cấp tỉnh ở Sơn La” [9] Nội dung luận văn đã luận giải những vấn đề cơ bản từ
khái niệm, hình thức và nguyên nhân, đến nguyên tắc, phương thức về PCTN trong cơ quan hành chính nhà nước Phân tích thực trạng tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước và kết quả hoạt động PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Sơn La Từ đó đề ra đề ra định hướng và giải pháp tăng cường PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh Sơn La
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
* Nhóm công trình nghiên cứu về phòng, chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước nói chung:
- Nhà tư tưởng Montesquieu đã cho rằng mọi nguời có quyền lực đều có xu hướng lạm dụng quyền lực đó, ông viết: Điều bất hạnh cho một nước cộng hòa là khi
mà người ta không dùng âm mưu chạy chọt nhưng lại dùng tiền để làm bại hoại dân
Trang 19chúng, khiến dân chúng thờ ơ, chỉ thích thú với tiền bạc mà không thích công việc quốc gia, chẳng cần biết đến chính phủ và các dự án quốc gia là gì mà chỉ lặng chờ được thuê tiền để bỏ phiếu [53] hay: Trong một nước dân chủ, chuyện đút lót, quà cáp là điều ô nhục, vì đạo đức chính trị không cần đến động tác đó Trong một nước quân chủ, danh diện là điều quý hơn quà cáp Nhưng trong nước chuyên chế, đạo đức và danh diện không tồn tại, người ta hoạt động chỉ với một hy vọng là kiếm thêm được tiện nghi cho cuộc sống, cho nên việc quà cáp, hối lộ là bình thường, phổ biến [53]
- Vu Ka Vai, Role of Ombudsman in Combating Corruption (Vai trò của Thanh
tra trong đấu tranh chống tham nhũng) [105] Công trình nghiên cứu này đã tập trung
phân tích mô hình Uỷ ban chống tham nhũng, cơ cấu tổ chức chức năng hoạt động, trình tự, thủ tục thụ lý; Phân tích vai trò giải quyết các khiếu nại hành vi tham nhũng của cơ quan thanh tra và cơ quan chống tham nhũng
* Nhóm công trình nghiên cứu về phòng, chống tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương:
- Trong công trình “Năm vấn đề đương đại” của Vương Tùng Niên [54] đã
phân tích và làm sáng tỏ một số vấn đề về quyền hành chính Công trình có giá trị tham khảo cho nghiên cứu sinh khi luận chứng, phân tích đặc điểm của hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước và yêu cầu phải có sự kiểm tra, giám sát đối với các các cơ quan hành chính nhà nước
- Cuốn sách Hành chính công và hiệu quả quản lý của Chính phủ, do Nguyễn
Cảnh Chất biên dịch [8], đặt vấn đề hoạt động hành chính cần phải được thực hiện theo nguyên tắc pháp trị và nguyên tắc kiểm tra, giám sát nền hành chính Theo đó chủ thể thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát nền hành chính rất rộng lớn gồm kiểm tra, giám sát của đảng, kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước và nhân dân Công trình có giá trị tham khảo cho nghiên cứu sinh khi đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật
về kiểm tra, giám sát đối với các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay
1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về phòng, chống tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng
1.1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
- Đề tài cấp Nhà nước: “Đổi mới công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng nhằm
nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới” do UBKT Trung
Trang 20ương [88], đã phân tích đưa ra những luận cứ khoa học của đổi mới công tác kiểm tra,
kỷ luật trong Đảng, từ khái niệm và đặc điểm, cùng với mục đích, ý nghĩa và nội dung, đến phương pháp, hình thức và yêu cầu đòi hỏi phải đổi mới công tác kiểm tra, kỷ luật trong Đảng Đồng thời qua đó rút ra những vấn đề lý luận đã được khẳng định để thực hiện tốt việc kiểm tra, kỷ luật trong Đảng trong tình hình hiện nay Trong đó, có yêu cầu đổi mới về phương thức hoạt động kiểm tra trong Đảng, nhất là phương pháp nghiệp vụ tiến hành thẩm tra, xác minh - một khâu đột phá trọng yếu có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động kiểm tra, đó là phương pháp thẩm tra, xác minh có một số biện pháp nghiệp vụ giống như các biện pháp điều tra, thanh tra của các cơ quan pháp luật, nhưng nguyên tắc, bản chất theo nguyên tắc trong đảng Do vậy đã góp phần quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra nói chung và kiểm tra khi có dấu hiệu
vi phạm nói riêng, để thực hiện có hiệu quả việc PCTN thông qua công tác kiểm tra
của Đảng
- Đề tài "Nghiên cứu mối quan hệ không bình thường giữa một bộ phận cán bộ,
đảng viên có chức, quyền với các doanh nghiệp để trục lợi: Thực trạng và giải pháp
phòng, chống thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng" của Lê Hồng Liêm
[46], đã phân tích luận giải một số vấn đề lý luận về cán bộ, công chức, người có chức,
có quyền, về mới quan hệ không bình thường giữa cán bộ, công chức với doanh nghiệp
để trục lợi Vai trò, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc phòng, chống mối quan hệ không bình thường giữa cán bộ, đảng viên có chức, quyền với doanh nghiệp để trục lợi Trên cơ sở đó đưa ra quan điểm, phương hướng, mục tiêu, yêu cầu và một số giải pháp phòng, chống mối quan hệ không bình thường của cán bộ, đảng viên có chức, quyền với các doanh nghiệp để trục lợi
- Đề tài khoa học cấp Bộ về “Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với
phòng, chống tham nhũng: Thực trạng và giải pháp” của Lê Hồng Liêm [45], đã phân
tích luận giải cơ sở lý luận về PCTN và công tác kiểm tra, giám sát của Đảng Phân tích làm rõ vị trí, vai trò, tác dụng, cùng với mối quan hệ giữa công tác kiểm tra, giám sát với PCTN Xác định các nhân tố ảnh hưởng và xây dựng tiêu chí xác định sự tác động của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc PCTN Đánh giá thực trạng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với PCTN thời gian qua Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp chủ yếu tằng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm PCTN có hiệu quả trong thời gian tới
Trang 21- Đề tài khoa học cấp Bộ "Phát hiện và thu hồi tài sản do tham nhũng mà có -
Thực trạng và giải pháp" của Tô Quang Thu [74], đã luận giải những vấn đề thực trạng
tham nhũng và những giải pháp nâng cao hiệu quả phát hiện thu hồi tiền và tài sản do tham nhũng mà có trong tình hình hiện nay Đây là khâu quan trọng trong việc xử lý một vụ việc tham nhũng, trong đó có tham nhũng được phát hiện, xử lý thông qua công tác kiểm tra của Đảng, đối với các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương trong giai đoạn hiện nay
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng với kiểm
soát quyền lực ở nước ta theo tinh thần Đại hội XII của Đảng” của Mai Trực [81], đã
phân tích luận giải cở lý luận về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong kiểm soát quyền lực như khái niệm, đặc điểm và vai trò, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc phòng, chống tha hóa quyền lực Trên có sở đó đánh giá thực trạng về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đã đạt được những kết quả quan trọng, đóng góp tích cực vào việc kiểm soát quyền lực, trong thực thi nhiệm vụ, công
vụ, quyền hạn được giao, nhất là kiểm soát việc lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực để trục lợi, góp phần tích cực vào PCTN lãng phí hiện nay Đồng thời đề ra quan điểm, giải pháp đối với công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong việc kiểm soát quyền lực, làm trong sạch bộ máy, hạn chế tối đa sự tha hoá quyền lực, tham nhũng,
“lợi ích nhóm” làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế - xã hội xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh Nội dung đề tài có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết cả trước mắt và lâu dài, góp phần cung cấp những dữ liệu cơ sở khoa học và giải pháp về kiểm soát quyền lực ở nước ta hiện nay
- Luận văn về Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với hoạt động của
các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương ở Việt Nam hiện nay của Trần
Văn Tĩnh [76], đã xây dựng cơ sở lý luận về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối
với hoạt động của các các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương từ khái niệm, đặc điểm, vai trò công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, đến nội dung, phương thức và các điều kiện bảo đảm thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương Đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương Trên cơ sở đó đề ra định hướng và giải pháp bảo
Trang 22đảm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với hoạt động của các
cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương ở Việt Nam hiện nay
- Các bài “Tăng cường công tác kiểm tra của Đảng nhằm góp phần ngăn chặn
và đẩy lùi tham nhũng” [17], bài “Đấu tranh chống những biểu hiện cơ hội, thực dụng trong thời kỳ mới” của Nguyễn Thị Doan [18] Nội dung bài viết trên đã nêu rõ vị trí,
vai trò và tác dụng của UBKT Trung ương và UBKT các cấp trong việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng ở các các cấp, các ngành Hay nói một cách khác tăng cường công tác kiểm tra của Đảng để thực hiện PCTN, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng Đồng thời cùng với việc ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng thông qua công tác kiểm tra của Đảng thực hiện đấu tranh chống biểu hiện cơ hội, thực dụng trong thời kỳ mới Đó là nội dung cơ bản mang tính đột phá trong việc đấu tranh PCTN đối với các
cơ quan công quyền của Nhà nước trong thời kỳ cách mạng mới và sự nghiệp đổi mới của Đảng
- Bài “Một số vấn đề về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong phòng,
chống tham nhũng”, của Nguyễn Xuân Trường, Nguyễn Thùy Dung [82] Nội dung
bài viết luận giải công tác PCTN được thực hiện thông qua công tác kiểm tra của cấp
ủy đảng, UBKT cấp ủy Tham nhũng có dấu hiệu đặc trưng cơ bản là phải được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước hoặc trong các cơ quan,
tổ chức, xã hội Nói cách khác, chủ thể của tham nhũng chỉ có thể là người có chức vụ, quyền hạn Trong điều kiện thể chế chính trị nước ta hiện nay do Đảng lãnh đạo, có thể thấy hầu hết những người bị xử lý về hành vi tham nhũng đều là đảng viên Mặt khác
tổ chức đảng và đảng viên đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng Do vậy công tác kiểm tra của Đảng là một kênh quan trong trong PCTN ở các cấp, các ngành cơ quan, đơn vi hiện nay
- Một số bài viết trên tạp chí của Trần Văn Tĩnh như: “Tăng cường vai trò công
tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng giai đoạn hiện nay” [77]; "Công tác kiểm tra của Đảng trong phòng, chống tham nhũng ở các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương" [78]; "Công tác kiểm tra của Đảng Cộng sản Việt Nam với vấn đề trong phòng, chống tham nhũng ở các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương" [79] Trong các bài viết này, tác giả phân tích làm rõ vai trò
công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với đấu tranh, phòng cống tham nhũng Tập trung đánh giá làm rõ kết quả, tồn tại và nguyên nhân của công tác kiểm tra, giám sát
Trang 23đối với phòng, chống tham nhũng thời gian qua Đồng thời đề ra định hướng, giải pháp phát huy vai trò của xã hội trong việc đấu tranh đẩy lui tệ tham nhũng, tiêu cực, cùng với những giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong tình hình hiện nay đối với các cơ quan công quyền của nhà nước và
xã hội
- Bài “Những điểm mới trong chế độ tuần thị của Đảng Cộng sản Trung Quốc
sau Đại hội XVIII” của Trần Thu Minh [52], đã đề cập đến chế độ tuần thị trong Đảng
của Đảng Cộng sản Trung Quốc sau Đại hội XVIII đã có nhiều phát triển mới, khung chế độ được hoàn thiện hơn; các điều luật, pháp quy có liên quan hoàn chỉnh hơn, quy trình vận hành được quy phạm và minh bạch hơn giúp cho chế độ tuần thị ngày càng
có hiệu quả thiết thực đối với công tác PCTN và giám sát trong Đảng phù hợp với tình hình Trung Quốc Đó cũng là một gợi ý quan trọng có giá trị tham khảo vận dụng thực hiện trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với PCTN và giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay
- Bài “Công tác giám của Ủy ban Kiểm tra - Kỷ luật Đảng Cộng sản Trung
Quốc”của Cao Văn Thống [73], đã đề cập đến việc thực hiện nhiệm vụ giám sát của
UBKT Kỷ luật các cấp của Đảng Cộng sản Trung Quốc Công tác giám sát trong Đảng Cộng sản Trung Quốc khẳng định: “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, kết hợp giữa tín nhiệm, khích lệ với giám sát nghiêm khắc, nhằm làm cho cán bộ lãnh đạo có quyền lực phải gắn liền với trách nhiệm, sử dụng quyền lực phải chịu giám sát và làm không đúng trách nhiệm thì phải truy cứu để bảo đảm “nhốt quyền lực” trong “lồng chế độ” Đó là vấn đề cần nghiên cứu đề xuất vận dụng trong thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của UBKT các cấp, nhất là trong giám sát, kiểm soát quyền lực Nhà nước ở Việt Nam hiện nay
- Bài “Một số vấn đề hợp nhất Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương với
Thanh tra Chính phủ” của Trần Duy Hưng [38], đã luận giải những vấn đề về cơ sở để
thực hiện hợp nhất Cơ quan UBKT Trung ương với Thanh tra Chính phủ, có nhiều điểm tương đồng từ chức năng, nhiệm vụ đối tượng và phương thức thực hiện, nhất là trong tình hình hiện nay về chủ trưởng của Đảng, yêu cầu nhiệm vụ công tác kiểm tra, thanh tra, cũng như nhiệm vụ công tác PCTN, lãng phí có nhiều nét tương đồng, việc hợp nhất thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ và đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay
Trang 24- Bài “Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay”
của Nguyễn Thúy Hà [31], đã luận giải những vấn đề về cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng chính trị nói chung Đồng thời đưa ra phương thức kiểm soát quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua nguyên tắc sinh hoạt đảng; thông qua thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng; thông qua các tổ chức đảng và đảng viên
- Bài “Kiểm tra, giám sát - một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng
trong kiểm soát quyền lực Nhà nước hiện nay” của Cao Thị Dung, Bùi Anh Tuấn [19],
đã đưa ra nguyên lý mang tính tất yếu về kiểm soát quyền lực của Đảng thông qua phương thức kiểm tra, giám sát Đồng thời đánh giá thực trạng và đề ra giải pháp thực hiện có hiệu quả phương thức kiểm soát quyền lực Nhà nước của Đảng thông qua công tác kiểm tra, giám sát
- Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng của Ủy ban
Kiểm tra Trung ương (2006 - 2015) [93] Nội dung báo cáo thể hiện UBKT Trung
ương trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng do Điều lệ Đảng quy định, trong đó có các nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến thực hiện công tác PCTN, đã có nhiều chủ trương, biện pháp chỉ đạo thực hiện PCTN qua việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, đạt kết quả quan trọng, góp phần vào kết quả chung đấu tranh PCTN của Đảng và Nhà nước
- Một số báo cáo tổng kết công tác năm của Ủy ban Kiểm tra Trung ương: Báo
cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng (2006-2010) [91]; Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng (2011-2015) [92]; Báo cáo kết quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng năn 2016, phương hướng, nhiệm vụ năm 2017 [96]; Báo cáo kết quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng năn 2017, phương hướng, nhiệm vụ năm 2018 [97] Nội dung các báo cáo
thể hiện UBKT Trung ương và UBKT các cấp đã chủ động tham mưu giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp xây dựng thực hiện có hiệu quả chương trình kiểm tra hằng năm, góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và (khóa XII) về xây dựng Đảng Qua kiểm tra đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về PCTN, lãng phí và thực hành tiết kiệm Đồng thời đã phát hiện những sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai các dự án, trong đầu tư công, xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản làm thất thoát ngân sách nhà nước hàng ngàn
Trang 25tỷ đồng, hàng triệu ha đất dự án chậm hoặc không triển khai đã kịp thời xử lý nghiêm minh những vi phạm đối với tổ chức và các nhân, thu hồi tiền, tài sản, đất đai sai phạm Thông qua đó đã chỉ ra những sơ hở, thiếu sót trong lãnh đạo, quản lý, những quy định, chính sách còn chưa phù hợp, đề xuất kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung kịp thời
1.1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
- Bài “Không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo và trình độ cầm quyền, tăng
cường năng lực chống tha hóa, phòng biến chất và chống rủi ro” của Hạ Quốc Cường
[15]; “Kiên trì phương châm quản lý Đảng một cách nghiêm minh, triển khai cuộc xây
dựng tác phong của Đảng, xây dựng liêm chính và đấu tranh chống tham nhũng” của
Chu Húc Đồng [28] Nội dung đã đề cập một cách khái quát về vai trò và quyết tâm của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong PCTN, đặc biệt là việc câu kết của một số đảng viên có chức, quyền (từ Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội…) đã chỉ rõ vị trí, vai trò của UBKT- kỷ luật của Đảng trong PCTN
- Bài “Chế độ chống tham nhũng từ sau Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản
Trung Quốc sáng tạo lý luận và thực tiễn”, của Tôn Xuân Thần [70] đã khái quát ý
kiến của Tổng Bí thư Tập Cận Bình tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XVIII: cần tăng cường công tác chế ước và giám sát đối với quyền lực, “nhốt quyền lực trong chiếc lồng quy chế” Có thể thấy chính sách “nhốt quyền lực trong chiếc lồng quy chế” đã tỏ
rõ quan điểm cần phải có cơ chế giám sát và chế ước quyền lực Quyền lực công phải được công khai, cơ chế giám sát và chế ước đối với quyền lực cũng phải thực hiện một cách minh bạch Bất kỳ ai cũng đều không có quyền lực tuyệt đối ngoài pháp luật Đây
là vấn đề lý luận sắc sảo của học giả, khái quát về quyền lực và kiểm soát quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc để thực hiện chuyển “chống tham nhũng” sang
“phòng tham nhũng” nhằm giải quyết tận gốc tệ nạn tham nhũng
- Bài “Xây dựng chế độ là chính sách giúp giải quyết tận gốc tham nhũng, tiêu
cực” của Thành Kiến Hoa [34] đã khái quát ý kiến của Tổng Bí thư Tập Cận Bình:
“Cần hoàn thiện cơ chế giám sát và vận hành quyền lực trong Đảng, quyền và trách nhiệm phải gắn liền nhau, kiên quyết phản đối hiện tượng đặc quyền, phòng trừ hiện tượng lạm dụng chức quyền Đảng cầm quyền có quyền lực chi phối rất lớn đối với mọi nguồn tài nguyên, vì vậy nên có một danh sách quyền lực và chỉ rõ quyền nào được dùng, quyền nào không được dùng, thế nào là công quyền, thế nào là tư quyền,
Trang 26không thể có chuyện công quyền lại dùng vào việc tư”.Từ Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra những yêu cầu cao hơn đối với vấn đề giám sát trong Đảng Cơ chế giám sát trong Đảng được tăng cường, góp phần giúp công tác chống tham nhũng
và xây dựng liêm khiết giành được những thành quả đáng kể
- Bài “Những thành tựu và kinh nghiệm trong công tác chống tham nhũng của
Đảng Cộng sản Trung Quốc từ Đại hội XVIII đến nay” của Tào Vĩnh [104], đã phân
tích đánh giá về biện pháp và kết quả đạt được trong PCTN của Đảng Cộng sản Trung Quốc thông qua việc giám sát, kiểm soát quyền lực Nhờ đó đã thiết lập một quy tắc, chế độ trong Đảng giúp cho quy phạm hóa công tác giám sát kỷ luật Đảng, thông qua việc kiểm soát, giới hạn quyền lực thực hiện PCTN hiệu quả
- Trong cuốn sách "Những vấn đề lý luận của Đại hội XVI của Đảng Cộng sản
Trung Quốc" [71] đã đề cập đến cơ chế kiểm tra, giám sát đối với bộ máy nhà nước
Từ Đại hội XVII, XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc quy định chế độ "tuần tra" vào Điều lệ Đảng thực hiện ở cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Năm 2016 sửa đổi bổ sung Điều lệ Giám sát trong Đảng nêu rõ đối với cấp tỉnh, thành, quận, huyện và cấp Trung ương phải thực hiện tuần tra đối với địa phương, ban, ngành, đơn vị sự nghiệp Đây là biện pháp sáng tạo của quan trọng của Đảng Cộng sản Trung Quốc bảo đảm giám sát "không có vùng cấm, không có vùng trống, không có đặc quyền, không có ngoại lệ, không có góc chết, không có nhân nhượng, không có điểm dừng" Khai mạc Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc ông Tập Cận Bình chỉ
rõ Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ thành lập Tiểu ban lãnh đạo Trung ương về quản lý nhà nước theo pháp luật toàn diện, tăng cường sự lãnh đạo thống nhất trong xây dựng Trung Quốc pháp quyền Đồng thời thí điểm thành lập Ủy ban Giám sát nhà nước, tỉnh, thành phố, huyện Cơ quan này sẽ giám sát các hoạt động quyền lực, tăng cường quản
lý giám sát thường ngày đối với đảng viên, cán bộ, thực hiện giám sát đối với tất cả những công chức thi hành quyền lực công
1.1.4 Nhận xét về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu những công trình khoa học đã được công bố ở trong và ngoài nước, qua việc hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài lựa chọn, nghiên cứu sinh có một số nhận xét, đánh giá sơ bộ như sau:
Nhìn chung, tham nhũng đã và đang là vấn đề tệ nạn nhức nhối mang tính toàn cầu của mỗi quốc gia dân tộc trên thế giới Là loại tội phạm mang tính đặc thù, phương
Trang 27thức, thủ đoạn tham nhũng rất tinh vi, không dễ dàng nhận biết Tổ chức PCTN là vấn
đề lâu dài, phức tạp, khó khăn hiện nay Hơn lúc nào hết, Đảng, Nhà nước và nhân dân
ta rất quan tâm, quyết liệt, ráo riết tiến hành chống lại mọi biểu hiện, hành vi của tham nhũng Từ thực trạng công tác PCTN trong những năm qua, cùng với những tác động của tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… trong và ngoài nước trong thời gian tới, hoạt động của tội phạm tham nhũng sẽ còn phức tạp, khó lường Do đó, trong đấu tranh với tội phạm tham nhũng cần thiết phải tăng cường hợp tác quốc tế trong trao đổi thông tin, học hỏi kinh nghiệm, phối hợp áp dụng các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm tham nhũng giữa các quốc gia, dân tộc với nhau
Các công trình nghiên cứu do các tác giả nước ngoài thực hiện chủ yếu xem xét nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, trong việc giải quyết khiếu nại, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; trong PCTN và trong việc kiểm tra, giám sát bộ máy nhà nước
Do vậy đấu tranh PCTN phải xây dựng những tổ chức chống tham nhũng đủ mạnh, độc lập trong điều tra và khách quan trong xử lý Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan chức năng, nhất là cơ quan kiểm tra của Đảng, cơ quan thanh tra và thực hiện chức năng giám sát trong việc phát hiện và xử lý tham nhũng
Nhìn một cách tổng quan, các công trình nghiên cứu trên đây chưa đề cập nhiều
và làm rõ những vấn đề lý luận về sự lãnh đạo của Đảng, các cấp uỷ đảng trong đấu tranh PCTN đối với bộ máy nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương nói riêng Cùng với vị trí, vai trò tác dụng và mô hình tổ chức của UBKT các cấp, cũng như thực trạng và yêu cầu nhiệm vụ công tác kiểm tra của Đảng đối với PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương nói riêng
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN, GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.2.1 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đã gợi mở, cung cấp thông tin, phương pháp nghiên cứu, tiếp cận vấn đề trong nhiều nội dung của luận án Tuy nhiên,
có thể nói các công trình nghiên cứu và tài liệu viết về công tác kiểm tra của Đảng đối với PCTN tương đối đa dạng phong phú Nhưng hầu hết các công trình đã có chủ trương tập trung nghiên cứu PCTN hoặc công tác kiểm tra của Đảng nói chung mà chưa đề cập toàn diện, sâu sắc công tác kiểm tra của Đảng trong PCTN đối với các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương Thêm vào đó, gần đây, nhiều văn kiện của
Trang 28Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng đề cập đến tính cấp thiết trong lĩnh vực này Do vậy, luận án tiếp tục nghiên cứu những nội dung sau:
- Về mặt lý luận: các vấn đề tiếp tục nghiên cứu, giải quyết gồm: Cần làm rõ vai
trò, tầm quan trọng về công tác kiểm tra của Đảng đối với PCTN, tính đúng đắn và toàn diện đối với yêu cầu của nhà nước nhà nước pháp quyền Đã có nhiều luận án nói
về PCTN trong bộ máy nhà nước, Nhà nước ta do Đảng Cộng sản cầm quyền, do vậy vai trò của Đảng đối với PCTN rất quan trọng là một trong yếu tố quyết định thành bại trong PCTN Tuy nhiên về nhận thức và căn cứ pháp luật, yếu tố chính trị còn nhiều vấn đề chưa sáng tỏ, do vậy cần nghiên cứu để hoàn thiện trong đấu tranh PCTN đối với các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương Do vậy cần xây dựng đi tới thống nhất khái niệm, đặc điểm, vai trò và tác dụng của PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng Cùng với nội dung, phương thức về PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng Các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện bảo đảm công tác kiểm tra của Đảng trong PCTN đối với các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương Đó là các sở để luận án nghiên cứu có những nội dung lý luận chính
- Về mặt thực tiễn, các cơ quan của Đảng liên quan tham gia đấu tranh PCTN,
được xác định từ các quan điểm chỉ đạo, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về thẩm quyền, trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ này, trên thực tế đã có nhiều vụ án về tham nhũng được phát hiện thông qua công tác kiểm tra của Đảng, đây cũng được xác định là một trong nguồn đầu vào của vụ án tham nhũng, nhưng công tác tổng kết thực tiễn về nhiệm vụ công tác này đối với đấu tranh PCTN chưa được làm rõ, chưa có bức tranh tổng thể, nó mới được nêu lên từ góc nhìn thực tiễn Vì vậy phải trả lời câu hỏi vai trò, trách nhiệm công tác kiểm tra của Đảng như thế nào trong đấu tranh PCTN Do vậy các vấn đề tiếp tục nghiên cứu, giải quyết gồm: phân tích, đánh giá toàn diện, việc thực hiện công tác PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng; phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế và chỉ ra những nguyên nhân hạn chế của công tác này ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích toàn diện những vấn đề lý luận, thực trạng và thực tiễn tổ chức thực hiện PCTN của các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thời gian qua, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm ở một số nước, luận
án đề xuất các quan điểm và các nhóm giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác
Trang 29PCTN trong bộ máy nhà nước nói chung và các quan hành chính nhà nước cấp trung ương nói riêng, bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh PCTN đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay
1.2.2 Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu của luận án
Với kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu và căn cứ vào lý luận về PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng Cộng sản Việt Nam, luận án đặt ra giả thuyết nghiên cứu như sau:
Công tác PCTN và hiệu quả sẽ như thế nào nếu không xác định được vai trò
cũng như việc thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ công tác kiểm tra của Đảng Thực tiễn
đã khẳng định công tác kiểm tra của Đảng là một trong yếu tố quan trọng trong PCTN
Do vậy việc nhận thức đầy đủ, toàn diện sâu sắc nội dung, phương pháp đấu tranh PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước thông qua công tác kiểm tra của Đảng Xác định công tác kiểm tra của Đảng là một trong yếu tố quan trọng, quyết định sự thành bại trong đấu tranh PCTN đối với bộ máy nhà nước nói chung và các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng Do vậy thực hiện hoạt động PCTN thông qua công tác kiểm tra của Đảng một cách đúng đắn và là yếu tố quyết định bảo đảm chất lượng công tác PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng, góp phần hoàn thành chủ trương và nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh PCTN, lãng phí
1 PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng Cộng sản Việt Nam là gì, có đặc điểm nổi bật nào để đạt được mục đích ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý các hành vi tham nhũng trong các cơ quan hành chính cấp trung ương
2 Nội dung của PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng là gì? Phương thức và mối quan hệ trong PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng là gì?
3 Các yếu tố tác động nào ảnh hưởng tới hiệu quả của công tác PCTN trong các
cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng Cộng sản Việt Nam?
Trang 304 Thực tiễn PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm tra của Đảng có những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân nào?
5 Cần các giải pháp hữu hiệu nào để bảo đảm nâng cao chất lượng hoạt động PCTN trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thông qua công tác kiểm
tra của Đảng?
Kết luận chương 1
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về công tác đấu tranh PCTN ở những bình diện và góc độ khác nhau Thực tiễn công tác đấu tranh PCTN ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy việc kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa và trừng trị nghiêm khắc những kẻ tham nhũng có ý nghĩa hết sức quan trọng Do đó, để đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ
hai hình thức này
Trong những năm vừa qua, cùng với xu thế hội nhập quốc tế và quá trình toàn cầu hoá về kinh tế đang diễn ra ngày càng sôi động, tham nhũng đã trở thành quốc nạn nhức nhối của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới Ở Việt Nam, trong những năm qua công tác PCTN đã đạt được nhiều kết quả quan trọng ngay từ những ngày thành lập nước Chúng ta đã xây dựng được hệ thống pháp luật trong PCTN, điển hình như Luật Phòng, chống tham nhũng (2005) Nước ta đã ký kết, tham gia Công ước Liên hiệp quốc về chống tham nhũng nhằm đẩy mạnh và tăng cường khả năng PCTN của các quốc gia thành viên này từ 19/12/2003 Tuy nhiên, ngoài những kết quả đã đạt được, tình trạng tham nhũng đã, đang diễn ra hết sức phức tạp và kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương và trong nhiều tổ chức kinh tế Tham nhũng đang trở thành một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong của chế độ và sự sống còn của Nhà nước Bởi vậy, đấu tranh chống tham nhũng đã được Đảng và Nhà nước ta xác định một trong những yêu cầu cấp bách có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong giai đoạn hiện nay
Nghiên cứu về tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng là cả một hệ thống biện pháp, tìm tòi, sáng tạo, trên cơ sở phát huy vai trò tích cực của toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân ta Chính vì vậy, tìm hiểu về công tác PCTN ở một số nước trên thế giới, từ đó vận dụng linh hoạt, có hiệu quả vào tình hình thực tế của đất nước là nội dung quan trọng, cần thiết Đấu tranh chống tham nhũng tức là đấu tranh chống lại các hành vi trái pháp luật của những người có chức vụ, quyền hạn nằm trong bộ máy nhà
Trang 31nước, Do đó, để đạt hiệu quả không nên chỉ chú trọng giao nhiệm vụ chống tham nhũng cho các cơ quan bảo vệ pháp luật mà phải thành lập tổ chức chống tham nhũng độc lập với các cơ quan nhà nước, trực thuộc người đứng đầu Đảng và Nhà nước.Tổ chức này phải có những quyền hạn nhất định, được áp dụng các biện pháp trong sạch, nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ công chức, trước hết phải có những quy định
cụ thể về chức trách, nhiệm vụ, quy chế làm việc, trách nhiệm rõ ràng
Ở nước ta, Đảng lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội, nên hiện nay hầu hết những người có chức vụ, có quyền đều là đảng viên, chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng Thực tế các nhiệm kỳ vừa qua, với chức năng, nhiệm vụ của mình, UBKT Trung ương và UBKT các cấp đã tích cực tham gia và đã có đóng góp quan trọng vào cuộc đấu tranh ngăn ngừa, phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí bằng việc tham mưu giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành kiểm tra thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; qua việc kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, kiểm tra tài chính đảng, giải quyết đơn thư tố cáo…
đã góp phần trực tiếp giải quyết một số vụ nổi cộm về tham nhũng Có thể khẳng định, công tác kiểm tra của Đảng không chỉ là những chức năng lãnh đạo của Đảng mà còn góp phần quan trọng, có hiệu quả nhất vào cuộc đấu tranh PCTN và giám sát kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước nói chung và các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương hiện nay
Do vậy việc tiếp tục nghiên cứu xây dựng đề án tăng cường nhiệm vụ PCTN cho UBKT Trung ương và UBKT các cấp ủy Cùng với việc xây dựng kiểm tra, giám sát của Đảng nhằm đẩy mạnh công tác PCTN trong bộ máy nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương nói riêng để hạn chế tối đa việc lạm dụng quyền lực Nhà nước của những kẻ tham nhũng trong các cơ quan này là một đòi hỏi và yêu cầu cấp thiết hiện nay
Trang 32Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÕNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TRUNG ƯƠNG
THÔNG QUA CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG
2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÕ PHÕNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TRUNG ƯƠNG THÔNG QUA CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG
2.1.1 Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương
Các cơ quan hành chính nhà nước là một trong bốn phân hệ cơ quan của bộ máy Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, bao gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp và các cơ quan trực thuộc Các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương được xác định bao gồm Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương là các bộ, cơ quan ngang
bộ Trong đó, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, đồng thời là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp Cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương là cơ quan quản
lý hành chính nhà nước cao nhất, được giao những quyền lực nhà nước rất lớn nhằm thực hiện những quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục đích hướng tới lợi ích công, trực tiếp tổ chức và quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trên phạm vi cả nước Do vậy hoạt động của các cơ quan này có tầm quan trọng đặc biệt, quản lý điều hành mang tính định hướng vĩ mô, tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực và mọi mặt của đời sống xã hội
- Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm có: Thủ tướng Chính phủ, các phó thủ tướng và các bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan ngang bộ Số phó thủ tướng, bộ trưởng
và thủ trưởng cơ quan ngang bộ do Quốc hội quyết định
- Các bộ, cơ quan ngang gồm có: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao,
Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông - Vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Lao động, Thương binh và
Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế Các cơ quan ngang bộ gồm Uỷ ban Dân tộc, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Chính phủ
Trang 33Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ là người đứng đầu chịu trách nhiệm trước Thủ tướng, trước Quốc hội về quản lý nhà nước ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước hoặc về công tác được giao phụ trách; tham gia vào hoạt động của tập thể Chính phủ; tham dự các phiên họp của Quốc hội khi xem xét về những vấn đề có liên quan đến ngành, lĩnh vực hoặc về công tác được giao phụ trách
Chính phủ (Thủ tướng, các phó Thủ tướng,
các thành viên CP)
Hình 2.1: Mô hình tổ chức của các cơ quan hành chính nhà nước
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương
Tham nhũng là hiện tượng xã hội, tồn tại tất yếu, khách quan xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người có phân chia giai cấp, nên tham nhũng là một phạm trù mang tính lịch sử Tham nhũng được nhiều học giả và các tổ chức quan tâm nghiên cứu, được biết đến với nhiều quan niệm khác nhau Trong tiếng Anh từ tham nhũng là
"Corruption" có nghĩa là "hư hỏng, thối nát, phá hoại" [55, tr.370] Trong tiếng Việt, thuật ngữ tham nhũng được xác định là: “Lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân và lấy của dân” [102, tr.1165] Từ điển Luật học (Black’s Law) định nghĩa “tham nhũng là sự phá vỡ những nguyên tắc công chính, đức hạnh và luân lý” Các tiếp cận này tương đối rộng, xem xét tham nhũng không chỉ ở khu vực công mà bao gồm toàn
bộ các hoạt động của đời sống xã hội có tổ chức; không chỉ mô tả các hành vi có mục đích tư lợi mà còn bao gồm cả các hành vi trái với luân thường, đạo lý
Trang 34Một số tổ chức quốc tế về PCTN cũng có các quan niệm khác nhau về tham nhũng Theo Công ước Liên hợp quốc (UN) về PCTN xác định tham nhũng là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng Công ước này cũng nêu rõ các hành vi tham nhũng bao gồm việc người có chức vụ, quyền hạn lấy cắp, tham ô tài sản nhà nước; lợi dụng địa vị công tác để trục lợi riêng; tạo sự xung đột về thứ tự quan tâm giữa trách nhiệm đối với xã hội và lợi ích cá nhân để mưu cầu trục lợi Ngân hàng Thế giới (WB) lại đưa ra quan niệm tham nhũng là việc lợi dụng quyền lực công nhằm lợi ích cá nhân [35, tr.3].Tổ chức minh bạch quốc tế (TT) cho rằng, tham nhũng là hành vi của người lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân [107] Theo Ban nghiên cứu thuộc Hội đồng Châu Âu “tham nhũng bao gồm những hành vi hối lộ và bất kỳ một hành vi nào khác của những người được giao thực hiện một trách nhiệm nào đó trong khu vực nhà nước hoặc tư nhân, nhưng đã vi phạm trách nhiệm được giao để thu bất kỳ một thứ lợi ích bất hợp pháp nào cho cá nhân hoặc người khác” [106, tr.21]
Theo tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống
tham nhũng thì "Tham nhũng - đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng"
bao gồm những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, trộm cắp tài sản của Nhà nước, hoặc lợi dụng địa vị công tác để trục lợi riêng thông qua việc sử dụng không chính thức địa vị chính thức của mình, hoặc tạo ra xung đột về thứ tự quan tâm giữa trách nhiệm đối với xã hội và lợi ích cá nhân để mưu cầu trục lợi
Như vậy giữa các nước có sự khác nhau về truyền thống lịch sử, đặc điểm văn hoá, điều kiện kinh tế - xã hội, cũng như các tổ chức quốc tế hay các cơ quan nghiên cứu về PCTN có nhiều quan niệm khác nhau về tham nhũng, nhưng đều có chung quan
niệm: Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ,
quyền hạn đó để tham ô, nhận hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi
Tham nhũng nảy sinh từ khi có Nhà nước, xuất hiện khi một số người sử dụng quyền hạn được giao để thỏa mãn lòng tham, tính vụ lợi của mình Khái niệm tham nhũng gồm hai yếu tố: tham và những Tham là hám lợi, tư lợi, vụ lợi Nhũng là lợi dụng quyền hạn chức trách được giao để thỏa mãn lòng tham, lợi ích cá nhân Hai yếu
tố này là tiền đề của nhau, thúc đẩy và gắn bó chặt chẽ với nhau Tuy có nhiều quan niệm khác nhau nhưng nhìn chung đều thống nhất ở việc coi tham nhũng là việc lợi dụng quyền lực để vụ lợi Quan niệm này dẫn đến có hai khái niệm khá phổ biến về tham nhũng:
Trang 35Thứ nhất, khái niệm tham nhũng được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm mọi hành
vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi Chủ thể của hành vi tham nhũng có thể là cán bộ, công chức, viên chức hoặc những người khác thuộc khu vực nhà nước (cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, trong các tổ chức chính trị,
tổ chức xã hội ) mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức; thậm chí, chủ thể của hành vi tham nhũng có thể là người thuộc khu vực tư nhân
Thứ hai, khái niệm tham nhũng theo nghĩa hẹp và đã được pháp luật Việt Nam
quy định, Luật PCTN năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012 (sau đây gọi chung
là Luật PCTN) định nghĩa: “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” (Khoản 2, Điều 1) [60]: Khoản 3, Điều 1 quy định “người có chức vụ, quyền hạn là cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân;
sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó”
Các hành vi tham nhũng, bao gồm: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức
vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, có quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức
vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi
Như vậy, pháp luật của nước ta cũng xác định chủ thể của tham nhũng là người
có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước, tức là những người được sử dụng quyền lực công; hành vi tham nhũng là lợi dụng chức vụ, quyền hạn bao gồm những việc làm và những việc không làm (làm ngơ, bỏ qua, cho qua, né tránh) vì mục đích vụ
Trang 36lợi nhằm nhận được các lợi ích vật chất (tiền, quà biếu…) và các lợi ích tinh thần không bằng công sức của mình
Trong phạm vi nghiên cứu về tham nhũng trong các cơ quan hành chính cấp trung ương, Luận án chỉ tiếp cận tham nhũng trong khu vực công, cụ thể trong cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương nói riêng, thì khái niệm về tham nhũng trong cơ quan hành chính cấp trung ương như sau:
Tham nhũng trong cơ quan hành chính cấp trung ương được hiểu là hành vi vi
phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng do người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình thực hiện gây hậu quả xấu cho xã hội, xâm phạm đến tài sản, lợi ích, hoạt động đúng đắn của các cơ quan hành chính nhà nước, người dân và xã hội (1)
Từ những khái niệm tham nhũng nêu trên, có thể khái quát những đặc điểm và
biểu hiện của tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương như sau:
Thứ nhất, đặc điểm về chủ thể: chủ thể tham nhũng là những người có chức vụ,
quyền hạn trong bộ máy cơ quan hành chính trung ương hoặc được giao thực hiện một công vụ, nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định khi thực hiện công vụ, nhiệm
vụ đó Theo đặc điểm này, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước cấp trung ương, các cơ quan có trọng trách lớn,
có ảnh hưởng sâu rộng trong mọi mặt của đời sống xã hội; hoặc những người được giao thực hiện một công vụ, nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn trong nhiệm vụ đó
Thứ hai, đặc điểm về mục đích: hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của những
người trong bộ máy cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương có mục đích vụ lợi
để thu lợi bất chính Người có hành vi tham nhũng luôn nhằm mục đích vụ lợi luôn tính toán đến việc thu lợi bất chính, bao gồm lợi ích vật chất, tinh thần cho mình hoặc người khác Thực chất đó là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn địa vị công tác hoặc nhiệm
vụ được giao để không làm hoặc làm trái với công vụ mà mình phải thực hiện để chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, của tổ chức và của người dân, thỏa mãn lợi ích cá nhân của
họ hay cho người khác hoặc một nhóm người mà mình quan tâm
Thứ ba, đặc điểm về phương thức thực hiện: những biểu hiện cơ bản tham
nhũng trong cơ quan hành chính cấp trung ương đa dạng về quy mô, hình thức: có
tham nhũng nhỏ, vặt vãnh trong việc sách nhiễu, cố ý gây phiền hà cho các tổ chức và
người dân; có tham nhũng lớn và cực lớn, đan xen, phối hợp cả tham nhũng cá nhân
Trang 37lẫn tham nhũng theo nhóm, gọi là “lợi ích nhóm”, có tổ chức, có chủ mưu, thao túng vào tổ chức, thể chế và chính sách cùng những người có trọng trách, có thẩm quyền giải quyết, lợi ích nhóm hiện nay thể hiện rất tinh vi, mang lại hậu quả cũng rất lớn; có tham nhũng trong lĩnh vực hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
có tham nhũng trong các lĩnh vực quản lý đất đai, tài sản, quản lý kinh tế, chính sách,
xã hội; có tham nhũng trong công tác cán bộ thuyên chuyển, cất nhắc, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, chạy danh, chạy chức, chạy quyền Càng ở cấp cao, vị trí có khả năng sinh lợi nhiều thì mức độ tham nhũng càng lớn Ngoài ra, tham nhũng thông qua việc chậm sửa chính sách, pháp luật, cố tình lợi dụng sự mâu thuẫn, chồng chéo, hoặc lỗ hổng chính sách để trục lợi cho cá nhân quản lý là phương thức tham nhũng mang tính phổ biến của cơ quan hành chính cấp trung ương
Thứ tư, đặc điểm về hành vi: các hành vi tham nhũng được thực hiện trong cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương phổ biến với những biểu hiện sau: tham ô
tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương thuộc phạm vi quản lý vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn
sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi Là hành vi của người có chức vụ quyền hạn trong bộ máy nhà nước gây khó khăn cho doanh nghiệp, người dân nhằm đạt những lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần nhất định; không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi
Thứ năm, đặc điểm về nguyên nhân tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà
nước cấp trung ương phổ biến do mức sống thấp của cán bộ, công chức; lòng tham và quyền lực công không được quản lý kiểm soát chặt chẽ; thiếu công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động; buông lỏng quản lý, kiểm tra và kỷ luật lỏng lẻo; sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường gây ra sự cám
dỗ về quyền lợi vật chất Hơn nữa, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vẫn giữ lợi thế cho cơ quan quản lý ngành và lĩnh vực, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, độc quyền tạo điều kiện cho tham nhũng phát triển; tham nhũng do tập quán mang ơn,
Trang 38trả ơn dẫn đến tệ hối lộ Trong các nguyên nhân mang tính phổ biến nêu trên, nguyên nhân quan trọng gây ra tham nhũng là sự thiếu hiệu quả của hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng, Nhà nước và xã hội đối với cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương; do phân cấp quản lý hành chính chưa rành mạch cùng với thiếu biện pháp,
phương pháp kiểm tra; do sự thiếu rèn luyện và trau dồi đạo đức của công chức;
2.1.3 Khái niệm công tác kiểm tra của Đảng Cộng sản Việt Nam và tổ chức
bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban Kiểm tra, cơ quan Ủy ban Kiểm tra
2.1.3.1 Khái niệm công tác kiểm tra của Đảng Cộng sản Việt Nam
Để thực hiện sứ mệnh của Đảng cẩm quyền, Đảng cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời đã luôn coi trọng công tác kiểm tra và khẳng định kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo quan trọng, góp phần lớn trong việc hoàn thành mọi nhiệm
vụ chính trị của từng giai đoạn cách mạng của đất nước, của Đảng và dân tộc Trong điều kiện xây dựng Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay, công tác kiểm tra của Đảng được nhận thức đầy đủ hơn, thúc đẩy sự đoàn kết, sức chiến đấu trong Đảng và đặc biệt là góp phần quan trọng trong PCTN Trong các tác phẩm của mình, Lê Nin đã nhấn mạnh tính tất yếu của công tác kiểm tra của Đảng Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị các các lĩnh vực thì khi đường lối đã xác định, phương hướng đã được thông qua thì cần lựa chọn người và kiểm tra công việc thực tế Theo Lênin: “Kiểm tra tạo ra tinh thần trách nhiệm cao và
kỷ luật nghiêm ở mỗi cán bộ, đảng viên, mặt khác kiểm tra sẽ đẩy mạnh cuộc đấu tranh
"chống chủ nghĩa quan liêu, nhằm mở rộng dân chủ, phát huy óc sáng kiến, nhằm phát hiện, lột mặt nạ và đuổi ra khỏi Đảng những kẻ lén lút chui vào Đảng" [40, tr109] Chủ tịch Hồ Chí cũng luôn khẳng định “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích” [48, tr.520] Như vậy, công tác kiểm tra của Đảng gồm những hoạt động sau:
Thứ nhất, công tác kiểm tra của Đảng cộng sản Việt Nam của tổ chức đảng từ
Trung ương đến cơ sở Theo quy định Điều lệ Đảng: “Kiểm tra, giám sát là những chức
năng lãnh đạo của Đảng” Công tác kiểm tra của Đảng là việc các tổ chức đảng xem
xét, đánh giá, kết luận những ưu điểm, khuyết điểm của tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, điều lệ đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm bảo đảm cho các quyết định, quy
Trang 39định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực hiện nghiêm túc, có kết quả, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng Công
tác giám sát của Đảng là việc các tổ chức đảng theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động
của tổ chức đảng và đảng viên chịu sự giám sát trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, điều lệ đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương, kịp thời tác động để mọi hoạt động đúng quĩ đạo, mục tiêu, yêu cầu đã được xác định, góp phần phục vụ thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng
Thứ hai, việc thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng
phải do cấp ủy và UBKT cấp ủy thực hiện theo thẩm quyền
Thứ ba, chủ thể thực hiện chức năng kiểm tra của Đảng là cấp ủy, UBKT cấp
ủy từ trung ương đến cơ sở, cụ thể là:
+ Ở trung ương: Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; UBKT Trung ương
+ Ở đảng bộ trực thuộc trung ương: Ban chấp hành, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; UBKT các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương
+ Ở đảng bộ cấp trên cơ sở trực tiếp (cấp huyện và tương đương): Ban chấp hành, ban thường vụ các huyện ủy, thị ủy, quận ủy, đảng ủy trực thuộc tỉnh, thành phố; cấp ủy, Ban Cán sự đảng (BCS đảng), đảng đoàn các bộ, ngành, đoàn thể trung ương; UBKT các huyện ủy, thị ủy, quận ủy, đảng ủy trực thuộc tỉnh, thành phố; UBKT cấp
ủy các bộ, ngành, đoàn thể trung ương
+ Ở tổ chức đảng cơ sở: Ban chấp hành, ban thường vụ, chi ủy; UBKT Đảng ủy
cơ sở
Do vậy, công tác kiểm tra của Đảng cộng sản Việt Nam bao gồm: công tác
kiểm tra, giám sát của cấp ủy, UBKT cấp ủy từ trung ương đến cơ sở thực hiện theo thẩm quyền
2.1.3.2 Khái niệm công tác kiểm tra của Đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương
Thứ nhất, công tác kiểm tra của Đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên trong
các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương được xác định do cấp ủy và UBKT cấp ủy ở trung ương và các bộ, cơ quan ngang bộ ở trung ương thực hiện Công tác
Trang 40kiểm tra luôn mang tính Đảng sâu sắc bởi đây là hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với
cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương Đồng thời cả quá trình kiểm tra đều phải tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quy định của Điều lệ Đảng, Cương lĩnh của đảng và tiến hành kiểm tra một cách công khai, dân chủ, tập thể và có lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát
Thứ hai, chủ thể kiểm tra của đảng đối với cơ quan hành chính nhà nước cấp
trung ương là cấp ủy, UBKT cấp ủy ở trung ương và các bộ, cơ quan ngang bộ bao
gồm: ở trung ương: Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; UBKT Trung ương; ở các bộ, cơ quan ngang bộ bao gồm ban cán sự đảng, đảng ủy và UBKT đảng ủy các bộ, cơ quan ngang bộ
Thứ ba, đối tượng kiểm tra, giám sát đối với cơ quan hành chính nhà nước cấp
trung ương là các tổ chức đảng và đảng viên bao gồm: chi bộ, chi ủy, đảng ủy bộ phận, đảng ủy cơ sở; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên; ủy ban kiểm tra; các cơ quan tham mưu giúp việc của cấp ủy; ban cán sự đảng, đảng đoàn; đảng viên Đặc điểm đặc thù của công tác kiểm tra của Đảng đối với cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương thể hiện ở chỗ các cán bộ, đảng viên hoặc tổ chức đảng nêu trên khi được kiểm tra thì vừa là đối tượng vừa là đồng chủ thể kiểm tra
Là đối tượng kiểm tra, nên đảng viên hoặc tổ chức đảng thuộc cơ quan hành chính cấp trung ương được kiểm tra phải chấp hành nghiêm túc mọi yêu cầu, nội dung, quy trình, quy chế kiểm tra; là chủ thể kiểm tra, thì người đảng viên hoặc tổ chức đảng được kiểm tra không thụ động đứng ngoài cuộc mà phải chủ động, tự giác tham gia thực hiện đầy
đủ quyền và trách nhiệm trong cuộc kiểm tra Do đó, người đảng viên nào thuộc đối tượng kiểm tra, nếu có dấu hiệu vi phạm chính sách, pháp luật song nếu khi tổ chức đảng chưa tiến hành thẩm tra, xác minh, chưa có kết luận và chưa có quyết định thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng thì người đó vẫn có tư cách đảng viên, là chủ thể của cuộc kiểm tra đang tiến hành Đây cũng chính là đặc trưng mang tính đảng của chủ thể kiểm tra và đối tượng chịu sự kiểm tra
Thứ tư, nội dung kiểm tra, giám sát là: việc thực hiện Cương lĩnh chính trị, điều
lệ đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên
Thứ năm, phương pháp, biện pháp kiểm tra có tính đặc thù Nghiên cứu công
tác kiểm tra của Đảng cũng cần phải phân biệt với công tác giám sát của Đảng bởi hai hoạt động này có sự phân biệt về thời điểm, biện pháp, đối tượng tác động trong từng