II ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- TANG GUO SONG ĐƯỜNG QUỐC TÙNG SO SÁNH CHÍNH SÁCH PHỔ CẬP GIÁO DỤC CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG BIÊN GIỚI VIỆT N
Trang 1I
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TANG GUO SONG (ĐƯỜNG QUỐC TÙNG)
SO SÁNH CHÍNH SÁCH PHỔ CẬP GIÁO DỤC CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG BIÊN GIỚI
VIỆT NĂM VÀ TRUNG QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ Ngành: Đông Phương học Chuyên ngành: Châu Á học
Mã số: 60 31 06 01
HÀ NỘI - 2014
Trang 2II
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TANG GUO SONG (ĐƯỜNG QUỐC TÙNG)
SO SÁNH CHÍNH SÁCH PHỔ CẬP GIÁO DỤC CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG BIÊN GIỚI
VIỆT NĂM VÀ TRUNG QUỐC
(Trường hợp Lào Cai Lai Châu Việt Nam
và châu Hồng Hà Vân Nam Trung Quốc từ 2010 tới nay)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Ngành: Đông Phương học Chuyên ngành: Châu Á học
Mã số: 60 31 06 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
TS Đỗ Thúy Nhung
HÀ NỘI - 2014
Trang 3I
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài luận văn: So sánh chính sách phổ cập giáo dục của dân tộc thiểu số
vùng biên giới Việt Nam và Trung Quốc (trường hợp Lào Cai Lai Châu Việt Nam
và châu Hồng Hà Vân Nam Trung Quốc từ 2010 tới nay), đầu tiên thông qua việc so
sánh chính sách phổ cập giáo dục của dân tộc thiểu số vùng biên giới hai nước Việt – Trung, chúng tôi trên cơ sở phân tích những ưu điểm, nhược điểm trong chính sách PCGD của hai nước để từ đó đề xuất các biện pháp nhằm phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu, hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục trung học Nguồn
tư liệu đảm bảo về tính khách quan và bản quyền tác giả Luận văn này không trùng lặp với bất cứ công trình nào nghiên cứu về phổ cập giáo dục ở Việt Nam và Trung Quốc thời điểm trước đó Những luận điểm, nguồn tư liệu sưu tầm được trong luận văn và kết luận khoa học đã nêu đảm bảo tính khách quan, trung thực Tất cả những kết quả đó đều do cố gắng của bản thân tác giả luận văn và định hướng của giảng viên hướng dẫn
Tác giả
TANG GUO SONG
Đường Quốc Tùng
Trang 5III
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
Trang
Bảng 1 Số trường học của tỉnh Lào Cai theo từng năm 52
Bảng 2 Số trường học của tỉnh Lai Châu theo từng năm 53
Bảng 3 Số học sinh của tỉnh Lào Cai theo từng năm 55
Bảng 4 Số học sinh của tỉnh Lai Châu theo từng năm 57
Bảng 5 Số giáo viên của tỉnh Lào Cai theo từng năm 58
Bảng 6 Số giáo viên của tỉnh Lai Châu theo từng năm 60
Bảng 7 Số trường học của ở các huyện của châu Hồng Hà (Vân
Bảng 8 Số người học ở các huyện thuộc châu Hồng Hà (Vân
Bảng 9.Số giáo viên các huyện thuộc châu Hồng Hà (Vân Nam-
Sơ đồ 1 Ngân sách nhà nước chi cho ngành giáo dục 50
Trang 61
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN I
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT II
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ III
MỤC LỤC 1
A MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
1.1 Đối với Việt Nam 5
1.2 Đối với Trung Quốc 6
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 9
2.1 Nước ngoài 9
2.2 Việt Nam 10
2.3 Trung Quốc 11
3 Mục đích nghiên cứu 13
4 Đối tượng, phạm vi nghiêu cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Kết quả nghiên cứu 14
7 Cấu trúc luận văn 14
B NỘI DUNG 16
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC KHẢO SÁT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHỔ CẬP GIÁO DỤC 16
Trang 72
1.1 Khái quát về dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai, Lai Châu của Việt Nam 16
1.1.1 Dân tộc thiểu số ở Việt Nam 16
1.1.2 Tình hình dân tộc thiểu số tỉnh Lai Châu, Lào Cai 18
1.2 Dân tộc thiểu số ở Trung Quốc và ở tỉnh Vân Nam 23
1.2.1 Dân tộc thiểu số ở Trung Quốc 23
1.2.2 Tình hình dân tộc thiểu số tỉnh Vân Nam 25
1.3 Những điểm chung và riêng của dân tộc thiểu số ở Lào Cai( Việt Nam) và Vân Nam( Trung Quốc) 28
1.4 Bản chất của phổ cập giáo dục 29
1.4.1 Thuật ngữ “phổ cập”, “phổ cập giáo dục”, “phổ cập giáo dục tiểu học” và “phổ cập giáo dục trung học cơ sở” 29
1.4.2 Bản chất của công tác phổ cập giáo dục 30
CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH VÀ THỰC TRẠNG PHỔ CẬP GIÁO DỤC KHU VỰC KHẢO SÁT CỦA HAI NƯỚC VIỆT TRUNG 33
2.1 Chính sách phổ cập giáo dục của Việt Nam (tỉnh Lai Châu, Lào Cai ) Trung Quốc (tỉnh Vân Nam) 33
2.1.1 Tư tưởng về giáo dục của các nhà lãnh đạo 33
2.1.2 Chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc về phổ cập giáo dục 37
2.1.3 Chính sách phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam ( tỉnh Lai Châu, Lào Cai) và Trung Quốc (châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam) 41
2.2 Thực trạng phổ cập giáo dục tại vùng dân tộc thiểu số hai nước Việt-Trung (trường hợp Lào Cai và Lai Châu) 50
2.2.1 Thực trạng phổ cập giáo dục tại Lào Cai và Lai Châu 51
Trang 83
2.2.2 Thực trạng phổ cập giáo dục tại Trung Quốc (tỉnh Vân Nam) 61
2.3 Những điểm giống và khác nhau trong chính sách phổ cập giáo dục của dân tộc thiểu số hai nước Việt – Trung 66
2.3.1 Những điểm giống nhau trong chính sách phổ cập giáo dục của dân tộc thiểu số hai nước Việt – Trung 66
2.3.2 Những điểm khác nhau trong chính sách phổ cập giáo dục của dân tộc thiểu số hai nước Việt – Trung 67
2.4 Tiểu kết về chính sách và thực trạng thực hiện PCGD dân tộc thiểu số 69
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHỔ CẬP GIÁO DỤC 72
3.1 Nâng cao nhận thức về vai trò trách nhiệm của nhà trường và các cơ quan hữu quan 72
3.1.1 Định hướng chung 72
3.1.2 Tổ chức thực hiện 72
3.2 Tổ chức thực hiện 73
3.2.1 Khai thác triệt để mọi nguồn lực giáo dục để thực hiện mục tiêu PCGD 73 3.2.2 Phối hợp đồng bộ giữa các ngành chức năng với sở giáo dục để đảm bảo chỉ tiêu PCGD 74
3.2.3 Tôn trọng người học, sử dụng các phương pháp dạy học tích cực. 75
3.2.4 Xác định vai trò, vị trí chỉ đạo của phòng giáo dục cấp huyện, thị xã 78
3.3 Công tác quản lý 79
3.3.1 Sử dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả quản lý PCGD 79
3.3.2 Tăng cường kiểm tra, thanh tra thực hiện mục tiêu PCGD ở từng đơn vị cơ sở 81
Trang 94
3.4 Tiểu kết về chính sách và thực trạng thực hiện PCGD dân tộc thiểu số 82
C KẾT LUẬN 84
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
I Tài liệu tiếng Việt 89
II Tài liệu tiếng Trung 92
III.Trang web tham khảo 93
Trang 105
A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đối với Việt Nam
Sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, cùng với những thành tựu to lớn về kinh
tế, văn hoá; giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tích đáng phấn khởi Nhìn chung giáo dục và đào tạo có bước phát triển khá Cùng với việc củng cố kết quả xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, việc phổ cập giáo dục THCS đã được triển khai tích cực, đến hết năm 2005 có 31 tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS Quy mô giáo dục tiếp tục được mở rộng và trình độ dân trí được nâng lên rõ rệt (Năm 2009, tỷ lệ nhập học tinh ở cấp tiểu học là 95,5%, tỷ lệ hoàn thành tiểu học là 88,2% và tỷ lệ người dân từ 15-24 tuổi biết đọc biết viết là 97,1% Tỷ lệ nhập học tinh ở cấp tiểu học của trẻ em trai và trẻ em gái chỉ chênh nhau có 1%) Chất lượng dạy học có chuyển biến tích cực Bước đầu hình thành mạng lưới dạy nghề cho người lao động nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số (số học sinh trung học chuyên nghiệp tăng 15,1%/năm, dạy nghề dài hạn tăng 12%/năm; cao đẳng và đại học tăng 8,4%/năm)
Những thành tựu to lớn của giáo dục và đào tạo đã góp phần đáng kể vào sự phát triển của đất nước: nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao (GDP bình quân 7,51%/năm Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH (tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP 41%, nông lâm nghiệp 20,9%, dịch vụ 8,1%) Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng bước đầu, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định Giáo dục và đào tạo có bước phát triển khá Văn hoá
xã hội có tiến bộ, việc gắn kết giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tích cực, chỉ số phát triển con người được nâng lên
Mặc dù vậy nhưng Việt Nam vẫn đang đứng trước những khó khăn, thách thức do những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, những khó khăn vốn có của nền kinh tế đang ở trình độ kém phát triển, thiên tai, bệnh dịch và những yếu
Trang 116
kém chủ quan trong tổ chức quản lý Đặc biệt là trong giáo dục và đào tạo, chất lượng còn thấp, nhiều vấn đề hạn chế, yếu kém vẫn chưa được khắc phục Việc xã hội hoá giáo dục thực hiện chậm và thiếu đồng bộ Công tác giáo dục và đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, chất lượng thấp Công tác quản lý chậm đổi mới và còn nhiều bất cập… Việt Nam chưa thật chú tâm đến sự công bằng, tính hợp lý trong đầu tư phát triển sản xuất và đầu tư nâng cao trình độ học vấn, trình độ khoa học kỹ thuật nhằm tạo được một mặt bằng chung về kinh tế và dân trí cho cả nước Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá có xu hướng gia tăng, diễn ra khá gay gắt giữa các vùng miền và ngay cả trên các địa bàn ở trong một tỉnh, một huyện Các điều kiện để nhân dân tiếp cận với trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, cơ sở vật chất trường, lớp chưa đảm bảo
Chính vì vậy mở rộng giáo dục phổ thông là đáp ứng trực tiếp đối với sự thay đổi Giáo dục mang lại khả năng vượt qua chướng ngại vật của sự bất bình đẳng xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển dân chủ, làm giảm bớt những thành kiến, bất bình đẳng trong giáo dục và đào tạo đối với các nhóm thiểu số hiện nay Nước Việt Nam có gần 3/4 diện tích là miền núi, nơi có gần 20 triệu người sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số Đây là những khu vực còn lạc hậu, nghèo đói và kinh tế – xã hội chậm phát triển Đất nước muốn phát triển bền vững,
dù ở hình thức nào đều phải quan tâm phát triển nguồn nhân lực
1.2 Đối với Trung Quốc
Giáo dục Trung Quốcđã được phát triển khi tình hình kinh tế còn gặp nhiều khó khăn,nền văn hóa còn lạc hậu.Trước khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, ngành giáo dục và đào tạo của Trung Quốc còn rất lạc hậu,mang đậm tính phong kiến và thực dân; có hơn 80% dân số mù chữ, chỉ có 20 % trẻ con đến tuổi đi học được đến trường.Theo thống kê của Bộ giáo dục Quốc Dân Đảng, vào năm
1947 toàn quốc chỉ có 207 trường cao đẳng, đại học với 155.000 sinh viên;năm
1946 chỉ có 207 trường trunghọc phổ thông với 1.878.500 học sinh; và chỉ
Trang 127
có289.000 trường tiểu học với 23.683.500 học sinh Đa số con em của người lao
Sau hơn 60 năm phát triển, công tác giáo dục trên toàn quốc đã giành được nhiều thành quả,đặc biệt là sau khi cải cách mở cửa, nền giáo dục càng phát triển mạnh mẽ hơn Về mặt phổ cập giáo dục, vào năm 1980chính phủ Trung Quốc đã ra quyết định giải quyết vấn đề phổ cập giáo dục tiểu học Thông qua sự nỗ lực của chính phủ, cơ quan các cấp và đội ngũ cán bộ trong ngành giáo dục, đến năm 1984
đã có 95% trẻ em đến tuổi đi học được đến trường Đến năm 1985, Trung Ương Trung Quốc ra quyết định về cải cách thể chế giáo dục,nội dung của quyết định đó
là từng bước thực hiện 9 năm phổ cập giáo dục, và mục tiêu này đã được thực hiện vào năm 2000 Kết quả đạt được là toàn quốc có 85% dân số được phổ cập giáo dục;đến năm 2007 tỷ lệ này đã lên đến 99.3%, các huyện được phổ cấp giáo dục đạt 98.5 % Trên cơ sở này, Trung Quốc tiếp tục cải cách sâu hơn nữa về chế độ quản lý phổ cập giáo dục và chế độ quản lý tài chính phổ cập giáo dục
Giáo dục giữa các dân tộc thiểu số là một phần quan trọng trong nền giáo dục của Trung Quốc Phát triển giáo dục giữa các dân tộc thiểu số đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy phát triển kinh tế
và văn hóa ở vùng dân tộc thiểu số Tùy từng nhu cầu phát triển giáo dục, dựa vào những đặc điểm riêng và thực tế phát triển của các khu vực dân tộc thiểu số, Chính phủ Trung Quốc đã hỗ trợ tích cực các dân tộc thiểu số trong phát triển giáo dục
Nhà nước Trung Quốc đã có nhiều chính sách và biện pháp hỗ trợ phát triển giáo dục trong các dân tộc thiểu số Cụ thể là, nhà nước tôn trọng quyền của khu vực tự trị trong việc phát triển giáo dục dân tộc của riêng mình; coi trọng việc giảng dạy các ngôn ngữ dân tộc thiểu số và giảng dạy song ngữ; tăng cường xây dựng đội ngũ giáo viên dân tộc thiểu số, cung cấp vốn cho giáo dục dân tộc thiểu số; đưa các
1
Bộ giáo dục Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Ngày 11/9/2009), “ Thành tựu giáo dục sau 60 năm phát triển quốc gia”, trang 1
Trang 138
học viện, trường lớp của người dân tộc thiếu số vào hoạt động, đồng thời vận động
cả nước trong việc hỗ trợ giáo dục ở các khu vực này
Trung Quốc rất quan tâm đến việc thúc đẩy giáo dục phổ cập bắt buộc tại những khu vực nghèo đói, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số nghèo Bộ Giáo dục và Bộ Tài chính Trung Quốc đã phối hợp tổ chức thực hiện dự án giáo dục bắt buộc của nhà nước đối với các khu vực nghèo Theo kế hoạch của dự án, từ năm
1995 đến 2000, chính phủ Trung Quốc sẽ đầu tư 3,9 tỷ nhân dân tệ vào dự án này
Sự ra đời của dự án này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy việc phổ cập giáo dục bắt buộc ở các vùng dân tộc thiểu số nghèo Nhà nước khuyến khích khu vực dân tộc thiểu số phổ cập giáo dục cơ bản thông qua các “Dự án hi vọng” và các hình thức khác, cho phép hàng chục ngàn trẻ em dân tộc thiểu số nghèo được tới trường
Bản thân chính phủ Trung Quốc cũng điều hành một số viện nghiên cứu dân tộc và trường học Đến cuối năm 1998, nhà nước Trung Quốc đã thành lập 12 trường đại học và học viện dân tộc, 59 trường đào tạo giáo viên dân tộc, 158 trường trung cấp dân tộc, 3.536 trường trung học dân tộc và 20.906 trường tiểu học dân tộc
Giáo dục đóng một vai trò rất lớn trong việc cải thiện kiến thức văn hóa cơ bản cho học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số; cho phép học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số được tiếp tục theo học tại các trường trung học và chuyên ngành cao hơn Cách phát triển giáo dục hướng đến nhu cầu của sinh viên dân tộc thiểu số đã mang lại nhiều hiệu quả to lớn
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng, có mối quan hệ rất lâu đời Cả hai nước có rất nhiều nét tương đồng về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa đặc biệt là về vấn đề dân tộc thiểu số, đây chính là lí do và động lực khiến chúng tôiđi vào nghiên cứu đề tài Chính sách phổ cập giáo dục của dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt Nam và Trung Quốc (trường hợp Lào Cai Lai Châu - Việt Nam và châu Hồng Hà Vân Nam - Trung Quốc từ 2010 tới nay)
Trang 149
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Nước ngoài
Vấn đề phổ cập giáo dục phổ thông đã được thực hiện ở các nước phát triển
Âu - Mỹ từ những năm cuối thế kỷ XIX; nhưng đối với các nước chậm phát triển và các nước đang phát triển, phổ cập giáo dục phổ thông mới được đặt ra vào những năm cuối thế kỷ XX
Ở Nhật Bản, một hệ thống các cơ sở giáo dục rộng khắp cho mọi người dân
đã sớm được xây dựng Ngay từ cuối thế kỷ XIX (năm 1872), Chính phủ Minh Trị
đã nhận thức được rằng giáo dục là một bộ phận then chốt hình thành hình thái ý thức, sẽ cho phép Nhật Bản trở thành một quốc gia độc lập giàu có và hùng mạnh, đồng thời giáo dục tạo điều kiện thuận lợi để tiếp thu tri thức kỹ thuật hiện đại làm phương tiện thực hiện mục đích đó Họ đã soạn thảo và công bố một kế hoạch về hệ thống trường hiện đại trên quy mô toàn quốc, được gọi là “Phổ cập hệ thống trường học” Nhật đã tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất với việc ban hành bộ luật “ Học chế 1872” – bộ luật đầu tiên có tính chất tổng hợp của nền giáo dục hiện đại, với tư tưởng chủ đạo là: thực hiện bình đẳng về cơ hội giáo dục; thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học 4 năm (đã hoàn thành năm 1886); thực hiện chế độ “ học khu”- cả nước chia làm 8 khu; mỗi khu vực, địa phương thành lập một trường đại học, một số trường trung học (32) và nhiều trường tiểu học (210) Về cơ bản hệ thống này được thực hiện theo mô hình của Pháp, và cũng vận dụng những bộ phận cấu thành các hệ thống của nhiều nước khác; thực hiện chế độ tập quyền trung ương trong giáo dục
Đến năm 1878, Nhật ban hành một bộ luật giáo dục mới, lấy chế độ giáo dục của Mỹ làm kiểu mẫu; lấy chủ nghĩa tự do làm nền tảng Từ năm 1886, Nhật tiếp tục ban hành một số sắc lệnh mới về giáo dục Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật tiến hành cải cách giáo dục lần thứ hai Trong đó tiếp tục thực hiện tư tưởng bình đẳng về cơ hội giáo dục, tăng niên hạn phổ cập giáo dục miễn phí lên 9 năm – tức là phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở, và đến nay đã thực hiện phổ cập bắt buộc 12
Trang 1510
năm trong đó có 10 năm miễn phí Khoảng 96% học sinh kết thúc trung học cơ sở tiếp tục trung học phổ thông (trường giáo dục phổ thông; trường dạy nghề giảng dạy các kiến thức và kỹ thuật thực hành trong nông nghiệp, công nghiệp, thương mại ; trường kết hợp) Đặc điểm cơ bản của giáo dục Nhật Bản trong quá trình phát triển
là luôn coi trọng cả về số lượng và chất lượng Song song với phát triển quy mô, thực hiện phổ cập trình độ giáo dục cơ sở từ thấp đến cao (từ 4 năm, 6 năm, đến 9 năm, 12 năm), toàn xã hội cũng như ngành giáo dục Nhật luôn theo đuổi, duy trì mục tiêu chất lượng học, giữ gìn sự tôn trọng vốn có với chất lượng học của học sinh, sinh viên trong toàn hệ thống giáo dục Thực hiện một chế độ học tập hết sức nghiêm ngặt về nội dung, chương trình, kỷ luật và thời lượng
Hàn Quốc cũng là một quốc gia phương Đông, có nền giáo dục phát triển theo hướng phổ cập cao Họ đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ
sở vào năm 1990 Trình độ văn hoá trung bình của người dân Hàn Quốc vào thời điểm đó là 9.9, cao hơn nhiều so với các quốc gia láng giềng Năm 2003, tỷ lệ chuyển cấp của học sinh phổ thông từ bậc tiểu học lên trung học cơ sở đạt 99,9%; từ THCS lên trung học phổ thông (trung học phổ thông và trung học nghề) đạt 99,3%;
từ trung học phổ thông lên đại học đạt 87% và từ trung học nghề lên đại học đạt 50%
2.2 Việt Nam
Sau năm 1954, Đảng và nhà nước Việt Nam lãnh đạo chiến dịch xoá mù chữ lần thứ hai ở miền Bắc Nhiệm vụ xoá mù chữ và phổ cập giáo dục lần đầu tiên được ghi vào kế hoạch Nhà nước Chỉ trong vòng 3 năm (1956 – 1958), tất cả các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng và trung du miền Bắc đã hoàn thành xoá mù chữ cho nhân dân ở độ tuổi 12 – 50, có 93% dân số Bắc Bộ ở độ tuổi 15 – 50 đã biết chữ
Ngay sau ngày Miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất (1975), Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục tiến hành chiến dịch chống mù chữ lần thứ ba tại miền Nam Sau 3 năm (1975 – 1978) triển khai, chiến dịch đã thu được kết quả to lớn: có
Trang 1611
88% số người trong độ tuổi 12- 50 được công nhận biết chữ (1,32 triệu người ), tất
cả 21 tỉnh, thành phố miền Nam căn bản đã hoàn thành xoá mù chữ
Bên cạnh mục tiêu phấn đấu xoá mù chữ (biết đọc, biết viết) cho nhân dân, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những chủ trương nhằm từng bước nâng cao dân trí, coi đó là một trong những tiêu chí phát triển đất nước Chương trình giáo dục cho người lớn đã được thiết chế như sau:
- Sơ cấp bình dân học vụ: biết đọc, biết viết
- Dự bị bình dân: tương đương lớp hai tiểu học
- Bổ túc bình dân cấp I: tương đương tiểu học (4 năm)
- Bổ túc bình dân cấp II: tương đương sơ trung (4 năm)
Nền giáo dục toàn dân của nước Việt Nam được tiến hành từ mục tiêu bậc thấp đến mục tiêu bậc cao, từ nâng cao dân trí sang đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài
Ở Việt Nam đã có rất nhiều tài liệu đề cập đến vấn đề phổ cập giáo dục, nhưng chưa có một đề tài nào đi sâu vào nghiên cứu phổ cập giáo dục cho từng tỉnh
cụ thể, đặc biệt là vùng biên giới dân tộc thiểu số
2.3 Trung Quốc
Giáo dục là một trong những yếu tố then chốt quyết định sự phát triển của từng vùng, từng địa phương và một quốc gia Chính vì vậy, cũng giống như Việt Nam và các nước khác trên toàn thế giới, từ những năm 90 của thế kỉ 20 trở lại đây, cùng với việc chú trọng sự phát triển kinh tế, xã hội vùng biên, chính phủ Trung Quốc cũng quan tâm phát triển sự nghiệp giáo dục tại vùng biên giới Nhiều nhà nghiên cứu, học giả đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu về công tác giáo dục
vùng biên vàlần lượt cho xuất bản các cuốn sách như “Giáo dục dân tộc khu vực
biên giới Trung Quốc” (Nhà xuất bản dân tộc Trung Quốc, xuất bản năm 1990),
“Nghiên cứu về việc phát triển, ủng hộ các đối thoại giáo dục vùng biên giới Đông
Trang 1712
Bộ- Tây Bộ” (Nhà xuất bản Đại học sư phạm Quảng Tây, xuất bản năm 2006),
“Nghiên cứu các chính sách giáo dục dân tộc cho xã hội Trung Quốc mới” (Nhà xuất bản khoa học Bắc Kinh, xuất bản năm 2010), “Quan tâm giáo dục vùng biên-
nghiên cứu phát triển về sự đặc sắc và chất lượng giáo dục vùng biên giớitỉnh Quảng Tây” (Nhà xuất bản nhân dân, xuất bản năm 2011), “Báo cáo điều tra các chính sách có liên quan đến khu vực biên giới hai nước Việt- Trung” (Ủy ban hành
chính tôn giáo dân tộc châu Hồng Hà, xuất bản năm 2008)… Các cuốn sách viết về nhiều phương diện khác nhau, nhưng về cơ bản đều giới thiệu quy luật phát triển và các đặc điểm của sự nghiệp giáo dục cơ sở vùng biên
Ngoài việc xuất bản các cuốn sách, các bài luận văn cũng lần lượt được công
bố như: “Thực trạng và tương lai của giáo dục Việt Nam” của Dư Phú Triệu (bước chân Đông Nam Á; tháng 9 năm 2002), “Chính sách giáo dục Việt Nam trong thời
kì đổi mới” của Âu Dĩ Khắc (nghiên cứu giáo dục dân tộc; tháng 3 năm 2005), “So sánh chính sách giáo dục vùng biên hai nước Việt Trung dưới góc nhìn giáo dục học” của Lưu Côn và Dư Minh Hoàn (học báo học viện sư phạm Khúc Tĩnh),
“Chính sách thúc đẩy phát triển giáo dục vùng biên và những gợi ý cho Trung Quốc” của Hoàng Vĩ Sinh (Diễn đàn học thuật, tháng 11 năm 2008), “Các chính sách về
dân tộc vùng biên giới Việt – Trung của Việt Nam sau thời kì đổi mới và ảnh hưởng của nó với Trung Quốc” của Vương Khổng Kính (Nghiên cứu Đông Nam Á; tháng
4 năm 2007); “Nghiên cứu về các vấn đề phát triển của chính sách giáo dục đối với
các dân tộc thiểu số Trung Quốc mới” của Hứa Khả Phong, “Tình hình thực hiện các chính sách dân tộc từ sau cải cách đổi mới” của Lí Bích Hoa (Bước chân Đông
Nam Á; tháng 11 năm 2009), “Tình hình phát triển giáo dục của các trường tiểu
học, trung học ở dân tộc Dao của Việt Nam và những gợi ý” của Hồ Mục Quân
(“Nghiên cứu giáo dục nước ngoài”, tháng 3 năm 2011)
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đa phần ở tầm vĩ mô, việc so sánh thực trạng và chính sách phổ cập giáo dục của từng vùng, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu
số của Việt Nam và Trung Quốc chưa được quan tâm đúng mức Chúng tôi nhận thấy qua việc tổng hợp các chính sách PCGD của hai vùng dân tộc thiểu số sau đó
Trang 1813
tiến hành so sánh là việc làm hết sức rất cần thiết Bởi lẽ từ chính sự so sánh này, chúng ta sẽ có một cái nhìn toàn diện hơn, để từ đó mỗi nước có thể tham khảo, học tập điểm mạnh của nước kia, đồng thời khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác phổ cập giáo dục ở nước mình
3 Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng tỏ một số cơ sở lý luận về phổ cập giáo dục tiểu học và trung học
cơ sở (THCS)
- Tổng hợp các chính sách về PCGD của Việt Nam và Trung Quốc
- So sánh chính sách và thực trạng công tác phổ cập giáo dục tiểu học và THCS của Việt Nam và Trung Quốc (trọng tâm là các tỉnh Lào Cai, Lai Châu và Vân Nam) nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong chính sách phổ cập giáo dục của Việt Nam và Trung Quốc
- Đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thành việc thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và THCS của hai nước Việt - Trung
4 Đối tượng, phạm vi nghiêu cứu
- Đối tượng nghiên cứu: công tác phổ cập giáo dụcbậc tiểu học và THCSvùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Lai Châu, Lào Cai (Việt Nam) và châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc)
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Địa bàn nghiên cứu: tập trung vào vùng dân tộc thiểu số của các tỉnh Lai Châu, Lào Cai (Việt Nam) và châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc)
+ Thời gian: từ năm 2010 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu sau đây:
Trang 1914
- Đánh giá qua ý kiến của các chuyên gia được sử dụng triệt để trong luận văn Tức là phỏng vấn trao đổi trực tiếp với những chuyên gia làm công tác phổ cập giáo dục ở Trung Quốc và Việt Nam, thu thập tư liệu thống kê từ các tổ chức và cơ quan chuyên môn Trên cơ sở nghiên cứu thực chứng, bằng việc thống kê các số liệu liên quan, tác giả luận văn đã kết hợp giữa phương pháp định lượng và định tính để đưa ra những đánh giá có tính chất thuyết phục về thực trạng và giải pháp của công tác phổ cập giáo dục của hai tỉnh miền núi của Trung Quốc và Việt Nam
- Tác giả đã nghiên cứu phổ cập giáo dục theo hai hướng đồng đại và lịch đại
Về lịch đại phân tích phổ cập giáo dục của hai tỉnh vùng dân tộc thiểu số của Trung Quốc và Việt Nam từ 2010 đến nay Về đồng đại phân tích cơ sở lý luận, chính sách những điểm làm được và chưa làm được của việc phổ cập giáo dục của hai quốc gia trong cùng một nhát cắt thời gian
- Ngoài ra những phương pháp khác như điều tra phân tích và tổng hợp lý thuyết, tra cứu tư liệu… cũng được tác giả sử dụng
6 Kết quả nghiên cứu
- Đưa ra được bức tranh toàn cảnh về phổ cập giáo dục của vùng dân tộc thiểu số ở biên giới hai nước Việt -Trung
- Trên cơ sở đó chỉ ra những điểm giống và khác nhau trong chính sách phổ cập giáo dục của hai nước Việt-Trung
- Bước đầu đưa ra những giải pháp cho công tác phổ cập giáo dục cho các dân tộc thiểu số tại biên giới hai nước Việt-Trung
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Dân tộc thiểu số hai nước Việt- Trung và những vấn đề cơ bản về phổ cập giáo dục
Trang 211.1.1 Dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số và 53 dân tộc thiểu số Dân số của 53 dân tộc thiểu số là 10.527.455 người chiếm tỷ lệ 13,8% dân
số của cả nước (theo số liệu điều tra dân số năm 1999)
Các dân tộc thiểu số có quy mô dân số không đồng đều Có những dân tộc với dân số trên một triệu người như dân tộc Tày, Thái, Mường, Khơ me; năm dân tộc có trên dưới 1 triệu người là Tày, Thái, Khơ me, Mường và Hoa; ba dân tộc có
từ 50 vạn đến gần 1 triệu người như Nùng, Mông, Dao; một số dân tộc có từ 10 vạn đến dưới 50 vạn người là Gia rai, Ê đê, Ba Na, Sán Chay, Chăm, Xơ đăng, Sán Dìu, HRê, Cơ Ho ; năm dân tộc tộc có từ hai trăm người đến dưới 1 ngàn người là Ơ
Đu (Nghệ An), Bờ Râu, Rơ Măm (Kon Tum), Pu Péo (Hà Giang), Si La (Lai Châu); còn lại là những dân tộc khác có dưới 10 vạn người như Răglây, MNông, STiêng, Khơ mú, Vân Kiều, Giáy, Gié triêng, Tà Ôi, Mạ, Hà Nhì, Xinh Mun, La Chí, Phù
Lá, La Hủ, Chứt
Các dân tộc ở Việt Nam phân bố trải rộng trên 3/4 diện tích cả nước Ở vùng như Tây Bắc chủ yếu là các dân tộc Thái, Mông, Mường, vùng Đông Bắc có các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông; Bắc Trung bộ có các dân tộc Chứt, Vân Kiều, Pa Cô; duyên hải miền Trung có các dân tộc Ka Tu, Raglai, Chăm; Tây Nguyên có các dân tộc Ê đê, Gia Lai, Ba Na, MNông, Xơ đăng, K'Ho Cil, Mạ, Chu ru; Đông Nam
bộ có các dân tộc Stiêng, Khơ me, Châu ro, Chăm, Mạ; Đồng bằng sông Cửu Long
có các dân tộc Khơ me, Chăm, Hoa, Chăm
Trang 2217
Các dân tộc thiểu số thường cư trú phân tán nhưng họ lại tập trung theo những buôn làng định cư,ngoài ra còn một bộ phận sống xen kẽ với các dân tộc khác trên cùng địa bàn miền núi, vùng cao, vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa; một
số ít đồng bào sinh sống ở đồng bằng, hải đảo và đô thị
Các dân tộc ở Việt Nam cư trú chung nhau, không có dân tộc nào ở vùng lãnh thổ riêng Tính chất cư trú đó đã tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển
Các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam từ lâu đời đã sớm có ý thức đoàn kết, gắn bó với nhau trong chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước Sự đoàn kết này đã trở thành nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Hầu hết các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn rộng lớn, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng và môi trường sinh thái Các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở miền núi, với địa bàn rộng lớn chiếm 3/4 diện tích cả nước, bao gồm 19 tỉnh miền núi, vùng cao và 23 tỉnh có miền núi Đây là khu vực biên giới, cửa ngõ thông thương với các nước láng giềng, có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng của đất nước
Miền núi Việt Nam có nguồn tài nguyên đa dạng phong phú như: đất, rừng, khoáng sản… là tiềm năng to lớn phát triển kinh tế; là đầu nguồn các dòng sông lớn, giữ vai trò đặc biệt quan trọng về cân bằng sinh thái
Các dân tộc phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có những nguyên nhân do lịch sử để lại; và do điều kiện địa lý, tự nhiên khắc nghiệt ở địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số.Bên cạnh một số dân tộc đã phát triển kinh tế - xã hội tương đối cao, vẫn còn nhiều dân tộc trong tình trạng lạc hậu, chậm phát triển
Phần lớn các dân tộc thiểu số có mức sống thấp, tỷ lệ đói nghèo cao, chậm phát triển hơn so với dân tộc đa số Một số dân tộc vẫn còn trong tình trạng tự cung
Trang 2318
tự cấp, du canh du cư Đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển
Mỗi dân tộc có sự khác nhau về quy mô dân số, về trình độ phát triển kinh tế
- xã hội và đều mang những nét văn hoá truyền thống riêng (ngôn ngữ, phong tục, tập quán, trang phục …) tạo nên bản sắc văn hoá của từng dân tộc, góp phần làm phong phú, đa dạng nền văn hoá Việt Nam thống nhất
Các dân tộc thiểu số Việt Nam có những nét văn hóa độc đáo khác nhau, từ những bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc tạo nên văn hóa Việt Nam phong phú và đa dạng Hiện nay, bản sắc văn hoá của các dân tộc đều được chú trọng bảo tồn và phát triển trong quá trình giao lưu, hội nhập chung của cả nước
1.1.2 Tình hình dân tộc thiểu số tỉnh Lai Châu, Lào Cai
1.1.2.1 Khái quát về tỉnh Lai Châu, Lào Cai
Tỉnh Lai Châu
Lai Châu là một tỉnh nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam; phía Bắc giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Đông giáp với tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La; phía Tây và phía Tây Nam giáp tỉnh Điện Biên;cách thủ đô Hà Nội khoảng 450km
về phía Tây, có biên giới giáp Trung Quốc dài 273 km
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 9.112 km2 với 6 huyện, thị xã; 98 xã phường, thị trấn (có 66 xã đặc biệt khó khăn, 21 xã biên giới) Dân số toàn tỉnh là 403,20 nghìn người, mật độ dân số là 37 người/km2, có 20 dân tộc anh em sinh sống
Sau khi chia tách, Lai Châu là tỉnh khó khăn nhất, điều đó được thể hiện trên các mặt: địa hình dốc, phân cắt phức tạp, đất đai rộng nhưng thiếu đất sản xuất; xa các trung tâm kinh tế lớn, giao thông đi lại khó khăn; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội kém phát triển, hạ tầng đô thị thị xã và các thị trấn phải xây dựng mới hoàn toàn; quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé, phần lớn là tự cung tự cấp, sản xuất hàng hoá nhỏ
bé, phân tán, kém hiệu quả; ngân sách quá nhỏ; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm và
Trang 2419
thiếu bền vững; tỷ lệ hộ đói nghèo cao; nguồn nhân lực vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng; đặc biệt là đội ngũ cán bộ ở các cấp chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển; mặt bằng dân trí và chất lượng lao động thấp
Tuy nhiên, tỉnh Lai Châu cũng có những tiềm năng và thế mạnh như: có cửa khẩu quốc gia Ma Lù Thàng, có điều kiện sinh thái và bản sắc văn hóa dân tộc phong phú mở ra cho Lai Châu triển vọng về phát triển du lịch, dịch vụ xuất nhập khẩu; với diện tích lưu vực lớn, lượng mưa hàng năm cao, mạng lưới sông suối khá dầy, độ dốc lớn, Lai Châu có nhiều tiềm năng để phát triển thuỷ điện; có tiềm năng
về khoáng sản và phong phú về chủng loại như: đất hiếm, sắt, đồng, chì, vàng…có khả năng khai thác, chế biến phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu; có tiềm năng về đất đai, sinh thái để phát triển nền nông nghiệp phong phú và đa dạng
Nhìn chung nền kinh tế tỉnh Lai Châu những năm qua đã thu được nhiều kết quả quan trọng, tạo đà mới cho những năm tiếp theo Tuy nhiên, so với các tỉnh trong vùng và cả nước thì nền kinh tế của tỉnh Lai Châu còn ở mức độ thấp; chuyển dịch cơ cấu kinh tế từng ngành, lĩnh vực còn chậm, chưa vững chắc, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội còn kém, một số ngành dịch vụ phát triển chậm Vì vậy, trong những năm tới cần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế; cải thiện rõ rệt hệ thống cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội; phát huy lợi thế cửa khẩu, các tài nguyên khoáng sản, thủy điện, đất đai, khí hậu để phát triển các ngành kinh tế; tập trung xóa đói giảm nghèo, hoàn thành cơ bản công tác định canh, định cư; bảo tồn phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân; vừa phát triển kinh tế vừa đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia
Tỉnh Lào Cai
Tỉnh Lào Cai là tỉnh miền núi, vùng cao; phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, phía Nam giáp tỉnh Lai Châu, phía Ðông giáp tỉnh Hà Giang, phía Tây giáp tỉnh Sơn La, Lai Châu; cách thủ đô Hà Nội 340 km Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 8.057,08 km2, chiếm 2,45% tổng diện tích tự nhiên cả nước Các đường giao
Trang 2520
thông quan trọng như đường quốc lộ Hà Nội - Lào Cai, Lào Cai - Lai Châu và tuyến đường sắt Hà Nội đi Lào Cai, Lào Cai đi Vân Nam (Trung Quốc) Hệ thống sông chính của tỉnh gồm sông Hồng bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc chảy qua tỉnh Lai Châu dài 120 km; sông Chảy bắt nguồn từ vùng núi Tây Côn Lĩnh (Trung Quốc) dài 124 km
chiếm 68.24% dân số
Được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất đai và khí hậu với nền nhiệt tương đối thấp tạo thuận lợi cho tỉnh đẩy mạnh phát triển các loại cây ôn đới, cá biệt có những vùng nhiệt độ quanh năm không lên quá 20oC như Sa Pa, Bắc Hà, Si Ma Cai tạo lợi thế để những vùng này phát triển các loại đặc sản xứ lạnh mà các vùng khác không có được như: rau, hoa, quả, thảo dược, cá hồi, cá tầm nước lạnh,… Nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú với trên 150 mỏ và điểm mỏ, trong đó có những loại khoáng sản quý với trữ lượng lớn, là cơ sở để Lào Cai phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản - một trong những mũi nhọn kinh tế của tỉnh
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân (tháng 5 năm 2005 - 2010) là 13% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, năm 2010 tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP chiếm 27,9%; công nghiệp - xây dựng cơ bản chiếm 34,2% Sản xuất lương thực liên tục được mùa, năm 2010 tổng sản lượng lương thực đạt 220.000 tấn Với lợi thế về cửa khẩu, lĩnh vực công nghiệp, du lịch, dịch vụ được khai thác có hiệu quả đã và đang tạo bước phát triển mạnh mẽ cho Lào Cai Các lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ đói nghèo hàng năm giảm 5%, đời sống nhân dân được cải thiện một cách rõ rệt, bộ mặt nông thôn, vùng cao ngày càng đổi mới Quốc phòng an ninh được tăng cường, hoạt động đối ngoại
2
Cục thống kê tỉnh Lào Cai, Nhà xuất bản Cục thống kê 2013,trang 39
3 Cục thống kê tỉnh Lào Cai, Nhà xuất bản Cục thống kê 2013, trang 46
Trang 2621
thu được nhiều kết quả, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác phát triển Công tác xây dựng Đảng, chính phủ và các đoàn thể có nhiều tiến bộ, hệ thống chính trị các cấp được củng cố
và tăng cường, trở thành nền tảng vững chắc cho tỉnh phát triển trong giai đoạn mới
Bên cạnh đó, du lịch - công nghiệp, chính là điểm nhấn khi nhắc đến Lào Cai Nằm ở độ cao lý tưởng, khí hậu mát mẻ quanh năm, có phong cảnh sơn thủy hữu tình với rừng cây, núi đá, thác nước với nhiều địa danh lịch sử, hang động tự nhiên
và các vùng sinh thái nông nghiệp đặc sản như: mận Bắc Hà, rau ôn đới, cây dược liệu quý, cá hồi (Phần Lan), cá tầm (Nga),… và là nơi hội tụ của nhiều hoạt động văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc như chợ vùng cao, chợ tình Sa Pa,… Thị trấn Sa Pa là một trong 21 trọng điểm du lịch của Việt Nam nói chung, trọng điểm du lịch quan trọng của tỉnh Lào Cai nói riêng Ngoài ra, Cửa khẩu quốc tế Lào Cai (Hà Khẩu) cũng là một điểm du lịch thú vị cho mỗi du khách khi đến với Lào Cai Đặc biệt, là tỉnh miền núi cao đang phát triển nên Lào Cai còn giữ được cảnh quan môi trường da dạng và trong sạch, đây sẽ là một cơ sở để tạo nên một điểm du lịch lý tưởng đối với du khách trong và ngoài nước
Tuy nhiên, tỉnh Lào Cai còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, đó là: Kết cấu
hạ tầng kinh tế vẫn còn thiếu đồng bộ, nhất là khu vực nông thôn, vùng cao, vùng xa; do tác động suy thoái kinh tế, nên nhiều công trình, dự án đầu tư khó khăn, chững lại, đặc biệt là các công trình thủy điện, các dự án thu hút đầu tư vào lĩnh vực khách sạn, du lịch, công nghiệp; hệ thống trường lớp học, nhà ở giáo viên và học sinh bán trú, trạm y tế xã, trụ sở cơ quan hành chính cấp xã còn nhiều khó khăn; mạng lưới y tế cơ sở, nhất là thôn bản còn khó khăn, thiếu những chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực y tế; Lào Cai hiện còn 03 huyện và 95 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí còn thấp, nguồn lao động tại chỗ chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp, thiếu đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
1.1.2.2 Dân tộc thiểu số tỉnh Lai Châu, Lào Cai
Tỉnh Lai Châu
Trang 2722
Tỉnh Lai Châu gồm 20 dân tộc cùng sinh sống Ngoài dân số dân tộc Kinh là 54.027 người (13,94%), còn lại đều các dân tộc thiểu số gồm: dân tộc Thái là 131.822 người (34%), dân tộc Mông là 86.467 người (22,30%), dân tộc Dao51.995 người (13,41%), dân tộc Hà Nhì là 14.658 người(3,78%), dân tộc Giáy là 12.443 người (3,21%), dân tộc Khơ Mú là 7.464 người (1,93%), dân tộc La Hủ là 10.141 người (2,62%), dân tộc Lự 6.074 người (1,57%), dân tộc Lào 6.020 người (1,55%), dân tộc Mảng 2.995 người (0,77%), dân tộc Cống 1.256 người (0,32%) dân tộc Hoa
588 người (0,15%), dân tộc Si La 546 người (0,14%), dân tộc Kháng 161 người (0,04%), dân tộc Tày 295 người, chiếm 0,08%; dân tộc Mường 116 người, chiếm 0,03%; dân tộc Nùng 180 người (0,05%), dân tộc Phù Lá 27 người (0,01%), các dân tộc khác 458 người (0,12%)- (tính đến ngày 31/12/2011)
Tỉnh Lào Cai
Trên địa bàn tỉnh có 27 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 196.889 người (33,12%), các dân tộc thiểu số như dân tộc Tày có 81.666 người (13,74%), dân tộc Thái có 52.146 người (8,77%), dân tộc Mông có 123.778 người (20,82%), dân tộc Dao có 74.220 người (12,48%), dân tộc Giáy có 24.672 người (4,15%), dân tộc Nùng có 22.666 người (3,81%), dân tộc khác chiếm 3,11%
Kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lai Châu và Lào Cai vẫn còn mang nặng tính chất tự cung tự cấp Nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm Sản phẩm của các ngành này chỉ đủ phục vụ tiêu dùng trong sinh hoạt, chưa trở thành hàng hóa Sản xuất hàng hóa tuy đã bước đầu xuất hiện ở các xã vùng thấp
do sự tác động của kinh tế thị trường đến đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu
số, song chưa thật mạnh mẽ Còn lại hầu hết các xã vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn vẫn còn là môi trường khép kín, biệt lập
Lai Châu và Lào Cai là địa bàn có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, mỗi dân tộc đều có những nét riêng trong đời sống văn hoá truyền thống Đây chính là tiềm năng vô cùng thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch, nhất là du lịch văn hóa cộng đồng các dân tộc thiểu số
Trang 2823
Về trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số, do những yếu tố khách quan và chủ quan, nên mặt bằng dân trí của đồng bào vùng cao Lai Châu, Lào Cai còn thấp so với mặt bằng chung của dân tộc đa số cũng như những dân tộc cư trú ở vùng đồng bằng
Nền kinh tế tự cung tự cấp, sản xuất theo tập quán, mang nặng yếu tố kinh nghiệm Kinh tế nương rẫy biến hộ gia đình thành đơn vị khép kín, trẻ em cũng được phân công công việc, thậm chí còn phải lao động nặng nhọc, nên còn khá nhiều trẻ em không được đến trường, công tác phổ cập giáo dục tiểu học còn gặp nhiều khó khăn Trong những năm gần đây, mặc dù đã có nhiều chính sách nhằm nâng cao chất lượng giáo dục song số người không biết chữ trong đồng bào dân tộc thiểu số còn chiếm tỷ lệ cao, tình trạng tái mù chữ vẫn diễn ra, tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi còn thấp Những yếu tố trên ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước, đặt ra cho Đảng và Nhà nước nhiều vấn đề phải giải quyết Trong đó, vấn
đề phổ cập giáo dục cho đồng bào nơi đây là một nhiệm vụ cấp bách
1.2 Dân tộc thiểu số ở Trung Quốc và ở tỉnh Vân Nam
1.2.1 Dân tộc thiểu số ở Trung Quốc
Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là một quốc gia đa dân tộc thống nhất, với 56 dân tộc Theo số liệu tổng điều tra dân số toàn quốc lần thứ tư thì dân tộc Hán chiếm 91,96% dân số của cả nước, 55 dân tộc còn lại chỉ chiếm 8,04% và được gọi là dân tộc thiểu số Trong số 55 dân tộc thiểu số này, dân tộc Hồi và dân tộc Mãn hiện chỉ dùng tiếng Hán Dân tộc thiểu số đông dân nhất là Choang (16,1 triệu), Mãn (10,6 triệu), Hồi (9,8 triệu), H'Mông (8,9 triệu), Uyghur (Duy Ngô Nhĩ) (8,3 triệu), Thổ Gia (8 Triệu), Di (7,7 triệu), Mông Cổ (5,8 triệu), Tạng (5,4 triệu), Bố Y (2,9 triệu), Đồng (2,9 triệu), Dao (2,6 triệu), Triều Tiên (1,9 triệu), Bạch (1,8 triệu),
Hà Nhì (1,4 triệu), Kazakh (Cát Táp Khắc) (1,2 triệu), Lê (1,2 triệu), và Thái (1,1 triệu)
Trang 2924
Dân tộc thiểu số của Trung Quốc có số lượng ít, nhưng lại phân bố trên diện tích rất rộng, chiếm tới 60% lãnh thổ, họ có mặt ở tất cả các tỉnh, các khu tự trị và thành phố trực thuộc Trung ương Các châu lớn ở Trung Quốc đều có ít nhất 2 nhóm dân tộc thiểu số sinh sống Sự phân bố dân cư của các nhóm dân tộc thiểu số
có đặc điểm là vừa tập trung vừa phân tán, vừa có khuynh hướng sống xen kẽ, vừa
có khuynh hướng sống tụ họp thành các cộng đồng nhỏ, sự phân bố đan xen: có các nhóm dân tộc thiểu số định cư tại khu vực của người Hán và ngược lại, người Hán cũng cư trú trên địa bàn của người dân tộc thiểu số; có một vài nhóm dân tộc sống rải rác trên một vùng rộng lớn nhưng cũng có các dân tộc sống tập trung trên một địa bàn hẹp Đây cũng là kết quả của sự giao lưu, di chuyển giữa các nhóm dân tộc trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển đất nước Hiện nay, các nhóm dân tộc thiểu số ở Trung Quốc phân bố chủ yếu ở các tỉnh và khu tự trị: Nội Mông, Tân Cương (Duy Ngô Nhĩ), Ninh Hạ (Hồi), Quảng Tây (Choang), Tây Tạng, Vân Nam, Quý Châu, Thanh Hải, Tứ Xuyên, Cam Túc, Liêu Ninh, Cát Lâm, Hồ Nam, Hồ Bắc, Hải Nam và Đài Loan
Hiện nay tại Trung Quốc cũng giống Việt Nam, trình độ phát triển kinh tế -
xã hội giữa các dân tộc không đồng đều Trong đó, các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển có khoảng cách khá xa so với dân tộc Hán Tình hình này một phần là do hậu quả của lịch sử để lại, phần khác là do điều kiện tự nhiên quá khắc nghiệt ở địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số
Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc khác Việt Nam Ngôn ngữ các dân tộc ở đây thuộc 5 ngữ hệ, văn hóa ngôn ngữ khác nhau gắn với đặc trưng về các điều kiện sinh tồn của các dân tộc thiểu số
Sự bình đẳng dân tộc ở Trung Quốc cũng giống Việt Nam,nghĩa là các nhóm dân tộc không phân biệt quy mô dân số, mức độ phát triển kinh tế - xã hội, không kể
sự khác biệt về tôn giáo, tín ngưỡng thì đều có vị trí như nhau, được hưởng các quyền lợi như nhau trong mọi lĩnh vực đời sống chính trị - xã hội, đồng thời cũng phải thực hiện các nghĩa vụ như nhau Bình đẳng dân tộc là nghiêm cấm mọi hình
Trang 3025
thức kỳ thị và phân biệt đối xử giữa các nhóm dân tộc Thống nhất dân tộc là hữu nghị, giao lưu và tương trợ lẫn nhau trong đời sống xã hội Điều này kêu gọi sự đoàn kết của các dân tộc và chống chủ nghĩa chia rẽ dân tộc
1.2.2 Tình hình dân tộc thiểu số tỉnh Vân Nam
1.2.2.1 Khái quát về tỉnh Vân Nam
Vân Nam là một tỉnh vùng núi biên giới, khó khăn, nhiều dân tộc Năm 2007, tổng dân số của toàn tỉnh là 45 triệu dân Vân Nam là tỉnh có nguồn tài nguyên phong phú, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, có ưu thế vị trí nổi bật, có khí hậu đa dạng, tài nguyên sinh vật hết sức phong phú, tài nguyên khoáng sản nhiều chủng loại, trữ lượng lớn, giá trị kinh tế cao, có nguồn tài nguyên thủy năng lớn, tài nguyên du lịch
có chất lượng cao, đầy đủ chủng loại Vân Nam là nơi hợp nhất của 3 thị trường lớn Trung Quốc, Đông Nam Á, Nam Á, là cửa ngõ qua trọng của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và là “cầu nối trên bộ” nối liền từ nội địa tới Thái Bình Dương và
Ấn Độ Dương Tỉnh Vân Nam có 12 cửa khẩu loại I, 8 cửa khẩu loại II, có đường thủy quý như vàng là sông Lan Thương – sông Mê Kông thông với 5 nước ASEAN
Những năm gần đây, tỉnh Vân Nam lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm, tập trung thực hiện 3 mục tiêu lớn là: xây dựng mạnh về kinh tế “xanh”, tỉnh lớn về văn hóa dân tộc và là cửa ngõ quốc tế của Trung Quốc nối liền với các nước ASEAN và Nam Á; thực hiện 4 chiến lược lớn là: phát triển bền vững, lấy khoa họcgiáo dục chấn hưng Vân Nam, đô thị hóa và mở cửa toàn diện; xây dựng và phát triển 5 ngành kinh tế trụ cột gồm: thuốc lá, khai thác, tạo mới về tài nguyên sinh vật, du lịch, ngành điện lực với thủy điện là nòng cốt và khoáng sản Thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững, nhanh chóng, lành mạnh và xã hội tiến bộ toàn diện Mở rộng
mở cửa đẩy nhanh phát triển, duy trì ổn định, để thúc đẩy tổng lượng kinh tế toàn tỉnh không ngừng tăng lên và thực lực kinh tế được lớn mạnh
Theo báo cáo thông kê về tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Vân Nam năm 2012, GDP toàn tỉnh là 1030.98 tỷ NDT(khoảng 3556.881 Tỷ VND),tăng 13 %
Trang 3126
so với cùng kì năm ngoái,cao hơn tỷ lệ tăng trưởng GDP toàn quốc 5.2 điểm phần trăm Trong đó khu vực ngành nông,lâm,thủy sản tăng 165.46 tỷ NDT,tăng 6,7%; khu vực ngành công nghiệp, xây dựng tăng 441.91 tỷ NDT, tăng 16,2 %;khu vực ngành dịch vụ tăng 423.614 tỷ NDT,tăng 11,4 % Tỷ lệ của ba khu vực nói trên trong nền kinh tế tổng thể lần lượt là 16%; 42,9% và 41,1% GDP bình quân trên đầu người đạt 22.195 NDT/người,tăng 12,3 % so với cùng kì năm ngoái GDP toàn tỉnh lần đầu tiên vượt qua mức 1000 tỷ NDT
Mấy năm gần đây, Vân Nam tăng cường hoạt động giao lưu đối ngoại, thiết lập mối quan hệ về kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật, văn hóa với hơn 110 quốc gia, tích cực tham gia vào Khu hợp tác kinh tế tiểu vùng sông Mê Kông – sông Lan Thương và hợp tác kinh tế khu vực Bănglađét - Trung Quốc - Ấn Độ - Myanma, hợp tác kinh tế kỹ thuật đối ngoại luôn nằm trong Top 10 tỉnh mạnh nhất cả nước
1.2.2.2 Dân tộc thiểu số tỉnh Vân Nam
Vân Nam là tỉnh có nhiều dân tộc nhất Trung Quốc Cả nước có 56 dân tộc thì Vân Nam đã có 25 dân tộc sinh sống Theo số liệu thống kê năm 2007, dân tộc thiểu số ở Vân Nam có 14,15 triệu người, chiếm 38,07% tổng dân số trong toàn tỉnh
Có trên 20 dân tộc có số dân trên 8000 người, đó là các dân tộc: Di, Bạch, Hà Nhì, Choang, Thái, Mông, Lisu, Hồi, La Khố, Wả, Tây, Dao, Tạng, Cảnh Pha, Bố Lang, Phổ Mễ, Nộ, A Xương, Ki nô, Mông Cổ, Độc long, Mãn, Thuỷ, Bố Y dân tộc thiểu số ở tỉnh Vân Nam phân bố đa dạng, một số dân tộc vừa có những nơi sống tập trung nhất định, lại vừa sống chung với các dân tộc khác; một số dân tộc tập trung cao độ ở một khu vực, một châu, thậm chí là trong một huyện, một xã 25 dân tộc có số dân trên 5000 người và có khu vực sống tập trung nhất định Có 10 dân tộc sống chủ yếu ở khu vực bằng phẳng và lưu vực sông biên giới gồm: Hồi, Mãn, Bạch, Nạp Tây, Mông Cổ, Choang, Thái, A Xương, Bố Y, Thuỷ, dân số khoảng
450 vạn người; có 8 dân tộc sống tập trung ở khu vực bán sơn địa là Hà Nhì, Dao,
La Khố, Wả, Cảnh Pha, Bố Lang, Đức Ngang, Ki Nô và một bộ phận người Di, dân
số khoảng 500 vạn; chủ yếu sống tập trung ở khu vực núi có 6 dân tộc là Mông,
Trang 3227
Lisu, Tạng, Phổ Mễ, Nộ, Độc long và một bộ phận người Di, dân số khoảng 400 vạn Cả tỉnh không huyện nào chỉ có một dân tộc; riêng dân tộc Hồi và dân tộc Di thì sinh sống tại hầu hết các huyện trong cả tỉnh
Các phương ngữ chủ yếu trong tiếng Trung được nói tại Vân Nam thuộc về nhánh tây nam của nhóm Quan Thoại, và vì thế là tương tự như các phương ngữ láng giềng ở các tỉnh Tứ Xuyên và Quý Châu Các đặc trưng đáng chú ý trong nhiều phương ngữ Vân Nam là việc mất đi một phần hay toàn bộ khác biệt giữa /n/ và /ŋ/, cũng như không có /y/
Sự đa dạng sắc tộc của Vân Nam được phản ánh trong sự đa dạng ngôn ngữ của nó Các thứ tiếng được nói tại Vân Nam bao gồm nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến chẳng hạn như Bạch, Di, Tạng, Hà Nhì, Cảnh Pha, Lisu, Lạp Hỗ, Nạp Tây; Thái hay Tráng, Bố Y, Đồng, Thủy, Thái Lự cũng như nhóm ngôn ngữ Mông - Miến
Cụ thể là tiếng Nạp Tây sử dụng hệ thống chữ viết Đông Ba, là hệ thống chữ viết dùng biểu tượng (hình ý văn tự) duy nhất hiện nay trên thế giới Văn tự Đông
Ba đã được các thầy cúng Đông Ba sử dụng là chủ yếu với các chỉ dẫn về nghi thức hành lễ của họ
Nói chung, Vân Nam là một tỉnh tương đối chậm phát triển của Trung Quốc với tỷ lệ dân số lâm vào cảnh nghèo khổ cao hơn các tỉnh khác, đặc biệt là dân tộc thiểu số Từ khó khăn về kinh tế và các điều kiện khách quan không thuận lợi khác, trình độ học vấn của cộng đồng các dân tộc thiểu số chưa được quan tâm đúng mức Những năm gần đây, Chính phủ Trung Quốc đã có nhiều chính sách, giải pháp nhằm giải quyết thực trạng này
Như vậy, có thể thấy vấn đề dân tộc thiểu số của vùng giáp danh Việt Nam
và Trung Quốc (cụ thể là Lào Cai, Lai Châu và Vân Nam) có nhiểu điểm tương đồng, trong đó tiêu biểu là vấn đề giáo dục Đảng, Nhà nước của Việt Nam và Trung Quốc đã có nhiều giải pháp, thay đổi trong chính sách giáo dục Trong hệ thống chính sách của hai nước, phổ cập giáo dục bậc tiểu học và trung học cơ sở nổi lên như một vấn đề then chốt
Trang 33Thứ hai, chúng ta có thể nhận thấy, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng từ hàng ngàn năm trước, đã thiết lập nhiều mối quan hệ trên mọi phương diện nên dân tộc thiểu số của hai nước có nhiều điểm tương đồng Có thể xuất phát cùng một nguồn gốc hoặc có thể trong quá trình di cư, nhập cư trong lịch sử đã tạo nên mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc thiểu số của Việt Nam và Trung Quốc
Thứ ba, từ một số nét khái quát về dân tộc thiểu số của hai nước cho thấy: vấn đề dân tộc, công tác dân tộc ở Việt Nam và Trung Quốc được xác định rất sớm trong lịch sử dựng nước và giữ nước, đặc biệt là chính sách đại đoàn kết các dân tộc
Lý luận về công tác dân tộc và chính sách dân tộc đều có điểm chung là dựa trên nền tảng lý luận cơ bản về dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin; đồng thời có sự kế thừa, phát triển và điều chỉnh qua các thời kỳ cách mạng khác nhau cho phù hợp Các chính sách dân tộc đều góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng quốc gia thống nhất đa dân tộc trên cơ sở các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau
Mặc dù về cơ bản các chính sách dân tộc ở Trung Quốc và Việt Nam giống nhau về bản chất, nhưng lại có sự khác biệt trong cách tổ chức; vì thế kết quả thực hiện các chính sách này cũng không giống nhau hoàn toàn Có thể thấy các chính sách dân tộc của Trung Quốc được thực hiện rất kiên quyết,lâu dài và đồng bộ, ví
Trang 3429
dụ như các chính sách giáo dục, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách bảo tồn văn hóa đã mang lại rất nhiều thành quả Ngoài ra cũng dễ thấy sự kiên trì, bản lĩnh trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Việt Nam, nhất là chính sách đại đoàn kết dân tộc và các chính sách dân tộc ít người;các chính sách này đã đem đến sự ổn định cho các dân tộc thiểu số của Việt Nam
Trước nhiều vấn đề đặt ra trong công tác dân tộc, chính sách dân tộc, đoàn kết toàn dân tộc đáp ứng nhu cầu phát triển của Việt Nam và Trung Quốc từ nay đến 2015 và 2020, những kinh nghiệm về chính sách dân tộc của hai nước rất cần được nghiên cứu tham khảo, vận dụng vào điều kiện cụ thể của mỗi nước
1.4 Bản chất của phổ cập giáo dục
1.4.1 Thuật ngữ “phổ cập”, “phổ cập giáo dục”, “phổ cập giáo dục tiểu học” và “phổ cập giáo dục trung học cơ sở”
Từ “phổ cập” được dịch ra tiếng Anh là: generalize, universalize, make
widespread, make compulsory to everyone… mang một nét nghĩa chung là làm cho
ai cũng biết, làm cho ai cũng có, làm thành phổ thông, làm thành phổ biến, làm cho lan rộng
Chúng mang một nét nghĩa chung là làm cho ai cũng được giáo dục, làm cho ai cũng đạt được một trình độ giáo dục
Trong luật pháp về giáo dục của Trung Quốc, “phổ cập giáo dục” được dịch là
“giáo dục nghĩa vụ” Điều khác biệt so với nghĩa tiếng Anh nói trên là giáo dục Trung Quốc không chỉ để mọi người ai ai cũng có quyền đi học miễn phí, hơn nữa còn mang tính bắt buộc mọi người đi học theo pháp luật Người giám hộ bắt buộc phải đưa con em đến tuổi đi học đến trường học Điều này có chút khác biệt với cả thế giới nói chung và cả Việt Nam nói riêng
4Số 38/2005/QH11 “Luật Giáo dục” của Quốc Hội (Ngày 14/6/2005), Khoản 1 Điều 11
Trang 3530
độ tuổi nhất định do luật pháp quy định, đạt được trình độ giáo dục tiểu học Ở Việt Nam, bậc tiểu học bao gồm 5 năm; ở Trung Quốc, tùy theo khu vực khác nhau thì bậc tiểu học bao gồm 5 năm hoặc 6 năm (trong một số khu vực được thí nghiệm giáo dục sẽ thi hành chính sách 6 năm tiểu học)
“Phổ cập giáo dục trung học”cơ sở là phổ cập trình độ học vấn 9 năm/12
năm giáo dục phổ thông vào phạm vi đại trà, phổ cập một trình độ chất lượng tri thức, kĩ năng, nhất là kĩ năng sống và thái độ, tức là một chất lượng mới của từng người và của cả dân tộc
Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là các cấp học phổ cập Nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước
làm cho toàn thể thành viên trong xã hội, đến một độ tuổi nhất định (thường là độ tuổi bắt đầu chính thức tham gia lao động xã hội) đều có được một trình độ giáo dục nhất định (theo số năm học hoặc theo bậc học)
Khi pháp luật đã quy định đối tượng, độ tuổi và trình độ phổ cập giáo dục, trách nhiệm và nghĩa vụ của cá nhân, các điều kiện để bảo đảm thực hiện thì phổ cập giáo dục đã trở thành chế độ bắt buộc
1.4.2 Bản chất của công tác phổ cập giáo dục
Phổ cập giáo dục phổ thông đã được thực hiện với hình thức và mức độ khác nhau Nhưng cộng đồng quốc tế thừa nhận, công tác phổ cập giáo dục phổ thông cần phải có 2 yếu tố cơ bản sau:
- Thực hiện giáo dục phổ thông không phải trả tiền cho toàn dân
5
Số 56-LCT/HDDNN8 “Luật Phổ cập Giáo dục” của Quốc Hội (Ngày 12/08/1991), Điều 2
6Tài liệu tham khảo số 20 Hà Thế Ngữ “Phổ cập giáo dục cấp I” NXB Giáo dục Hà Nội, 1998
Trang 3631
- Thực hiện chế độ giáo dục bắt buộc cho những lứa tuổi nhất định
Tuy nhiên, phổ cập giáo dục phổ thông là một chủ trương, một nhiệm vụ luôn gắn liền với bản chất và ý nghĩa của nền giáo dục quốc gia đó Yếu tố thứ nhất chỉ có thể thực hiện được tại các nước mà thể chế chính trị đã xác lập một quan điểm rõ ràng là nền giáo dục phục vụ nhân dân lao động Còn yếu tố thứ hai đã trở thành vấn đề bức xúc của nhiều quốc gia, bởi vì hiện nay, trên thế giới vẫn còn nhiều người bị bóc lột, tư tưởng phân biệt chủng tộc, trọng nam, khinh nữ vẫn tồn tại thì việc thực hiện chế độ giáo dục bắt buộc cho những lứa tuổi nhất định là khó thực hiện
“Chính phổ cập giáo dục phổ thông đòi hỏi sự thực hiện quy luật xã hội học
và kinh tế học cơ bản của chủ nghĩa xã hội, là phát triển toàn diện và hài hoà nhân cách của mọi thành viên trong xã hội và thoả mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần càng tăng của toàn xã hội, trong tiến trình phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa Chế độ phổ cập giáo dục là một bộ phận quan trọng trong chế độ làm chủ tập thể văn hoá, mà nội dung là tạo ra cho mọi người một cuộc sống tinh thần phong phú, phù hợp với mục đích cao quý của chủ nghĩa xã hội, là biến mọi giá trị văn hoá thành tài sản của nhân dân và tạo mọi điều kiện để nhân dân trực tiếp sáng tạo ra mọi giá trị về văn hoá, là làm cho các quan hệ đối xử giữa người với người thể hiện
lẽ sống tốt đẹp; mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”
Có thể nói, công tác phổ cập giáo dục phổ thông là nền tảng cơ bản cho sự hình thành một xã hội mới vững chắc, nó thực sự tạo ra được chất lượng nhân cách, lực lượng tinh thần mới, đồng thời cũng tạo ra khả năng sáng tạo, với một trình độ văn hoá và lối sống mới cho mọi người Vì vậy, công tác phổ cập giáo dục phổ thông không thể chỉ dừng lại ở một công việc giản đơn là truyền thụ một khối lượng tri thức tối thiểu, một nhóm kĩ năng cơ bản cho thế hệ trẻ có thể làm chủ được môi trường sống, hoà nhập vào cộng đồng xã hội Tuy nhiên, phổ cập giáo dục phổ thông không đồng nghĩa với công tác huy động trẻ em đúng độ tuổi đến trường và giữ các em trong nhà trường một số năm học nhất định Công tác phổ cập giáo dục
Trang 3732
phổ thông phải làm được chính là tạo lập được một nền móng vững chắc, qua đó phát hiện và bồi dưỡng được những người lao động giỏi trong sản xuất, những tài năng xuất sắc trong khoa học, kỹ thuật
Tóm lại, phổ cập giáo dục phổ thông có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần mang lại kết quả thực sự cho cộng đồng, tạo được sức mạnh và sinh khí mới để phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội Đối với Việt Nam, công tác phổ cập giáo dục phổ thông phải thể hiện được bản chất ý nghĩa của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, đảm bảo sự bình đẳng trong việc tiếp thu trình độ văn hoá, nhằm phát triển nhân cách toàn diện, đồng thời tạo ra cơ sở cho việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Trang 3833
CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH VÀ THỰC TRẠNG PHỔ CẬP GIÁO DỤC KHU VỰC KHẢO SÁT CỦA HAI NƯỚC VIỆT TRUNG
2.1 Chính sách phổ cập giáo dục của Việt Nam (tỉnh Lai Châu, Lào Cai ) Trung Quốc (tỉnh Vân Nam)
2.1.1 Tư tưởng về giáo dục của các nhà lãnh đạo
2.1.1.1 Tư tưởng của Hồ Chí Minh
Với Hồ Chí Minh, vấn đề phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo con người luôn được quan tâm đặc biệt Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Hồ Chí Minh cũng luôn
là chiến sỹ tiên phong trong việc lãnh đạo, vận động và tổ chức cho quần chúng nhân dân đấu tranh giành độc lập, tự do, giải phóng họ khỏi ách áp bức bóc lột, xoá
bỏ các định kiến lạc hậu, xấu xa, tạo điều kiện cho hết thảy mọi người vươn lên làm chủ vận mệnh, tương lai của đất nước và của chính mình Ngay từ những ngày còn bôn ba ở nước ngoài để tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã thay mặt những người yêu nước Việt Nam gửi đến Hội nghị Véc-xay (Hội nghị của các quốc gia thắng trận sau Chiến tranh thế giới thứ nhất để phân chia phạm vi ảnh hưởng và quyền lực) bản yêu sách gồm 8 điểm đòi quyền tự quyết cho các dân tộc Đông Dương, trong đó điểm thứ 6 đã nhấn mạnh: “Cần tự do giáo dục, thành lập các
Hồ Chí Minh đã cho công luận trong và ngoài nước thấy tội ác ghê tởm của chế độ thực dân trong khi chúng thực hiện các chính sách độc ác “làm ngu dân”,
“gieo rắc một nền giáo dục đồi bại” đồng thời dũng cảm đấu tranh trực diện với hệ thống bè lũ thực dân Pháp, đòi được “tự do học tập” và “thực hành giáo dục toàn dân”
7
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 2000, t 1, trang 435.
Trang 3934
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời nhưng lại phải đối mặt với sự hoành hành của “giặc đói”, “giặc dốt” và giặc ngoại xâm; Hồ Chí Minh đã tuyên bố với đồng bào cả nước rằng: “Giặc dốt cũng nguy hại như giặc ngoại xâm”, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân ra sức thực hiện đồng thời ba nhiệm vụ vô cùng trọng đại và cấp bách là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, ngày 03/9/1945 vấn
đề chống nạn mù chữ đã được đề cập đến Sau đó, ngày 08/9/1945 Chính phủ đã ban hành 3 sắc lệnh (số 17/SL, 19/SL và 20/SL) đặt sự nghiệp bình dân học vụ vừa
là phong trào cách mạng, vừa là một thể chế văn hoá giáo dục của Nhà nước Dân chủ Cộng hoà Một kỷ nguyên mới của nền giáo dục cách mạng do dân, của dân và
vì dân đã được hình thành
Ngày 04/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học, trong đó có đoạn viết: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giầu, mọi người Việt Nam phải biết quyền lợi, bổn phận của mình, phải
có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết chữ quốc ngữ” Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì quan điểm phải
bình dân học vụ và bổ túc văn hoá đã góp phần đáng kể trong quá trình đấu tranh giảm dần sự bất bình đẳng về giáo dục, sự cách biệt về học vấn giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng, miền tạo sự hoà hợp trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
Những tư tưởng về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành cơ sở về
lý luận cho các cuộc cải cách giáo dục được tiến hành ở nước Việt Nam với mục tiêu xây dựng nhà trường dân tộc, dân chủ và nhà trường xã hội chủ nghĩa Chủ tịch
Hồ Chí Minh đề xướng, lãnh đạo Đảng và nhân dân ta thực hiện hàng loạt các chủ trương đặt nền móng cho nền quốc học, như phổ cập giáo dục sơ học, nâng cao trình độ học vấn phổ thông, đào tạo cán bộ, bồi dưỡng nhân tài để hình thành
8
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t 4, trang 36.
Trang 4035
những chuẩn mực đạo đức và giá trị văn hoá, tinh thần cao đẹp, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam
2.1.1.2 Tư tưởng của Mao Trạch Đông
Là một người theo chủ nghĩa Mác, Mao Trạch Đông đã kết hợp lý luận giáo dục chủ nghĩa Mác và tình hình thực tế Trung Quốc một cách sáng tạo, từ gốc lý luận tiến hành khai thác một con đường phát triển giáo dục dựa theo tình hình đất nước, góp phần quan trọng trong lịch sử phát triển giáo dục Trung Quốc
Mao Trạch Đông rất chú trọng công tác giáo dục Ông cho rằng giáo dục đi trước cách mạng, là tiền đề của cách mạng; trong cách mạng, giáo dục là một đường lối tất yếu và quan trọng Giáo dục cũng là một mặt trận quan trọng để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin đồng thời đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng Cách mạng phải dựa vào quần chúng nhân dân, chỉ khi quần chúng nhân dân tiếp thu được giáo dục cách mạng, nắm vững được công cụ văn hóa, hiểu rõ về lý luận cách mạng mới
có thể trở thành lực lượng cách mạng
Trong thời kỳ cách mạng ruộng đất, Mao Trạch Đông khẳng định nhiệm vụ quan trọng của giáo dục văn hóa Xô-viết là dùng chủ nghĩa cộng sản trang bị kiến thức, nâng cao trình độ văn hóa quần chúng, thi hành chế độ giáo dục phổ cập, tăng cường sức lực quần chúng trong chiến tranh cách mạng
Thời kỳ kháng chiến chống Nhật và đấu tranh giải phóng, chế độ giáo dục phải thay đổi phương thức cũ, giáo trình cũ, cải cách sang một chế độ mới phục vụ cho việc kháng chiến chống Nhật; phải tiến hành đổi mới căn bản về các phương thức giáo dục cũ và giảng dạy giáo trình mới Vì thế Mao Trạch Đông đích thân làm Chủ tịch Ban giáo dục đại học chính trị quân đội chống Nhật, tự biên soạn giáo trình và giảng dạy, đào tạo lực lượng cách mạng Dưới sự lãnh đạo của ông, Diên
An – một huyện thuộc vùng sâu vùng xa và kém phát triển về giáo dục đã trở thành một trung tâm giáo dục cách mạng Đến năm 1946, vùng biên Thiểm Cam Ninh đã xây dựng được 2990 trường tiểu học, với số lượng học sinh gần 300.000 người, 7