1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp quần đảo hoàng sa và trường sa của việt nam tại các cơ quan tài phán quốc tế

112 251 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp chủ quyền quốc gia đối với biển đảo...21 Chương 2: CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÁ DIẾN

Trang 2

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Kiều Thị Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng, hình

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH TRANH CHẤP VÀ GIẢI

QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM 7 1.1 Tổng quan vị trí địa chiến lược và tầm quan trọng của giải quyết tranh

chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam 7 1.1.1 Vị trí địa chiến lược của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 7 1.1.2 Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp chủ quyền quần

đảo Hoàng Sa và Trường Sa 12 1.2 Tình hình tranh chấp và giải quyết tranh chấp chủ quyền quần

đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam 14 1.2.1 Hiện trạng tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường

Sa của Việt Nam 14 1.2.2 Hiện trạng giải quyết tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và

Trường Sa 19 1.2.3 Cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp chủ quyền quốc gia đối với biển

đảo 21 Chương 2: CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ GIẢI

QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM 27 2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại các cơ quan tài phán quốc tế 27

Trang 5

tế 27 2.1.2 Phân loại các cơ quan tài phán quốc tế 28 2.1.3 Đặc điểm, vai trò của cơ quan tài phán quốc tế 29

Trang 6

2.2 Các cơ quan tài phán quốc tế trong giải quyết tranh chấp chủ

quyền biển, đảo và vấn đề áp dụng cho tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam 31 2.2.1 Tòa án Công lý quốc tế và tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng

Sa, Trường Sa của Việt Nam 32 2.2.2 Tòa án quốc tế về Luật biển và tranh chấp chủ quyền quần đảo

Hoàng Sa, Trường Sa 48 2.2.3 Tòa trọng tài theo Phụ lục VII Công ước Luật biển 1982 và tranh

chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa 71 2.2.4 Tòa trọng tài theo Phụ lục VIII Công ước Luật biển 1982 và tranh

chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa 77 2.2.5 Giải quyết tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa của Việt Nam tại tòa Trọng tài thường trực Lahay 81 Chương 3: GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM TRONG GIẢI QUYẾT TRANH

CHẤP CHỦ QUYỀN QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA TẠI CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ 93 3.1 Giải pháp trong vấn đề lựa chọn cơ quan tài phán quốc tế giải

quyết tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 93 3.2 Giải pháp sử dụng hiệu quả các cơ quan tài phán quốc tế nhằm

đấu tranh bảo vệ chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa 93 3.2.1 Vấn đề về thẩm quyền 93 3.2.2 Vấn đề xác định, lựa chọn đối tượng tranh chấp và mục tiêu giải

quyết tranh chấp 94 3.2.3 Vấn đề tham gia vào thủ tục tố tụng tại các cơ quan tài phán quốc

tế 95 3.2.4 Vấn đề nâng cao khả năng và nội lực của Việt Nam trong sử dụng

các cơ quan tài phán quốc tế giải quyết tranh chấp 98 KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ICJ : Tòa án Công lý quốc tế

IMO : Tổ chức hàng hải quốc tế

ITLOS : Tòa án quốc tế về Luật biển

PCA : Tòa trọng tài thường trực quốc tế LaHaye

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa nói chung cũng như Biển Đông là mộtđiểm nóng về tranh chấp trong vấn đề chủ quyền biển, đảo Quần đảo Hoàng Sacủa Việt Nam là đối tượng tranh chấp của Trung Quốc, Đài Loan, trong khi Quầnđảo Trường Sa của Việt Nam lại là đối tượng tranh chấp đa phương của TrungQuốc, Philippines, Malaysia, Brunei và một thực thể quốc tế đặc biệt – Đài Loan.Nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp này là do sự cùng tiến của hai quá trình pháttriển luật quốc tế với các quy định cụ thể nhằm tối đa hóa chủ quyền của quốc giaven biển, và sự tăng cường ý thức tiến ra biển, làm chủ biển của các quốc giatrước hàng loạt thách thức về phát triển kinh tế cũng như sức ép dân số, vấn đềchính trị nội bộ, Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân chủ chốt khiến tìnhhình Biển Đông ngày càng dậy sóng, leo thang căng thẳng và nguy cơ xung độttrong những năm gần đây là việc thể hiện tham vọng mở rộng lãnh thổ biển bấtchấp pháp luật quốc tế của Trung Quốc và hàng loạt hành động trên mọi mặt trậnkinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự, văn hóa của quốc gia này để hiện thực hóayêu sách ngông cuồng – bá chủ Biển Đông, xoay trục cán cân quyền lực vùngnhằm giảm bớt đáng kể tầm ảnh hưởng của Mỹ và các nước đồng minh tại BiểnĐông và Châu Á Thái Bình Dương, đồng thời với đó là quá trình củng cố khôngngừng sức mạnh, vị thế duy nhất và hoàn toàn của Trung Quốc ở Biển Đông trước

Mỹ và các cường quốc trong, ngoài khu vực

Tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữa ViệtNam và các nước, đặc biệt và chủ yếu là với Trung Quốc đã kéo dài nhiều năm,nhưng trở nên căng thẳng trên mọi trận tuyến từ ngoại giao chính trị đến quân sự,pháp luật trong bối cảnh hiện nay Trong khi Việt Nam và một số quốc gia liên quanluôn giữ vững quan điểm giải quyết mọi vấn đề trên cơ sở pháp luật quốc tế và hòabình thì Trung Quốc lại có một loạt những hành động chứng tỏ sự đi ngược với cáccam kết quốc tế, với quan điểm chung của cộng đồng quốc tế và các quốc gia trong

Trang 10

khu vực, vi phạm nghiêm trọng tới sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Hàng loạtcác động thái của quốc gia này đang làm tách rời một bộ phận lãnh thổ hợp phápcủa Việt Nam một cách vô căn cứ, cụ thể như: dùng vũ lực chiếm giữ quần đảoHoàng Sa (năm 1956, 1974); tập trận trên khu vực quần đảo Trường Sa; chống lạiviệc thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hợp pháp của tàuthuyền Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; thành lập khu vựchành chính cùng các hoạt động quân sự ở nơi gọi là “thành phố Tam Sa”; hay gầnđây nhất là hạ đặt trái phép giàn khoan HD-981 trong vùng biển thuộc quyền chủquyền, quyền tài phán của Việt Nam;… Điều quan trọng là Trung Quốc vẫn bấtchấp pháp luật quốc tế và các cam kết quốc tế để duy trì hành động xâm chiếm bấthợp pháp đối với lãnh thổ Việt Nam, từ chối mọi sự can thiệp của quốc tế, yêu cầukhông đa phương hóa việc giải quyết tranh chấp ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sanói riêng và toàn Biển Đông nói chung Vậy nên, vấn đề và cũng là một câu hỏi lớncần giải quyết là “cơ chế nào hay con đường nào để khẳng định chủ quyền chínhđáng và hợp pháp của Việt Nam đối với Trường Sa và Hoàng Sa?”

Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề chủ quyền Việt Nam đối với haiquần đảo Hoàng Sa, Trường Sa dưới góc độ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, Học

viên đã chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của

Việt Nam tại các cơ quan tài phán quốc tế” làm Luận án Thạc Sĩ Luật học của

mình

2 Tình hình nghiên cứu

Từ trước đến nay, vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và chủ quyền biểnđảo nói riêng luôn là phạm vi nghiên cứu đạt được bề dày của sự khai thác về mặtkhoa học pháp lý cũng như các khoa học chuyên ngành khác Đã có rất nhiều cuốnsách chuyên khảo, các công trình nghiên cứu khoa học của các chuyên gia, nhàkhoa học nổi tiếng, có vị thế trong ngành luật quốc tế trong nước và nước ngoài viết

về các vấn đề khác nhau về chủ quyền Việt Nam đối với Trường Sa và Hoàng Sa Cóthể kể ra đây một số những cuốn sách và các bài viết như: “Chính sách, pháp luậtbiển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững” (PGS.TS.Nguyễn Bá Diến chủ

Trang 11

biên, NXB Tư pháp năm 2006); “Tòa án Công lý quốc tế ” (Nguyễn Hồng Thao,NXB Chính trị quốc gia năm 2000); “Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: lãnh thổViệt Nam” (Bộ ngoại giao Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 1984); “Thềm lục địatrong pháp luật quốc tế” (PGS.TS Nguyễn Bá Diến, ThS Nguyễn Hùng cường,xuất bản năm 2012); “Hợp tác khai thác chung trong luật biển quốc tế, những vấn

đề lý luận và thực tiễn” (PGS.TS.Nguyễn Bá Diến chủ biên, NXB Tư pháp năm2009); “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” (Monique-CheillierGendreau, NXB Chính trị quốc gia năm 2008); “Các quần đảo và việc hoạch địnhkhông gian Biển Đông” (Jon M.Vandyke-Trường Luật William S.Richardson, Đạihọc tổng hợp Hawaii và Dale L.Bennett), Bên cạnh đó là các bài viết trên các tạpchí, trong các cuộc hội thảo như: “Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ giữa ViệtNam và các nước láng giềng” (Lê Minh Nghĩa, Tài liệu hội thảo về phát triển khuvực Châu Á Thái Bình dương và tranh chấp trên biển Đông); “Vấn đề phân địnhbiển trong Luật biển quốc tế hiện đại” (PGS.TS Nguyễn Bá Diến, Tạp chí Khoahọc ĐHQGHN, Kinh tế - Luật, số 1/2007); “Cơ chế giải quyết tranh chấp trên biểntheo Công ước luật biển 1982” (PGS.TS Nguyễn Bá Diến, Tạp chí Khoa họcTrường ĐHQGHN); “Trung Quốc và tình hình trên khu vực Biển Đông” (NguyễnHồng Thao, Tập san Biên giới lãnh thổ số 14/2004), “Pháp luật quốc tế và việc vạchbiên giới giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng” (ThS Huỳnh Minh Chính,Tập san biên giới và lãnh thổ số 14/2003),

Đề tài luận văn của Học viên tiếp tục nghiên cứu những vấn đề nhằm khẳngđịnh chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Satuy nhiên theo cách tiếp cận và góc độ khai thác mới Các công trình nghiên cứukhoa học vấn đề chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông và đặc biệt với hai quần đảoHoàng Sa và Trường Sa đã tiếp cận ở góc độ khai thác những căn cứ pháp lý khẳngđịnh chủ quyền biển đảo, hoặc cơ chế giải quyết tranh chấp tại một thiết chế tàiphán nhất định (trọng tài hoặc tòa án) hoặc các biện pháp hòa bình giải quyết tranhchấp nói chung Phạm vi luận văn này sẽ nghiên cứu dưới góc độ luật so sánh cácthiết chế tài phán điển hình trong tranh chấp chủ quyền biển, đảo như Tòa án Công

Trang 12

lý quốc tế, Tòa án quốc tế về Luật biển, Tòa trọng tài Phụ lục VII Công ước Luậtbiển 1982, Tòa trọng tài Phụ lục VIII Công ước Luật biển 1982, Tòa trọng tàithường trực quốc tế LaHaye qua đó đưa ra những đánh giá sát thực về triển vọnggiải quyết tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

Với phạm vi đề tài là “Giải quyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa của Việt Nam tại các cơ quan tài phán quốc tế”, bài luận văn đi vào nghiên cứu,

phân tích, đánh giá tình hình tranh chấp trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa;nghiên cứu, phân tích, đánh giá dưới góc độ luật so sánh các thiết chế tài phán quốc

tế có thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp đối với hai quần đảo để từ đó đưa

ra các lựa chọn tối ưu cho Việt Nam nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền, sự toàn vẹnlãnh thổ quốc gia; tiến gần nhất tới một giải pháp chung mà Trung Quốc thực hiệnnghĩa vụ hợp tác quốc tế, thực hiện cam kết quốc tế, tôn trọng pháp luật quốc tế

Trên cơ sở mục tiêu tổng quát trên, Đề tài đi vào giải quyết các vấn đề cụ

thể về: i) phân tích thực trạng các tranh chấp của Việt Nam với các nước tại khu

vực quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa để hiểu được phạm vi và căn cứ pháp lý

của yêu sách của các bên; ii) tìm hiểu, phân tích các cơ quan tài phán quốc tế chủ

yếu có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và

Trường Sa; iii) từ những phân tích trên, đưa ra giải pháp giải quyết tranh chấp

hiệu quả nhất cho Việt Nam với các nước tại hai quần đảo này, đặc biệt là trongcuộc đối đầu hết sức khó khăn với “người khổng lồ phương Bắc” - Trung Quốcnhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ

4 Tính mới của đề tài

Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chủ quyền Việt Nam đối với quần đảoTrường Sa và Hoàng Sa không phải là đề tài mới Qua khảo sát thực tiễn của họcviên, có khá nhiều sách, bài báo, chuyên đề nghiên cứu khoa học cũng như khóaluận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài này.Tuy nhiên, mỗi bài viết có cách tiếp cận và khai thác các khía cạnh khác nhau củavấn đề chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Trang 13

Trên cơ sở tiếp thu những tri thức chung về khoa học pháp lý cũng như kếthừa một cách hợp lý những giá trị các công trình nghiên cứu khoa học trước về đềtài chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bài luận vănxây dựng và khai thác một khía cạnh riêng với phạm vi đã được xác định là “Giảiquyết tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam tại các cơ quan tàiphán quốc tế” Trong đó, tính mới và sự đóng góp của Luận văn thể hiện ở chỗ:

- Luận văn tiếp cận nghiên cứu một cách tổng thể về lịch sử hình thành, cơcấu tổ chức, thẩm quyền, quy trình thủ tục của các cơ quan tài phán quốc tế dướigóc độ luật so sánh để có được những đánh giá thực tiễn và giá trị đối với mỗi cơchế, từ đó rút ra đánh giá, kết luận về các triển vọng áp dụng hiệu quả nhất chotranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

- Đề xuất các giải pháp cụ thể cho Việt Nam trong giải quyết tranh chấp chủquyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại các cơ quan tài phán quốc tế

- Dưới góc độ là một công trình nghiên cứu khoa học, đề tài góp phần làmsáng tỏ hơn các căn cứ pháp lý trong việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam đối vớiTrường Sa, Hoàng Sa nói riêng và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam nói chung

- Luận văn tiếp tục góp phần vào việc khẳng định vững chắc chủ quyền ViệtNam không thể tách rời đối với lãnh thổ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồngthời đi vào con đường thực tiễn để tìm giải pháp hợp lý cho cuộc đấu tranh bảo vệchủ quyền này trên cơ sở quy định của pháp luật quốc tế và vị thế của Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để nghiên cứu thực hiện đề tài đã chọn, trong bài Luận văn sử dụng rất nhiềuphương pháp nghiên cứu khoa học như: dựa trên phương pháp luận của triết họcMác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặcbiệt, luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của ĐảngCộng sản Việt Nam và Nhà nước ta, giữ vững lập trường chính trị và đường lốingoại giao với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới với chủ trương hòa bình,hợp tác cùng phát triển, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ

Luận văn sử dụng phương pháp so sánh luật học, tiếp cận dưới góc độ luật so

Trang 14

sánh để làm sáng tỏ vấn đề Ngoài ra, còn dựa trên sự kết hợp giữa phương phápnghiên cứu từ cái chung đến cái riêng, phương pháp phân tích và tổng hợp, phươngpháp logic và lịch sử, phân tích, đánh giá, diễn giải, dự báo,

Bên cạnh đó, Luận văn cũng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trongquá trình nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra

6 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, bài luận vănđược bố trí kết cấu thành ba phần như sau:

Chương 1 Tổng quan về tình hình tranh chấp và giải quyết tranh chấp chủ

quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Chương 2 Các cơ quan tài phán quốc tế và vấn đề giải quyết tranh chấp chủ

quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Chương 3 Giải pháp cho Việt Nam trong giải quyết tranh chấp chủ quyền

quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa tại các cơ quan tài phán quốc tế

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH TRANH CHẤP

VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN QUẦN ĐẢO HOÀNG SA,

TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM

1.1 Tổng quan vị trí địa chiến lược và tầm quan trọng của giải quyết tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

1.1.1 Vị trí địa chiến lược của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Quần đảo Hoàng Sa[55] nằm rải rác trong một phạm vi khoảng 15.000 km2,với tổng diện tích khoảng 10km2, trong khoảng vĩ độ 15o45’ Bắc đến 17o05’ Bắc, từkinh độ 111o Đông đến 113o Đông, xung quanh là độ sâu hơn 1000m, song giữa cácđảo có độ sâu thường dưới 100m Quần đảo Hoàng Sa năm ngang bờ biển các tỉnhQuảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và một phần Quảng Ngãi Trong khoảng 30 đảo,

đá, bãi, cồn, hòn trên, hiện có 23 đã được đặt tên, gồm 15 đảo, 3 bãi, 3 đá, 1 cồn, 1hòn Các đảo chính gồm hai nhóm: Nhóm Lưỡi Liềm (Crescent group) ở Tây Nam;Nhóm An Vĩnh ở (Amphitrite group) ở Đông Bắc Ngoài ra, có một số đảo và các rạnsan hô rời bên ngoài nằm về phía Tây tuyến đường chính Hong Kong - Singapore

Khoảng cách gần nhất từ đảo Triton của quần đảo Hoàng Sa đến Mũi BaLàng An (Cap Batangan:15 vĩ độ B, 108 độ 6’ kinh Đ), tức đất liền lục địa Việt Nam

là 135 hải lý, cách Cù Lao Ré 123 hải lý Trong khi đó, cách đảo gần nhất tới bờ đảoHải Nam (Trung Quốc) tới 140 hải lý; cách lục địa đất liền Trung Quốc tối thiểu là

235 hải lý

Quần đảo Trường Sa (người Pháp gọi là Archipel des ile Spratley, người

Anh và Mỹ gọi là Spratley Islands hay Spratlies; Trung Quốc gọi là Nansha (NamSa) hay Nan Wei quần đảo; Philipines gọi là Kalayaan; Nhật gọi là Shinan Guto).Quần đảo Trường Sa nằm về phía Đông Nam Biển Đông, cách quần đảo Hoàng Satính đến đảo gần nhất là khoảng 350 hải lý, đảo xa nhất là khoảng 500 hải lý, cáchVũng Tàu 305 hải lý và cách Cam Ranh (Việt Nam) 250 hải lý, cách đảo Phú Quốc

Trang 16

240 hải lý, cách Bình Thuận (Phan Thiết) 270 hải lý Quần đảo này nằm trên vùngbiển chiếm khoảng 160.000 km2 đến 180.000 km2 [55].

Hình 1.1 Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

1.1.1.2 Tài nguyên vị thế địa chiến lược

Tài nguyên vị thế biển được hiểu là các lợi ích có được từ một khu vực, mộtnơi ở biển hoặc ven biển, được đặt trong mối quan hệ không gian của khu vực đó.Tài nguyên vị thế biển bao hàm cả các hợp phần tài nguyên sinh vật và phi sinh vật

có trong khu vực này, nhưng chủ đạo là những lợi ích có được từ giá trị hình thể vàgiá trị không gian của nó

Tài nguyên vị thế dùng theo cách nói tiếng Việt trong nhiều văn bản quản

lý hiện nay có lẽ mang nội hàm rộng hơn tài nguyên không gian trong các tài liệunước ngoài Theo đó, tài nguyên vị thế bao gồm cả giá trị đưa đến của khônggian trong mối quan hệ về vị trí địa lý của nó với các trung tâm, đầu mối kinh tế,chính trị khu vực; quan hệ với các vành đai, hành lang kinh tế biển, ven biển,…

Trang 17

Tài nguyên vị thế có những nội hàm riêng mang tính bản chất, là yếu tố hình thể

và vị trí trong không gian [16]

Giá trị của một đối tượng được xem xét là có tài nguyên vị thế, sẽ được đánh

giá theo ba tiêu chí về giá trị vị thế địa tự nhiên (là giá trị và lợi ích có được từ vị trí

không gian; tổng thể các yếu tố hình thể và cấu trúc không gian của một khu vựcnào đó và tính ổn định của các quá trình tự nhiên và khả năng ít chịu tác động của

thiên tai tại đó); giá trị vị thế địa kinh tế (là các giá trị và lợi ích có được từ các đặc

điểm địa lý ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế một vùng, một quốc gia,thậm chí một khu vực Giá trị địa kinh tế gắn với vai trò đầu mối trong tổ chức lãnh

thổ, từ giao lưu và quan hệ kinh tế đến sức hút và không gian ảnh hưởng) và giá trị

vị thế địa chính trị (là lợi ích kết hợp giữa lợi thế địa lý tự nhiên và nhân văn với

một bối cảnh chính trị, kinh tế quốc tế nhất định)

Trong tài nguyên vị thế, yếu tố địa chính trị có ý nghĩa chiến lược hết sứcquan trọng đối với vận mệnh đất nước Sự thịnh suy của một quốc gia phụ thuộcrất nhiều và khả năng khai thác và vận dụng tài nguyên địa chính trị Nhiều quốcgia coi tài nguyên vị thế là tiềm năng lớn nhất để phát triển kinh tế dịch vụ và dulịch, và phát triển mạnh nhờ nguồn tài nguyên này Singapore là một ví dụ điểnhình như vậy Từ một vùng nghèo tách ra khỏi Malaysia vào những năm 1960,quốc gia này đã vươn lên nhờ biết tận dụng vị thế của đảo nằm sát eo Malacca,được coi là cửa ngõ thông với Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương để phát triểncác ngành kinh tế phù hợp

Cũng như Biển Đông nói chung, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị tríđịa chiến lược hết sức quan trọng

Quần đảo Hoàng Sa chủ yếu là các cấu trúc địa chất bãi ngầm, bãi cạn, chỉ cómột số đảo nhỏ, không có cư dân sinh sống thường xuyên, chỉ có người Việt Nam rakhai thác theo mùa các tài nguyên như: phân chim, tổ yến, san hô, đánh cá tronghàng thế kỷ Nhưng cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự phát triển của luậtquốc tế với các quy định mở rộng tối đa chủ quyền ra hướng biển của quốc gia venbiển, thì các quốc gia có tiềm lực an ninh và tầm nhìn xa bắt đầu nhòm ngó quần

Trang 18

đảo này như một cơ sở khí tượng thủy văn, cơ sở hậu cần và là căn cứ quân sự chiếnlược có khả năng khống chế Biển Đông, đường giao thông trên biển và cả trênkhông trong khu vực, một căn cứ để bành trướng chủ quyền lãnh thổ và các vùngbiển trên Biển Đông nhằm khai thác tài nguyên dầu lửa và khí đốt.

Quần đảo Trường Sa án ngữ đường hàng hải quốc tế nối liền Thái BìnhDương với Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương, giữa Châu Âu với Châu Phi, TrungCận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản với các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á.Đây là tuyến đường huyết mạch có lưu lượng tàu thuyền tấp nập vào hàng thứ haithế giới (chỉ sau Địa Trung Hải) Trung bình mỗi ngày có từ 250 đến 300 tàu thuyềncác loại đi qua Biển Đông, trong đó cs 15 đến 20% tàu lớn có trọng tải trên 30.000tấn Hiện nay, trên các đảo và bãi san hô đã có một số công trình kiên cố và nhà ở,một số đảo đã có đèn biển, luồng vào và phao buộc tàu tạo thuận lợi cho tàu thuyềntránh giông bão

Trên thềm san hô quần đảo Trường Sa có nhiều loại hải sản quý như: hảisâm, rùa biển, cá ngừ, tôm hùm, rong biển và các lại ốc có giá trị dinh dưỡng cao.Mặt khác, với vị trí ở trung tâm Biển Đông, quần đảo Trường Sa có thế mạnh vềdịch vụ hàng hải, nghề cá đối với tàu thuyền đi lại và đánh bắt hải sản trong khuvực Trong một vài thập kỷ tới, với tốc độ phát triển kinh tế cao của các nước trongkhu vực, khối lượng hàng hóa vận chuyển qua Biển Đông tăng gấp 2, 3 lần hiệnnay, khi đó quần đảo Trừng Sa đóng vai trò to lớn trong thương mại quốc tế Đặcbiệt ngay sau khi xây dựng được kênh Kra ở Thái Lan, sẽ thu hút thêm một lượngtàu biển quốc tế lớn đi qua đây, tạo cơ hội cho Việt Nam cùng chia sẻ thị phần vậntải quốc tế, khi đó Trường Sa trở thành chiếc cầu nối vô cùng quan trọng để pháttriển thương mại quốc tế và mở rộng giao lưu với các nước trong khu vực và trênthế giới

Sự liên kết giữa các đảo, cụm đảo, tuyến đảo của quần đảo Trường Sa tạothành lá chắn quan trọng phía trước vùng biển và dải bờ biển Nam Trung Bộ cũngnhư Nam Bộ, bảo vệ sườn Đông tổ quốc, tạo thành một hệ thống cứ điểm tiền tiêu đểngăn chặn và đẩy lùi các hoạt động lấn chiếm tàu thuyền nước ngoài Vì thế, từ lâu,

Trang 19

quần đảo Trường Sa luôn được các nhà khoa học, quân sự, chính trị đánh giá cao.

Ngoài ra, vị trí chiến lược hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thể dùng

để thiết lập các căn cứ nhằm kiểm soát các tuyến hàng hải quan trọng qua lại BiểnĐông và dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm ra đa, các trạm thông tin, xâydựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè Các nhà chiến lược phươngTây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được

cả Biển Đông

Trung Quốc yêu sách chủ quyền toàn bộ quần đảo Trường Sa với tham vọngthực hiện bước tiến tiếp theo cho mục tiêu “gắn mác” bá chủ thông qua nắm đượctrục chính Biển Đông Chiếm được quần đảo Trường Sa, Trung Quốc có được sườnbảo vệ trọng yếu của Việt Nam từ quần đảo Hoàng Sa vòng tới quần đảo Trường Sa.Khu vực này không chỉ chứa đựng tiềm năng lớn về tài nguyên thiên nhiên mà cảtiềm năng quân sự, chính trị chiến lược Trung Quốc có thể áp dụng mô hình Hoàng

Sa, Trường Sa để yêu sách các vùng biển rộng lớn hơn gấp nhiều lần mà “đườnglưỡi bò” chính là một trong những bước tiến điển hình tiếp theo mà Trung Quốcthực hiện từ trục tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa Nếu nhìn vào

chiến lược phòng thủ biển hai bước (chiến lược chuỗi đảo – Island Chains) hiện nay

của Trung Quốc, có thể dễ dàng nhận thấy quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đều nằmtrọn trong “đường lưỡi bò” và đường này đang kéo qua đảo Đài Loan, đảo Ryukucủa Nhật Bản để trở thành “vùng kiểm soát chiến lược” của quốc gia Trung Quốc

Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là các nền đá tảng để Trung Quốc thựchiện các chiến lược đại dương sau này Mục tiêu của Trung Quốc ở Biển Đông làđạt được vị thế bá chủ duy nhất và hoàn toàn trước Mỹ cũng như các quốc gia trongkhu vực Biển Đông sẽ là nòng cốt và bước đệm vững chắc để Trung Quốc thựchiện “kiểm soát - phòng thủ - tấn công” ở Biển Đông, ngăn chặn ảnh hưởng và sựhậu thuẫn của Mỹ với Đài Loan (để đạt được mục tiêu hợp nhất lãnh thổ); nâng caokhông ngừng sức mạnh và khả năng tác chiến tinh nhuệ của PLA (Quân đội giảiphóng nhân dân Trung Quốc) Bằng lựa chọn đó, Trung Quốc sẽ đạt được tầm ảnhhưởng riêng biệt với Mỹ ở Tây Thái Bình Dương Yêu sách và hiện thực hóa yêusách chủ quyền hai quần đảo chính là trọng tâm của hiện thực hóa mục tiêu đầu tiên

Trang 20

của Trung Quốc để tiến tới mục tiêu tiếp theo.

Yêu sách chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là quá trình TrungQuốc đưa vào thử nghiệm các chiến thuật, chiến lược, phép thử trên tất cả các mặttrận trước các sức mạnh lớn ở Châu Á và thế giới, nhằm chứng tỏ “một ngườikhổng lồ” với sức mạnh đáng gờm và vị thế không ngừng được khẳng định Nhờlàm nhiễu động không gian sinh tồn Biển Đông của các quốc gia trong khu vực và

“động chạm” đến những “lợi ích không thể từ bỏ” của nhiều cường quốc lớn, TrungQuốc đã, trong phạm vi nhất định, “lái” con tàu Biển Đông rẽ sóng theo nhiềuhướng, cũng có khi xoay tròn và đổi vai theo kiểu Trung Quốc để phục vụ cho cácmục tiêu chiến lược của mình

Trung Quốc mong muốn chiếm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để gópphần trọng tâm đảm bảo tránh sự lặp lại của các rủi ro đến từ nguy cơ các vùng biển

“mở”, có thể đẩy Trung Quốc vào “thời kỳ đen tối” như trong lịch sử những nămsau chiến tranh thuốc phiện Đồng thời với đó là những biến động khó lường trongcán cân quyền lực khu vực đã đẩy Trung Quốc đi tới áp dụng các chiến lược mangtính chất quyết đoán hơn

1.1.2 Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Giải quyết tranh chấp là hoạt động làm hòa hợp các bất đồng, mâu thuẫn,xung đột giữa các bên thông qua các biện pháp hòa bình đã được luật quốc tế ghinhận hoặc thừa nhận chung Giải quyết tranh chấp nhằm mục đích đảm bảo hòabình, an ninh quốc gia, khu vực và quốc tế, đồng thời với đó là thúc đẩy quá trìnhhợp tác giữa các chủ thể luật quốc tế, tạo cơ sở phát triển bền vững quan hệ quốc tế.Riêng đối với lĩnh vực chủ quyền biển, đảo, tầm quan trọng của giải quyết tranhchấp còn mang tính quyết định và thậm chí tác động trực tiếp đến vận mệnh toànvẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia

Tầm quan trọng của giải quyết tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa nói riêng được thể hiện ở các khía cạnh:

Thứ nhất, giải quyết tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

chính là quá trình đấu tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ tổ quốc, giữ vững

Trang 21

từng tấc đất mà ông cha ta đã hy sinh xương máu để xây dựng và giữ gìn.

Thứ hai, trong bối cảnh các vùng lãnh thổ biển, đảo của Việt Nam đang

chồng lấn các yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán, hoạt độnggiải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình sẽ giảm bớt, thu hẹp cácmâu thuẫn, xung đột đã, đang tồn tại, góp phần nhanh chóng ổn định vùng biêngiới/ranh giới biển, thúc đẩy thực thi chủ quyền quốc gia trên biển cũng như vị thếlàm chủ biển

Thứ ba, tranh chấp quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam càng gay

gắt, căng thẳng bao nhiêu thì vấn đề giải quyết tranh chấp sẽ càng mang tính cấpthiết bấy nhiêu Nếu tranh chấp chủ quyền hai quần đảo không được giải quyết,không những căn nguyên của các cuộc dậy sóng ở Biển Đông không được giảiquyết mà rất nhiều những vấn đề chính trị nòng cốt liên quan đến cân bằng quyềnlực khu vực cũng không thể có được câu trả lời

Thứ tư, tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khiến

cho mối quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Việt Nam và các bên có liên quan diễntiến hết sức phức tạp Giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ là nền tảng thúc đẩy

ý chí, quyết tâm chính trị của các bên đi đến giải quyết các tranh chấp chủ quyềnkhác và ngược lại

Thứ năm, hiện nay Trung Quốc khẳng định và bảo vệ cái gọi là “chủ quyền

không thể tranh cãi” đối với quần đảo Hoàng Sa Trong khi đó, đối với quần đảoTrường Sa, Trung Quốc lại đưa ra chủ trương “gác tranh chấp cùng khai thác”, giảiquyết song phương bằng thương lượng, đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan,không chấp nhận quốc tế hóa tranh chấp Nhanh chóng chấp nhận và đạt được việc

áp dụng một giải pháp hòa bình chung để giải quyết tranh chấp sẽ tạo ra các triểnvọng mới cho vấn đề chủ quyền hai quần đảo, từ đó tạo cơ hội để Việt Nam khẳngđịnh chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Thứ sáu, hoạt động giải quyết tranh chấp là quá trình Việt Nam cũng như các

bên hữu quan được tiếp cận và sử dụng các cơ chế, biện pháp hòa bình giải quyếttranh chấp được thừa nhận chung bởi pháp luật quốc tế Với những bế tắc trong tranh

Trang 22

chấp chủ quyền hai quần đảo hiện nay, trong khi giải pháp đàm phán, thương lượng

-dù thể hiện tinh thần tôn trọng pháp luật quốc tế và quan hệ hữu nghị, hợp tác mangtính truyền thống của người Đông Á - không tỏ ra hiệu quả thì việc nghiên cứu và sửdụng giải pháp pháp lý mà trọng tâm là sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của cácthiết chế tài phán quốc tế sẽ đưa đến tính hiệu quả hơn cho Việt Nam để đối đầu với

“người khổng lồ phương Bắc” đầy tham vọng và ngông cuồng

1.2 Tình hình tranh chấp và giải quyết tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

1.2.1 Hiện trạng tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường

Sa của Việt Nam

1.2.1.1 Phân loại các tranh chấp có liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

Tranh chấp chủ quyền biển, đảo nói chung được phân loại theo nhiều tiêu chíkhác nhau, ví dụ như các tiêu chí về nội dung tranh chấp, chủ thể tham gia tranh chấp,loại hình tranh chấp,…Theo đó, dựa theo nội dung và đối tượng tranh chấp, các tranhchấp về chủ quyền biển, đảo gồm: Tranh chấp về chủ quyền các đảo, đá, quần đảo,vùng đảo (hay còn gọi là tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ); Tranh chấp về chủquyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trong các vùng biển chồng lần (còn đượcgọi là tranh chấp về phân định biên giới/ranh giới biển); Tranh chấp về thực hiệnquyền và nghĩa vụ trong các vùng biển theo quy định của Công ước Luật biển 1982

Theo cách thức phân loại này, tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa của Việt Nam thuộc tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ Tuy nhiên, liênquan đến hai quần đảo này ở Biển Đông, còn cho thấy sự hiện diện của các tranhchấp khác như:

(1) Tranh chấp liên quan đến yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc.

Được đưa ra năm 1947 với 11 nét đứt đoạn, đến 1953, đường yêu sách này bỏ quahai đoạn trong Vịnh Bắc Bộ để trở thành đường 9 đoạn Đầu năm 2012, Trung Quốctiếp tục khẳng định chủ quyền lịch sử với 80% diện thích Biển Đông bằng đườngyêu sách 10 đoạn - diện tích mở rộng ra nhiều các đảo, đá và vùng biển của các

Trang 23

quốc gia trong khu vực, đồng thời, hướng mục tiêu qua đảo Đài Loan, đảo Ryuku(Nhật Bản), khép đường đi của chuỗi đảo đầu tiên trong chiến lược chuỗi đảo(Island Chains) mà quốc gia này đề ra “Đường lưỡi bò” vừa là căn cứ để TrungQuốc tái khẳng định yêu sách chủ quyền lịch sử với quần đảo Hoàng Sa và TrườngSa; đồng thời đánh dấu bước mở rộng yêu sách chủ quyền lãnh thổ của quốc gia nàyđối với phần lớn không gian sinh tồn của các quốc gia khu vực Biển Đông.

(2) Tranh chấp liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, trong đó, Trung Quốc yêu

sách toàn bộ chủ quyền hai quần đảo, các quốc gia yêu sách khác khẳng định chủquyền với một số vị trí đảo, đá đang chiếm đóng thực tế Nhà nước Việt Nam luônkhẳng định nhất quán và thực tế đã xác lập hợp pháp chủ quyền với quần đảoHoàng Sa, Trường Sa

(3) Tranh chấp liên quan đến vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia ven biển, đặc biệt là các vùng thềm lục địa mở rộng Trong số

các bên yêu sách chủ quyền quần đảo Trường Sa của Việt Nam, các quốc gia nhưMalaysia, Brunei và Philippines đều dựa vào thuyết dựa trên yếu tố kéo dài tự nhiêncủa thềm lục địa mở rộng Đối với quần đảo Trường Sa, sự hiện diện của thềm lụcđịa mở rộng ở khu vực này chỉ có thể dẫn đến vấn đề phân định vùng chồng lấn nếu

có nếu một số đảo của quần đảo Trường Sa thỏa mãn Điều 121, khoản 3 Công ướcLuật biển 1982

(4) Tranh chấp liên quan đến xác định phạm vi hai quần đảo và quy chế pháp lý các đảo, đá và vùng biển của đảo thuộc hai quần đảo Liên quan đến loại

tranh chấp này, có một số vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan như sau:

i) Vấn đề phạm vi yêu sách của các bên: Trong khi Trung Quốc yêu sách

toàn bộ chủ quyền đối với hai quần đảo; Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền đối vớihai quần đảo; thì Philippines, Malayisa và Brunei lại thể hiện quan điểm về yêusách phạm vi là một số các đảo, đá, bãi ngầm ở quần đảo Trường Sa

ii) Vấn đề phạm vi địa lý của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: phạm vi địa

lý của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ trong lịch sử đến nay đều chưa có lờigiải chính xác Số lượng các đảo, đá, bãi ngầm,… được thống kê với các số lượng

Trang 24

khác nhau, từ nhiều nguồn nghiên cứu Các đặc điểm địa chất, địa mạo, địa lý vốn

là cơ sở khoa học quan trọng cho vấn đề khẳng định chủ quyền Chính vì vậy, làmsáng tỏ về mặt địa lý phạm vi hai quần đảo là điều cần thiết

iii) Vấn đề phạm vi về mặt pháp lý của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa :

phạm vi về mặt pháp lý của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là phạm vi đượcxác định và hoạch định dựa trên các quy định pháp luật quốc tế, đặc biệt là Côngước Luật biển 1982 Đây cũng chính là quá trình xác định quy chế pháp lý rõràng cho vùng đảo này để quốc gia sở hữu nó ghi nhận và thực hiện các quyềnnghĩa vụ tương ứng

1.2.1.2 Đặc điểm, tính chất của tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa

và Trường Sa

Là một tranh chấp điển hình trong khu vực tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung độtnhư Biển Đông, tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa củaViệt Nam mang những đặc điểm chung của tranh chấp khu vực này Bên cạnh đó, từyếu tố đặc thù về vị thế địa chiến lược, điều kiện tự nhiên, lịch sử và hiện trạng yêusách các bên mà các tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột liên quan đến chủ quyền quầnđảo Hoàng Sa và Trường Sa có những đặc điểm, tính chất riêng biệt

Tính chất địa chiến lược của khu vực tranh chấp: Địa chiến lược của

Trường Sa và Hoàng Sa thể hiện ở các điểm cơ bản sau: i) quần đảo Hoàng Sa và

Trường Sa là trung tâm Biển Đông, nơi chứa đựng tài nguyên vị thế hết sức quan

trọng; ii) quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là sườn cánh cung bảo vệ không gian chủ quyền lãnh thổ trên biển trọng yếu của Việt Nam; iii) Trường Sa và Hoàng Sa

là mục tiêu trọng tâm của Trung Quốc để độc chiếm hoàn toàn Biển Đông, khốngchế quyền lực vùng

Tính lịch sử kéo dài của tranh chấp: Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được

Nhà nước Việt Nam thực hiện xác lập chủ quyền từ ít nhất là thế kỷ thứ XVII.Trong các giai đoạn Việt Nam thực thi chủ quyền hợp pháp sau đó, Trung Quốc vàlần lượt các bên yêu sách khác đã bằng hành vi sử dụng vũ lực cũng như thông quanhiều lập luận mang tính thiếu thuyết phục khác nhau để cho rằng “có chủ quyền”

Trang 25

nay, tranh chấp chủ quyền hai quần đảo vẫn chưa được giải quyết.

Tính chất giằng co, phức tạp từ sự đan xen các lợi ích dân tộc, toan tính và lập trường giải quyết tranh chấp của các bên yêu sách: nếu quần đảo Hoàng Sa của

Việt Nam là vùng lãnh thổ bị chồng lấn yêu sách và chiếm đóng hoàn toàn bởiTrung Quốc, Đài Loan, thì quần đảo Trường Sa là vùng lãnh thổ bị chồng lấn yêusách bởi nhiều bên (Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei) Mỗi bêntrong các tuyên bố khẳng định chủ quyền với một phần hoặc toàn bộ quần đảoHoàng Sa, Trường Sa đều đưa ra các lập luận, căn cứ cũng như lập trường giảiquyết vấn đề khác nhau Điều này khiến cho tình hình tranh chấp hai quần đảo trởnên phức tạp, khó giải quyết

Trung Quốc: Trung Quốc yêu sách về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa chủ yếu dựa trên một số lập luận về phát hiện, chiếm hữu, quan hệ

“thiên triều, chư hầu” trong lịch sử Quốc gia này cho rằng Trung Quốc là quốc gia

“phát hiện đầu tiên”, “đặt tên đầu tiên”, “quản lý đầu tiên” hai quần đảo Đến nay,Trung Quốc tiếp tục củng cố yêu sách chủ quyền lịch sử đối với quần đảo Hoàng

Sa, Trường Sa cũng như vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam vànhiều nước khác ở Biển Đông bằng tham vọng phi lý “đường lưỡi bò” chiếm hơn80% diện tích khu vực biển này

Đài Loan: Đài Loan yêu sách toàn bộ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

của Việt Nam, trên thực tế đang chiếm đóng đảo Ba Bình (đảo lớn nhất thuộc quầnđảo Trường Sa) Yêu sách của Đài Loan dựa trên luận thuyết lịch sử và sự chuyểngiao chủ quyền từ phía Nhật Bản Đối với yêu sách “đường lưỡi bò”, Đài Loan chỉyêu sách các đảo, đá phía trong vùng ranh giới “lưỡi bò” chứ không yêu sách toàn

bộ vùng biển và đảo nằm trong đường ranh giới này

Philippines: Philippines yêu sách và đang thực tế chiếm giữ một số đảo, đá

trong khu vực thuộc quần đảo Trường Sa mà quốc gia này gọi là Kalayaan (nhómđảo KIG) Yêu sách và sự chiếm giữ của Philippines dựa trên các lập luận về tính kếcận về mặt địa lý giữa các đảo của khu vực Kalayaan với lãnh thổ Philippines; sựphát hiện và kiểm soát hữu hiệu; tầm quan trọng về an ninh và kinh tế của Kalayaan

Trang 26

đối với Philippines.

Malaysia: Malaysia là quốc gia yêu sách quần đảo Trường Sa khá muộn dựa

trên luận thuyết về tính kế cận về mặt địa lý khi cho rằng, các đảo, đá thuộc quầnđảo Trường Sa mà quốc gia này yêu sách và chiếm giữ nằm trong vùng đặc quyềnkinh tế và thềm lục địa của Malaysia

Brunei: cũng giống như Malaysia, Brunei là quốc gia yêu sách muộn đối với

thực thể thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam Luận thuyết của Brunei tương tựnhư Malaysia Tuy nhiên, điểm khác biệt là Brunei không chiếm đóng thực tế bất cứ

vị trí nào tại quần đảo này (kể cả đối với thực thể mà quốc gia này yêu sách), đồngthời thể hiện lập trường giải quyết các vấn đề dựa trên hòa bình, ổn định, không làmphức tạp thêm tình hình

Tính chất giao thoa, vận động, xoay trục của các yếu tố truyền thống và hiện

đại: Yếu tố truyền thống quan hệ hữu nghị hợp tác và giải quyết tranh chấp bằng

con đường thương lượng, đàm phán, chính trị - ngoại giao đã trở lên phổ biến, ănsâu vào tiềm thức của người Châu Á, đặc biệt là Đông Á Tuy nhiên, trong vài nămtrở lại đây và mới đây nhất là Philippines, đã có xu hướng xoay chuyển yếu tốtruyền thống này bằng việc quyết đoán sử dụng biện pháp giải quyết tranh chấpthông qua các cơ quan tài phán quốc tế Bên cạnh sự xoay chiều mang tính chất tíchcực như trên, tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ViệtNam cũng cho thấy việc đưa ra sử dụng các chiến thuật, chiến lược chính trị - ngoạigiao, quân sự truyền thống, thậm chí đã được cảnh báo và nghiêm cấm trong lịch sửquan hệ quốc tế, ví dụ: chính sách “ngoại giao bên miệng hố chiến tranh”, chiếnthuật “chia để trị”, chiến thuật “ngoại giao thực dụng”,…

Tính chất quyết định của vấn đề an ninh, xung đột khu vực: tranh chấp chủ

quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là tranh chấp trung tâm của Biển Đông, tácđộng đến quá trình giải quyết các tranh chấp và xung đột khác trong khu vực Chủquyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là nguyên nhân cơ bản và quan trọng thúcđẩy xung đột Biển Đông tăng cao

Tính chất tối đa hóa các tác động, ảnh hưởng tới quan hệ chính trị - ngoại

Trang 27

giao giữa các quốc gia (trong khu vực, ASEAN với Trung Quốc, ASEAN với quốc

gia ngoài khu vực; Trung Quốc với quốc gia ngoài khu vực): mối quan hệ nhiều mặtgiữa các quốc gia, đặc biệt là quan hệ chính trị ngoại giao giữa các bên tranh chấp

bị tác động mang tính đa chiều từ tình hình tranh chấp và giải quyết tranh chấp chủquyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Tranh chấp bị gián đoạn hoặc chuyểnhướng sang tranh chấp về chính trị và giải quyết bằng con đường chính trị nhiềuhơn là pháp lý

Tính chất bất cân xứng: sự bất cân xứng trong tranh chấp chủ quyền quần

đảo Hoàng Sa, Trường Sa được thể hiện ở các khía cạnh: i) bất cân xứng trong đối

tượng chủ thể tham gia tranh chấp với sự hiện diện của hai dạng chủ thể luật quốc tế

- quốc gia và chủ thể đặc biệt của luật quốc tế; ii) bất cân xứng trong vị thế của các

bên tranh chấp và giữa các bên tranh chấp với quốc gia có liên quan

1.2.2 Hiện trạng giải quyết tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Nghị quyết ngày 23/6/1994 của Quốc hội về phê chuẩn Công ước của Liênhợp quốc về Luật biển năm 1982 khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với haiquần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời chủ trương giải quyết các tranh chấp

về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thôngqua thương lượng hoà bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau,tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biểnnăm 1982, tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đốivới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán đểtìm giải pháp cơ bản và lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữnguyên trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũlực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực Đây được coi là lập trường nhất quán và rõ ràngcủa Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề về chủ quyền biển đảo, thể hiện tinh thầntuân thủ pháp luật quốc tế, yêu chuộng hòa bình và mong muốn hợp tác hữu nghịvới các quốc gia Tuy vậy, lập trường này không đồng nghĩa với một số quan điểmcho rằng Nhà nước Việt Nam chỉ sử dụng đàm phán, thương lượng là biện pháp duy

Trang 28

nhất để giải quyết tranh chấp quốc tế nói chung và tranh chấp về biển, đảo nói riêng.Việc lựa chọn giải pháp giải quyết tranh chấp nào sẽ phụ thuộc thực tế vào các bêntham gia tranh chấp; nội dung tranh chấp; quan điểm, lập trường của các bên; kếtquả của các phương thức đã được áp dụng để giải quyết tranh chấp;

Với tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hiện nay, ViệtNam cũng thực hiện tinh thần hữu nghị đàm phán nhưng không đạt được kết quả.Phía Trung Quốc luôn kiên quyết phủ nhận sự tồn tại tranh chấp ở quần đảo Hoàng

Sa với bất cứ quốc gia nào; đồng thời đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” chiếm 80%diện tích Biển Đông để tái khẳng định cái gọi là chủ quyền lịch sử đối với hai quầnđảo Không dừng lại ở đó, Trung Quốc còn có một loạt các hành động xâm phạm đếncác vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam cũng như cáchoạt động thực thi chủ quyền đã được quy định và thừa nhận trong pháp luật quốc tế.Trong khi đó, Malaysia với quan điểm vốn mang tính “khó lường” về vấn đề BiểnĐông, Brunei là quốc gia có quan điểm trung lập về vấn đề Biển Đông và chủ quyềnquần đảo Trường Sa Chính lập trường giảm nhẹ vị thế vấn đề an ninh chủ quyềnquốc gia nên khiến cho bài toán Biển Đông trở nên khó giải quyết

Khác với Malaysia và Brunei, Philippines là quốc gia bày tỏ quan điểm, lậptrường vững vàng trong vấn đề Biển Đông và chủ quyền đối với nhóm đảoKalayaan (KIG) thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam Sau nhiều nỗ lực đàmphán, trao đổi quan điểm, đầu năm 2013, Philippines kiện Trung Quốc ra trướctrọng tài Phụ lục VII Công ước Luật biển 1982 để phản đối yêu sách của TrungQuốc đối với các khu vực trên Biển Đông và yêu sách của Trung Quốc đối với cácvùng biển mà theo Công ước, cấu thành nên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địacủa Philippines Hành động của Philippines được đánh giá tác động tới Việt Nam

trên hai phương diện: i) khẳng định một triển vọng mới cho vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ biển; ii) phạm vi đơn kiện của Philippines cho thấy liên

quan đến vấn đề khẳng định chủ quyền đối với nhóm đảo KIG thuộc quần đảoTrường Sa của Việt Nam Nếu xử lý không khôn khéo, Việt Nam chắc chắn sẽ mất

đi người đồng hành trong chiến tuyến chống lại yêu sách “đường lưỡi bò”, đồng

Trang 29

thời vô hình chung, khẳng định chủ quyền của Philippines đối với nhóm đảo KIG.

Bên cạnh đó, Indonesia mặc dù không tồn tại yêu sách đến chủ quyền haiquần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, nhưng mới đây tuyên bố là quốc giatiếp theo bị yêu sách “đường lưỡi bò” xâm phạm đến Tuyên bố này của Indonesiacùng với Công hàm năm 2010 phản đối yêu sách “đường lưỡi bò” cho thấy,Indonesia từ quốc gia có vai trò trung gian trong vấn đề Biển Đông sẽ cùng đứngtrên chiến tuyến chống lại yêu sách phi lý này của Trung Quốc

Nếu như sau sự kiện Philippines đưa Trung Quốc ra Tòa trọng tài Phụ lụcVII đầu năm 2013, Trung Quốc dường như quay lại giai đoạn “giấu mình chờ thời”,thì sau sự kiện bán đảo Crimea (Ukrain) sáp nhập vào Nga (3/2014), Trung Quốc lạihung hăng, ngông cuồng trên mặt trận thực địa mà tiêu biểu là sự kiện hạ đặt tráiphép giàn khoan HD-981 trong vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài pháncủa Việt Nam Bối cảnh quốc tế và khu vực cho thấy, đây là thời điểm thích hợp đểViệt Nam sử dụng các giải pháp chính trị - ngoại giao với bước đi tích cực và quyếtđoán hơn nhằm tiếp bước cho việc áp dụng giải pháp pháp lý

1.2.3 Cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp chủ quyền quốc gia đối với biển đảo

Cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp được hiểu là các căn cứ mà các bên dựavào hoặc buộc phải tuân thủ để đảm bảo giải quyết triệt để tranh chấp phát sinh.Nếu hiểu theo khái quát nhất, cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp bao gồm các căn

cứ được áp dụng để giải quyết tổng thể các vấn đề, khía cạnh liên quan đến tranhchấp (thủ tục, nội dung) Hệ cơ sở pháp lý này bao gồm năm căn cứ được quy địnhtại Điều 38, Khoản 1 Quy chế Tòa án Công lý quốc tế (điều ước quốc tế; nguyên tắcpháp luật chung; án lệ; tập quán quốc tế; học thuyết pháp lý của các chuyên gia cóchuyên môn cao nhất về luật quốc tế), và hai nguồn được thực tiễn pháp lý thôngqua quá trình sử dụng của các thiết chế tài phán quốc tế và chủ thể luật quốc tế thừanhận chung (nghị quyết của các tổ chức quốc tế, pháp luật quốc gia)

Tuy nhiên, để hiểu rõ ràng hơn vấn đề áp dụng cơ sở pháp lý quốc tế tronggiải quyết tranh chấp, nên phân tách nội hàm của “cơ sở pháp lý trong giải quyếttranh chấp”, theo đó, nó được phân tách thành hai giai đoạn trong một quy trình

Trang 30

hợp nhất: i) cơ sở pháp lý trong việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của cơ quan tài phán; ii) cơ sở pháp lý trong giải quyết nội dung của tranh chấp.

Cả hai giai đoạn này đều cần dựa trên bảy căn cứ pháp lý đã trình bày ở trên, song

do những đặc trưng riêng của mỗi giai đoạn, nên bên cạnh hệ căn cứ pháp lýchung này, mỗi giai đoạn trong giải quyết tranh chấp đều có các quy định mangtính đặc thù tương ứng

Các căn cứ pháp lý được cộng đồng quốc tế thừa nhận và sử dụng rộng rãitrong giải quyết tranh chấp quốc tế, trong đó có tranh chấp chủ quyền biển, đảo gồmcác căn cứ sau:

1.2.3.1 Nguyên tắc pháp luật chung

Nguyên tắc pháp luật chung là hệ nguyên tắc được hình thành bằng các conđường tập quán hoặc ghi nhận trong các điều ước quốc tế hoặc tồn tại thông qua sựthừa nhận rộng rãi của cộng đồng quốc tế Trong nguyên tắc pháp luật chung, người

ta thường đề cập tới hai hệ nguyên tắc chính: nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế vànguyên tắc đặc thù trong lĩnh vực cụ thể của đời sống quốc tế Cả hai hệ nguyên tắcnày đều chứa đựng các giá trị mang bắt buộc (Jus cogens)

a Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là những tư tưởng chính trị, pháp lýmang tính chỉ đạo, bao trùm, có giá trị bắt buộc chung đối với mọi chủ thể luật quốc

tế, nhằm ổn định quan hệ quốc tế và ấn định khuôn khổ xử sự cho các chủ thể, tạođiều kiện phát triển quan hệ quốc tế

Ngày nay, các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được ghi nhận rộng rãitrong nhiều văn kiện pháp lý song phương, đa phương khu vực hoặc toàn cầu, trong

đó, quan trọng nhất phải kể đến Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945, Tuyên bốngày 24/10/1970 về các nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị vàhợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc (sau đây gọi tắt

là Tuyên bố năm 1970)

Theo ghi nhận của các văn kiện pháp lý trên, các nguyên tắc cơ bản của luật

quốc tế bao gồm: i) Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia; ii) Nguyên tắc cấm sử

Trang 31

dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế; iii) Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế; iv) Nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ quốc gia khác; v) Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế; vi) Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác; vii) Nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết.

Tất cả các nguyên tắc này đều là kim chỉ nam, đường hướng cho vấn đề giảiquyết tranh chấp quốc tế Tuy nhiên, đối với tranh chấp chủ quyền biển, đảo, cácnguyên tắc trực tiếp và chủ yếu được vận dụng gồm: nguyên tắc bình đẳng chủquyền quốc gia; nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan

hệ quốc tế; nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp; nguyên tắc tận tâm thiện chíthực hiện các cam kết quốc tế (Pacta Sunt servanda)

b Nguyên tắc đặc thù trong lĩnh vực cụ thể của đời sống quốc tế

Nguyên tắc đặc thù là những tư tưởng chính trị - pháp lý cơ bản, mang tínhbao trùm, chỉ đạo đối với các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực cụ thể, chuyên biệtcủa đời sống quốc tế Đây là hệ nguyên tắc phản ánh yếu tố khác biệt về đặc trưnggiữa lĩnh vực này so với các lĩnh vực khác

Trong lĩnh vực luật biển, rất nhiều nguyên tắc đặc thù được hình thành vàthừa nhận chung qua thực tiễn quốc tế hoặc ghi nhận trong điều ước quốc tế như:nguyên tắc chiếm hữu thực sự, nguyên tắc “đất thống trị biển”, nguyên tắc thỏathuận, nguyên tắc công bằng, nguyên tắc đường trung tuyến/cách đều, nguyên tắcUti Possidetis, nguyên tắc Estoppel, nguyên tắc tự do biển cả, nguyên tắc Vùng – disản chung của nhân loại, …

1.2.3.2 Điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế (bao gồm điều ước song phương và đa phương) là thỏathuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể của luậtquốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh không phụ thuộc vào việc thỏa thuận đóđược ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hay hai hoặc nhiều văn kiện có quan hệvới nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó

Trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo, điều ước quốc tế

có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ chứa đựng các quy phạm trực tiếp điềuchỉnh các vấn đề liên quan đến tranh chấp (nguyên tắc, phương thức, biện pháp, quy

Trang 32

trình thủ tục,… giải quyết tranh chấp), mà bản thân một điều ước quốc tế còn có thể

là mục đích hướng tới của các bên tranh chấp, là sự hiện thực hóa quá trình thỏathuận giải quyết tranh chấp của các bên (ví dụ: điều ước quốc tế song hoặc đaphương về phân định các vùng biển chồng lấn)

Điều ước quốc tế đa phương có vị trí quan trọng trong giải quyết tranh chấp

về biển, đảo nói riêng có thể đề cập đến như: Hiến chương Liên hợp quốc năm

1945, Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, Công ướcLuật biển của Liên hợp quốc năm 1982, Công ước Geneva năm 1958 về lãnh hải vàvùng tiếp giáp, Công ước Geneva năm 1958 về thềm lục địa,…

Điều ước quốc tế song phương có giá trị vận dụng trong giải quyết tranh

chấp chủ quyền biển, đảo bao gồm các điều ước: i) thể hiện nguyên tắc chỉ đạo trong giải quyết tranh chấp trên biển giữa các quốc gia; ii) thể hiện kết quả cuối cùng về phân định vùng biển chồng lấn giữa các quốc gia hữu quan; iii) thể hiện các

dàn xếp tạm thời giữa các quốc gia trước khi tiến đến phân định dứt điểm vùng

chồng lấn; iv) thể hiện quá trình hợp tác giữa các quốc gia hữu quan; v) thể hiện kết

quả về phân định ranh giới quản lý và chủ quyền các đảo, đá

1.2.3.3 Tập quán quốc tế

Tập quán quốc tế là hình thức pháp lý chứa đựng các quy tắc xử sự chung,hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế và được các chủ thể luật quốc tế thừanhận là luật

Trong lĩnh vực chủ quyền biển đảo vốn tồn tại nhiều tập quán quốc tế, có quyphạm tập quán đi lên từ học thuyết (quan điểm) pháp lý và sau đó phát triển thànhnguyên tắc cơ bản của luật quốc tế (ví dụ: tập quán công bằng, tập quán Estoppel,tập quán đất thống trị biển); cũng có quy phạm tập quán quốc tế ngày nay đã trởthành nguyên tắc cơ bản hoặc đặc thù của lĩnh vực cụ thể Có thể kể đến một số tậpquán quốc tế có vai trò quan trọng trong giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảonhư: tập quán đất thống trị biển, tập quán công bằng, tập quán Uti Possidetis,

1.2.3.4 Phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế

Phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế là văn bản thể hiện lập luận và kết

Trang 33

luận của các thẩm phán hoặc trọng tài thuộc cơ quan tài phán nhất định về vụ việctranh chấp cụ thể Qua các phán quyết, nhiều quy phạm pháp luật quốc tế được cụthể hóa, giải thích và vận dụng hợp lý, từ đó tạo ra các viện dẫn áp dụng đối với chủthể luật quốc tế về các khía cạnh trong vụ tranh chấp tương tự Bên cạnh đó, phánquyết cũng tạo tiền đề pháp lý để hình thành lên quy phạm pháp luật mới của luậtquốc tế và tác động tích cực đến cách xử sự của chủ thể luật quốc tế, đồng thời bổsung thêm nhiều khiếm khuyết của luật quốc tế.

Một số phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế trong lĩnh vực biển đảo

có thể kể đến như: phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án quốc tế về Luậtbiển, các tòa trọng tài

1.2.3.5 Học thuyết (quan điểm) pháp lý của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế

Học thuyết (quan điểm) pháp lý của các chuyên gia nổi tiếng chứa đựng cáclập trường, quan điểm, tư tưởng về một vấn đề nhất định của khoa học pháp lý quốc

tế, được hình thành qua nhiều hoạt động khác nhau như: phân tích các quy phạmpháp luật quốc tế, đưa ra quan điểm, lập luận về những vấn đề của khoa học pháp lýquốc tế,… Đây được coi là nguồn luật khá quan trọng bởi từ học thuyết pháp lý, dùkhông trực tiếp tạo ra các quy phạm pháp luật quốc tế nhưng lại tác động tích cựcđến quá trình phát triển của hệ thống luật, đồng thời tác động tới nhận thức của conngười về khoa học pháp lý Học thuyết pháp lý cũng có giá trị hỗ trợ để xây dựng

và thực hiện luật quốc tế được thuận lợi

Trong giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo có một số học thuyết pháp

lý có giá trị lớn như: học thuyết tự do biển cả, học thuyết không thừa nhận, họcthuyết Estoppel, học thuyết đất thống trị biển,…Ngày nay, các học thuyết này đều

đã phát triển thành nguyên tắc pháp luật chung

1.2.3.6 Nghị quyết của các tổ chức quốc tế

Nghị quyết của các tổ chức quốc tế là văn kiện pháp lý tồn tại dưới dạng vănbản và thể hiện quan điểm chung của tổ chức quốc tế đó về một vấn đề nhất địnhliên quan đến thành viên của tổ chức hoặc về vấn đề mang tính nội bộ chung nhằm

Trang 34

hiện thực hóa các mục tiêu, chiến lược tổ chức đề ra.

Trong hệ thống các tổ chức quốc tế, nghị quyết của tổ chức Liên hợp quốc(Nghị quyết của các cơ quan Đại Hội Đồng và Hội đồng Bảo an) cũng như nghịquyết của tổ chức quốc tế khu vực có vai trò quan trọng hơn cả

1.2.3.7 Pháp luật quốc gia

Pháp luật quốc gia được coi là nguồn căn cứ pháp lý quan trọng trong hệ

thống luật quốc tế nói chung và lĩnh vực luật biển nói riêng: i) pháp luật quốc gia

thể hiện quan điểm lập trường chính trị - pháp lý của quốc gia đó về một vấn đềnhất định, vì vậy, quy phạm này được sử dụng để đối sánh giữa tuyên bố, lập luậncủa một quốc gia về chủ quyền biển, đảo với thực tiễn hành vi xác lập, thực thi chủ

quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên các vùng biển, đảo đó; ii) là cơ sở xem

xét sự tồn tại hay không, các hành vi vi phạm pháp luật quốc tế thông qua sự thể

hiện trong quy phạm pháp luật quốc gia về cùng một vấn đề; iii) văn bản pháp luật

quốc gia qua các thời kỳ lịch sử, còn chứa đựng giá trị bằng chứng và pháp lý đểchứng minh hoặc bác bỏ một lập luận về vấn đề có liên quan

Trang 35

Chương 2 CÁC CƠ QUAN TÀI PHÁN QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA

CỦA VIỆT NAM 2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại các cơ quan tài phán quốc tế

2.1.1 Khái niệm, phân loại, đặc điểm, vai trò của cơ quan tài phán quốc tế

Quyền tài phán (Jurisdiction) là quyền của các cơ quan hành chính và tư

pháp của quốc gia thực hiện giải quyết các vụ việc vi phạm pháp luật theo thẩmquyền của họ Theo nghĩa thông thường, quyền tài phán là quyền xử lý, xét xử đốivới các hành vi vi phạm

Trong luật biển quốc tế cũng đề cập đến quyền tài phán khi ghi nhận quốcgia ven biển có quyền mở rộng chủ quyền ra hướng biển, tới vùng biển thuộc quyềnchủ quyền và quyền tài phán Quyền tài phán được Công ước Luật biển 1982 quyđịnh với nội hàm bao gồm thẩm quyền quản lý, kiểm soát, xét xử trên các lĩnh vựcdân sự, hành chính, hình sự đối với các hành vi phát sinh trong các hoạt động cụthể, tại các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia Ở phương diệnnày, khái niệm quyền tài phán được hiểu rộng hơn, không chỉ dừng lại ở thẩmquyền xét xử mà còn bao hàm cả quyền kiểm tra, kiểm soát và quản lý các hoạtđộng diễn ra trong phạm vi mỗi vùng biển của quốc gia ven biển

Từ điển Oxford đưa ra khái niệm tài phán (Jurisdiction) là quyền tạo nên các phán quyết và quyết định pháp lý (the official power to make legal decisions and

Judgements)[52] Một khái niệm khác lại chỉ đích danh “Tài phán” là quyền của

một tòa án giải quyết các vụ việc và đưa ra phán quyết giải quyết vụ việc đó [53]

Tóm lại, dù nhìn nhận ở khía cạnh rộng hay hẹp, pháp lý hay thực tiễn thì có

thể khái quát hóa “quyền tài phán” là thẩm quyền xem xét, giải quyết tranh chấp

thông qua các biện pháp, quy trình thủ tục xác định nhằm đưa ra các phán quyết/quyết định giải quyết tranh chấp.

Thẩm quyền tài phán được pháp luật quốc gia hoặc pháp luật quốc tế traocho chủ thể nhất định, thay mặt quốc gia (theo pháp luật quốc gia) hoặc đại diện cho

Trang 36

các quốc gia thành viên (theo điều ước quốc tế thành lập nên cơ quan tài phán)trong việc chuyên trách xét xử các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực và phạm vinhất định đã được ghi nhận trong luật quốc gia hoặc điều ước quốc tế đó.

Như vậy, cơ quan tài phán quốc tế được hiểu là các chủ thể được hình thành

dựa trên sự thỏa thuận (thông qua ký kết điều ước quốc tế) hoặc thừa nhận (thông qua gia nhập điều ước quốc tế hoặc chấp nhận thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo vụ việc) giữa các chủ thể luật quốc tế nhằm thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp theo trình tự, thủ tục luật định, trên cơ sở pháp luật quốc tế.

2.1.2 Phân loại các cơ quan tài phán quốc tế

Tài phán quốc tế đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử quan hệ quốc tế, vớidạng thức tồn tại đầu tiên là trọng tài quốc tế Cùng với sự phát triển của luật quốc

tế, tòa án được coi là trụ cột tài phán thứ hai mà các chủ thể luật quốc tế sử dụng đểgiải quyết tranh chấp Như vậy, dạng thức chủ yếu của cơ quan tài phán quốc tếchính là tòa án và trọng tài quốc tế

2.1.2.1 Trọng tài quốc tế

Trọng tài là hình thức cơ quan tài phán được hình thành và sử dụng từ rấtsớm để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan hệ quốc tế Một trong nhữngtòa trọng tài được thành lập sớm nhất là Tòa trọng tài được thành lập trên cơ sởHiệp định về hữu nghị, thương mại và hàng hải giữa Anh và Mỹ năm 1794 nhằmgiải quyết các vấn đề liên quan đến hai quốc gia sau chiến tranh giành độc lập của

Mỹ Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hình thức trọng tài được sử dụng phổ biếnhơn trong quan hệ giữa các quốc gia Châu Âu và Châu Mỹ La tinh, phạm vi giảiquyết tranh chấp của trọng tài cũng mở rộng hơn từ lĩnh vực thương mại sang cáclĩnh vực của công pháp quốc tế như tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụngđiều ước quốc tế, tranh chấp về chủ quyền biển đảo,… Hội nghị La Haye 1899 và

1907 cho thấy mức độ hoàn thiện hơn về trọng tài với việc đưa ra quy chế và thủ tục

tố tụng cho thiết chế này Như vậy, theo thời gian, cơ chế trọng tài được quy chế hóanhiều hơn, tuân thủ pháp luật một cách tuyệt đối hơn

So với hình thức Tòa án, trọng tài có những ưu điểm nổi trội về tính linh

Trang 37

hoạt, chủ động, nhanh gọn, tiết kiệm chi phí cho các bên tham gia tranh chấp Tuyvậy, hạn chế của trọng tài là tính ràng buộc trong thi hành các quyết định được đưa

ra thường không chặt chẽ và đảm bảo Đây cũng là nguyên nhân khiến cho nhiềuchủ thể luật quốc tế còn e ngại khi sử dụng biện pháp này cho các loại tranh chấpmang tính phức tạp và đòi hỏi một cơ chế ràng buộc thực thi trách nhiệm sau phánquyết một cách nghiêm chỉnh và mạnh mẽ

Hoạt động giải quyết tranh chấp của các cơ quan trọng tài thông thường đượcthiết lập trên cơ sở thỏa thuận trọng tài của các bên Tòa trọng tài có thể tồn tại dưới

một trong hai dạng thức: i) trọng tài adhoc; ii) trọng tài thường trực (hay trọng tài

quy chế) Trong khi trọng tài adhoc được hình thành và chỉ tồn tại theo vụ việc với

sự thỏa thuận của các bên tranh chấp, thì tòa trọng tài thường trực – đúng như têngọi của nó có đầy đủ trụ sở, quy chế hoạt động, hệ thống trọng tài viên, thậm chíquy tắc tố tụng riêng

và tham gia giải quyết các tranh chấp tại Tòa án thường lâu hơn và không linh hoạtnhư đối với quy trình xét xử tại trọng tài

Trong lĩnh vực biển, đảo, các tòa án quốc tế có thẩm quyền giải quyết tranhchấp điển hình là Tòa án Công lý quốc tế và Tòa án quốc tế về Luật biển

2.1.3 Đặc điểm, vai trò của cơ quan tài phán quốc tế

Khác với các phương thức giải quyết tranh chấp khác, giải quyết tranh chấptại các thiết chế tài phán mang những nét đặc thù riêng:

Thứ nhất: trọng tài và tòa án quốc tế được thành lập trên cơ sở điều ước quốc tế

do các chủ thể luật quốc tế (chủ yếu là quốc gia) thỏa thuận nhằm giải quyết các tranhchấp trong lĩnh vực chuyên biệt nhất định hoặc trong nhiều lĩnh vực khác nhau

Trang 38

Thứ hai: trọng tài và tòa án hoạt động giải quyết tranh chấp thông qua các

thẩm phán hoặc trọng tài viên – là những người có uy tín, trình độ chuyên môn cao,

tư cách đạo đức tốt, và được bổ nhiệm theo những tiêu chí về địa lý, nhiệm kỳ xácđịnh nhằm đảm bảo giải quyết hiệu quả, công bằng, vô tư các tranh chấp được đưa ra

Thứ ba: trọng tài và tòa án quốc tế thường giải quyết tranh chấp dựa trên các

quy tắc tố tụng và quy chế riêng của tòa, thể hiện trong điều ước quốc tế thành lậplên Tòa hoặc là một văn bản pháp lý riêng

Thứ tư: Cơ sở thiết lập thẩm quyền giải quyết tranh chấp của tòa án và tòa

trọng tài thường dựa trên sự thỏa thuận của các bên Riêng đối với tòa án, còn có thểdựa trên tuyên bố đơn phương chấp nhận trước thẩm quyền của tòa hoặc

Thứ năm: Kết quả giải quyết tranh chấp của các cơ quan tài phán quốc tế thể

hiện trong phán quyết hoặc quyết định của Tòa về vụ việc Phán quyết và quyếtđịnh được đưa ra thường mang tính chất chung thẩm, buộc các bên phải thi hành

Thứ sáu: Tòa án thường xây dựng cơ chế đảm bảo thực thi các phán quyết

của Tòa để đảm bảo tính hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp cũng như tínhthực thi phán quyết – là kết quả mà các bên tự nguyện và cùng tham gia giải quyếttranh chấp

Với các điểm đặc thù như trên, tòa án và trọng tài quốc tế có vai trò to lớntrong vấn đề giải quyết tranh chấp về chủ quyền biển, đảo:

Một là, giải quyết tranh chấp tại tòa án và trọng tài trực tiếp góp phần giữ gìn

hòa bình, ổn định chính trị, an ninh của quốc gia, khu vực và quốc tế; đồng thời, tácđộng thu hẹp khác biệt trong lập trường giữa các bên tranh chấp, tăng cường hiểubiết lẫn nhau, tránh xung đột sâu sắc, căng thẳng tình hình, ngưng trệ tiến trình hợptác quốc tế

Hai là, cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài và tòa án chứa đựng

các quy trình, thủ tục tố tụng rõ ràng, cụ thể, qua đó, các bên tranh chấp có cơ sởxác định, lựa chọn một cơ chế thích hợp cho tranh chấp phát sinh

Ba là, sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của các cơ quan tài phán quốc tế

là quá trình các bên tranh chấp vận dụng hệ cơ sở pháp lý quốc tế nhằm xây dựng

Trang 39

hệ thống luận cứ, luận chứng bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, bác bỏ cácluận điểm thiếu căn cứ của quốc gia khác, nhờ đó mà tranh chấp được giải quyết.

Bốn là, quá trình giải quyết tranh chấp tại các thiết chế tài phán quốc tế, với

những quy định mang tính chặt chẽ, quy củ về thủ tục tố tụng, các quốc gia có thểtiếp cận, tham gia thực thi pháp luật quốc tế, trách nhiệm pháp lý quốc tế

Năm là, cơ chế giải quyết tranh chấp tại tòa án và trọng tài quốc tế đặc biệt

có vai trò quan trọng đối với các quốc gia nhỏ yếu là một bên tranh chấp, có thể tậndụng được thế mạnh về pháp lý để đối trọng với bên tranh chấp còn lại là quốc gialớn mạnh về các tiềm lực kinh tế, quân sự

Sáu là, giải quyết tranh chấp tại tòa án và trọng tài quốc tế đưa đến các kinh

nghiệm quý báu trong vận dụng quy định pháp luật quốc tế cũng như bảo vệ lợi íchchính đáng của quốc gia

Bảy là, thông qua quá trình giải quyết tranh chấp của các cơ quan tài phán

quốc tế, nhiều quy định pháp luật quốc tế chưa rõ ràng hoặc còn khó hiểu đượcđưa ra giải thích và vận dụng phù hợp, tạo cơ sở để bổ sung, hoàn thiện hơn phápluật quốc tế

2.2 Các cơ quan tài phán quốc tế trong giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo và vấn đề áp dụng cho tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Để giải quyết các tranh chấp về chủ quyền biển, đảo nói chung và chủ quyềnhai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam nói riêng, các cơ quan tài phán

quốc tế chủ yếu sau đây được ghi nhận có thẩm quyền: i) Tòa án Công lý quốc tế;

ii) Tòa án quốc tế về Luật biển; iii) Tòa trọng tài thường trực La Haye; iv) Tòa trọng

tài thành lập theo Phụ lục VII Công ước Luật biển 1982; v) Tòa trọng tài thành lập

theo Phụ lục VIII Công ước Luật biển 1982

Trong phạm vi bài Luận văn sẽ đi vào nghiên cứu, phân tích lịch sử hìnhthành, cơ cấu tổ chức, chức năng, thẩm quyền, quy trình giải quyết vụ việc của các

cơ quan tài phán trên, đồng thời với việc xem xét đến thực tiễn giải quyết tranh chấpcủa các cơ quan để từ đó đưa ra đánh giá về triển vọng áp dụng cho vấn đề chủquyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Trang 40

2.2.1 Tòa án Công lý quốc tế và tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng

Sa, Trường Sa của Việt Nam

2.2.1.1 Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức

Tòa án Công lý quốc tế (International Court of Justice, sau đây được viết tắtbằng tên tiếng Anh là ICJ) được thành lập trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốcnăm 1945 và Quy chế của Tòa (Statute of the Court) Tòa là một trong sáu cơ quanchính của Liên hợp quốc, bên cạnh Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh

tế và Xã hội, Hội đồng quản thác, Ban Thư ký (Điều 7 Hiến chương Liên hợpquốc)

Về cơ cấu tổ chức của Tòa được ghi nhận tại Quy chế Tòa, theo đó bao gồmthẩm phán, các phụ thẩm, thư ký tòa và các ban đặc biệt của Tòa

- Thẩm phán của Tòa: ICJ bao gồm 15 thẩm phán hoạt động độc lập, được lựa

chọn không căn cứ vào quốc tịch trong số các nhân vật có phẩm chất đạo đức cao,đáp ứng được những yêu cầu đề ra ở quốc gia họ để chỉ định vụ xét xử cao nhất, hoặc

là những luật gia có uy tín lớn trong lĩnh vực luật quốc tế (Điều 2 Quy chế Tòa)

Trong số 15 thẩm phán, không được có hai thành viên của Tòa cùng mộtquốc tịch, trường hợp thẩm phán có nhiều quốc tịch, Tòa dựa trên nguyên tắc quốctịch hữu hiệu (nơi mà người đó thường xuyên sử dụng các quyền công dân vàquyền chính trị của mình) (Điều 3, khoản 2 Quy chế Tòa) Các thẩm phán cónhiệm kỳ 9 năm và có thể được bầu lại Lần bầu cử đầu tiên có 1/3 số thẩm phán

có nhiệm kỳ 3 năm và 1/3 số thẩm phán có nhiệm kỳ 6 năm Các thẩm phán củaTòa sẽ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình cho đến khi được thay Nếu có mộtghế khuyết thì Tòa phải yêu cầu tiến hành bầu cử người mới thay thế và thẩmphán mới được bầu sẽ đảm nhận trọng trách của người đó cho đến khi nhiệm kỳcủa người được thay thế kết thúc

Trong quá trình hoạt động với tư cách là thẩm phán của ICJ, các thành viêncủa Tòa được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao, đồng thời không đượclàm nhiệm vụ chánh án, luật sư, trạng sư cho bất cứ vụ án nào; không được thamgia vào giải quyết một vụ việc mà trước đó đã từng tham gia với tư cách là chủ tịch,

Ngày đăng: 05/04/2020, 20:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ ngoại giao Việt Nam (1984), Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: lãnh thổ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: lãnh thổViệt Nam
Tác giả: Bộ ngoại giao Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1984
2. Huỳnh Minh Chính (2003), “Pháp luật quốc tế và việc vạch biên giới giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng”, Tập san biên giới và lãnh thổ (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật quốc tế và việc vạch biên giới giữa ViệtNam với các quốc gia láng giềng”, "Tập san biên giới và lãnh thổ
Tác giả: Huỳnh Minh Chính
Năm: 2003
4. Nguyễn Bá Diến, Nguyễn Hùng Cường (2009), “Cơ chế giải quyết tranh chấp trên biển theo Công ước Luật biển 1982”, Tạp chí Khoa học ÐHQGHN, Luật học (25) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế giải quyết tranh chấp trênbiển theo Công ước Luật biển 1982”, "Tạp chí Khoa học ÐHQGHN, Luật học
Tác giả: Nguyễn Bá Diến, Nguyễn Hùng Cường
Năm: 2009
5. Nguyễn Bá Diến, ThS. Nguyễn Hùng Cường (2013), Thềm lục địa trong pháp luật quốc tế, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thềm lục địa trong phápluật quốc tế
Tác giả: Nguyễn Bá Diến, ThS. Nguyễn Hùng Cường
Nhà XB: NXB Thông tin và Truyền thông
Năm: 2013
8. Matthias Fueracker (2009), “Giải quyết tranh chấp biển quốc tế thông qua biện pháp tài phán”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế, ngày 26-27/11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp biển quốc tế thông qua biệnpháp tài phán”, "Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế
Tác giả: Matthias Fueracker
Năm: 2009
9. Monique Chemillier – Gendreau (1998), Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ quyền trên hai quần đảo HoàngSa và Trường Sa
Tác giả: Monique Chemillier – Gendreau
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1998
10. Lê Minh Nghĩa (2007),“Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam và các nước láng giềng”, Tạp chí Thời đại mới (12), tháng 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam vàcác nước láng giềng”, "Tạp chí Thời đại mới
Tác giả: Lê Minh Nghĩa
Năm: 2007
11. Robert C. Beckman & Leonardo Bernard (2011), “Các khu vực tranh chấp ở Biển Đông: Triển vọng giải quyết bằng trọng tài hoặc ý kiến tư vấn”, Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ ba “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực”, Hà Nội, tháng 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Các khu vực tranh chấp ởBiển Đông: Triển vọng giải quyết bằng trọng tài hoặc ý kiến tư vấn”, "Hội thảokhoa học quốc tế lần thứ ba “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triểntrong khu vực”
Tác giả: Robert C. Beckman & Leonardo Bernard
Năm: 2011
12. Đặng Xuân Thanh (2011), “Tình huống chiến lược Biển Đông”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế (3), tháng 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình huống chiến lược Biển Đông”", Tạp chíNghiên cứu Quốc tế
Tác giả: Đặng Xuân Thanh
Năm: 2011
13. Nguyễn Hồng Thao (2004), “Trung Quốc và tình hình trên khu vực Biển Đông”, Tập san Biên giới lãnh thổ (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc và tình hình trên khu vực BiểnĐông”, "Tập san Biên giới lãnh thổ
Tác giả: Nguyễn Hồng Thao
Năm: 2004
6. Đại hội đồng Liên hợp quốc (1970), Nghị quyết 2625 (XXV) ngày 24/10/1970 Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w