Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực sản xuất một số sản phẩm chủ lực của các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng bằng việc thành lập quỹ ĐMCN trong cá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÃ SỐ: 60 34 04 12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Kim
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Mẫu khảo sát 6
6 Câu hỏi nghiên cứu 6
7 Giả thuyết nghiên cứu 6
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 7
9 Kết cấu của Luận văn 8
CHƯƠNG 1 9
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC THÀNH LẬP QUỸ ĐỔI MỚI 9
CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 9
CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG 9
1.1 Hệ thống các khái niệm có liên quan 9
1.1.1 Khái niệm đổi mới công nghệ 9
1.1.2 Khái niệm quỹ đổi mới công nghệ 10
1.1.3 Khái niệm năng lực sản xuất 12
1.1.4 Khái niệm các sản phẩm chủ lực 13
1.1.5 Khái niệm công nghiệp quốc phòng và doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 13 1.2 Sơ lược về ngành công nghiệp quốc phòng 14
1.2.1 Tổng quan về các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 14
1.2.2 Chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng 19
1.3 Quan điểm thành lập Quỹ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 22
1.3.1 Vai trò của đổi mới công nghệ trong phát triển công nghiệp quốc phòng 22
1.3.2 Về việc thành lập quỹ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 29
Trang 4CHƯƠNG 2 34
THỰC TRẠNG CÁC NGUỒN VỐN 34
CHO HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 34
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG 34
2.1 Thực trạng công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 34
2.1.1 Mục tiêu xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng 34
2.1.2 Một số thành tựu về công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 34
2.1.3 Các sản phẩm công nghệ chủ yếu do các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng sản xuất 36
2.1.4 Khảo sát trường hợp về thực trạng công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 41
2.1.5 Đánh giá thực trạng công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng qua nghiên cứu trường hợp 45
2.2 Tài chính cho hoạt động đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 51
2.2.1 Tài chính cho nghiên cứu khoa học phục vụ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp quốc phòng 51
2.2.2 Tài chính cho hoạt động đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 53
2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài chính cho hoạt động đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 58
2.3.1 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài chính cho hoạt động đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 58
2.3.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài chính trong liên kết nghiên cứu khoa học đổi mới công nghệ với các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 60
Kết luận Chương 2 67
CHƯƠNG 3 68
XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ QUỸ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 68
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG 68
3.1 Nhiệm vụ của các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng trong bối cảnh bảo vệ và xây dựng Tổ quốc 68
Trang 53.1.1 Chính sách đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng
68
3.1.2 Các hình thức chuyển giao công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 69
3.1.3 Những nhiệm vụ cụ thể của các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 70
3.1.4 Những giải pháp chủ yếu về công nghệ để phát triển doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 71
3.2 Sự cần thiết thành lập quỹ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 74
3.2.1 Quỹ đổi mới công nghệ thúc đẩy năng lực sản xuất các sản phẩm chủ lực 74
3.2.2 Quỹ đổi mới công nghệ thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới công nghệ để sản xuất sản phẩm chủ lực 76
3.2.3 Quỹ đổi mới công nghệ phục vụ các nhiệm vụ quốc phòng 77
3.3 Xây dựng quỹ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 79
3.3.1 Nguồn kinh phí quốc phòng cho hoạt động khoa học và công nghệ 79
3.3.2 Nguồn kinh phí từ lợi nhuận của doanh nghiệp 80
3.3.3 Kinh phí từ các nguồn hợp pháp khác 83
3.4 Quản lý quỹ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng 83 3.4.1 Nguyên tắc hoạt động của quỹ đổi mới công nghệ 83
3.4.2 Bộ máy quản lý quỹ đổi mới công nghệ 85
3.4.3 Đối tượng hỗ trợ của quỹ đổi mới công nghệ 89
3.4.4 Hoạt động cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn cho đổi mới công nghệ để sản xuất sản phẩm chủ lực 91
Kết luận Chương 3 93
KẾT LUẬN 96
KHUYẾN NGHỊ 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 101
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Kim, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, người đã hướng dẫn tôi thực hiện Luận văn này
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các nhà quản lý trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, đã giúp tôi hoàn thành các phiếu lấy ý kiến chuyên gia một cách đầy đủ nhất, đóng góp một phần kết quả quan trọng trong Luận văn của tôi
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các giảng viên của lớp Cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ Khóa
2011 đã tận tình giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập, trang bị cho chúng tôi những kiến thức bổ ích làm cơ sở cho quá trình thực hiện Luận văn, cũng như nghiên cứu khoa học sau này
Hà Nội, tháng 11 năm 2013
Tác giả Luận văn
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu ĐMCN trong mỗi doanh nghiệp trở thành vấn đề tất yếu nhằm nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Các doanh nghiệp CNQP cũng không nằm ngoài nhu cầu cấp thiết đó, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất một số sản phẩm chủ lực của ngành CNQP Thực trạng hiện nay, năng lực sản xuất các sản phẩm Quốc phòng nói chung, một số sản phẩm chủ lực nói riêng của các doanh nghiệp quốc phòng còn thấp, nguyên nhân chính là do trình độ công nghệ lạc hậu, chậm ĐMCN, kỹ thuật sản xuất còn hạn chế Các doanh nghiệp CNQP còn thiếu vốn và thông tin công nghệ, ít có khả năng tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư từ ngoài Nhà nước và Bộ Quốc phòng
Việc thành lập Quỹ ĐMCN ở các doanh nghiệp CNQP sẽ tạo điều kiện
hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ Nhà nước đã thành lập Quỹ ĐMCN quốc gia từ tháng 8 năm 2011 Như vậy, tất yếu các địa phương và doanh nghiệp cũng phải tuân theo xu hướng thành lập các Quỹ ĐMCN của địa phương, đơn vị mình, nhằm thực hiện các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ, tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh các sản phẩm, hàng hóa
Kết quả của nghiên cứu củng cố và khẳng định vai trò của ĐMCN tới việc nâng cao năng lực sản xuất sản phẩm trong các doanh nghiệp CNQP, đặc biệt là việc sản xuất một số sản phẩm chủ lực của ngành
Việc đầu tư có trọng điểm về vốn và cơ chế hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động ĐMCN sẽ nhanh chóng thúc đẩy năng lực sản xuất một số sản phẩm chủ lực trong ngành CNQP
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài Thành lập Quỹ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng nhằm nâng cao năng lực
Trang 9sản xuất một số sản phẩm chủ lực làm Luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên ngành Quản lý KH&CN
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiện nay các tổng công ty, các doanh nghiệp, xí nghiệp CNQP vẫn chủ yếu điều hành tài chính bằng quyền lực hành chính là chủ yếu, trong khi thẩm quyền lại không đầy đủ Việc tích luỹ vốn tại các tổng công ty, các doanh nghiệp CNQP hiện còn hạn chế, do các đơn vị thành viên mạnh ai nấy làm, thiếu sự “hợp đồng tác chiến”, thậm chí còn cạnh tranh lẫn nhau, không tạo được sức mạnh tổng hợp trong cạnh tranh lành mạnh Hiện tại các tổng công ty, các doanh nghiệp CNQP vẫn chưa có cơ chế tích tụ vốn - vốn của doanh nghiệp nào, doanh nghiệp ấy sử dụng; tổng công ty không thể tích tụ được vốn, nên không tạo ra được “sức mạnh tổng hợp vững chắc” trong đầu tư, tăng sức cạnh tranh cho toàn tổng công ty và doanh nghiệp Các tổng công ty vẫn đang gặp khó khăn trong mối quan hệ hành chính giữa các đơn vị trực thuộc, nên đã hạn chế các mối liên doanh, liên kết khác
Một thực tế nữa là hầu hết các tổng công ty, doanh nghiệp CNQP hiện nay chỉ bao gồm các doanh nghiệp kinh doanh cùng một loại sản phẩm, cùng ngành nghề, lĩnh vực, đối tượng khách hàng mà chưa đưa ra dạng sản phẩm lưỡng dụng có tính ưu việt chiếm lĩnh thị trường
Tất cả vấn đề nêu trên đều dẫn đến một nhu cầu bức thiết hiện nay, đó là phải thành lập được Quỹ ĐMCN trong các doanh nghiệp CNQP, nhằm nâng cao năng lực sản xuất một số sản phẩm chủ lực
Trước thực tế này, việc nghiên cứu về các giải pháp để tăng cường, thúc đẩy các hoạt động ĐMCN của các doanh nghiệp nước ta nói chung, doanh nghiệp CNQP nói riêng là rất cần thiết Tuy nhiên, việc nghiên cứu về các giải pháp này còn dàn trải, chưa có giải pháp cụ thể, tích cực Việc ĐMCN trong các doanh nghiệp CNQP nói riêng cũng chưa có giải pháp đột phá khả
Trang 10thi nhằm nâng cao năng lực sản xuất một số sản phẩm chủ lực trong các doanh nghiệp này
Đã có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề nâng cao chất lượng sản xuất các sản phẩm quốc phòng, nhưng chỉ dừng ở việc đầu tư cơ sở hạ tầng, chưa thành lập được quỹ hỗ trợ các hoạt động liên quan đến nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đặc biệt là chưa có Quỹ ĐMCN của doanh nghiệp
Đặc biệt, đến nay, việc nghiên cứu, đề xuất thành lập các tổ chức quỹ nhằm hỗ trợ hoạt động ĐMCN trong các doanh nghiệp thì hoàn toàn chưa có
Do vậy, đề tài này mạnh dạn đề xuất ý tưởng thành lập Quỹ ĐMCN trong các DNQP nhằm nâng cao năng lực sản xuất một số sản phẩm chủ lực
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực sản xuất một số sản phẩm
chủ lực của các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng bằng việc thành lập quỹ ĐMCN trong các doanh nghiệp CNQP nhằm hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp
thực hiện nghiên cứu, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài có các nhiệm vụ nghiên cứu
cụ thể sau đây:
- Hệ thống hóa các khái niệm làm cơ sở lý luận của đề tài, bao gồm: công nghệ, đổi mới công nghệ, quỹ đổi mới công nghệ, công nghiệp quốc phòng, doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng, năng lực sản xuất, sản phẩm chủ lực;
- Khảo sát thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp CNQP trong việc đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực sản xuất một số sản phẩm chủ lực;
- Đề xuất giải pháp thành lập quỹ ĐMCN để đổi mới công nghệ nhằm
nâng cao năng lực sản xuất trong các doanh nghiệp CNQP
4 Phạm vi nghiên cứu
Trang 11Phạm vi quy mô và nội dung:
- Phân tích thực trạng năng lực sản xuất một số sản phẩm chủ lực trong các doanh nghiệp CNQP
- Phân tích thực trạng công nghệ (năng lực và trình độ công nghệ) trong việc sản xuất một số sản phẩm chủ lực tại các doanh nghiệp CNQP
- Phân tích tác động của thực trạng công nghệ tới năng lực sản xuất một
số sản phẩm chủ lực tại các doanh nghiệp CNQP
- Phân tích nhu cầu ĐMCN trong các doanh nghiệp CNQP và vai trò của việc đầu tư cho các hoạt động ĐMCN
- Đề xuất giải pháp thành lập Quỹ ĐMCN trong các doanh nghiệp CNQP nhằm nâng cao năng lực sản xuất một số sản phẩm chủ lực
- Cơ chế hoạt động, nguồn vốn và đối tượng chi của Quỹ ĐMCN trong các doanh nghiệp CNQP
Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực trạng sản xuất, trình độ và năng
lực công nghệ, nhu cầu ĐMCN trong sản xuất một số sản phẩm chủ lực trong
các doanh nghiệp CNQP nằm trên địa bàn các tỉnh phía Bắc
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng ĐMCN trong các doanh
nghiệp CNQP nói trên trong thời gian 5 năm trở lại đây
5 Mẫu khảo sát
Một số doanh nghiệp CNQP nhằm trên địa bàn các tỉnh phía Bắc: Nhà máy Z113, Z121, Z111, Z143, Công ty đóng tàu Hồng Hà, Công ty đóng tàu
189, Z199
6 Câu hỏi nghiên cứu
Quỹ ĐMCN trong các doanh nghiệp CNQP phải được hình thành và quản lý như thế nào, bao gồm những nội dung gì để có thể thúc đẩy năng lực sản xuất một số sản phẩm CNQP chủ lực?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 12- Quỹ ĐMCN trong các doanh nghiệp CNQP phải được hình thành từ: 1) trích từ nguồn ngân sách nhà nước hàng năm cho KH&CN của Bộ Quốc phòng (50%); 2) nguồn kinh phí của Bộ Quốc phòng cho KH&CN (nguồn riêng); 3) vốn tự có của doanh nghiệp (phần lợi nhuận cộng dồn của doanh nghiệp); 4) kinh phí huy động từ các nguồn hợp pháp khác
- Quỹ ĐMCN trong các doanh nghiệp CNQP phải được quản lý theo hướng: hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có chức năng hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ; cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn cho các hoạt động ĐMCN
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết
• Chứng minh bằng lý thuyết (cơ sở lý luận): Phân tích, tổng hợp, đánh
giá vai trò của ĐMCN (tác động của năng lực, trình độ công nghệ) tới năng lực sản xuất trong các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp CNQP trong việc sản xuất một số sản phẩm chủ lực Việc đầu tư, hỗ trợ về vốn cho các hoạt động ĐMCN sẽ giúp nâng cao năng lực sản xuất các sản phẩm CNQP, đặc biệt là một số sản phẩm chủ lực
• Chứng minh bằng thực tiễn: Thu thập, phân tích, và xử lý thông tin
thông qua các phương pháp sau:
- Nghiên cứu tài liệu:
+ Quan điểm, định hướng của Bộ Quốc phòng trong việc sản xuất một số sản phẩm CNQP chủ lực
+ Các văn bản pháp lý về ĐMCN; Quyết định thành lập Quỹ ĐMCN quốc gia;
+ Các tài liệu tổng kết thực tiễn về vai trò và tác động của ĐMCN tới việc nâng cao năng lực sản xuất trong ngành CNQP
+ Các báo cáo tình hình sản xuất và trình độ, năng lực công nghệ, nhu cầu ĐMCN của các doanh nghiệp CNQP;
Trang 13+ Phương thức tiếp cận vốn vay, vốn hỗ trợ cho các hoạt động ĐMCN trong các doanh nghiệp CNQP
+ Kinh nghiệm của một số doanh nghiệp CNQP thành công trong việc đầu tư cho các hoạt động ĐMCN, nâng cao năng lực sản xuất
- Phỏng vấn chuyên gia (phỏng vấn sâu cá nhân): Phỏng vấn các lãnh đạo (viện trưởng, viện phó, giám đốc, phó giám đốc và một số chuyên gia về công nghệ của một số doanh nghiệp: Nhà máy Z113, Z125, Z121, Z111, Z143, Z175, Z176, Z181, Công ty đóng tàu Hồng Hà, Công ty đóng tàu 189; một số viện nghiên cứu thuộc Tổng cục CNQP: Viện Thiết kế tàu quân sự, Viện Công nghệ, Viện Thuốc phóng thuốc nổ; Cục Quản lý công nghệ - Tổng cục CNQP, Phòng Tài chính - Tổng cục CNQP
- Quan sát, lấy số liệu từ thực tế: Thông qua các báo cáo tổng kết của các doanh nghiệp CNQP các tỉnh phía Bắc (Nhà máy Z113, Z121, Z111, Z143, Công ty đóng tàu Hồng Hà, Công ty đóng tàu 189, Z199) về năng lực sản xuất một số sản phẩm chủ lực và trình độ, năng lực công nghệ, nhu cầu ĐMCN của các đơn vị này; những khó khăn, tồn tại trong thực tế thực hiện cơ chế tài chính và đầu tư cho công tác ĐMCN của doanh nghiệp; phương thức tiếp cận vốn vay, vốn hỗ trợ cho các hoạt động ĐMCN trong các doanh nghiệp CNQP
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung của Luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận về việc thành lập Quỹ ĐMCN trong các
doanh nghiệp CNQP
- Chương 2 Thực trạng các nguồn vốn cho hoạt động đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng
- Chương 3 Xây dựng và quản lý quỹ đổi mới công nghệ trong các
doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC THÀNH LẬP QUỸ ĐỔI MỚI
CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG
1.1 Hệ thống các khái niệm có liên quan
1.1.1 Khái niệm đổi mới công nghệ
Theo Thông tư số 03/2012/TT-BKHCN của Bộ KH&CN ngày 18/1/2012 Hướng dẫn quản lý chương trình ĐMCN quốc gia đến năm 2020, thì:
- ĐMCN là việc thay thế một phần hay toàn bộ công nghệ đã, đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn, hiệu quả hơn
- Hoạt động chủ yếu của ĐMCN là nghiên cứu nhận dạng, đánh giá, định giá công nghệ và thay thế công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ tiên tiến; nghiên cứu cải tiến, hoàn thiện công nghệ hoặc nghiên cứu làm chủ và sáng tạo ra công nghệ mới; áp dụng phương pháp sản xuất mới, phương pháp tiên tiến trong quản lý doanh nghiệp; phát triển tính năng, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Theo Wikipedia1, ĐMCN có thể nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất hoặc có thể nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch
vụ mới phục vụ thị trường ĐMCN có thể là đưa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới chưa có trên thị trường công nghệ hoặc là thay đổi
cơ bản công nghệ hiện có
Như vậy, đối với sự phát triển của doanh nghiệp thì ĐMCN sản xuất là một dạng trong các hoạt động đổi mới có vai trò cực kỳ quan trọng ĐMCN
Trang 15sản xuất giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh từ việc giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu; nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mẫu mã, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao mức độ an toàn sản xuất, giảm tác động xấu đến môi trường và nâng cao uy tín của doanh nghiệp Trong tình hình hiện nay, ĐMCN được coi là giải pháp sống còn của doanh nghiệp
Tổng quan sơ bộ về khái niệm “đổi mới” cho thấy, “đổi mới được định nghĩa là việc thực hiện một sản phẩm (hàng hóa hoặc dịch vụ) mới, hoặc được cải tiến đáng kể, hoặc (việc thực hiện) qui trình (công nghệ), phương pháp tiếp thị mới, hoặc một phương pháp tổ chức mới trong hoạt động kinh doanh, trong tổ chức nơi làm việc hoặc trong quan hệ với bên ngoài (OECD, 2005)2
Như vậy, mọi “đổi mới” phải có một mức độ “chưa từng có”, hoặc mức
độ mới nào đó Theo phân loại của OECD cũng trong tài liệu trên, có ba mức
độ mới: mới đối với doanh nghiệp; mới đối với thị trường; mới đối với thế giới Cụ thể, “mới đối với doanh nghiệp” chính là việc đưa ra các sản phẩm, dịch vụ mới, qui trình mới lần đầu tiên ở doanh nghiệp, dù có thể các sản phẩm, dịch vụ, qui trình đó không còn là mới đối với thế giới hay đơn vị khác Trong khi đó, “mới đối với thị trường” là việc xuất hiện lần đầu tiên của sản phẩm, dịch vụ mới trên một thị trường nhất định Mức độ đổi mới cao nhất là “mới đối với thế giới”, khi sản phẩm, dịch vụ đó chưa từng xuất hiện bao giờ
1.1.2 Khái niệm quỹ đổi mới công nghệ
1.1.2.1 Quỹ ĐMCN quốc gia
Ngày 5/8/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1342/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ ĐMCN quốc gia3 Theo đó, quy định: Quỹ ĐMCN quốc gia là đơn vị sự nghiệp phục vụ quản lý nhà nước trực thuộc Bộ KH&CN
2 Cẩm nang OSLO phiên bản thứ 3, 2005
3
Trang 16Quỹ ĐMCN quốc gia có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước, có trụ sở chính đặt tại thành phố Hà Nội Quỹ là tổ chức tài chính Nhà nước, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có chức năng cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn, hỗ trợ vốn cho các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ
Vốn điều lệ của Quỹ là 1.000.000.000.000 VNĐ (Một nghìn tỷ đồng) do ngân sách nhà nước về hoạt động khoa học, công nghệ cấp Quỹ được cấp vốn
bổ sung hằng năm từ ngân sách nhà nước để đạt tổng mức vốn điều lệ của Quỹ Quỹ được sử dụng đến 50% vốn ngân sách Nhà nước cấp để thực hiện các hình thức hỗ trợ lãi suất vay, cho vay ưu đãi, bảo lãnh để vay vốn
Bộ máy quản lý và điều hành của Quỹ gồm Hội đồng quản lý Quỹ, Cơ quan điều hành Quỹ và Ban kiểm soát Quỹ Hội đồng quản lý Quỹ gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ do Bộ trưởng Bộ KH&CN bổ nhiệm, làm việc theo chế độ chuyên trách
1.1.2.2 Quỹ ĐMCN
Như vậy, Quỹ ĐMCN nếu được thành lập ở một số doanh nghiệp CNQP hay bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải tuân theo những quy tắc chung: là tổ chức tài chính, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có chức năng cho vay
ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn, hỗ trợ vốn cho các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ Quỹ thuộc các doanh nghiệp có thể có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng Đối tượng được Quỹ hỗ trợ tài chính là các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ, dự án nhằm đổi mới quy trình công nghệ, đổi mới sản phẩm, như: CGCN hoặc nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp Việt Nam; Chuyển giao, hoàn thiện, sáng tạo công nghệ để sản xuất sản phẩm chủ lực, sản phẩm trọng điểm, sản phẩm quốc gia, sản phẩm
Trang 17công nghệ cao; Nghiên cứu phát triển công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, công nghệ cao của doanh nghiệp; Ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN dựa trên kết quả NCKH và phát triển công nghệ của các cá nhân, tổ chức KH&CN; Nhân rộng, phổ biến, giới thiệu và chuyển giao ứng dụng tiến
bộ KH&CN phục vụ phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản ở khu vực nông thôn, miền núi; Đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ việc chuyển giao, ứng dụng công nghệ trong doanh nghiệp
1.1.3 Khái niệm năng lực sản xuất
Năng lực sản xuất của một trung tâm sản xuất (doanh nghiệp, phân xưởng, dây chuyền sản xuất hay một công đoạn sản xuất) là khả năng sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ cao nhất trong một thời gian nhất định (tháng, quý, năm…) trong điều kiện xác định4
Năng lực sản xuất có thể tính cho một phân xưởng, một công đoạn sản xuất, một dây chuyền hay toàn bộ hệ thống sản xuất Năng lực sản xuất là một đại lượng động, có thể thay đổi theo thời gian và điều kiện sản xuất Nếu thay đổi số lượng thiết bị, diện tích sản xuất, cải tiến quản lý… thì năng lực sản xuất sẽ thay đổi
Năng lực sản xuất phụ thuộc chặt chẽ vào nhân lực sản xuất và phương tiện, công nghệ sản xuất Các nhân tố ảnh hưởng năng lực sản xuất bao gồm:
- Các biến đổi hàng ngày như sự vắng mặt của công nhân, sự hỏng hóc của máy móc thiết bị, các ngày nghỉ, sự trễ nải trong việc cung ứng nguyên vật liệu làm cho kết quả sản xuất của các phương tiện trở nên không chắc chắn;
- Tỷ lệ sản xuất các loại sản phẩm khác nhau và các dịch vụ của các loại sản phẩm này cũng khác nhau Vì thế sự pha trộn số lượng sản phẩm cần được sản xuất phải được tính đến khi hoạch định năng lực của phương tiện sản xuất
4
Trang 18- Mức độ sản xuất là bao nhiêu? Khả năng tối đa, năng lực sản xuất dựa trên lịch làm việc là bao nhiêu ngày trong tuần, năng lực sản xuất thực tế dựa trên việc sử dụng phương tiện sản xuất hiện có mà không cần sử dụng đến các máy móc thiết bị dự phòng
1.1.4 Khái niệm các sản phẩm chủ lực
Cũng theo Thông tư số 03/2012/TT-BKHCN của Bộ KH&CN ngày 18/1/2012 Hướng dẫn quản lý chương trình ĐMCN quốc gia đến năm 2020, thì:
Sản phẩm chủ lực, sản phẩm trọng điểm là sản phẩm được Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước,
Bộ, ngành, địa phương
Như vậy, sản phẩm chủ lực của Bộ Quốc phòng chính là những sản phẩm đã được Chính phủ và Bộ Quốc phòng xác định trong Chiến lược phát triển của ngành quốc phòng5
1.1.5 Khái niệm công nghiệp quốc phòng và doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng
CNQP là một bộ phận của công nghiệp quốc gia có nhiệm vụ nghiên cứu phát triển, chế tạo, sản xuất, bảo dưỡng, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hoá vũ khí, trang bị kỹ thuật, thiết bị chuyên dùng và các sản phẩm khác phục vụ quốc phòng
Tổng cục CNQP, trực thuộc Bộ Quốc phòng, chịu trách nhiệm sản xuất
vũ khí, trang bị quân dụng cho quân đội và dân quân tự vệ Tổng cục CNQP
có chức năng tổ chức, quản lý các cơ sở CNQP nòng cốt, bao gồm các viện nghiên cứu thiết kế, công nghệ vũ khí, các nhà máy, các liên hiệp xí nghiệp chế tạo vũ khí, trang bị và các phương tiện kỹ thuật quân sự, đảm bảo cho Quân đội Nhân dân Việt Nam chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Trang 19
Các doanh nghiệp CNQP là các nhà máy, đơn vị sản xuất vũ khí, khí tài thuộc Tổng cục CNQP
1.2 Sơ lược về ngành công nghiệp quốc phòng
1.2.1 Tổng quan về các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng
Ngày 15 tháng 9 năm 1945, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới (tiền thân của Tổng cục CNQP ngày nay) trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam Nhiệm vụ thu thập, mua sắm và tổ chức cơ sở sản xuất vũ khí trang bị cho quân đội Tổ chức gồm các bộ phận: Sưu tầm, mua sắm, phân phối vũ khí; lập các bản vẽ kỹ thuật vũ khí; văn phòng Đây là cơ quan đầu ngành quân giới Việt Nam.Từ đó, ngày 15 tháng 9 trở thành ngày truyền thống của ngành Quân giới Việt Nam
Ngày 3 tháng 3 năm 1989, Tổng cục CNQP được thành lập với tên gọi Tổng cục CNQP và Kinh tế trên cơ sở Tổng cục Kinh tế và một số cơ quan, đơn vị trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng Việt Nam - Cơ quan Quản lý các nhà máy, Xí nghiệp CNQP
Từ tháng 7 năm 2000, Tổng cục CNQP Việt Nam được tổ chức lại và mang tên gọi hiện nay, khi Bộ Quốc phòng tách hai chức năng quản lý CNQP
- giao cho Tổng cục và chức năng quản lý Quân đội làm kinh tế (quản lý các doanh nghiệp quân đội) - giao cho Cục Kinh tế - Bộ Quốc phòng
Vị trí, nhiệm vụ của Tổng cục CNQP:
Tổng cục CNQP là cơ quan trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, có chức năng tổ chức, quản lý các cơ sở CNQP nòng cốt, bao gồm các Viện nghiên cứu thiết kế, công nghệ vũ khí, các nhà máy, các liên hiệp xí nghiệp chế tạo vũ khí, trang bị và các phương tiện kỹ thuật quân sự, đảm bảo cho Quân đội Nhân dân Việt Nam chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Tổng cục CNQP có nhiệm vụ:
Trang 20- Nghiên cứu, phát triển, sản xuất, bảo dưỡng, sửa chữa lớn, cải tiến, hiện đại hoá vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, vật tư kỹ thuật và các sản phẩm khác phục vụ quốc phòng;
- Tham gia phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Sản phẩm thiết kế:
Trong những năm qua, Tổng cục CNQP đã nghiên cứu chế thử thành công nhiều loại vũ khí, khí tài, đạn dược… phục vụ cho bộ đội huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, cụ thể:
- Các loại súng pháo:
Súng ngắn K54 VN
Súng tiểu liên AR15-M18
Súng tiểu liên 7,62mm AKM-1; AK47
Trang 21Hoạt động nghiên cứu phát triển vũ khí mới:
Hoạt động nghiên cứu phát triển vũ khí mới tương đối (thiết kế theo mẫu) tại Tổng cục CNQP trong những năm qua phát triển rất mạnh mẽ, Tổng cục đã đảm bảo tự thiết kế, chế tạo các loại vũ khí trang bị cho bộ binh mang vác theo mẫu của các nước: Nga; Mỹ; Trung Quốc; các nước Đông Âu… Hoạt động phát triển vũ khí mới tuyệt đối của Tổng cục Công nghiệp trong những năm qua hầu như không phát triển Những năm gần đây, Đảng, Nhà nước và Quân đội bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu phát triển vũ khí mới tuyệt đối, vũ khí thông minh Chính vì vậy, Tổng cục CNQP đã bắt đầu đưa ra các chương trình phát triển vũ khí mới trong kế hoạch các năm tiếp theo; giao nhiệm vụ chủ yếu cho các Viện nghiên cứu trực thuộc Tổng cục CNQP Vì vậy, ngành CNQP đã đạt được một số kết quả quan trọng, góp phần nâng cao trình độ công nghệ, năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm của CNQP, cũng như tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước Công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và phát triển CNQP được quan tâm hơn Đã xây dựng và ban hành được một số văn bản nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý và tổ chức lực
Trang 22lượng CNQP; bước đầu kiện toàn tổ chức CNQP nòng cốt theo hướng tập trung, kết hợp nghiên cứu thiết kế với sản xuất, sản xuất với sửa chữa Đầu tư cho CNQP được chú trọng, nhiều dự án hoàn thành đưa vào sử dụng, phát huy hiệu quả Ngân sách bảo đảm đã tăng so với trước và được sử dụng hiệu quả Các dự án đầu tư được triển khai đúng với định hướng mục tiêu trong quy hoạch, kế hoạch 5 năm, phù hợp với yêu cầu trước mắt và lâu dài, theo hướng tiên tiến, đồng bộ Khả năng sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật được nâng cao hơn Đã sản xuất được một số sản phẩm mới, có sản phẩm đạt trình độ tiên tiến, nhất là ngành đóng tàu quân sự, sản xuất thuốc phóng, thuốc nổ, khí tài phòng hóa, thông tin liên lạc ; đáp ứng một phần nhu cầu vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang, giảm nhập khẩu, tiết kiệm ngân sách nhà nước Công tác đào tạo, sử dụng cán bộ được coi trọng, bước đầu tạo nguồn nhân lực
có chất lượng cho xây dựng và phát triển CNQP
Bên cạnh đó, vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: Sản phẩm mới đưa vào trang bị cho quân đội còn ít Việc đầu tư còn dàn trải, có lĩnh vực trùng lắp Chất lượng lập một số dự án và năng lực nhận CGCN còn hạn chế, nhất là các dự án phức tạp, có yêu cầu công nghệ cao; nhiều dự án phải điều chỉnh, kéo dài tiến độ
- Chất lượng một số ít sản phẩm thiếu ổn định, độ tin cậy chưa cao Sự kết hợp Sản xuất quốc phòng với kinh tế tuy được quan tâm nhưng hiệu quả còn hạn chế; việc thực hiện yêu cầu lưỡng dụng trong các dự án đầu tư và duy trì đội ngũ cán bộ, công nhân viên quốc phòng, dây chuyền công nghệ của một
số đơn vị sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự đặc thù gặp nhiều khó khăn
- Tiến độ xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách mới để tăng cường quản
lý nhà nước về CNQP còn chậm; nội dung các quy định thiếu cụ thể, chưa đồng
bộ Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp, khoa học - công nghệ của quốc gia và huy động công nghiệp dân sinh phục vụ CNQP chưa
Trang 23được coi trọng đúng mức Chỉ đạo việc kiện toàn tổ chức lực lượng chưa quyết liệt, toàn diện và có biểu hiện khép kín
Nhìn chung, năng lực CNQP của nước ta vẫn ở mức trung bình so với các nước trong khu vực; các dây chuyền, thiết bị công nghệ hiện đại chỉ chiếm tỷ lệ thấp; đến nay mới đảm bảo việc sửa chữa, duy trì và nâng cấp số vũ khí, trang bị
kỹ thuật hiện có, sản xuất một số loại vũ khí cho bộ binh; chưa có khả năng nghiên cứu thiết kế và sản xuất vũ khí hiện đại, công nghệ cao Tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý còn nhiều bất cập; quy mô các đơn vị CNQP nòng cốt vẫn nhỏ lẻ và phân tán, hiệu quả thấp
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên là:
- Chất lượng công tác nghiên cứu, dự báo còn hạn chế, nhiều mục tiêu, nhiệm vụ đề ra chưa sát với năng lực, điều kiện thực tế, còn nóng vội và chủ quan Chỉ đạo, điều hành chưa quyết liệt, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập Việc huy động các nguồn lực quốc gia, đặc biệt nguồn lực về tài chính, khoa học - công nghệ chưa được quan tâm ưu tiên đúng mức; công nghiệp quốc gia chưa được quy hoạch, định hướng, đầu tư để phục vụ và tạo tiền đề cơ bản cho phát triển CNQP
- Đội ngũ cán bộ, chuyên gia đầu ngành khoa học - công nghệ còn thiếu (chưa có tổng công trình sư), trình độ còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, đặc biệt trong lĩnh vực thiết kế vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự Chưa chủ động chuẩn bị nhân lực cho một số chương trình, dự án trọng điểm
- Phần lớn các dự án CNQP có yêu cầu công nghệ cao, phức tạp về thiết
kế - công nghệ, phụ thuộc nhiều vào yếu tố nước ngoài
- Tiềm lực của nền kinh tế đất nước còn hạn chế, chịu tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nên ngân sách đầu tư đạt thấp so với
kế hoạch
Trang 241.2.2 Chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng
Chính sách xây dựng và phát triển CNQP trong thời gian gần đây được thể hiện rõ trong Nghị quyết 27-NQ/TW, ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị (khóa IX) về xây dựng và phát triển CNQP đến năm 2010 và Nghị quyết số
06 ngày 16/7/2011 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển CNQP đến năm 2020 và những năm tiếp theo
Đến nay, CNQP của Việt Nam đã đạt được một số kết quả quan trọng, góp phần nâng cao trình độ công nghệ, năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm của CNQP, cũng như tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước Công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và phát triển CNQP được quan tâm hơn Đã xây dựng và ban hành được một số văn bản nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý và tổ chức lực lượng CNQP; bước đầu kiện toàn tổ chức CNQP nòng cốt theo hướng tập trung, kết hợp nghiên cứu thiết kế với sản xuất, sản xuất với sửa chữa Đầu tư cho CNQP được chú trọng, nhiều dự án hoàn thành đưa vào sử dụng, phát huy hiệu quả Ngân sách bảo đảm đã tăng so với trước và được sử dụng hiệu quả Các dự án đầu tư được triển khai đúng với định hướng mục tiêu trong quy hoạch, kế hoạch 5 năm, phù hợp với yêu cầu trước mắt và lâu dài, theo hướng tiên tiến, đồng bộ Khả năng sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật được nâng cao hơn Đã sản xuất được một số sản phẩm mới, có sản phẩm đạt trình độ tiên tiến, nhất là ngành đóng tàu quân sự, sản xuất thuốc phóng, thuốc nổ, khí tài phòng hóa, thông tin liên lạc ; đáp ứng một phần nhu cầu vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang, giảm nhập khẩu, tiết kiệm ngân sách nhà nước Công tác đào tạo, sử dụng cán bộ được coi trọng, bước đầu tạo nguồn nhân lực
có chất lượng cho xây dựng và phát triển CNQP
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện Nghị quyết vẫn còn một số hạn chế, yếu kém như:
- Việc quán triệt và tổ chức triển khai Nghị quyết còn chậm Một số mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu đề ra trong Nghị quyết và Kế hoạch 5 năm 2008 -
Trang 252012 chưa thực hiện được Sản phẩm mới đưa vào trang bị cho quân đội còn ít Việc đầu tư còn dàn trải, có lĩnh vực trùng lắp Chất lượng lập một số
dự án và năng lực nhận CGCN còn hạn chế, nhất là các dự án phức tạp, có yêu cầu công nghệ cao; nhiều dự án phải điều chỉnh, kéo dài tiến độ
- Chất lượng một số ít sản phẩm thiếu ổn định, độ tin cậy chưa cao Sự kết hợp sản xuất quốc phòng với kinh tế tuy được quan tâm nhưng hiệu quả còn hạn chế; việc thực hiện yêu cầu lưỡng dụng trong các dự án đầu tư và duy trì đội ngũ cán bộ, công nhân viên quốc phòng, dây chuyền công nghệ của một
số đơn vị sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự đặc thù gặp nhiều khó khăn
- Tiến độ xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách mới để tăng cường quản
lý nhà nước về CNQP còn chậm; nội dung các quy định thiếu cụ thể, chưa đồng
bộ Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp, khoa học - công nghệ của quốc gia và huy động công nghiệp dân sinh phục vụ CNQP chưa được coi trọng đúng mức Chỉ đạo việc kiện toàn tổ chức lực lượng chưa quyết liệt, toàn diện và có biểu hiện khép kín
Nhìn chung, năng lực CNQP của nước ta vẫn ở mức trung bình so với các nước trong khu vực; các dây chuyền, thiết bị công nghệ hiện đại chỉ chiếm tỷ lệ thấp; đến nay mới đảm bảo việc sửa chữa, duy trì và nâng cấp số vũ khí, trang bị
kỹ thuật hiện có, sản xuất một số loại vũ khí cho bộ binh; chưa có khả năng nghiên cứu thiết kế và sản xuất vũ khí hiện đại, công nghệ cao Tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý còn nhiều bất cập; quy mô các đơn vị CNQP nòng cốt vẫn nhỏ lẻ và phân tán, hiệu quả thấp
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên là:
- Chất lượng công tác nghiên cứu, dự báo còn hạn chế, nhiều mục tiêu, nhiệm vụ đề ra chưa sát với năng lực, điều kiện thực tế, còn nóng vội và chủ quan Chỉ đạo, điều hành chưa quyết liệt, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập Việc huy động các nguồn lực quốc gia, đặc biệt nguồn lực về tài chính, khoa
Trang 26học - công nghệ chưa được quan tâm ưu tiên đúng mức; công nghiệp quốc gia chưa được quy hoạch, định hướng, đầu tư để phục vụ và tạo tiền đề cơ bản cho phát triển CNQP
- Đội ngũ cán bộ, chuyên gia đầu ngành khoa học - công nghệ còn thiếu (chưa có tổng công trình sư), trình độ còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, đặc biệt trong lĩnh vực thiết kế vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự Chưa chủ động chuẩn bị nhân lực cho một số chương trình, dự án trọng điểm
- Phần lớn các dự án CNQP có yêu cầu công nghệ cao, phức tạp về thiết
kế - công nghệ, phụ thuộc nhiều vào yếu tố nước ngoài
- Tiềm lực của nền kinh tế đất nước còn hạn chế, chịu tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nên ngân sách đầu tư đạt thấp so với
kế hoạch
Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng và phát triển CNQP đến năm 2020 và những năm tiếp theo:
Trong những năm tới, tình hình thế giới, hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn
là xu thế lớn, nhưng sẽ có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc, khó lường Kinh tế thế giới mặc dù có dấu hiệu phục hồi sau khủng hoảng nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, bất ổn Những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, khủng bố, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ vẫn sẽ diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao còn tiếp tục gia tăng Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ, trong đó có lĩnh vực khoa học, công nghệ quân sự tiếp tục có những bước nhảy vọt, nhiều loại vũ khí mới ra đời; xu hướng chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao là phổ biến Với nước ta, khả năng đáp ứng cho CNQP của một số ngành công nghiệp chủ chốt cũng như hợp tác quốc
tế về khoa học - công nghệ quân sự còn gặp nhiều khó khăn Nhiệm vụ đặt ra đối với ngành CNQP trong thời gian tới là rất nặng nề; nhu cầu đầu tư cho CNQP rất lớn với yêu cầu kỹ thuật, công nghệ ngày càng cao
Trang 271.3 Quan điểm thành lập Quỹ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng
1.3.1 Vai trò của đổi mới công nghệ trong phát triển công nghiệp quốc phòng
Tiềm lực quốc phòng bao gồm: tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực kinh tế, tiềm lực KH&CN và tiềm lực quân sự
Xây dựng tiềm lực KH&CN là khả năng tiềm tàng về KH&CN (cả khoa
học tự nhiên, khoa học xã hội - nhân văn, khoa học kỹ thuật và công nghệ )
có thể huy động nhằm giải quyết những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của xã hội và xử lý các tình huống quốc phòng bảo vệ Tổ quốc Tiềm lực KH&CN là thành tố có vai trò ngày càng quan trọng trong tiềm lực quốc phòng Tiềm lực
đó được biểu hiện ở trình độ và khả năng phát triển khoa học; số lượng và chất lượng các nhà khoa học; cơ sở vật chất phục vụ cho công tác nghiên cứu, phổ biến và ứng dụng KH&CN vào lĩnh vực quốc phòng Tiềm lực KH&CN tác động trực tiếp đến sự phát triển của KH&CN trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang, công tác chỉ huy và quản lý bộ đội…
Xây dựng tiềm lực KH&CN của nền quốc phòng toàn dân gắn bó chặt chẽ với sự phát triển KH&CN của đất nước Nhà nước Việt Nam coi đầu tư phát triển khoa học - công nghệ là nền tảng và động lực phát triển kinh tế - xã hội Đây là cơ sở quan trọng để đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm nền tảng vững chắc cho tiềm lực KH&CN của nền quốc phòng toàn dân Nhà nước Việt Nam đã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu - phát triển khoa học - công nghệ đồng thời
có chính sách phát triển và ưu đãi đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ Nhà nước cũng đã đề ra các biện pháp gắn khoa học - công nghệ với sản xuất, kinh doanh, bảo vệ quyền tác giả, từng bước tạo lập thị trường công nghệ; mở rộng
Trang 28hợp tác quốc tế để tiếp thu những công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam Tuy còn những khó khăn hạn chế, nhưng tiềm lực KH&CN của đất nước đang từng bước được tăng cường, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng - an ninh của Việt Nam
Trong những năm qua, khoa học - kỹ thuật và nghệ thuật quân sự Việt Nam được quan tâm phát triển, tập trung nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật và chiến thuật để đối phó có hiệu quả với chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao Việt Nam chú trọng kế thừa và phát huy nghệ thuật chiến tranh nhân dân
cả trong nghệ thuật tác chiến chiến lược, chiến dịch và chiến thuật đáp ứng các điều kiện chiến tranh hiện đại, nhằm phát huy cao nhất sức mạnh của con người và vũ khí trong chống chiến tranh xâm lược Khoa học - kỹ thuật quân
sự Việt Nam phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu trước mắt về trang bị vũ khí của lực lượng vũ trang nhân dân đồng thời từng bước nghiên cứu phát triển các giải pháp công nghệ, các loại khí tài mới đáp ứng yêu cầu chiến tranh trong tương lai Nhà nước Việt Nam đang hoàn thiện cơ chế thu hút, sử dụng nhân tài, phát huy mọi tiềm lực khoa học cả trong và ngoài nước cho xây dựng nền quốc phòng toàn dân
Xây dựng tiềm lực quân sự là khả năng về vật chất và tinh thần có thể
huy động để tạo thành sức mạnh phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong
cả thời bình và thời chiến Tiềm lực quân sự là nòng cốt của tiềm lực quốc phòng, được xây dựng trên nền tảng của tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực kinh tế và tiềm lực KH&CN Tiềm lực quân sự không chỉ thể hiện ở khả năng duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển sức mạnh chiến đấu, trình
độ sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang mà còn biểu hiện ở nguồn
dự trữ về sức người, sức của phục vụ cho nhiệm vụ quân sự
Nhà nước Việt Nam xây dựng tiềm lực quân sự theo kế hoạch chiến lược thống nhất, phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Năng lực chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang thể hiện ở tổ
Trang 29chức, biên chế, trang bị, cơ sở bảo đảm hậu cần, nghệ thuật quân sự và khoa học - kỹ thuật thường xuyên được quan tâm duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển, đáp ứng các yêu cầu của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Tiềm lực quân sự bao gồm cả hai yếu tố cơ bản là con người và vũ khí, trang bị trong đó con người là yếu tố quyết định Việt Nam có tiềm lực quân
sự mạnh một phần nhờ nguồn nhân lực trẻ dồi dào
Trong những năm tới, tình hình thế giới, hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn
là xu thế lớn, nhưng sẽ có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc, khó lường Kinh tế thế giới mặc dù có dấu hiệu phục hồi sau khủng hoảng nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, bất ổn Những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, khủng bố, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ vẫn sẽ diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao còn tiếp tục gia tăng Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ, trong đó có lĩnh vực khoa học, công nghệ quân sự tiếp tục có những bước nhảy vọt, nhiều loại vũ khí mới ra đời; xu hướng chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao là phổ biến Với nước ta, khả năng đáp ứng cho CNQP của một số ngành công nghiệp chủ chốt cũng như hợp tác quốc
tế về khoa học - công nghệ quân sự còn gặp nhiều khó khăn Nhiệm vụ đặt ra đối với ngành CNQP trong thời gian tới là rất nặng nề; nhu cầu đầu tư cho CNQP rất lớn với yêu cầu kỹ thuật, công nghệ ngày càng cao
Để tiếp tục xây dựng và phát triển CNQP từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo, cần quán triệt, thực hiện tốt các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp sau:
Các quan điểm cơ bản
a) Xây dựng và phát triển CNQP là nhiệm vụ cơ bản vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt, vừa là nhiệm vụ chiến lược lâu dài; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; mà nòng cốt là Bộ Quốc
Trang 30phòng và một số bộ, ban, ngành liên quan trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện
b) Xây dựng và phát triển CNQP là chương trình mục tiêu trọng điểm quốc gia Vũ khí, trang bị kỹ thuật do CNQP sản xuất phải phù hợp với chiến lược trang bị của các lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống CNQP
là ngành đặc thù, phải được chăm lo xây dựng và phát triển theo một cơ chế đặc thù và được ưu tiên trong đầu tư phát triển
c) Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển CNQP phải được tính toán kỹ, có lộ trình và bước đi phù hợp; kiên trì với mục tiêu đã xác định, coi trọng phát triển nguồn nhân lực, nguồn lực khoa học - công nghệ, huy động tối đa thành tựu của nền công nghiệp quốc gia phục vụ CNQP; tập trung đầu tư
có trọng điểm cho các sản phẩm mũi nhọn với trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại; tăng tính lưỡng dụng trong đầu tư phát triển; kết hợp chặt chẽ giữa Sản xuất quốc phòng với kinh tế
d) Tự lực, tự cường, phát huy nội lực kết hợp với mở rộng hợp tác quốc
tế để tận dụng thành tựu khoa học - công nghệ và các nguồn lực khác nhằm tiếp nhận công nghệ mới sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại
Mục tiêu tổng quát
Tiếp tục xây dựng và phát triển CNQP thành bộ phận quan trọng của tiềm lực quốc phòng, an ninh quốc gia, có trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại; có năng lực nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sửa chữa, cải tiến hiện đại hoá các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật có tính năng kỹ thuật, chiến thuật cao; góp phần từng bước hiện đại hoá quân đội nhân dân và công an nhân dân, nâng cao sức mạnh, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang Lấy việc sản xuất vũ khí lục quân đạt chất lượng và độ tin cậy cao là trọng tâm; đồng thời ưu tiên cho nhiệm vụ hiện đại hoá các lực lượng hải quân, phòng không - không quân, thông tin liên lạc, tác chiến điện tử, trinh sát kỹ thuật, tình
Trang 31báo và cảnh sát cơ động; chủ động đối phó với tác chiến không gian mạng Đưa CNQP thành một bộ phận quan trọng của công nghiệp quốc gia, đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Những nhiệm vụ cụ thể
a) Tăng tỷ trọng vũ khí, trang bị kỹ thuật do CNQP sản xuất và sửa chữa, bao gồm cả vật tư và nguyên liệu cấu thành sản phẩm Nâng cao hơn nữa hiệu quả Sản xuất quốc phòng và kinh tế; chú trọng phát triển theo chiều sâu, tập trung vào các sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng và trình độ công nghệ cao; đẩy mạnh xuất khẩu, khẳng định thương hiệu và sức cạnh tranh của CNQP trên thị trường
b) Giai đoạn 2011 đến 2015: Triển khai thực hiện Kế hoạch 5 năm xây dựng và phát triển CNQP đã được phê duyệt Tạo được bước chuyển biến quan trọng về năng lực công nghệ; nâng cao chất lượng, tính ổn định và độ tin cậy trong sản xuất và sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật Chế tạo được các loại
vũ khí mới: súng bộ binh thế hệ mới, ngòi tiên tiến cho đạn pháo và tên lửa, một số loại thuốc nổ mạnh, sản xuất được cơ bản các loại thuốc phóng thông dụng, thuốc phóng rắn hỗn hợp cho tên lửa, một số loại khí tài tác chiến điện
tử, tên lửa phòng không tầm thấp (I); bước đầu tiếp thu công nghệ chế tạo tên lửa chống tăng, tên lửa đối hải tầm trung, khí tài quan sát ngắm bắn đêm thế hệ mới cho lục quân và các quân, binh chủng; làm chủ công nghệ đóng tàu tên lửa, tàu pháo đến 500 tấn và một số loại tàu quân sự hiện đại Nghiên cứu thiết kế, chế tạo một số loại đạn bộ binh xuyên giáp, đạn cối và đạn chống tăng thế hệ mới; sản xuất máy thu phát vô tuyến điện, tổng đài quân sự thế hệ mới Từng bước thiết kế, sản xuất, cải tiến một số loại vũ khí có điều khiển, ra-đa cho các quân, binh chủng Tiếp nhận công nghệ cải tiến và hiện đại hoá
xe tăng
c) Giai đoạn 2016 đến 2020: Làm chủ thiết kế, công nghệ lắp ráp và chế tạo tên lửa chống tăng, tên lửa phòng không tầm thấp Hình thành một số cơ
Trang 32sở hạ tầng chủ yếu của công nghiệp tên lửa với đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ có năng lực nghiên cứu, thiết kế; tiếp nhận, làm chủ công nghệ lắp ráp, tiến tới chế tạo được một số bộ phận và cải tiến tăng tầm tổ hợp tên lửa đối hải tầm trung Sản xuất được khí tài quan sát ngắm bắn đêm thế hệ mới cho các quân, binh chủng, đóng mới tàu chiến từ 2.000 tấn trở lên Sửa chữa và tăng hạn sử dụng các loại tên lửa, rađa, máy bay, tàu chiến chủ yếu đang và sẽ có trong trang bị quân đội Tích hợp vũ khí trên một số phương tiện chiến đấu, tăng khả năng cơ động cho vũ khí, trang bị
b) Trong đầu tư có chọn lọc, xác định trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, tiếp cận được công nghệ tiên tiến, hiện đại và thực hiện hiệu quả việc nhận CGCN Huy động sự tham gia tích cực, đầy đủ của công nghiệp quốc gia trong các khâu, các bước của CNQP, nhất là việc huy động đội ngũ cán
bộ khoa học - công nghệ và các cơ sở công nghiệp dân sinh sản xuất các nguyên, vật liệu chính cho CNQP
Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương nghiên cứu, kết hợp chiến lược xây dựng, phát triển của từng ngành và địa phương với nhiệm vụ xây dựng, phát triển CNQP Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp then chốt của quốc gia để tham gia sâu, thiết thực hơn vào hoạt động CNQP, cụ thể:
Trang 33Ngành hoá chất: Sản xuất được các hoá chất cơ bản tạo nguyên liệu để sản xuất thuốc phóng, thuốc nổ
Ngành luyện kim: Sản xuất một số loại hợp kim chủ yếu có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sản xuất vũ khí
Ngành cơ khí, chế tạo máy: Phát triển công nghệ cơ khí chính xác, nâng cao tính tiêu chuẩn hoá, mô-đun hoá; từng bước chế tạo thiết bị và các dây chuyền sản xuất CNQP và trực tiếp tham gia sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật khi cần thiết
Ngành Điện tử - Tin học, Bưu chính - Viễn thông: Tham gia tích cực vào nhiệm vụ đối phó với tác chiến không gian mạng, sản xuất vũ khí điều khiển
tự động và phương tiện chống chiến tranh điện tử
c) Thực hiện hiệu quả các chương trình, đề tài NCKH - công nghệ về thiết kế, chế tạo, nâng cao chất lượng sản phẩm do CNQP sản xuất; đồng thời phục vụ tốt nhiệm vụ cải tiến, hiện đại hoá vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có Mở rộng phạm
vi hoạt động của khoa học công nghệ dân sinh tham gia nghiên cứu phục vụ CNQP
Đẩy mạnh chương trình đào tạo nhân lực cho CNQP Tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ những ngành đặc thù quốc phòng, nhất là các chuyên gia đầu ngành Kết hợp chặt chẽ các hình thức đào tạo, tăng cường đào tạo ngoài nước đối với các ngành công nghệ cao Có chính sách đặc thù để thu hút, gìn giữ nguồn nhân lực có chất lượng, khuyến khích nhân tài phục vụ cho xây dựng và phát triển CNQP
d) Kiện toàn hệ thống tổ chức, tập trung đầu mối quản lý nhà nước về CNQP Chỉ đạo chặt chẽ việc sắp xếp các cơ sở CNQP nòng cốt theo hướng tập trung, thống nhất, giảm trung gian, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu thiết kế với sản xuất, sản xuất với sửa chữa Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các khối: đặt hàng; sản xuất - sửa chữa; khai thác sử dụng
Trang 34Trong những năm tới, CNQP nòng cốt vẫn do quân đội quản lý Nghiên cứu xây dựng cơ chế chính sách đặc thù để huy động các thành phần kinh tế, doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính và khoa học - công nghệ tham gia đầu tư phát triển CNQP Tổ chức thực hiện liên doanh, liên kết với các đối tác nước ngoài trong một số lĩnh vực CNQP
Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chủ trì các cơ quan, đơn vị trong quán triệt và triển khai thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu về xây dựng và phát triển CNQP
đ) Tăng mức đầu tư phát triển CNQP Khẩn trương xây dựng hoàn thiện đồng bộ hệ thống cơ chế chính sách đặc thù để tận dụng và phát huy tối
đa các nguồn lực, phải xác định cơ chế ưu tiên để huy động nguồn lực tài chính, khoa học - công nghệ và nhân lực Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho CNQP, lấy nguồn vốn từ ngân sách nhà nước là chính, được bố trí theo chương trình mục tiêu trọng điểm quốc gia và bảo đảm đủ theo kế hoạch đã duyệt; đồng thời phải chú trọng và có cơ chế phù hợp để huy động, khai thác các nguồn vốn khác, trong đó có vốn từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp quốc phòng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất quốc phòng
1.3.2 Về việc thành lập quỹ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng
Trong môi trường quốc tế cạnh tranh ngày càng gay gắt, hiện nay, công nghệ được xem là công cụ chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội một cách nhanh chóng và bền vững Thực tế này đang đặt ra cho các doanh nghiệp những yêu cầu bức thiết về ĐMCN, nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tạo được ưu thế cạnh tranh trên thị trường… chu trình sống của sản phẩm Tức là nó được sinh ra, phát triển và cuối cùng là suy vong Bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu không có những hoạt động nhằm ĐMCN thì chắc chắn
hệ thống công nghệ, dây chuyền sản xuất, máy móc, trang thiết bị… sẽ trở
Trang 35nên lạc hậu, hiệu quả kinh tế thấp, dẫn đến bị đào thải, làm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bị đe doạ ĐMCN sẽ giúp doanh nghiệp, nhà sản xuất cải thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm, củng cố, duy trì và mở rộng thị phần của sản phẩm; đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu; cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao mức độ an toàn sản xuất cho người và thiết bị, giảm tác động xấu đến môi trường Đặc biệt, về mặt lợi ích thương mại, nhờ ĐMCN, chất lượng sản phẩm được nâng lên đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ tạo được ưu thế vững vàng trên thị trường cạnh tranh Hiện nay các tổng công ty, các doanh nghiệp, xí nghiệp CNQP vẫn chủ yếu điều hành tài chính bằng quyền lực hành chính là chủ yếu, trong khi thẩm quyền lại không đầy đủ
Việc tích luỹ vốn tại các tổng công ty, các doanh nghiệp CNQP hiện còn hạn chế, do các đơn vị thành viên mạnh ai nấy làm, thiếu sự “hợp đồng tác chiến”, thậm chí còn cạnh tranh lẫn nhau, không tạo được sức mạnh tổng hợp trong cạnh tranh lành mạnh
Hiện tại các tổng công ty, các doanh nghiệp CNQP vẫn chưa có cơ chế tích tụ vốn - vốn của doanh nghiệp nào, doanh nghiệp ấy sử dụng; tổng công
ty không thể tích tụ được vốn, nên không tạo ra được “sức mạnh tổng hợp vững chắc” trong đầu tư, tăng sức cạnh tranh cho toàn tổng công ty và doanh nghiệp Các tổng công ty vẫn đang gặp khó khăn trong mối quan hệ hành chính giữa các đơn vị trực thuộc, nên đã hạn chế các mối liên doanh, liên kết khác
Một thực tế nữa là hầu hết các tổng công ty, doanh nghiệp CNQP hiện nay chỉ bao gồm các doanh nghiệp kinh doanh cùng một loại sản phẩm, cùng ngành nghề, lĩnh vực, đối tượng khách hàng mà chưa đưa ra dạng sản phẩm lưỡng dụng có tính ưu việt chiếm lĩnh thị trường
Trang 36Tất cả vấn đề nêu trên đều dẫn đến một nhu cầu bức thiết hiện nay, đó là phải thành lập được Quỹ ĐMCN trong các doanh nghiệp CNQP, nhằm nâng cao năng lực sản xuất một số sản phẩm chủ lực
Kết luận Chương 1
Trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu ĐMCN trong mỗi doanh nghiệp trở thành vấn đề tất yếu nhằm nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Các doanh nghiệp CNQP cũng không nằm ngoài nhu cầu cấp thiết đó, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất một số sản phẩm chủ lực của ngành CNQP
Thực trạng hiện nay, năng lực sản xuất các sản phẩm Quốc phòng nói chung, một số sản phẩm chủ lực nói riêng của các doanh nghiệp quốc phòng còn thấp, nguyên nhân chính là do trình độ công nghệ lạc hậu, chậm ĐMCN,
kỹ thuật sản xuất còn hạn chế
Các doanh nghiệp CNQP còn thiếu vốn và thông tin công nghệ, ít có khả năng tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư từ ngoài Nhà nước và Bộ Quốc phòng
Việc thành lập Quỹ ĐMCN ở các doanh nghiệp CNQP sẽ tạo điều kiện
hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ
Nhà nước đã thành lập Quỹ ĐMCN quốc gia từ tháng 8 năm 2011 Như vậy, tất yếu các địa phương và doanh nghiệp cũng phải tuân theo xu hướng thành lập các Quỹ ĐMCN của địa phương, đơn vị mình, nhằm thực hiện các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ, tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh các sản phẩm, hàng hóa
Kết quả của nghiên cứu nhằm củng cố và khẳng định vai trò của ĐMCN tới việc nâng cao năng lực sản xuất sản phẩm trong các doanh nghiệp CNQP, đặc biệt là việc sản xuất một số sản phẩm chủ lực của ngành
Trang 37Việc đầu tư có trọng điểm về vốn và cơ chế hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động ĐMCN sẽ nhanh chóng thúc đẩy năng lực sản xuất một số sản phẩm chủ lực trong ngành CNQP
Việc thành lập Quỹ ĐMCN trong các doanh nghiệp quốc phòng sẽ giúp các doanh nghiệp này chủ động, năng động và sáng tạo hơn trong các hoạt động ĐMCN, kịp thời nắm bắt và tiếp nhận chuyển giao các công nghệ mới, hiện đại, phục vụ tốt cho nhu cầu quân sự và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Để tiếp tục xây dựng và phát triển CNQP từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo, cần quán triệt, thực hiện tốt các quan điểm chỉ đạo sau:
a) Xây dựng và phát triển CNQP là nhiệm vụ cơ bản vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt, vừa là nhiệm vụ chiến lược lâu dài; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; mà nòng cốt là Bộ Quốc phòng và một số bộ, ban, ngành liên quan trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện
b) Xây dựng và phát triển CNQP là chương trình mục tiêu trọng điểm quốc gia Vũ khí, trang bị kỹ thuật do CNQP sản xuất phải phù hợp với chiến lược trang bị của các lực lượng vũ trang, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống CNQP
là ngành đặc thù, phải được chăm lo xây dựng và phát triển theo một cơ chế đặc thù và được ưu tiên trong đầu tư phát triển
c) Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển CNQP phải được tính toán kỹ, có lộ trình và bước đi phù hợp; kiên trì với mục tiêu đã xác định, coi trọng phát triển nguồn nhân lực, nguồn lực khoa học - công nghệ, huy động tối đa thành tựu của nền công nghiệp quốc gia phục vụ CNQP; tập trung đầu tư
có trọng điểm cho các sản phẩm mũi nhọn với trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại; tăng tính lưỡng dụng trong đầu tư phát triển; kết hợp chặt chẽ giữa Sản xuất quốc phòng với kinh tế
Trang 38d) Tự lực, tự cường, phát huy nội lực kết hợp với mở rộng hợp tác quốc
tế để tận dụng thành tựu khoa học - công nghệ và các nguồn lực khác nhằm tiếp nhận công nghệ mới sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại Việc nghiên cứu thực trạng ĐMCN và các nguồn tài chính cho ĐMCN trong các doanh nghiệp CNQP được thực hiện thông qua nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật về công nghệ và ĐMCN, tài chính cho ĐMCN; các tài liệu, báo cáo tổng quan về thực trạng công nghệ và ĐMCN thống kê được trong 5 năm gần đây; ý kiến của các chuyên gia (phỏng vấn sâu cá nhân) về công nghệ và hoạt động trong lĩnh vực công nghệ của một số doanh nghiệp CNQP nằm trên địa bàn các tỉnh phía Bắc như: Nhà máy Z113, Z121, Z111, Z143, Công ty đóng tàu Hồng Hà, Công ty đóng tàu 189, Z199 và một số viện nghiên cứu thuộc Tổng cục CNQP như: Viện Thiết kế tàu quân sự, Viện Công nghệ, Viện Thuốc phóng thuốc nổ; Cục Quản lý công nghệ - Tổng cục CNQP,
Phòng Tài chính - Tổng cục CNQP
Tuy nhiên, do đặc thù của ngành quốc phòng, một số thông tin về tài chính và công nghệ không được công khai, tiết lộ, do đó, việc tiếp cận, lấy thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu về thực trạng ĐMCN và các nguồn tài chính cho ĐMCN trong các doanh nghiệp CNQP còn chưa được đầy đủ
Trang 39CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÁC NGUỒN VỐN CHO HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG
2.1 Thực trạng công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng
2.1.1 Mục tiêu xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng
Tiếp tục xây dựng và phát triển CNQP thành bộ phận quan trọng của tiềm lực quốc phòng, an ninh quốc gia, có trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại; có năng lực nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sửa chữa, cải tiến hiện đại hoá các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật có tính năng kỹ thuật, chiến thuật cao; góp phần từng bước hiện đại hoá quân đội nhân dân và công an nhân dân, nâng cao sức mạnh, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang Lấy việc sản xuất vũ khí lục quân đạt chất lượng và độ tin cậy cao là trọng tâm; đồng thời ưu tiên cho nhiệm vụ hiện đại hoá các lực lượng hải quân, phòng không - không quân, thông tin liên lạc, tác chiến điện tử, trinh sát kỹ thuật, tình báo và cảnh sát cơ động; chủ động đối phó với tác chiến không gian mạng Đưa CNQP thành một bộ phận quan trọng của công nghiệp quốc gia, đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
2.1.2 Một số thành tựu về công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng
Nhằm mục tiêu đưa quân đội Việt Nam ngày càng chính qui, tinh nhuệ
và tiến lên hiện đại Nhà nước đã tích cực đầu tư cho các ngành CNQP để có thể từng bước tự thiết kế, chế tạo, xây dựng dây chuyền sản xuất…các loại vũ khí hiện đại, góp phần tăng cường sức mạnh quân sự cho quân đội trong thời
kỳ mới
Trang 40Những kết quả nổi bật có thể kể đến là: đã nghiên cứu thiết kế, sản xuất được một số sản phẩm vũ khí, đạn dược mới để đưa vào trang bị cho quân đội như: súng phóng lựu và đáy súng không giật, phương hướng bàn và 2 loại khí tài quang học (ktqh) nhìn đêm Ngoài ra, đã nghiên cứu, thiết kế, chuẩn bị đưa vào sản xuất 8 loại vũ khí đạn mới gồm: 3 loại đạn pháo chiến dịch, 2 loại súng phóng lựu, súng bắn tỉa, đạn xuyên áo giáp và đạn súng hệ 2
Đối với sản xuất thuốc phóng, đã xây dựng bộ tài liệu kỹ thuật, nghiên cứu sản xuất được thêm 8 loại mác thuốc phóng mới, nâng tổng số mác thuốc phóng sản xuất được lên 37/42 loại, khẳng định năng lực chủ động sản xuất tất cả các loại thuốc phóng thông thường ở trong nước
Về sửa chữa lớn vũ khí đạn, đã xây dựng tài liệu thiết kế, công nghệ và đưa vào sửa chữa lớn 11 loại đạn pháo, 3 loại vũ khí bộ binh, khẳng định khả năng sửa chữa lớn được tất các các loại vũ khí, đạn dược hiện có trong quân đội, bảo đảm chất lượng tốt, được các đơn vị đánh giá cao
Trong công tác nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm, đã nghiên cứu sản xuất hầu hết các loại hạt lửa, bộ lửa theo công nghệ mới tiên tiến, có tuổi thọ cao hơn, tạo cơ sở để nâng cao chất lượng, tuổi thọ đạn dược
Đối với sản xuất vật tư kỹ thuật, đã nghiên cứu sản xuất 13 loại vật tư, phụ tùng đồng bộ về vũ khí trang bị kỹ thuật cho các quân - binh chủng như: thùng dầu mềm và các loại ống cao su chịu áp lực cao cho máy bay; lốp pháo đặc chủng; các loại cáp đồng trục cao tần cho ra đa, tên lửa; phao chở vũ khí vượt sông; áo choàng phòng chống vũ khí sinh học- hoá học…
Cùng với kết quả trong nghiên cứu thiết kế công nghệ, các nhà máy đã nghiên cứu ứng dụng một số công nghệ mới, tiên tiến vào sản xuất như: các phần mềm triển khai thiết kế thi công trong đóng tàu, ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành sản xuất; công nghệ tự động hoá trong các dây chuyền sản xuất vũ khí và đóng tàu; công nghệ đùn ép hợp kim; công nghệ dập vuốt sâu; công nghệ thuần hoá và ép thuốc nổ mạnh,…