1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân vùng chất lượng môi trường đất sản xuất nông nghiệp tỉnh nam định

95 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 3,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH NAM ĐỊNH CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌ

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH NAM ĐỊNH

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN TRỌNG ĐẠO

HÀ NỘI, NĂM 2019

Hà Nội - Năm 20

Trang 2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH NAM ĐỊNH

NGUYỄN TRỌNG ĐẠO

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

MÃ SỐ: 8440301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Hướng dẫn 1: PGS.TS LƯU THẾ ANH Hướng dẫn 2: PGS.TS NGUYỄN AN THỊNH

HÀ NỘI, NĂM 2019

Hà Nội - Năm 20

Trang 3

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Cán bộ hướng dẫn chính: PGS.TS Lưu Thế Anh

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngày tháng năm 2019

Trang 4

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Luận văn với đề tài “ Phân vùng chất lượng môi trường đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Nam Định” là sản phẩm nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn

khoa học của PGS.TS Lưu Thế Anh và PGS.TS Nguyễn An Thịnh, không sao

chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa

từng được công bố ở bất kỳ một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2019

Học viên

Nguyễn Trọng Đạo

Trang 5

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện luận văn, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, động viên thiết thực, quý báu

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Lưu Thế Anh và

PGS.TS Nguyễn An Thịnh – người đã trực tiếp hướng dẫn, động viên và khuyến

khích học viên trong suốt thời gian thực hiện luận văn Đồng thời, cảm ơn sự giúp đỡ của các cán bộ, nghiên cứu viên Viện Địa Lí, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô và toàn thể các cán bộ của Khoa Môi trường, Đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể tiếp thu kiến thức và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Nam Định cùng cư dân các xã, huyện đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát và thu thập tài liệu

Tôi xin trân trọng cảm ơn Đề tài KH&CN độc lập cấp Quốc gia “Nghiên cứu, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên đất vùng đồng bằng sông Hồng

và đề xuất các giải pháp chủ động ứng phó”, mã số ĐTĐLCN.48/16 đã cung cấp số

liệu và hỗ trợ để tác giả hoàn thành luận văn này

Lời cuối cùng, tôi xin được cảm ơn sự động viên của bạn bè và sự ủng hộ nhiệt tình của gia đình trong suốt quá trình học tập và rèn luyện

Trân trọng cảm ơn./

Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2019

Học viên

Nguyễn Trọng Đạo

Trang 6

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC HÌNH iv

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3

2.1 Mục tiêu 3

2.2 Nội dung 3

3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

4 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 5

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 5

1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu tại Việt Nam 7

1.1.3 Các công trình liên quan đến khu vực nghiên cứu 8

1.2 Cơ sở lý luận về hướng phân vùng chất lượng đất nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội 9

1.2.1 Phân vùng chất lượng và các khái niệm liên quan 9

1.2.2 Định hướng của quy hoạch sử dụng môi trường đất 12

1.2.3 Nguyên tắc phân vùng chất lượng môi trường 14

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

Trang 7

iv

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.1.1 Tài nguyên đất đai 16

2.1.2 Đánh giá chung địa bàn nghiên cứu 17

2.2 Phạm vi nghiên cứu 19

2.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 19

2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 23

2.3 Thời gian nghiên cứu 27

2.4 Phương pháp nghiên cứu 27

CHƯƠNG 3 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Định hướng xây dựng bản đồ phân vùng môi trường đất tỉnh nam định 31

3.1.1 Sử dụng GIS chồng ghép, thành lập bản đồ phân vùng đất tỉnh Nam Định 31

3.1.2 Quy trình ứng dụng phần mềm ArcGIS phân vùng chất lượng đất 31

3.1.3 Sơ đồ quá trình lập bản đồ phân vùng chất lượng đất tỉnh Nam Định 33

3.1.4 Thiết bị sử dụng trong quá trình thử nghiệm 33

3.1.5 Chuẩn hóa dữ liệu bản đồ thành phần 34

3.1.6 Thành lập bản đồ đơn vị đất đai 34

3.2 BẢN ĐỒ PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH NAM ĐỊNH 40

3.2.1 Phân loại đất và chia vùng 40

3.2.2 Kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 48

3.2.2.1 Xác định các yếu tố để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 48

3.2.1.2 Phân cấp chỉ tiêu xây dựng các bản đồ đơn tính 49

3.2.3 Mô tả các đơn vị đất đai theo tổ hợp các loại đất 59

3.3 ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA TỈNH NAM ĐỊNH 66

3.3.1 Căn cứ cho việc đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất 66

3.3.2 Định hướng cho tỉnh Nam Định 66

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75

1 KẾT LUẬN 75

Trang 8

v

2 KIẾN NGHỊ 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 1

Phụ lục: Một số hình ảnh trong chuyến khảo sát thực địa tỉnh Nam Định 2

Trang 9

i

THÔNG TIN LUẬN VĂN

Họ và tên học viên: Nguyễn Trọng Đạo

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lí luận

- Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường tỉnh Nam Định

Chương 2: Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu

- Đánh giá được hiện trạng chất lượng môi trường đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Nam Định

- Xác định các tiêu chí, xây dựng cơ sở dữ liệu GIS, phân vùng chất lượng môi trường

và phân tích các vấn đề môi trường tại các vùng chất lượng đất tỉnh Nam Định

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp định hướng sử dụng đất cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

và môi trường tỉnh Nam Định

Trang 11

iii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Thống kê dân số các năm 2005 - 2010- 2015-2017 24

Bảng 2 Bảng phân loại và thống kê số lượng đất vùng sản xuất nông nghiệp tỉnh Nam Định 36

Bảng 3 Các yếu tố đơn tính xây dựng Bản đồ đơn vị đất đai 49

Bảng 4 Các đơn vị đất dùng để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 50

Bảng 5 Phân cấp thành phần cơ giới 50

Bảng 6 Phân cấp địa hình tương đối 51

Bảng 7 Phân cấp độ dày tầng đất mịn 52

Bảng 8 Phân cấp mức độ độ glây 52

Bảng 9 Phân cấp chế độ tiêu 53

Bảng 10 Cácbon hữu cơ tổng số trong đất 53

Bảng 11 Tổng các cation trong đất 54

Bảng 12 Dung tích hấp thu trong đất (CEC đất) 54

Bảng 13 Thống kê diện tích lưu huỳnh tổng số 54

Bảng 14 Phân cấp và đánh giá tổng số muối tan 55

Bảng 15 Lượng mưa trung bình năm (mm) 56

Bảng 16 Nhiệt độ trung bình năm (0C) 56

Bảng 17 Đặc tính của các đơn vị đất đai 2

Trang 12

iv

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Rừng cây ngập mặn 17 Hình 2.2 Sơ đồ vị trí tỉnh Nam Định 2017 19 Hình 1.2 Các thành phần của GIS 28 Hình 3.1 Sơ đồ ứng dụng công nghệ GIS với phần mềm ArcGIS trong phân vùng chất lượng đất nông nghiệp tỉnh Nam Định 32 Hình 3.2 Sơ đồ ứng dụng công nghệ GIS với phần mềm ArcGIS trong phân vùng chất lượng đất tỉnh Nam Định 33 Hình 3.3 Mô hình chồng xếp các bản đồ thành phần để xây dựng bản đồ phân vùng 35 Hình 3.4 Bản đồ đất phân vùng sản xuất nông nghiệp tỉnh Nam Định 39 Hình 3.5 Bản đồ phân vùng chất lượng đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Nam Định 62

Trang 13

1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất là một dạng tài nguyên vô cùng quý giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người, là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối vỡi mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tài nguyên và môi trường đất luôn gắn liền với mọi hoạt động của con người Đất là môi trường nuôi dưỡng các loài thực vật, là nơi để sinh vật sinh sống, là không gian thích hợp để con người xây dựng nhà ở và các công trình khác Hiện nay, con người đã quá lạm dụng nguồn tài nguyên quý giá này và đã có nhiều tác động có ảnh hưởng xấu đến đất như: Dùng quá nhiều lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, làm cho đất tích trữ một lượng lớn kim loại nặng và làm thay đổi tính chất vật lý và hóa học của đất, làm ảnh hưởng đến độ phì nhiêu của đất Do các sức ép gia tăng dân số, các sức ép lên môi trường đất là vấn đề đáng lo ngại, các chất thải gây ô nhiễm môi trường đất và vấn đề canh tác nông nghiệp; nhu cầu đất ở; đất phát triển các khu công nghiệp; khai thác khoáng sản, đã và đang làm cho môi trường đất bị suy thoái và ô nhiễm trầm trọng Đến nay, tài nguyên và môi trường đất đang bị xâm hại nặng nề ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Theo số liệu của Liên hợp Quốc, đất canh tác trên đầu người giảm nhanh từ 0,5 ha/người xuống 0,2 ha/người trong vòng 100 năm qua và dự báo trong 50 năm tới chỉ còn khoảng 0,14 ha/người do các nguyên nhân khác nhau, trong

đó có thoái hóa đất Trước thực trạng đó, UNEP đã kêu gọi cần nghiên cứu ngăn ngừa thoái hoá đất và hoang mạc hoá ở mỗi quốc gia và trên toàn cầu Sự thành công trong ứng phó với thoái hóa đất đòi hỏi phải hiểu rõ những nguyên nhân, các tác động và mức độ thoái hóa đất trong mối liên hệ với các yếu tố khí hậu, thổ nhưỡng, nước, thực vật và hoạt động kinh tế - xã hội

Ở Việt Nam, số liệu quan trắc nhiều năm cho thấy, thoái hoá và ô nhiễm đất là xu thế chung ở các vùng Các quá trình thoái hóa đất do xói mòn, rửa trôi, trượt lở ở vùng núi; xâm nhập mặn, cát bay và cát chảy ở vùng ven biển; khô hạn, hoang mạc hóa đang diễn ra phổ biến với tốc độ nhanh và nghiêm trọng hơn ở miền Trung, Tây

Trang 14

2

Nguyên Đồng thời, việc sử dụng đất thiếu hợp lý đã dẫn đến đất bị thoái hóa, ô nhiễm, giảm sức sản xuất và kéo theo hàng loạt hậu quả về môi trường sinh thái Trong số 21 triệu ha đất nông nghiệp của cả nước, khoảng 9,34 triệu ha đất bị thoái hóa do nhiều nguyên nhân khác nhau tập trung ở Tây Bắc, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và tứ giác Long Xuyên, ảnh hưởng đến cuộc sống của 22 triệu người Trước thực tế đó, năm

2006 Chính phủ đã ban hành “Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020” Hiện nay, đất sản xuất nông nghiệp của các tỉnh ngày càng suy giảm một mặt do phải thu hồi nhiều diện tích đất nông nghiệp phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng, sản xuất công nghiệp, xây dựng đô thị hoặc nhiều mục đích khác nhau Mặt khác nhiều năm gần đây hiện tượng biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, các thảm hoạ thiên tai luôn đe doạ đến môi trường đất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia

Hiện nay, tiếp cận phân vùng chất lượng các thành phần môi trường tự nhiên (đất, nước, không khí) là một công cụ quan trọng phục vụ công tác quản lý, khai thác hiệu quả các dạng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trong chiến lược phát triển bền vững của các quốc gia và vùng lãnh thổ

Nam Định là một tỉnh ven biển trọng điểm sản xuất lúa của vùng đồng bằng sông Hồng Theo số liệu thống kê năm 2016, toàn tỉnh có 112.844,1 ha đất nông nghiệp (chiếm 67,63% diện tích đất tự nhiên); trong đó đất sản xuất nông nghiệp có 91,221,9

ha (đất trồng cây hàng năm là 82.769,3 ha; đất trồng cây lâu năm 8.452,6 ha); đất lâm nghiệp có 2.950,4 ha; đất nuôi trồng thủy sản có 17.398,7 ha; đất làm muối là 716,4 ha

và đất nông nghiệp khác là 556,8 ha Theo quy hoạch sử dụng đấất của tỉnh Nam Định, giai đoạn 2010 – 2015 tầm nhìn 2020 tỉnh Nam Định có 107.655 ha đất nông nghiệp, chiếm 64,03% diện tích đất toàn tỉnh Trong đó, nhiều nhất là đất trồng lúa 65.437,93

ha, chiếm 38,92% Ngoài ra, có 20.940 ha đất nuôi trồng thủy sản; 8.294,38 ha đất trồng cây lâu năm; 550 ha đất làm muối Hiện nay, tài nguyên và môi trường đất tỉnh Nam Định đang đối mặt với nhiều thách thức như xâm nhập mặn, ô nhiễm, suy giảm

độ phì nhiêu, chuyển đổi mục đích sử dụng đất,

Trang 15

3

Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài nghiên cứu: "Phân vùng chất lượng

môi trường đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Nam Định" nhằm làm rõ hiện trạng chất

lượng đất sản xuất nông nghiệp của tỉnh, xác định những vấn đề hạn chế, bất cập liên quan đến quản lý và bảo vệ môi trường theo các vùng sinh thái, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục, trên cơ sở đó nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đặc biệt là chính sách xây dựng nông thôn mới của địa phương hiện nay

2 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu

Đề tài đặt ra mục tiêu nghiên cứu:“Phân vùng chất lượng môi trường đất nông

nghiệp tỉnh Nam Định” Xác lập được cơ sở khoa học và thực tiễn trong đề xuất các

giải pháp quản lý môi trường đất và thích ứng với biến đổi khí hậu phù hợp với mỗi phân vùng chất lượng môi trường tại tỉnh Nam Định

2.2 Nội dung

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài cần thực hiện được các nội dung sau:

- Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường tỉnh Nam Định

- Đánh giá hiện trạng môi trường đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Nam Định

- Xác định các tiêu chí, xây dựng cơ sở dữ liệu GIS, phân vùng chất lượng môi trường đất tỉnh Nam Định phục vụ công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất

- Đề xuất các giải pháp định hướng sử dụng đất cho mục tiêu phát triển kinh tế -

xã hội và môi trường tỉnh Nam Định

3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú hệ thống tri thức khoa học về hướng phân vùng chất lượng đất nông nghiệp, phát triển quy hoạch đất nông

Trang 16

4 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương: Chương 1 Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về phân vùng chất lượng môi trường

Chương 2 Phương pháp, cơ sở dữ liệu và khu vực nghiên cứu

Chương 3 Các kết quả nghiên cứu

Trang 17

5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Trong bối cảnh sử dụng đất nông nghiệp hiện nay, hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên đất đã và đang làm thay đổi chức năng sinh thái theo hướng làm cường hóa các tác động tiêu cực Điều này hối thúc các nghiên cứu về quy hoạch phát triển đất nông nghiệp theo hướng bền vững phải được xây dựng dựa trên một cơ sở khoa học thực tiễn và cụ thể Xu thế nghiên cứu phân vùng chất lượng đất đang dần trở nên phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới

Năm 2016, Leman và cộng sự đã thực hiện đánh giá vùng nhạy cảm môi trường cho quy hoạch sử dụng đất ở Langkawi, Malaysia Nghiên cứu đánh giá mức độ nhạy cảm về môi trường của Langkawi cũng sử dụng mô hình đánh giá đa tiêu chí Bộ chỉ

số được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm các chỉ thị về rủi ro thiên tai (độ dốc, thảm thực vật, lượng mưa, địa chấn…), chỉ thị về giá trị di sản và chỉ thị về hỗ trợ sự sống (nguồn nước)[52] Nghiên cứu phân loại mức độ nhạy cảm môi trường thành bốn mức độ: độ nhạy cao, trung bình, thấp và phi nhạy cảm Cách tiếp cận như trong ví dụ ở Langkawi đã được ứng dụng rộng rãi ở một số quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ Phân vùng môi trường cũng là công cụ chính trong quy hoạch phát triển và tái phát triển bang New Jersey, Mỹ Để giải quyết yêu cầu phát triển cao mà vẫn đảm bảo bền vững, quy hoạch bang New Jersey đã phân loại đất đai trên toàn bang thành 5 loại chính gồm: vùng đô thị với tiêu chí chính là mật độ dân cư trên 1.000 người/dặm vuông; vùng ngoại ô với tiêu chí chính là tiếp giáp vùng đô thị, đã có sự đầu tư về cơ

sở hạ tầng và dự kiến sẽ có cơ sở hạ tầng đô thị cơ bản vào năm 2020; vùng rìa với tiêu chí chính là tiếp giáp với vùng đô thị nhưng không có sự đầu tư về cơ sở hạ tầng; vùng nông thôn gồm vùng đất nông nghiệp, đất rừng và đất trống…; vùng nhạy cảm môi trường gồm môi trường sống các loài được bảo vệ, đất ngập nước chất lượng cao, nguồn nước sinh hoạt, rừng sản lượng cao, có nhiều cây bản địa…[60] Các hoạt động phát triển diện rộng bị giới hạn hoàn toàn trong vùng đô thị và vùng ngoại ô Sau đó,

Trang 18

6

Quy hoạch bang New Jersey tiếp tục phân các vùng này thành vùng trung tâm và nền môi trường Các hoạt động phát triển KT-XH bị giới hạn trong vùng trung tâm (tiêu chí là mật độ dân cư tối thiểu là 3.000 người/dặm vuông) Bên ngoài vùng này là nền môi trường bao gồm các không gian mở có thể hỗ trợ hệ sinh thái Quy hoạch bang đặc biệt nhấn mạnh tính kết nối, tạo thành các hệ thống tự nhiên của nền môi trường Như vậy, Quy hoạch bang New Jersey đã có sự thay đổi lớn về định hướng so với các quy hoạch khác, thể hiện qua tính chủ quan cao trong phân vùng Theo đó, quy hoạch chủ động không phát triển các vùng đang có chất lượng môi trường tốt; giới hạn hoạt động phát triển trong các khu vực đã phát triển hoặc những khu vực có xu hướng phát triển là không thể đảo ngược Hơn nữa, quy hoạch còn thể hiện việc tính toán đến sự phát triển KT-XH trong dài hạn Quy hoạch xây dựng một mạng lưới trung tâm được

bố trí hợp lý trên nền môi trường, chú trọng phát triển chiều sâu, phát triển có tính hệ thống để giảm bớt áp lực phát triển đô thị hóa tự phát Để làm được như vậy, quy hoạch phải xác định được bối cảnh phát triển KT-XH, đồng thời đánh giá tài nguyên

và sức chịu tải môi trường vùng môi trường cũng là công cụ chính trong quy hoạch phát triển và tái phát triển bang New Jersey, Mỹ Để giải quyết yêu cầu phát triển cao

mà vẫn đảm bảo bền vững, quy hoạch bang New Jersey đã phân loại đất đai trên toàn bang thành 5 loại chính gồm: vùng đô thị với tiêu chí chính là mật độ dân cư trên 1.000 người/dặm vuông; vùng ngoại ô với tiêu chí chính là tiếp giáp vùng đô thị, đã có

sự đầu tư về cơ sở hạ tầng và dự kiến sẽ có cơ sở hạ tầng đô thị cơ bản vào năm 2020; vùng rìa với tiêu chí chính là tiếp giáp với vùng đô thị nhưng không có sự đầu tư về cơ

sở hạ tầng; vùng nông thôn gồm vùng đất nông nghiệp, đất rừng và đất trống…; vùng nhạy cảm môi trường gồm môi trường sống các loài được bảo vệ, đất ngập nước chất lượng cao, nguồn nước sinh hoạt, rừng sản lượng cao, có nhiều cây bản địa… Các hoạt động phát triển diện rộng bị giới hạn hoàn toàn trong vùng đô thị và vùng ngoại ô Sau

đó, Quy hoạch bang New Jersey tiếp tục phân các vùng này thành vùng trung tâm và nền môi trường Các hoạt động phát triển KT-XH bị giới hạn trong vùng trung tâm (tiêu chí là mật độ dân cư tối thiểu là 3.000 người/dặm vuông) Bên ngoài vùng này là nền môi trường bao gồm các không gian mở có thể hỗ trợ hệ sinh thái Quy hoạch

Trang 19

7

bang đặc biệt nhấn mạnh tính kết nối, tạo thành các hệ thống tự nhiên của nền môi trường Như vậy, Quy hoạch bang New Jersey đã có sự thay đổi lớn về định hướng so với các quy hoạch khác, thể hiện qua tính chủ quan cao trong phân vùng Theo đó, quy hoạch chủ động không phát triển các vùng đang có chất lượng môi trường tốt; giới hạn hoạt động phát triển trong các khu vực đã phát triển hoặc những khu vực có xu hướng phát triển là không thể đảo ngược Hơn nữa, quy hoạch còn thể hiện việc tính toán đến

sự phát triển KT-XH trong dài hạn Quy hoạch xây dựng một mạng lưới trung tâm được bố trí hợp lý trên nền môi trường, chú trọng phát triển chiều sâu, phát triển có tính hệ thống để giảm bớt áp lực phát triển đô thị hóa tự phát Để làm được như vậy, quy hoạch phải xác định được bối cảnh phát triển KT-XH, đồng thời đánh giá tài nguyên và sức chịu tải môi trường

Các kết quả nghiên cứu ở trên chỉ ra rằng mỗi vùng sinh thái bao hàm các chức năng riêng biệt góp phần thể hiện từng đặc tính và yêu cầu phát triển trong những điều kiện cụ thể Đồng thời, phân vùng chất lượng đất được xây dựng dựa trên cơ sở tích hợp các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường tại mỗi vùng Đây là một công

cụ hiệu quả nhằm quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên cho từng khu vực

cụ thể, góp phần hỗ trợ công tác quy hoạch không gian theo hướng phát triển bền vững tại nhiều quốc gia trên thế giới

1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

Ở Việt Nam, công tác phân vùng quy hoạch đã được quan tâm ngay từ những năm 1960 Công tác này đã trải qua nhiều giai đoạn, xuất phát từ những đặc điểm tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội Do yêu cầu, mục tiêu chiến lược kinh tế - xã hội của đất nước nên trong mỗi giai đoạn, nội dung nghiên cứu và phương pháp tiếp cận khác nhau Cho đến nay, phương pháp luận về phân vùng chất lượng còn nhiều hạn chế nhưng một số ngành, địa phương đã thực hiện phân vùng môi trường để phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và kiểm soát ô nhiễm môi trường như:

Phân vùng cảnh quan, là loại hình phân vùng trên cơ sở phân loại cảnh quan đã được vận dụng cho lãnh thổ miền nam Việt Nam (Trương Quang Hải, 1991) [55]

Trang 20

8

Nhiều nhà khoa học đã ứng dụng tiếp cận nghiên cứu phân vùng sinh thái và đánh giá cảnh quan cho các lĩnh vực khác nhau Phạm Hoàng Hải và cộng sự (1997) đã đề cập khá đầy đủ về những biến đổi của tự nhiên dưới các tác động của con người, đưa ra một cách khái quát phương pháp đánh giá cảnh quan với các lãnh thổ cụ thể cũng như

các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trong cuốn “Cơ sở cảnh

quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ”

[46] Trong đề tài “Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng” do

Cao Liêm (1990) chủ trì, trên cơ sở phân tích điều kiện sinh thái của vùng đồng bằng sông Hồng, đã đề xuất được tiêu chuẩn một số đơn vị phân vùng sinh thái, xây dựng được một bản đồ phân vùng sinh thái tỉ lệ 1/250.000 kèm theo bản đồ chú giải Các tác giả đã phân ra 8 vùng và 13 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp, mô tả đặc điểm, hướng sử dụng cho từng vùng sinh thái chính cho khu vực này [25] Để bảo vệ và phục hồi vùng biển Rạn Trào, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, Viện Hải dương học Nha Trang đã

triển khai thực hiện đề tài “Nghiên cứu phân vùng chức năng cho khu bảo tồn Rạn

Trào - Vạn Ninh” từ tháng 11/2003 – 11/2004 [21]

1.1.3 Các công trình liên quan đến khu vực nghiên cứu

Đề tài được hoàn thành trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây tại huyện Giao thủy, tỉnh Nam Định và kết quả nghiên cứu theo hướng đánh giá tổng hợp trên quan điểm phân vùng

Nghiên cứu sử dụng hợp lý các bãi triều lầy cửa sông ven biển Việt Nam, do Nguyễn Chu Hồi và đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu từ năm 1985-1990 Phạm vi nghiên cứu của đề tài là phía Bắc Việt Nam, các đặc trưng về động lực hình thành xu thế tiến hóa bãi triều, đặc trưng các hệ sinh thái tại khu vực ven bờ đã được xem xét, đánh giá tổng hợp Các tư liệu trên cạn và dưới nước đã được hiệu chỉnh một cách có

hệ thống [40]

Trong giai đoạn năm 1990 - 1995 là giai đoạn nghiên cứu khá quan trọng nhằm tìm hiểu các đặc trưng cơ bản về hệ sinh thái cửa sông châu thổ sông Hồng Liên quan đến vấn đề này, đề tài “Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam” của Phan

Trang 21

9

Nguyên Hồng (1991) [52] Đề tài KT.03.11“Sử dụng hợp lý hệ sinh thái trên biển ven

bờ Việt Nam”, “Hệ sinh thái vùng triều miền Bắc Việt Nam” của Nguyễn Xuân Dục (1994) lấy hệ sinh thái vùng triều sông Hồng làm vùng nghiên cứu trọng điểm [45] Giai đoạn này cũng được đánh dấu bởi hàng loạt công trình nghiên cứu dải ven

bờ trên quan điểm động lực như “Biến động cửa Ba Lạt, cửa Hà Lạn trong thời kỳ cận đại và ảnh hưởng của chúng tới diễn biến bồi tụ xói lở khu vực Hải Hậu, tỉnh Nam Định” của Cao Vũ Minh và nnk (2010) [26] Nguyễn Thu Trang và nnk (2011) nghiên cứu “Thực trạng sử dụng đất vùng cửa Ba Lạt huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định” [42]

“Phát triển du lịch huyện Giao Thủy giai đoạn 2011 – 2015, tầm nhìn 2020” của Ủy ban Nhân dân huyện Giao Thủy, (2011) [18] “Nghiên cứu hiện trạng môi trường, biến động nguồn lợi, đa dạng sinh học hệ sinh thái vùng triều ven biển miền Bắc Việt Nam (từ Quảng Bình trở ra) đề xuất mô hình khai thác, nuôi trồng, bảo tồn và quản lý bền vững” (Đỗ Công Thung, 2012) [31] “Nghiên cứu sinh thái cảnh quan huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cho phát triển bền vững nông - lâm nghiệp và du lịch” (Nguyễn Thùy Dương, 2012) [43] “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp xã Giao An, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định” (Đặng Thị Hoa và nnk, 2014) [28] “Du lịch theo hướng sinh thái cộng đồng tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Thực trạng và giải pháp sử dụng đất” (Doãn Quang Hùng, 2015) [27]

1.2 Cơ sở lý luận về hướng phân vùng chất lượng đất nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

1.2.1 Phân vùng chất lượng và các khái niệm liên quan

a Vùng (region)

Trong các ngành riêng biệt, vùng được xác định dựa trên các hệ thống chỉ tiêu và tiêu chí được xây dựng trên cơ sở mục tiêu phân loại vùng và mục tiêu sử dụng kết quả phân vùng ấy Khi xem xét vùng trên quan điểm là đối tượng của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội thì mỗi vùng đặc trưng bởi các ngành kinh tế, các cơ sở sản xuất, các

Trang 22

10

hoạt động dịch vụ, đặc điểm phân bố và cấu trúc dân cư, các cơ sở hạ tầng sản xuất và

xã hội Các yếu tố đặc trưng này có mối quan hệ liên kết riêng đối với từng vùng, thể hiện tổ chức không gian phát triển kinh tế - xã hội phù hợp của vùng đó Do đó, có nhiều cách tiếp cận để phân vùng và nhiều vùng nằm chồng lấn lên nhau tại một khu vực địa lý

sử dụng tài nguyên mà còn đang đe dọa nghiêm trọng đến cân bằng môi trường sinh thái ở Việt Nam

Trước những tác động tiêu cực khó lường trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, cách tiếp cận, hình thức các loại hình phân vùng ở nước ta hiện nay đang dần bộc

lộ những hạn chế, bất cập Các quy hoạch phát triển chưa thực sự dựa trên tiềm năng tài nguyên, chưa đánh giá sức chịu tải của môi trường sinh thái Sự chú trọng phát triển kinh tế đang gây ra những xung đột trong việc lựa chọn các lợi ích, lựa chọn giữa phát triển và bảo tồn Do đó, bên cạnh các loại hình phân vùng hiện tại, cần thiết phải bổ sung loại hình phân vùng chất lượng đất nông nghiệp

Trang 23

11

c Phân vùng chất lượng môi trường

Vùng chất lượng môi trường là một bộ phận thuộc cấp phân vị của lãnh thổ, có một số thuộc tính xác định về chất lượng môi trường để phân biệt nó với vùng khác [24]

Phân vùng chất lượng môi trường về bản chất là tổ chức không gian lãnh thổ dựa trên sự đồng nhất về chất lượng tính thống nhất nội tại của vùng cho mục đích khai thác, sử dụng, bảo vệ và bảo tồn sao cho phù hợp với sự phân hóa tự nhiên của các loại đất của vùng

Phân vùng chất lượng môi trường của một đia phương (tỉnh thành, huyện thị, ) căn cứ vào việc nghiên cứu những vấn đề về chất lượng môi trường để phân chia lãnh thổ của địa phương đó thành những đơn vị vùng và tiểu vùng với những đặc trưng riêng của chúng, phản ảnh thực tế khách quan về môi trường, sinh thái, hiện trạng và tiềm năng sử dụng lãnh thổ

Phân vùng môi trường của một địa phương nhằm xác lập những cơ sở khoa học

và thực tiễn, phục vụ trực tiếp việc xây dựng quy hoạch môi trường và quản lý tài nguyên, môi trường và định hướng phát triển trên địa bàn địa phương đó một cách có hiệu quả

Quá trình phân vùng tuy có sự khác biệt tương đối về nhiệm vụ nhưng mang các

đặc trưng chung nhất Đó là phân vùng phải mang tính toàn vẹn lãnh thổ (không lặp lại) trên một lãnh thổ có ranh giới ước định (có thể xác định cụ thể hoặc không) thể

hiện tính chủ quan trong mục đích phân vùng (theo mong muốn của con người) Đồng

thời, phân vùng phải xây dựng trên các nguyên tắc cơ bản về sự đồng nhất tương đối

trong sự phân hóa các chỉ tiêu phân vùng và các nhân tố trội trong xem xét các biểu hiện mang tính ổn định của hệ sinh thái tự nhiên; nhưng vẫn đảm bảo sự toàn vẹn của lãnh thổ trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường của vùng Như vậy,

phân vùng hướng tới quá trình chia nhỏ các khoanh vi để xác lập mục đích sử dụng đất hợp lý; mà thực tế là một hệ thống cho phép ngăn ngừa các tác động bất lợi của môi trường tới hoạt động phát triển của vùng (cư trú, công nghiệp, giải trí hay thương mại, ) [54 ]

Trang 24

12

1.2.2 Định hướng của quy hoạch sử dụng môi trường đất

Định hướng sử dụng đất phục vụ phát triển đất nông nghiệp thực chất là sự sắp

xếp và phân chia lại sử dụng đất theo hướng bền vững [15] “Quy hoạch sử dụng đất là

phương tiện trợ giúp ra quyết định sử dụng đất thông qua đánh giá tự động về tính tự chọn mô hình trong sử dụng đất Trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai”

(Dent, 1988, 1993)

Quy hoạch sử dụng đất bền vững là mục tiêu cần đạt được của mỗi quốc gia và

mỗi địa phương UNCED (1992) và FAO (1995) cho rằng “Quy hoạch sử dụng đất là

một tiến trình xây dựng những quyết định để đưa đến những hành động cho việc phân chia đất đai cho sử dụng nhằm cung cấp những cái có lợi bền vững nhất” [34, 36]

Về quan điểm khả năng phát triển bền vững quy hoạch sử dụng đất thực hiện các chức năng:

- Hướng dẫn quyết định trong sử dụng đất đai để nguồn tài nguyên đó được khai thác có lợi cho con người, nhưng đồng thời cũng được bảo vệ cho tương lai

- Cung cấp những thông tin liên quan đến nhu cầu và sự chấp nhận của người dân, tiềm năng thực tại của nguồn tài nguyên cũng như những tác động đến môi trường

có thể có

Các mục tiêu yêu cầu cần đạt được của một dự án quy hoạch bền vững:

- Tính hiệu quả: Nghĩa là khai thác được tiềm năng đất đai, đạt hiệu quả kinh tế

cao phục vụ phát triển, được cộng đồng và chính quyền chấp nhận, đáp ứng được ý nghĩa cho mục đích riêng biệt

- Tính bình đẳng và được chấp nhận: Giải quyết được các vấn đề xã hội và cộng

đồng, công bằng trong phân chia nguồn tài nguyên

- Tính bền vững: Tạo ra được mối liên kết giữa sản xuất và môi trường, duy trì

lâu dài, không hủy hoại nguồn tài nguyên tại chỗ

Quy hoạch sử dụng đất là công cụ giúp quản lý sử dụng tài nguyên đất một cách hợp lý Tuy nhiên trong quá trình thực hiện quy hoạch sử dụng đất, các tác động về xã hội cũng như môi trường có thể xảy ra khi thực hiện phân bổ diện tích đất và chuyển

Trang 25

13

đổi mục đích sử dụng đất Do đó, vấn đề sử dụng bền vững tài nguyên đất hiện nay chỉ

có thể đạt được thông qua gắn kết các vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường vào trong quy hoạch sử dụng đất Vai trò của quy hoạch sử dụng đất phải được mở rộng hơn, bao trùm cả các yếu tố môi trường, biến đổi khí hậu, kinh tế - xã hội cũng như tạo điều kiện để các bên chịu ảnh hưởng từ các thay đổi trong sử dụng đất có thể tham gia vào quá trình quy hoạch Việc gia nhập WTO cũng đòi hỏi phải điều chỉnh lại cách tiếp cận của quy hoạch sử dụng đất cho phù hợp với trình độ phát triển cũng như cách tiếp cận trong quy hoạch sử dụng đất sao cho hài hòa với xu thế toàn cầu hóa Tạo ra một hành lang để quản lý quá trình phát triển đất nước một cách hợp lý, bền vững Xu hướng lập quy hoạch sử dụng đất từ cách tiếp cận tĩnh và nặng về mô tả sang một cách tiếp cận mới mang nhiều tính chiến lược và thiên về phân tích trở nên cần thiết hơn [12]

Vai trò chủ yếu của quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam là phân chia diện tích đất cho những mục tiêu sử dụng phát triển khác nhau của các đối tượng sử dụng đất công cộng và tư nhân Quy hoạch sử dụng đất hiện tại ít có sự phối hợp giữa các ngành, các đối tượng sử dụng đất nên thiếu khả năng đáp ứng các điều kiện phát triển của địa phương Đặc biệt đối với các vùng dân cư tập trung, các vùng đồng bằng châu thổ và vùng ven biển rất nhạy cảm với sự thay đổi trong sử dụng đất hoặc các tác động cho biến đổi khí hậu Sự phát triển nhanh chóng tại các khu vực này kéo theo những suy thoái của tài nguyên, suy giảm đa dạng sinh học và làm tăng nguy cơ ảnh hưởng tới các cơ sở hạ tầng cũng như việc sử dụng đất hiện tại và trong tương lai [1]

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian gần đây diễn ra với tốc độ rất nhanh làm tăng áp lực đối với tài nguyên đất đai và tài nguyên nước Điều chỉnh lại cách tiếp cận đối với quy hoạch sử dụng đất cho phù hợp với tốc độ phát triển cùng với sự thay đổi nhanh chóng của các ngành kinh tế là nhu cầu rất bức thiết Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu cũng đang là một thách thức mới đối với quá trình phát triển của Việt Nam, bao gồm các tác động tổng hợp đến cuộc sống, sinh kế, tài nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ tầng kỹ thuật và nền kinh tế Một trong những mục tiêu cụ thể của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu là tích hợp được yếu tố

Trang 26

14

biến đổi khí hậu trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành và địa phương

1.2.3 Nguyên tắc phân vùng chất lượng môi trường

Phân vùng chất lượng môi trường phục vụ phát triển nông nghiệp là một nhiệm

vụ hoàn toàn mới Biến đổi khí hậu toàn cầu đang ngày càng đe dọa tới phát triển kinh

tế - xã hội và an toàn sản xuất ở mọi quy mô lãnh thổ, các quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

và tổ chức không gian lãnh thổ có sự phân vùng chất lượng môi trường phục vụ phát triển bền vững được coi là rất cần thiết

Phân vùng chất lượng môi trường phải nghiên cứu kỹ lưỡng các kỳ quy hoạch không gian trước đó, mức độ sử dụng hợp lý cho các vùng, nghiên cứu khả năng chống chịu của từng vùng, hiện trạng các hình thức sản xuất từ các kỳ quy hoạch trước, từ đó phân vùng chất lượng môi trường một cách thích hợp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu cấp cộng đồng Điều này không những giúp cải thiện trong việc hoạch định chính sách theo tiếp cận từ trên xuống (top-down) mà còn giúp phát triển theo tiếp cận từ dưới lên (bottom-up) dựa vào cộng đồng với các phương án thích ứng phù hợp

Phân vùng chất lượng môi trường đất phục vụ định hướng tổ chức các không gian phát triển kinh tế - xã hội và các giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu cho một tỉnh

có những đặc thù riêng biệt

Do đó, trong phạm vi đề tài, nghiên cứu phân vùng chất lượng môi trường đất nông nghiệp tỉnh Nam Định được thực hiện theo các bước sau:

 Bước 1:

- Xác định mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài;

- Thu thập và đánh giá, tổng hợp các tài liệu, số liệu liên quan đến định hướng nghiên cứu;

- Điều tra khảo sát thực địa, thu thập tài liệu, số liệu tại địa phương

Trang 27

15

 Bước 2:

- Nghiên cứu, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sử dụng đất của địa phương trên cơ sở thực địa và tài liệu thu thập được;

- Xây dựng bản đồ phân vùng đất sản xuất nông nghiệp;

- Xây dựng bản đồ phân vùng kết hợp đánh giá chất lượng đất từng vùng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Nam Định, từ đó xây dựng bản đồ phân vùng quy hoạch trên cơ sở các bản đồ hợp phần

Bước 3:

- Đề xuất các giải pháp khả thi

Trang 28

16

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tài nguyên đất đai

Theo số liệu thống kê đất đai năm 2017, tỉnh Nam Định có diện tích tự nhiên là 166.854,0 ha; phân bố trên địa bàn 9 huyện và 1 thành phố Đơn vị có diện tích lớn nhất là huyện Nghĩa Hưng 25.888,8 ha; chiếm 15,4% diện tích toàn tỉnh và đơn vị có diện tích nhỏ nhất là thành phố Nam Định 4.641,4 ha; chiếm 2,8% diện tích toàn tỉnh Tổng diện tích đất đã sử dụng vào các mục đích nông nghiệp, phi nông nghiệp là 163.591,10 ha; chiếm 98,04% diện tích tự nhiên của tỉnh Diện tích đất chưa sử dụng

là 3.262,90 ha; chiếm 1,96 % diện tích tự nhiên của tỉnh

Tỉnh Nam Định có 2 trong số 5 khu vực đa dạng sinh học được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng, phạm vi do UNESCO công nhận gồm 2 tiểu vùng nằm ở cửa Ba Lạt và cửa Đáy gồm: Vườn quốc gia Xuân Thủy thuộc các xã Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân của huyện Giao Thủy

và Rừng phòng hộ ven biển Nghĩa Hưng thuộc các xã: Nghĩa Thắng, Nghĩa Phúc, Nghĩa Hải, Nghĩa Lợi; thị trấn Rạng Đông, xã Nam Điền huyện Nghĩa Hưng

Khu Ramsar Xuân Thủy được công nhận vào năm 1989, là khu đầu tiên ở Việt Nam, cũng là khu Ramsar đầu tiên của Đông Nam Á và thứ 50 của thế giới Hệ động vật, thực vật tại đây khá phong phú với 105 loài thực vật bậc cao có mạch; trên 200 loài chim trong đó có trên 100 loài chim di trú và 50 loài chim nước, đặc biệt có nhiều loài được ghi vào Sách Đỏ thế giới như cò thìa mặt đen, mòng biển, rẽ mỏ thìa, cò trắng bắc… Có gần 500 loài thủy sinh trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao như cua bể, tôm he, cá tráp… có khoảng 10 loại thú trên cạn như dơi, chuột, cày, cáo và 3 loài quý hiếm dưới nước là rái cá, cá heo, cá đầu ông sư Sinh cảnh đặc sắc nơi đây là những cánh rừng ngập mặn rộng hàng ngàn ha, đầm lầy mặn, bãi bồi ven biển và cửa sông Những cánh rừng này được ví như bức tường xanh bảo vệ đê biển, làng xóm khỏi bị tàn phá bởi gió bão, nước biển dâng và cả thảm hoạ sóng thần nếu xảy ra

Trang 29

2.1.2 Đánh giá chung địa bàn nghiên cứu

Trang 30

tế của tỉnh với các địa phương khác

- Nam Định là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, có tinh thần yêu nước và người dân cần cù chịu khó gắn bó với nông nghiệp

- Hệ thống giáo dục - đào tạo phát triển mạnh, đặc biệt là giáo dục phổ thông, đây là cơ sở nền tảng cho các ngành nghề khác phát triển

2.1.2.2 Khó khăn

- Nam Định là tỉnh nông nghiệp với phần lớn dân số tập trung ở nông thôn Tập quán sản xuất nhỏ lẻ, cùng với xuất phát điểm của nền kinh tế còn thấp, kinh tế nông nghiệp vẫn là chủ đạo Quá trình tích tụ ruộng đất diễn ra chậm, quy mô sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân còn nhỏ, đất đai manh mún, hạn chế đến quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn Sản xuất nông nghiệp đang đứng trước sức ép rất lớn của việc giảm diện tích đất canh tác

- Trong sản xuất nông nghiệp chưa hình thành được các vùng nguyên liệu, vùng sản xuất hàng hóa lớn.Đầu tư trực tiếp cho khu vực nông nghiệp nông thôn còn hạn chế

- Chưa khai thác hết các lợi thế của tỉnh, đặc biệt phát triển kinh tế biển, dịch vụ,

Trang 31

Hình 2.2 Sơ đồ vị trí tỉnh Nam Định 2017

(Nguồn: Sở TNMT tỉnh Nam Định)

Trang 32

20

2.2.1.2 Điều kiện tự nhiên

a) Địa hình, địa mạo

- Địa hình: Tỉnh Nam Định có địa hình khá bằng phẳng, xu hướng thấp dần từ

Tây Bắc xuống Đông Nam, có thể chia thành 3 vùng chính:

Vùng ven biển có địa hình tương đối bằng phẳng gồm các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng Vùng này có đất đai phì nhiêu, nhiều tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp ven biển, có bờ biển dài 72 km song bị chia cắt khá mạnh mẽ bởi các cửa sông lớn là cửa Ba Lạt (sông Hồng), cửa Đáy (sông Đáy), cửa Lạch Giang (sông Ninh Cơ) và cửa Hà Lạn (sông Sò) Nhìn chung điều kiện địa hình tạo ra hệ sinh thái động, thực vật khá đa dạng, phong phú đồng thời thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội

Vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên của tỉnh, với điều kiện thổ nhưỡng phù hợp cho phát triển kinh tế nông nghiệp gồm các huyện Vụ Bản, Ý Yên,

Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường Đây là vùng có nhiều khả năng thâm canh phát triển nông nghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp cơ khí và các ngành nghề truyền thống

Vùng trung tâm công nghiệp - dịch vụ thành phố Nam Định có các ngành công nghiệp dệt may, công nghiệp cơ khí, công nghiệp chế biến, các ngành nghề truyền thống, cùng với các ngành dịch vụ tổng hợp, dịch vụ chuyên ngành hình thành và phát triển từ lâu Thành phố Nam Định từng là một trong những trung tâm công nghiệp dệt của cả nước và trung tâm thương mại - dịch vụ, cửa ngõ phía Nam của vùng đồng bằng sông Hồng

- Địa Mạo: Đá mẹ và mẫu chất tham gia vào quá trình hình thành đất ở Nam

Định chủ yếu trầm tích sông, trầm tích biển, trầm tích sông - biển và trầm tích biển - đầm lầy và một số ít đá trầm tích bị biến chất mạnh như Gnaibiotit, phiến Thạch anh - Mica, phiến Granit hoá tạo lớp thổ bì đồi núi ở Vụ Bản, Ý Yên

b) Khí hậu, thời tiết

Trang 33

21

Đặc điểm khí hậu Nam Định mang tính chất chung của khí hậu đồng bằng Bắc

Bộ, là khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm, có thời tiết bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông tương đối rõ rệt

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 - 24°C, số tháng có nhiệt độ

trung bình lớn hơn 20°C từ 8 - 9 tháng Mùa đông, nhiệt độ trung bình là 18,9°C, tháng lạnh nhất là tháng Một và tháng Hai Mùa hè, nhiệt độ trung bình là 27°C, tháng nóng nhất là tháng Bảy và tháng Tám Tổng tích ôn nhiệt từ 8.550 - 8.650°C/năm

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình năm 80 - 85%, giữa tháng

có độ ẩm lớn nhất và nhỏ nhất không chênh lệch nhiều, tháng có độ ẩm cao nhất là 90% (tháng Ba), thấp nhất là 81% (tháng Mười Một)

- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.700 - 1.800 mm, phân bố

tương đối đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ của tỉnh Lượng mưa phân bổ không đều trong năm, mùa mưa từ tháng Năm đến tháng Mười, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm, các tháng mưa nhiều là tháng Bảy, Tám, Chín Do lượng mưa nhiều, tập trung nên gây ngập úng, làm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, nhất là khi mưa lớn kết hợp với triều cường, nước sông lên cao Mùa khô từ tháng Mười Một đến tháng Tư năm sau, lượng mưa chiếm 20% lượng mưa cả năm Các tháng ít mưa nhất là tháng Mười Hai, tháng Một, tháng Hai, có tháng hầu như không có mưa Tuy nhiên, có những năm mưa muộn ảnh hưởng đến việc gieo trồng cây vụ đông và mưa sớm ảnh hưởng đến thu hoạch vụ chiêm xuân

- Nắng: Hàng năm trung bình có tới 250 ngày nắng, tổng số giờ nắng từ 1.650 -

1.700 giờ Vụ hè thu có số giờ nắng cao khoảng 1.100 - 1.200 giờ, chiếm 70% số giờ nắng trong năm

- Gió: Hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, tốc độ gió trung bình cả năm là 2

- 2,3 m/s Mùa đông hướng gió thịnh hành là gió Đông Bắc với tần suất 60 - 70%, tốc

độ gió trung bình 2,4 - 2,6 m/s, những tháng cuối mùa đông, gió có xu hướng chuyển dần về phía đông Mùa hè hướng gió thịnh hành là gió Đông Nam, với tần suất 50 -70%, tốc độ gió trung bình 1,9 - 2,2 m/s, tốc độ gió cực đại (khi có bão) là 40 m/s, đầu mùa hạ thường xuất hiện các đợt gió tây khô nóng gây tác động xấu đến cây trồng

Trang 34

22

Ngoài ra vùng ven biển còn chịu ảnh hưởng của gió đất (hướng thịnh hành là Tây và Tây Nam), gió biển (hướng thịnh hành là Đông Nam)

- Bão: Do nằm trong vùng Vịnh Bắc Bộ, nên hàng năm thường chịu ảnh hưởng

của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4 - 6 cơn/năm

Nhìn chung, khí hậu thời tiết thuận lợi cho môi trường sống của con người, sự phát triển của hệ sinh thái động, thực vật và du lịch Bên cạnh những mặt thuận lợi, các thông số về khí hậu thời tiết cũng phản ánh khó khăn ảnh hưởng cho sản xuất và đời sống, thể hiện thông qua nhiều nét dị thường như có nắng nóng nhiều hơn, về mùa đông thì rét đậm hơn, mùa hè cũng đến sớm hơn, các cơn bão vừa xuất hiện nhiều hơn vừa có những đường đi khá “kỳ lạ”, lĩnh vực chịu tác động mạnh mẽ nhất vẫn là nông nghiệp, thủy lợi, thủy sản, diêm nghiệp, lâm nghiệp và đặc biệt là không đáp ứng được yêu cầu tăng vụ và tăng năng suất cây trồng đảm bảo an ninh lương thực Trong những năm tới cần nghiên cứu xây dựng hệ thống thuỷ lợi để giữ nước và phân phối nước là nhiệm vụ đặt ra hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

c) Thủy văn, sông ngòi

Tỉnh Nam Định có nhiều con sông chảy qua, song chế độ thuỷ văn phụ thuộc vào

2 sông chính là sông Hồng và sông Đáy

Sông Hồng chảy theo hướng từ Đông Bắc xuống Tây Nam đổ ra biển ở cửa Ba Lạt, đoạn chảy qua Nam Định (là ranh giới tự nhiên với tỉnh Thái Bình) dài khoảng 72

km, rộng trung bình khoảng 700 - 800 m Lưu lượng trung bình nhiều năm ở đoạn trung lưu 3.800 m³/s, lưu lượng cực đại 37.800 m³/s, lưu lượng cực tiểu 440 m³/s Sông Hồng góp phần quan trọng trong sinh hoạt đời sống cũng như trong sản xuất, đem phù

sa màu mỡ cho đất đai, đồng thời bồi đắp và mở rộng vùng châu thổ thuộc hai tỉnh Thái Bình, Nam Định Nguồn cá bột của sông Hồng đã cung cấp giống đáng kể cho nghề nuôi cá nước ngọt ở đồng bằng Bắc Bộ

Sông Đáy chảy qua Nam Định (là ranh giới tự nhiên với tỉnh Ninh Bình) có chiều dài khoảng 82 km, sông chảy khúc khuỷu, lòng sông sâu và dốc, lũ sông Đáy lên xuống rất nhanh vào mùa mưa lũ do sông phải tiếp nhận nguồn nước sả lũ từ Hòa Bình

Trang 35

Sông Đào là chi lưu của sông Hồng bắt nguồn từ phía Nam cầu Tân Đệ qua thành phố Nam Định, huyện Nam Trực, Vụ Bản, Ý Yên, Nghĩa Hưng gặp sông Đáy ở

xã Hoàng Nam huyện Nghĩa Hưng, có chiều dài khoảng 34 km, rộng trung bình 500 -

600 m Sông Đào là nguồn cung cấp nước cho thành phố Nam Định khoảng 50.000 m³/ngày đêm, trong đó 25.000 m³ phục vụ cho sinh hoạt còn lại phục vụ cho công nghiệp

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có hệ thống sông nhỏ như sông Sắt, sông Chanh, sông Châu Thành, Sông Rõng, Sông Quýt, Sông Sò, Sông Múc 2, Sông Cồn Nhất, Sông Ninh Mỹ và Sông Mỹ Đô có mức tác động thuỷ văn thấp hơn so với sông Hồng và sông Đáy, nhưng chúng có ý nghĩa rất lớn về thủy lợi Hệ thống sông này kết hợp với các tuyến kênh mương chính và hệ thống trạm bơm cung cấp nước tưới cho đồng ruộng, tạo khả năng tiêu úng về mùa mưa

- Thủy triều: Thủy triều vùng ven biển Nam Định thuộc chế độ nhật triều, biên

độ triều trung bình từ 1,6 - 1,7 m, lớn nhất là 3,3 m, nhỏ nhất là 0,1 m Ảnh hưởng của thủy triều thể hiện rõ nhất ở sự xâm nhập mặn và dâng nước ở các khu vực cửa sông, ven biển Thông qua hệ thống sông ngòi, kênh mương, chế độ nhật triều đã giúp quá trình thau chua, rửa mặn trên đồng ruộng Thủy triều cũng tác động vào sâu nội địa thông qua hệ thống các cửa sông và kênh mương Dòng chảy của sông Hồng và sông Đáy kết hợp với chế độ nhật triều đã bồi tụ vùng cửa sông, tạo thành những bãi bồi lớn

là Cồn Lu, Cồn Ngạn (Giao Thuỷ) và vùng Cồn Trời, Cồn Mờ (Nghĩa Hưng)

2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2.2.1 Dân số, lao động

a) Dân số

Trang 36

, tiếp đến là các huyện Xuân Trường, Trực Ninh, huyện Nam Trực

- Quy mô dân số thành thị trong những năm gần đây tăng nhanh, đây là chiều hướng phù hợp với quá trình đô thị hoá đang phát triển Tuy nhiên về cơ cấu dân số thành thị của tỉnh vẫn còn thấp (18,2% dân số toàn tỉnh) so với vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước, biểu hiện mức độ phát triển công nghiệp và dịch vụ của tỉnh còn nhiều hạn chế

b) Lao động, viêc làm

Dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh Nam Định là 1.092.318 người (từ 15 tuổi trở lên) Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc có 1.066.752 người, chiếm 57,64% dân số toàn tỉnh Số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế nhà nước

có 58.651 người, chiếm 5,50 % tổng số lao động, số lao động đang làm việc tại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 16.504 người, chiếm 1,55% tổng số lao động Cơ cấu lao động có bước chuyển dịch theo hướng giảm lao động trong nông, lâm, ngư nghiệp, tăng tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ

Công tác đào tạo nghề và hệ thống cơ sở dạy nghề được quan tâm, nhất là ở khu vực nông thôn Các chương trình vay vốn giải quyết việc làm, vay đi xuất khẩu lao động, cho học sinh, sinh viên vay đi học được triển khai tích cực

Bảng 1 Thống kê dân số các năm 2005 - 2010- 2015-2017

Trang 37

- Đường sắt: Đường sắt Bắc Nam qua địa bàn tỉnh 42 km, tuyến đường này đã

được nâng cấp Các ga Cầu Họ, Đặng Xá, Nam Định, Trình Xuyên, Gôi, Cát Đằng đã được xây dựng, khôi phục đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại

- Đường bộ: Hệ thống đường bộ bao gồm các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ và

thôn xóm với tổng chiều dài 7.823 km, tổng chiều dài hệ thống giao thông đường bộ là 2.717,5 km (không tính đường thôn, xóm và đường chuyên dùng) bao gồm: Quốc lộ

10 và 21 có tổng chiều dài 108 km, đã được nâng cấp với tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng Đường cao tốc Bắc Nam phía đông đoạn Cầu Giẽ - Ninh Bình đi qua địa bàn tỉnh với tổng chiều dài 12 km Hệ thống đường tỉnh lộ có tổng chiều dài 289 km phục vụ cho giao thông nội tỉnh, hầu hết đường đạt tiêu chuẩn cấp VI đồng bằng, nền rộng 6 - 12 m, mặt rộng 3,5 - 5 m rải nhựa Đường giao thông nông thôn (GTNT) bao gồm đường huyện, đường xã và đường thôn xóm, tổng chiều dài đường GTNT là 7.318,7 km, trong đó đường huyện 351,9 km, đường xã - liên xã 1.860,6 km và đường thôn xóm 5.106,2 km được phân theo loại mặt đường như sau: Đường đô thị có tổng chiều dài là 105,3 km đã được rải nhựa 100% nhưng hầu hết các tuyến đường đều có quy mô nhỏ, mặt đường hẹp, vỉa hè, đèn chiếu sáng, dải phân cách, chất lượng mặt đường và hệ thống thoát nước đang được nâng cấp

Trang 38

26

- Đường thuỷ: Tổng chiều dài sông kênh của tỉnh Nam Định là 519 km (không kể

1.130 km kênh nội đồng), trong đó Trung ương quản lý 240 km và địa phương quản lý

279 km

2.2.2.3 Thủy lợi

- Hệ thống đê điều: Hệ thống đê điều đã được hình thành từ lâu, đã từng bước được bổ sung, tu sửa và nâng cấp, đến nay đã có có 663 km đê Trong đó đê cấp I đến cấp III: 365 km gồm 91 km đê biển; 274 km đê sông; 298 km đê dưới cấp III Có xấp

xỉ 100 km kè bảo vệ tuyến đê sông và đê biển Kè: Trên toàn hệ thống có 84 kè với tổng chiều dài 88 km, trong đó có 61 kè sông với chiều dài 61 km và 23 kè biển với chiều dài 27 km Cống: Tổng số có 282 cống qua đê (216 cống qua đê cấp I đến cấp III; 66 cống qua đê dưới cấp III)

- Hệ thống thuỷ nông: Toàn tỉnh có 5 hệ thống công trình thuỷ lợi do 4 công ty TNHH 1 thành viên KTCTTL quản lý khai thác, tưới tiêu cơ bản bằng trọng lực và trọng lực Toàn bộ hệ thống hiện có: 299 kênh cấp I, tổng chiều dài: 1.210 km (kênh tưới 666 km, kênh tiêu 544 km); 3.287 kênh cấp II, tổng chiều dài: 3.915 km (kênh tưới 2.104 km, kênh tiêu 1.811 km); 35.272 kênh cấp III, tổng chiều dài 9.394 km; 7 trạm bơm lớn do công ty TNHH 1 thành viên KTCTTL Bắc Nam Hà quản lý (TB Hữu

Bị, Cốc Thành, sông Chanh, Vĩnh trị I, Vĩnh trị II, Cổ Đam, Quỹ Độ) với 72, máy công suất 4.000 - 32.000 m3/h; 28 trạm bơm do các công ty TNHH 1 thành viên KTCT Thuỷ lợi của Tỉnh quản lý với 166 máy công suất 1.000 - 4.000 m3/h và 816 trạm bơm nhỏ do các HTX mới bàn giao cho công ty.Với hệ thống thuỷ nông này đã đáp ứng tương đối kịp thời cho việc tưới tiêu toàn bộ diện tích canh tác của tỉnh

2.2.2.4 Cơ sở y tế, giáo dục đào tạo

- Cơ sở y tế: Năm 2017, tổng số cơ sở y tế của tỉnh là 250 cơ sở; trong đó: 21

bệnh viện, 229 trạm y tế xã, phường Tổng số giường bệnh 4.908 giường (bệnh viện 3.540 giường; trạm y tế xã, phường 1.368 giường) Tỷ lệ bình quân giường bệnh của tỉnh là 26,6 giường/1 vạn dân Đội ngũ thầy thuốc và cán bộ được đào tạo cơ bản, có

Trang 39

27

trình độ Ngành y có 4.222 người, trong đó số bác sỹ và trên đại học 1.065 người; Ngành dược có 1.298 người, trong đó dược sỹ cao cấp 128 người

- Giáo dục đào tạo: Toàn tỉnh có 266 trường mẫu giáo, mầm non, trong đó 262

trường là công lập, 4 trường ngoài công lập, với 3.497 lớp, 98.031 học sinh và 6.632 giáo viên Hiện tại cơ sở vật chất của ngành đã được nâng cấp, trường lớp học khang trang đáp ứng nhu cầu dạy học để các cháu có điều kiện phát triển đầy đủ về thể chất khi còn nhỏ.Giáo dục phổ thông: Toàn tỉnh có 592 trường phổ thông, 8.871 lớp học, 300.388 học sinh và 16.508 giáo viên Số cơ sở giáo dục chuyên nghiệp của Nam Định hiện có 4 trường Đại học, 5 trường Cao đẳng, 12 trường Trung học chuyên nghiệp Tổng số giáo viên có 2.804 người; trong đó giáo viên có trình độ trên đại học 1.077 người, trình độ đại học, cao đẳng 1.667 người, trình độ khác 60 người Số học sinh đang theo học tại các trường này là 43.940 học sinh

2.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu về phân vùng chất lượng đất tỉnh Nam Định được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 04 năm 2018 đến tháng 11 năm 2018

2.4 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp thống kê, tổng hợp, nghiên cứu và kế thừa tài liệu, số liệu:

Thu thập thông tin, số liệu, hệ thống lại, xử lý, phân tích, đánh giá tất cả các tài liệu, số liệu có liên quan đến khu vực, lĩnh vực nghiên cứu Số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội là những thông tin khái quát ban đầu về khu vực nghiên cứu Ngoài ra đề tài sẽ kế thừa những vấn đề, kết quả, lý luận khoa học, quan điểm tiếp cận vốn có của các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu khác Bên cạnh

đó, để việc thực hiện các nội dung nghiên cứu theo một chuẩn mẫu định sẵn, các loại bản đồ, tài liệu, cần thu thập đã được hệ thống hóa theo đề cương vạch ra từ trước nhằm tránh thiếu sót những dữ liệu cần thiết cho bước tổng hợp sau này

* Phương pháp chuyên gia

Được sử dụng nhằm thu thập các thông tin, ý kiến đánh giá của các chuyên gia nghiên cứu về đất, phân bón và cây trồng thông qua hội thảo khoa học, tọa đàm và

Trang 40

28

phỏng vấn Ngoài thu thập thông tin, phương pháp này còn cho phép xác minh, kiểm tra mức độ tin cậy của các tài liệu - sự kiện được thu thập qua các phương pháp khác

* Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa:

Trong quá trình thực hiện luận văn, học viên đã tiến hành khảo sát thực tế để có cái nhìn tồng quan về đặc điểm, hiện trạng kinh tế - xã hội và tài nguyên môi trường của tỉnh Nam Định nhằm phục vụ việc phân tích, đánh giá và đưa ra các kiến nghị, giải pháp để sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của tỉnh Nam Định

* Phương pháp xây dựng bản đồ lớp phủ mặt đất bằng GIS và viễn thám

Quy trình ứng dụng công nghệ GIS với phần mềm ArcGIS trong đánh giá đất đai không sử dụng phần mềm đánh giá đất tự động mà đưa ra giải pháp chỉ sử dụng các công cụ và chức năng phần mềm ArcGIS để thực hiện mục tiêu phân chia loại đất đai

Cấu trúc và chức năng của GIS

Hệ thống thông tin địa lý (GIS) có khả năng truy cập, tìm kiếm, xử lý phân tích, truy xuất dữ liệu địa lý hoặc dữ liệu không gian nhằm hỗ trợ quy hoạch, quản lý tài nguyên

GIS làm cho dữ liệu không gian phong phú hơn, hiện chỉnh và cập nhật dễ dàng hơn,tìm kiếm,phát triển,hiển thị dễ dàng,dữ liệu có thể trao đổi,chia sẻ giúp lập kế hoạch dễ dàng hơn Một hệ thống GIS hoàn chỉnh được kết hợp bởi năm thành phần chính là: phần cứng, phần mềm, dữ liệu, con người và phương pháp

Hình 1.2 Các thành phần của GIS

Ngày đăng: 05/04/2020, 21:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm