1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng mô hình blended learning trong dạy học chương “hiđrocacbon không no”, hóa học 11

82 191 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, thời lượng học tập trên lớp có hạn, việc tổ chức học tập cũng ít kinh tế khi sử dụng nhiều sách giáo khoa, tài liệu tham khảo và đồ dùng dạy học, đặc biệt chưa phát huy hết

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA HÓA HỌC - -

VŨ THỊ LAN

VẬN DỤNG MÔ HÌNH BLENDED LEARNING TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “HIĐROCACBON

KHÔNG NO”, HÓA HỌC 11

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Hóa học

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA HÓA HỌC - -

VŨ THỊ LAN

VẬN DỤNG MÔ HÌNH BLENDED LEARNING TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “HIĐROCACBON

KHÔNG NO”, HÓA HỌC 11

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Hóa học

Người hướng dẫn khoa học

ThS NGUYỄN VĂN ĐẠI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo Nguyễn Văn Đại đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Tôi xin cảm ơn các thầy cô trong khoa Hóa Học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Cẩm Giàng, Hải Dương đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2018

Tác giả

Vũ thị Lan

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BL Blended learning

CNTT Công nghệ thông tin

CNTT & TT (hay ICT) Công nghệ thông tin và truyền thông

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Mức độ sử dụng Internet của học sinh THPT 19

Bảng 1.2 Các hoạt độngchủ yếu của HS khi sử dụng Internet 19

Bảng 1.3 Những khó khăn gặp phải khi sử dụng Internet của học sinh 20

Bảng 3.3 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần số lũy tích bài kiểm tra số 55

Bảng 3.4 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần số lũy tích bài kiểm tra số 2 56

Bảng 3.5 Mô tả và so sánh dữ liệu kết quả của 2 bài kiểm tra 57

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ tần suất biểu diễn phân loại kết quả bài kiểm tra số 1 54

Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra số 1 55

Hình 3.3 Biểu đồ tần suất biểu diễn phân loại kết quả bài kiểm tra số 2 56

Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra số 2 57

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Phạm vi nghiên cứu 2

6 Giả thuyết khoa học 2

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc khóa luận 3

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH BLENDED LEARNING TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT 4

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Trên Thế giới 4

1.1.2 Ở Việt Nam 5

1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT trong dạy học hóa học 7

1.2.1 Vai trò và một số định hướng ứng dụng ICT trong dạy học hóa học 7

1.2.2 Thuận lợi của việc ứng dụng ICT trong dạy học hóa học 10

1.2.3 Khó khăn của việc ứng dụng ICT trong dạy hoc Hóa học 10

1.3 Tổng quan về Blended learning 11

1.3.1 Khái niệm 11

1.3.2 Cấu trúc của Blended learning 12

1.3.3 Một số mô hình Blended learning 13

1.3.3.1 Mô hình Face-To-Face 14

1.3.3.2 Mô hình luân phiên/quay vòng (Rotation) 14

1.3.3.3 Mô hình Flex 14

1.3.3.4 Mô hình phòng học trực tuyến 15

1.3.3.5 Mô hình tự kết hợp 15

1.3.3.6 Mô hình trực tuyến (Online Driver) 15

1.3.4 Ưu điểm của Blended learning 16

Trang 8

1.4 Thực trạng sử dụng internet trong học tập của HS ở trường THPT 18

Chương 2 VẬN DỤNG MÔ HÌNH BLENDED LEARNING TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “HIĐROCACBON KHÔNG NO”, HÓA HỌC 11 21

2.1 Mục tiêu và nội dung dạy học chương “Hiđrocacbon không no”, Hóa học 11 21

2.1.1 Mục tiêu 21

2.1.2 Nội dung và phân phối chương trình 22

2.1.2.1 Nội dung 22

2.1.2.2 Phân phối chương trình 23

2.2 Quy trình vận dụng mô hình Blended learning trong dạy học chương “Hiđrocacbon không no”, Hóa học 11 24

2.3 Một số công cụ hỗ trợ dạy học chương “Hiđrocacbon không no”, Hóa học 11 theo mô hình Blended learning 24

2.3.1 Video bài giảng 24

2.3.2 Nhóm facebook 25

2.3.3 Một số bài tập chương “Hiđrocacbon không no” 28

2.4 Kế hoạch bài học minh họa 37

2.4.2 KHBH Số 2 45

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 51

3.1 Mục đích thực nghiệm 51

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 51

3.3 Nội dung, đối tượng và địa bàn thực nghiệm 51

3.4 Tiến hành thực nghiệm 51

3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 52

3.6 Xử lý kết quả thực nghiệm 52

3.6.1 Phương pháp xử lí kết quả thưc nghiệm sư phạm 52

3.6.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 54

3.7 Đánh giá kết quả thực nghiệm 58

KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHỤ LỤC 64

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phương thức dạy học trực tiếp truyền thống (face to face) là phương thức dạy học chính yếu trong các nhà trường ở nước ta hiện nay Theo phương thức này, toàn bộ quá trình học tập có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giáo viên (GV) và học sinh (HS) Người GV đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy học “Thầy giảng – trò nghe”, đó cũng là nguyên nhân làm cho học sinh trở nên thụ động, kém tích cực trong việc lĩnh hội kiến thức Bên cạnh đó, thời lượng học tập trên lớp có hạn, việc tổ chức học tập cũng ít kinh tế khi sử dụng nhiều sách giáo khoa, tài liệu tham khảo và đồ dùng dạy học, đặc biệt chưa phát huy hết thế mạnh của sự phát triển khoa học và công nghệ trong “thời đại số” Trước tình hình đó, Nghị quyết 29 – NQ/TW [1] về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo đã nhấn mạnh:

“Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), đặc biệt là Internet thế kỷ XXI cũng làm phát sinh phương thức dạy học mới - dạy học trực tuyến (O - learning hay E – Learning) Với nhiều ưu điểm nổi bật, dạy

học trực tuyến được xem là phương thức hữu hiệu cho nhu cầu “học mọi nơi, học

mọi lúc, học linh hoạt, học một cách mở và học suốt đời” của mọi người và trở

thành xu hướng tất yếu trong giáo dục và đào tạo hiện nay, tạo ra những thay đổi lớn trong hoạt động dạy và học Tuy nhiên, có thể nói rằng dạy học trực tuyến không thể thay thế vai trò chủ đạo của dạy học trực tiếp trên lớp, máy tính không thể thay thế hoàn toàn phấn trắng, bảng đen Vì vậy việc tìm ra giải pháp kết hợp giữa dạy học trực tiếp trên lớp học truyền thống với giải pháp trực tuyến qua mạng Internet là điều hết sức cần thiết cho giáo dục hiện nay Sự kết hợp này tạo lên hình thức dạy học - Blended learning

Hiện nay, những giải pháp học trên mạng Internet dưới các công cụ như Website, blog, … đang dần hình thành và phát triển, có thể thấy được những kết quả

Trang 10

hết sức khả quan Ở trường trung học phổ thông (THPT), cũng đã có các HS tiếp cận với việc học trực tuyến, tuy nhiên việc học tập chỉ mang tính chất hỗ trợ, chưa kết hợp với việc học tập trên lớp như một hình thức dạy học thực sự trong, do đó việc nghiên cứu, thiết kế Blended learning dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng là cần thiết, nhất là khi các công cụ phục vụ học tập trực tuyến đang dần trở lên phổ biến, kĩ năng sử dụng các công cụ này của HS cũng khá tốt trong thời điểm hiện nay

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Vận

dụng mô hình Blended learning trong dạy học chương “Hiđrocacbon không no”, Hóa học 11

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng mô hình Blended learning trong dạy học chương

“Hiđrocacbon không no”, Hóa học 11 nhằm nâng cao chất lượng dạy học, góp

phần phát triển năng lực của HS ở trường THPT

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể: Quá trình dạy học ở trường phổ thông

Đối tượng nghiên cứu: Mô hình Blended learning

4 Phạm vi nghiên cứu

Dạy học nội dung Chương “Hiđrocacbon không no”, Hóa học 11 THPT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận, thực tiễn liên quan đến đề tài: Ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học, Blended learning

- Nghiên cứu thực trạng sử dụng Internet, các điều kiện vận dụng Blended learning trong dạy học ở trường THPT

- Đề xuất quy trình vận dụng Blended learning trong dạy học chương

“Hiđrocacbon không no”, Hóa học 11 Thiết kế các công cụ dạy học và kế hoạch

bài học minh họa

- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các đề xuất trong

đề tài

6 Giả thuyết khoa học

Trang 11

Nếu vận dụng mô hình Blended learning trong dạy học chương “Hiđrocacbon

không no”, Hóa học 11 một cách hợp lí sẽ nâng cao chất lượng dạy học, góp phần

phát triển năng lực của HS ở trường THPT

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các văn bản, tài liệu lý luận liên quan đến đề tài

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra bằng phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp giáo viên và học sinh

- Thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp toán học thống kê xử lí số liệu thực nghiệm

8 Cấu trúc khóa luận:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận bao gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng mô hình dạy học

Blended learning trong dạy học ở trường THPT

Chương 2: Vận dụng mô hình Blended learning trong dạy học chương

“Hiđrocacbon không no”, Hóa học 11

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

có một sự phát triển bùng nổ trong lĩnh vực e-learning Và điều đó đã được chứng minh qua sự thành công của các hệ thống thống giáo dục hiện đại có sử dụng phương pháp e-learning của nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Nhật…

Quá trình phát triển của e-learning có thể chia ra thành 4 thời kỳ như sau:

- Trước năm 1983: Thời kì này máy tính chưa được sử dụng rộng rãi, phương

pháp giáo dục “Lấy giáo viên (GV) làm trung tâm” là phương pháp phổ biến

- Giai đoạn 1984 – 1993: Sự ra đời của hệ điều hành Windows 3.1, máy tính,

phần mềm trình diễn Powerpoint, cùng các công cụ đa phương tiện khác đã mở ra một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên đa phương tiện Những công cụ này cho phép tạo ra những bài giảng có tích hợp âm thanh và hình ảnh dựa trên công nghệ Computer Base Training (CBT) Bài học được phân phối qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm Vào bất kì thời gian nào, ở đâu, người học đều có thể mua và tự học

- Giai đoạn 1993–1999: Khi công nghệ web được phát minh, các chương

trình: Email, Web, trình duyệt, Media player, kỹ thuật truyền Audio/Video tốc độ thấp cùng với ngôn ngữ hỗ trợ Web như HTML, JAVA bắt đầu trở nên thông dụng

và đã làm thay đổi bộ mặt của đào tạo bằng đa phương tiện

- Giai đoạn 2000 – đến nay: Các công nghệ tiên tiến bao gồm JAVA và các

ứng dụng mạng IP, công nghệ truy cập mạng và băng thông Internet rộng, các công

Trang 13

nghệ thiết kế web tiên tiến đã trở thành một cuộc cách mạng trong giáo dục và đào tạo Ngày nay thông qua web, GV có thể hướng dẫn trực tuyến (hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn) tới mọi người học Càng ngày công nghệ web càng chứng tỏ

có khả năng mang lại hiệu quả cao trong giáo dục đào tạo, cho phép đa dạng hóa các môi trường học tập Điều này đã tạo ra một cuộc cách mạng trong đào tạo với giá thành rẻ, chất lượng cao và hiệu quả Đó chính là kỷ nguyên của e-learning

Cùng với sự phát triển của e – learning, Blended learning cũng đã và đang một

xu hướng mới của giáo dục trên toàn thế giới Nghiên cứu của Osguthope & Graham [20] đã chỉ ra sáu lí do để chọn thiết kế hoặc sử dụng một hệ thống BL là: (1) tính phong phú của sư phạm (2) tiếp cận với sự hiểu biết (3) sự tương tác xã hội (4) hướng tới cá nhân (5) chi phí hiệu quả (6) dễ dàng sửa đổi Kết quả nghiên cứu của Graham, Allen & Ure [19] cũng cho thấy, đa số người dân chọn BL vì ba lí do chính (1) hoàn thiện tính sư phạm (2) tăng tính truy cập và sự linh hoạt (3) hiệu quả trong việc tiết kiệm chi phí dạy học

Ở châu Á hiện nay, BL vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành công, có một số lý do như: Các quy tắc, luật lệ, quan liêu, sự ưa chuộng đào tạo truyền thông của văn hóa châu Á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia Tuy nhiên, đó chỉ là những rào cản tạm thời, các quốc gia châu Á đã thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà

BL mang lại Một số quốc gia, đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu Á cũng đang có những nỗ lực phát triển mô hình BL tại đất nước mình như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc… Nhật Bản là nước có ứng dụng e - learning cũng như áp dụng mô hình BL nhiều nhất so với các nước khác trong khu vực

Trang 14

ĐHQGHN năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm 2001 và gần đây là Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004, và Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai e-learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về e-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai e- Learning Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm

hỗ trợ đào tạo và cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, Viện CNTT - ĐHQGHN, Đại học Bách Khoa Hà Nội, ĐHQG TP HCM, Học viện Bưu chính Viễn thông, Đại học Sư phạm Hà Nội

Về Blended learning ở Việt Nam thì vào khoảng năm 2008 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu tìm hiểu BL về không nhiều Từ năm 2009 trở về đây, việc nghiên cứu BL đã được Bộ GD&ĐT quan tâm Nhiều hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề học kết hợp BL và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam Tiêu biểu là Hội thảo “Ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập hỗn hợp đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới” được tổ chức với sự phối hợp của trường Phổ Thông Liên Cấp Olympia và ĐH Giáo dục, ĐH Quốc gia Hà Nội vào tháng 12/2015

Mô hình BL ở Việt Nam cũng đã được triển khai và ứng dụng, chủ yếu trong quá trình dạy học ngoại ngữ Ngoài ra, một số tác giả cũng đã nghiên cứu ứng dụng

mô hình này trong dạy học một số nội dung sinh học [9,12], vật lý [16] và rèn luyện

kĩ năng công nghệ thông tin cho sinh viên sư phạm sinh học [8] Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mô hình BL mang lại hiệu quả tốt, phù hợp với trình độ người học và điều kiện cơ sở vật chất hiện nay

Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu tự học trau dồi thêm kiến thức của các

em HS ngày càng cao HS có thể vừa học trên lớp vừa học ở nhà dưới sự hướng dẫn của các thầy cô, học mọi lúc mọi nơi Chính vì thế BL là một trong những hình thức

Trang 15

đào tạo góp phần thực hiện mục tiêu trên Với việc Việt Nam gia nhập WTO và hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng, giáo dục Việt Nam đang đứng trước những thách thức đào tạo những công dân tương lai có đầy đủ năng lực, trí tuệ, khả năng tự học, tự nâng cấp mình trong môi trường mới Bộ GD&ĐT cũng đã

có nhiều động thái tích cực nhằm khuyến khích đưa công nghệ thông tin vào giảng dạy, đưa những kiến thức về BL tới những trường học, nhà giáo, những người quan tâm đến giáo dục, sinh viên, học sinh Hiện nay chúng ta đã xây dựng được một số các công cụ hỗ trợ cho việc tạo các bài giảng trực tuyến như Ispring, Adobe presenter… cũng như các phần mềm quản lý hệ thống học tập trực tuyến Tuy vậy,

BL ở nước ta hiện nay mới đang ở mức sơ khai, số lượng và chất lượng chưa cao, phạm vi và đối tượng tham gia còn hạn chế, thiếu cơ sở vật chất cần thiết Tỉ lệ giờ online trực tiếp giữa GV và HS trên mạng còn thấp, thắc mắc của học sinh không được giải đáp ngay Nhiều học sinh còn chưa biết sử dụng máy tinh và mạng internet Tâm lý học truyền thống “thầy giảng trò chép” vẫn còn ăn sâu trong người học” Đây là thực tế vô cùng khó khăn trong quá trình học tập Tuy vậy trong tương lai tới vấn đề này sẽ cần được cải thiện và khắc phục

1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT trong dạy học hóa học

1.2.1 Vai trò và một số định hướng ứng dụng ICT trong dạy học hóa học

Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đặc biệt là Internet đang là một

công cụ không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta, ICT đang khẳng định được tính hữu ích và có tầm quan trọng lớn trong mọi mặt của cuộc sống từ công việc văn phòng kế toán, gửi thư, từ ký kết hợp đồng, kinh doanh online, cho đến dạy và

học,… Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã khuyến khích triển khai viêc ứng

dụng ICT trong giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục Và hoạt động này đang được triển khai rộng rãi ở mọi loại hình cơ sở đào tạo, nhận được sự ủng hộ và kết quả tích cực của thầy cô và học sinh Thậm chí, thiết bị CNTT đã trở thành vật “bất

ly thân”, là trợ thủ đắc lực của rất nhiều thầy cô giáo và học sinh

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tăng cường trang bị thiết bị dạy học hiện đại như

phần mềm dạy học, máy tính, máy chiếu, bảng tương tác… để nâng cao chất lượng

Trang 16

dạy học, điều này đã và đang là một trong những ưu tiên hàng đầu của các trường học, cơ sở đào tạo Hầu hết các môn học trong đó có môn Hóa học đều có thể ứng dụng công nghệ thông tin để tăng độ hấp dẫn của các bài giảng, khiến học sinh dễ tiếp thu kiến thức Với xu thế phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin – truyền thông, giáo viên dần thay đổi chuyển từ cách dạy học truyền thống với hình thức đọc - chép mà thay vào đó là giáo án điện tử với những hình ảnh minh họa sống động, gây sự tò mò chú ý của các em HS giúp cho chất lượng giờ học được nâng cao một cách hiệu quả Rèn luyện tính chủ động trong học tập của HS Trong mỗi giờ học với giáo án điện tử, các em sẽ được mở rộng hiểu biết hơn thông qua các video, đoạn phim, hình ảnh liên quan đến bài học Hơn thế nữa, giờ đây việc trao đổi nghiệp vụ của GV qua email hoặc tham gia các diễn đàn giáo dục cũng đã trở lên phổ biến, thực sự ICT không chỉ là trợ thủ đắc lực cho các GV mà còn là người bạn đồng hành thân thiết của các HS trong xã hội học tập, kỷ nguyên tri thức số Đối với việc dạy học môn Hóa học, có thể chỉ ra một số ưu điểm của việc ứng dụng CNTT trong dạy học như sau:

- Đối với giáo viên: Ứng dụng ICT giúp GV nâng cao tính sáng tạo và trở nên

linh hoạt hơn trong quá trình dạy học Các thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hóa học hiện có mà còn được tìm hiểu thêm về những kiến thức chuyên ngành khác và học hỏi các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng ICT trong dạy học còn giúp GV có thể chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng bài giảng của mình GV có thể

sử dụng các phần mềm như: Word, Powerpoint, Chemoffice, Chemlab, Violet, Flash, Lecture Maker, Adobe Presenter… góp phần nâng cao hiệu quả của việc thiết

kế, biên soạn tư liệu dạy học, tạo môi trường học tập linh hoạt và hiệu quả Ngoài

ra, ứng dụng ICT còn hỗ trợ hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực, tăng hiệu quả quản lý, tổ chức, điều khiển lớp học và hữu ích để GV rèn luyện năng lực nghề

nghiệp thường xuyên và lâu dài

- Đối với học sinh: Các em được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn

hơn hẳn phương pháp đọc – chép truyền thống ICT có ưu điểm trong việc mô tả

Trang 17

trực quan sinh động các biểu tượng và quá trình hóa học, nâng cao tính hứng thú, tích cực của HS vào quá trình học tập hóa học Ngoài ra, sự tương tác giữa thầy cô

và học trò cũng được cải thiện đáng kể, HS có nhiều cơ hội được thể hiện mình Điều này không chỉ giúp các em ngày thêm tự tin mà còn để cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có

những điều chỉnh phù hợp và khoa học

Việc được tiếp xúc nhiều với ICT trong lớp học còn mang đến cho các em HS những kỹ năng tin học và các kỹ năng tìm kiếm thông tin, thu thập số liệu, xử lý số liệu, thảo luận số liệu, tự học và tự học suốt đời… ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Đây sẽ là nền tảng và sự trợ giúp đắc lực giúp hình thành nên các năng lực của HS THPT

Việc sử dụng Internet đã hỗ trợ rất tốt cho việc học tập của HS như HS tự nghiên cứu bài tập trước khi vào lớp thông qua Internet qua đó nắm được trước nội dung bài học Nhờ có CNTT, nhờ có Internet mà chất lượng giáo dục nước ta ngày càng được nâng cao và cải thiện một cách vượt bậc Nhiệm vụ của giáo dục là không ngừng nâng cao và thay đổi phương pháp học tập một cách hiệu quả trong đó ứng dụng ICT trong nền giáo dụng là một hướng đi đúng đắn

Xuất phát từ những ưu điểm đó, một số định hướng ứng dụng ICT trong dạy học Hóa học đã được đề cập đến bởi tác giả Nguyễn Cương [6] như:

(1) Xây dựng đĩa CD thí nghiệm mô phỏng hoặc thí nghiệm ảo, xây dựng một

số trang web dạy học một số nội dung hóa học có các mô hình xây dựng khái niệm

và thí nghiệm mô phỏng

(2) Thiết kế các bài giảng điện tử, giáo án điện tử để nâng cao hiệu quả dạy học phục vụ cho quá trình dạy học ở trường trung học, đồng thời kết hợp với ứng dụng một số phần mềm như là phương tiên hỗ trợ thực hiện các PPDH tích cực (3) Làm các phần mềm quản lý, chấm bài thi trắc nghiệm…

(4) Tạo môi trường giao tiếp với người học và đồng nghiệp, người học có thể giao tiếp với tất cả các đối tượng bằng email hay các công cụ điện tử khác…

Trang 18

Ngoài ra, Tác giả Trần Trung Ninh [15] đề xuất ứng dụng ICT như là một công cụ để tạo ra môi trường học tập cho phép HS tiếp thu bài một cách tích cực, chủ động và hiệu quả nhất

1.2.2 Thuận lợi của việc ứng dụng ICT trong dạy học hóa học

Có thể chỉ ra một số thuận lợi khi ứng dụng ICT trong dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng như sau:

- Có nhiều văn bản của Nhà nước và Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành nhằm khuyến khích việc đẩy mạnh ứng dụng ICT trong dạy học như: Luật CNTT [11], Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17-10-2001 [2], Quyết định 698/QĐ-TT [3], Thông tư

số 08/TT-BGDĐT, Chỉ thị 55/2008/CT-BGDĐT tăng cường giảng dạy và đào tạo ứng dụng CNTT trong ngành Giáo dục [4]

- Có rất nhiều các phần mềm như Word, Powerpoint, Chemoffice, Chemlab, Violet, Flash, Lecture Maker, Adobe Presenter và tài liệu tham khảo, hướng dẫn sử dụng phần mềm phục vụ cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học

- Điều kiện cơ sở vật chất ở các nhà trường phổ thông ngày càng được trang bị tốt hơn, máy tính, máy chiếu, mạng internet đã dần trở lên phổ biến trong trường học và cuộc sống

- Môn Tin học đã trở thành một môn học quan trọng của HS, góp phần hình thành năng lực tin học của HS phổ thông

- Các môn tin học và ứng dụng CNTT trong dạy học chuyên ngành đã được giảng dạy ở các trường sư phạm giúp rèn luyện kỹ năng cho GV tương lai ngay từ giảng đường đại học

1.2.3 Khó khăn của việc ứng dụng ICT trong dạy hoc Hóa học

Việc đưa công nghệ thông tin và truyền thông ứng dụng vào dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng đã đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn Khó khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn Chẳng hạn:

Trang 19

- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học có thể dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó và gây lúng túng, mất thời gian tiết học (đặc biệt đối với những giáo viên chưa thành thạo CNTT)

- Dạy học theo lối truyền thông vẫn còn ăn sâu vào mỗi giáo viên Công bằng

mà nói, lối dậy truyền thống cũng có những ưu điểm riêng của nó Khi sử dụng ICT trong dạy học, GV sẽ khó chủ động về giờ dạy và dễ làm phân tán sự tập trung của người học Do việc chuẩn bị bài giảng bằng giáo án điện tử nên đôi khi người dạy sẽ gặp trường hợp "cháy giáo án" bởi không thể rút gọn được nội dung đang trình chiếu Không những vậy việc lạm dụng âm thanh, hình ảnh… không hợp lý cũng dễ làm người học mất tập trung vào nội dung bài học Bên cạnh đó, có nhiều giáo viên còn chỉ tập trung vào CNTT mà không chú ý đến người học, giảm tương tác trực tiếp với học sinh dẫn đến giờ giảng không hiệu quả và vô hình tạo khoảng cách đối với chính những học trò của mình

- Ngoài ra, cơ sở vật chất của trường học không được trang bị đồng bộ, một số trường học có cơ sở vật chất kém cũng gây khó khăn cho GV trong việc ứng dụng ICT trong dạy học Trình độ CNTT của HS không đồng đều tạo ra khoảng cách về mặt công nghệ, ảnh hưởng không tốt đến công việc dạy học của GV

CNTT tạo ra môi trường giáo dục có tính tương tác cao Tuy nhiên, cần phải ứng dụng CNTT một cách hợp lý, tránh lạm dụng để đem lại hiệu quả cao nhất

1.3 Tổng quan về Blended learning

1.3.1 Khái niệm

Học kết hợp “Blended Learning” xuất phát từ nghĩa của từ “Blend” tức là

“pha trộn” để chỉ một hình thức tổ chức dạy học hết sức linh hoạt, là sự kết hợp

“hữu cơ” của nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau Đây là một hình thức học khá phổ biến trên thế giới Có nhiều định nghĩa khác nhau về học kết hợp

BL là sự pha trộn của công nghệ đa phương tiện, CD, streaming, các lớp học

Trang 20

ảo, voicemail, email và các cuộc gọi hội nghị, hoạt ảnh trực tuyến và truyền hình (Thorne, 2003) [24]

BL có nghĩa là việc đào tạo có người hướng dẫn một cách truyền thống được

bổ sung bởi các định dạng điện tử khác BL sử dụng nhiều hình thức khác nhau của e - learning (Bersin, 2004) [17]

BL bao gồm việc sử dụng kết hợp phương thức truyền tải học tập đồng bộ

và không đồng bộ để đáp ứng mục tiêu người học

BL là sự kết hợp của mặt đối mặt và các yếu tố kỹ thuật số (Carliner, & Shank, 2008)

BL kết hợp nhiều hoạt động khác nhau như cuộc họp mặt đối mặt, các modules học tập dựa trên Internet, và cộng đồng học tập ảo (Link, & Wagner, 2009)

BL là sự tích hợp của học tập mặt đối mặt và học tập trực tuyến giúp nâng cao kinh nghiệm học tập và mở rộng việc học tập thông qua các phát minh của công nghệ thông tin và truyền thông Tăng cường sự tham gia hoạt động của học sinh thông qua các hoạt động trực tuyến và nâng cao hiệu quả đào tạo bằng cách giảm thời gian thuyết trình

Để phù hợp với môi trường học tập, trình độ HS và khả năng CNTT và truyền thông ở Việt Nam, theo chúng tôi:

Blended learning là sự kết hợp “hữu cơ”, bổ sung lẫn nhau giữa hình thức tổ chức dạy học trên lớp F2F (mặt đối mặt) dưới sự hướng dẫn của GV và hình thức tổ chức dạy học qua mạng e-learning với tính tự giác của HS thành một thể thống nhất, trong đó các PPDH được vận dụng mềm dẻo để tận dụng tối đa ưu điểm của CNTT nhằm mang lại hiệu quả học tập tốt nhất

1.3.2 Cấu trúc của Blended learning

Theo khái niệm về Blended learning, của mô hình dạy học này bao gồm hai thành phần chính đó là:

(1) Dạy học truyền thống thông qua việc tương tác trực tiếp giữa GV –

HS, HS – HS trên lớp

Trang 21

(2) Dạy học trực tuyến thông qua việc ứng dụng ICT

Mặc dù, có một số quan điểm khác nhau đưa ra thành phần cấu trúc của BL bao gồm nhiều yếu tố khác nhau nhưng về cơ bản BL vẫn dựa trên hai yếu tố chính này

Theo lý thuyết của các tác giả Keller, Gagné, Bloom, Merrill, Crark và Gery thì cấu trúc của BL bao gồm 5 thành phần chính là:

(1) Học trên lớp hoặc học từ xa có sự hỗ trợ của GV: Hình thức học có sự

hướng dẫn của GV và tất cả HS tập trung tại một thời điểm

(2) Học trực tuyến: Hình thức học dựa vào kinh nghiệm của HS, HS tự hoàn

thành nội dung học theo khả năng và thời gian của họ, như là quá trình học tập với

sự giúp đỡ của máy tính và phần mềm trong đĩa CD hoặc dựa trên Internet

(3) Học cộng tác: Môi trường trong đó người học giao tiếp với người khác, ví

dụ: E-mail, các cuộc thảo luận hoặc trò chuyện trực tuyến HS và GV có thể hợp tác đồng bộ trong các phòng chat, hoặc không đồng bộ bằng cách sử dụng e-mail và các cuộc trao đổi thảo luận Đây được hiểu là môi trường mà trong đó HS giao tiếp với nhau hoặc HS giao tiếp với GV thông qua thư điện tử, thảo luận theo chủ đề hoặc đối thoại trực tuyến

(4) Đánh giá: Việc đánh giá có thể thực hiện trước khi HS tự học hoặc tham

gia lớp học để xác định khả năng ban đầu Việc đánh giá cũng có thể được thực hiện theo lịch trình của bài học hoặc theo các sự kiện trực tuyến nhằm đánh giá khả năng tiếp thu của HS

(5) Tài liệu tham khảo: Các tài liệu tham khảo nhằm duy trì việc tự học và

nâng cao khả năng tiếp thu thông qua các tài liệu bằng pdf, powerpoint, microsoft word

1.3.3 Một số mô hình Blended learning

Mô hình BL không còn chỉ là một lựa chọn cho các lớp học kết hợp giữa giảng dạy trực tiếp và cơ hội học tập trực tuyến Mô hình này còn cho phép cá nhân hóa, linh hoạt và nhiều cơ hội hơn cho sự thành công của người học Các nhà giáo dục đã phát triển lên 6 mô hình học tập hỗn hợp Các giáo viên hoặc các trường học có thể

Trang 22

lựa chọn trong số những mô hình đó căn cứ vào đặc thù học sinh của họ 6 mô hình học tập hỗn hợp được tóm tắt dưới đây:

1.3.3.1 Mô hình Face-To-Face

Mô hình này sẽ hiệu quả nhất đối với những lớp học đa dạng Nơi mà các học sinh có sự phân khúc khác nhau về khả năng cũng như trình độ hiểu biết Nhìn chung, chỉ có một vài học sinh sẽ tham gia vào thành phần học tập trực tuyến, như sau:

 Những học sinh ở các mức độ thành thạo cao hơn trình độ lớp của họ có thể tiến hành với tốc độ nhanh hơn Điều này sẽ tránh sự nhàm chán bằng cách cung cấp thử thách phù hợp với khả năng tiếp thu nhanh của họ

 Những học sinh mà khả năng tiếp thu dưới mức trình độ lớp của họ thì sẽ nỗ lực tìm ra biện pháp thích hợp đẩy nhanh tiến độ học của họ

Cái hay của phương pháp học trực tuyến đối với những học sinh này là họ có thể thực hành đến khi thành thạo các kĩ năng và đúc kết ra kỹ thuật riêng của họ cái

mà sẽ giúp họ tăng cường trí nhớ trong việc lưu lại nội dung khi được yêu cầu

1.3.3.2 Mô hình luân phiên/quay vòng (Rotation)

Đây thực sự là biến thể của mô hình trạm học tập mà các giáo viên đã sử dụng trong nhiều năm qua Thời gian biểu được thiết lập để các học sinh vừa có thời gian học tập trực tiếp với giáo viên và học trực tuyến Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh nhiều hơn sự hỗ trợ cá nhân dựa trên nhu cầu của họ

1.3.3.3 Mô hình Flex

Mô hình này chủ yếu dựa trên hướng dẫn giảng dạy trực tuyến, với các giáo viên đóng vai trò là người trực tiếp hướng dẫn hơn là người cung cấp các hướng dẫn Mô hình này được sử dụng nhiều nhất và thành công nhất trong các trường hợp sau:

 Trường học đặc biệt nơi mà phần lớn học sinh gặp phải vấn đề gì đó Lớp học truyền thống không phù hợp với những học sinh này

 Trường học đặc biệt nơi mà các học sinh được tham gia vào các chương trình vừa học vừa làm, có vấn đề về sự tham gia, hoặc học chương trình học bán thời gian

Trang 23

1.3.3.4 Mô hình phòng học trực tuyến

Mô hình này cho phép các học sinh tham gia trường học trực tuyến toàn thời gian trong suốt khóa học Sẽ không có các giáo viên trình độ cao giảng dạy trực tiếp Tuy nhiên, thay vào đó là các phụ tá đã được đào tạo đóng vai trò giám sát Đây là một lựa chọn tốt trong những trường hợp sau:

 Các học sinh trung học mà cần phải có lịch học linh hoạt để còn làm những nhiệm vụ khác

 Các học sinh trung học chọn phương án này để đẩy nhanh quá trình học so với phương pháp truyền thống

 Những học sinh mà cần học với tốc độ chậm hơn lớp truyền thống

Các trường hoặc khu vực đối mặt với vấn đề về ngân sách và không thể mở các lớp học truyền thống đáp ứng nhu cầu tất cả mọi người, hoặc do hạn chế về cơ

sở vật chất hoặc không thể thuê đủ các giáo viên có chứng chỉ Mô hình này giúp giảm với các vấn đề về quy mô lớp học

1.3.3.5 Mô hình tự kết hợp

Mô hình này cho phép các môn học nằm ngoài chương trình học truyền thống

ở các trường hoặc khu vực nhất định Học sinh tham gia các lớp học truyền thống nhưng sau đó sẽ ghi danh vào các khóa học để bổ sung cho các chương trình nghiên cứu thường xuyên của họ Mô hình này đặc biệt có ích trong những trường hợp sau:

 Một khóa học không được cung cấp bởi trường nhưng các học sinh vẫn có thể lựa chọn nếu họ muốn học một lĩnh vực cụ thể nào đó

 Những học sinh muốn học các khóa nâng cao để lấy tín chỉ đại học sớm có thể ghi danh vào các khóa học được thiết kế và đã được phê duyệt

 Những học sinh có động lực học cao và tinh thần tự giác trong học tập

1.3.3.6 Mô hình trực tuyến (Online Driver)

Mô hình này hoàn toàn ngược lại với mô hình học tập truyền thống Học sinh học tập từ xa (ví dụ: Nhà của họ) và nhận tất cả hướng dẫn qua nền tảng trực tuyến Thông thường, học sinh có cơ hội “check-in” với một giáo viên của khóa học và nhắn tin hỏi trực tuyến nếu họ có thắc mắc Các trường và khu vực mà cung cấp mô

Trang 24

hình này nhận thấy rằng số lượng học sinh lựa chọn nó tăng lên hàng năm Mô hình này hoạt động hiệu quả đối với những đối tượng học sinh sau:

 Những học sinh có bệnh mãn tính/ người khuyết tật mà thấy khó khăn khi đến trường

 Những học sinh có việc làm hoặc có các nghĩa vụ khác đòi hỏi thời gian ở trường linh hoạt cái mà rất khó để làm được ở các lớp học truyền thống

 Những học sinh có động lực học tập cao muốn quá trình học diễn ra nhanh hơn so với học theo cách truyền thống

Trong khi rất nhiều giáo viên “truyền thống” có thể phủ nhận môi trường học tập hỗn hợp, xu hướng này vẫn luôn tồn tại Những học sinh trong thời buổi kĩ thuật

số, hiểu được tiềm năng thành công mà học hỗn hợp có thể mang đến cho họ và họ rất hào hứng về những cơ hội mà học hỗn hợp cung cấp Và khi các khu vực trường học tiếp tục phải trải qua các vấn đề khủng hoảng tài chính để nỗ lực tạo ra chỗ ngồi cho tất cả học sinh của mình trong lớp học truyền thống thì phương pháp học trực tuyến là giải pháp hiệu quả và khả thi

1.3.4 Ưu điểm của Blended learning

(1) Có thể điều chỉnh theo cá nhân

Việc áp dụng BL trong một chương trình giảng dạy cho phép bạn điều chỉnh

nội dung để phù hợp với phong cách học tập của từng học sinh Người học thường

sẽ có một tài khoản học tập cá nhân và có thể lựa chọn những hoạt động cụ thể mà

họ muốn tập trung vào nhiều nhất Điều này cho phép HS điều chỉnh chương trình học phù hợp với nhu cầu của bản thân Ngoài ra còn có rất nhiều nguồn tài liệu ở khắp nơi trên thế giới mà GV có thể áp dụng đối với giờ học trên lớp Việc áp dụng các phương tiện truyền thông hoặc công nghệ trên lớp giúp giáo viên điều chỉnh trải nghiệm học tập theo cá nhân bằng cách lựa chọn tài liệu phù hợp, tùy thuộc vào nhu cầu và sở thích của bản thân

(2) Tự chủ hơn trong việc học

Trang 25

Đối với những người học có khả năng kiểm soát được thời gian, địa điểm và

nội dung học tập của mình sẽ có thể kiểm soát được việc học của mình hiệu quả hơn Điều này giúp tăng tính tự chủ cho người học và giúp họ trở thành những người sử dụng ngôn ngữ độc lập hơn Nhờ đó, trong thực tế, họ sẽ trở nên tự tin hơn

và sử dụng ngôn ngữ hiệu quả hơn Người học cũng sẽ học được tinh thần trách nhiệm cao hơn và tự giác hơn đối với việc học của chính mình, từ đó cải thiện khả năng tìm kiếm tài liệu và các nguồn hỗ trợ cần thiết để đạt được mục tiêu học tập của mình

(3) Linh hoạt hơn khi học tập kết hợp

BL cho phép người học thoải mái lựa chọn thời gian, địa điểm, thời lượng học

và thiết bị hỗ trợ cho việc học Người học ở thế kỷ 21 thường đòi hỏi những chương trình học linh hoạt hơn, khuynh hướng này do những thay đổi về xã hội, văn hoá, kinh tế và chính trị góp phần tạo nên Sự linh hoạt trong học tập rất cần thiết để học tập và làm việc hiệu quả hơn, đặc biệt đối với người đi làm và sinh viên đại học, những người cần phải cân bằng việc học và cuộc sống bận rộn của bản thân

(4) Điều chỉnh tốc độ học tập theo cá nhân

Ngày nay, các chương trình và ứng dụng học tập có thể được truy cập trực

tuyến 24/7 Vì vậy, người học có thể học theo tốc độ của cá nhân, nhờ đó có thêm thời gian cần thiết để nắm vững, hoàn thành và ôn tập các hoạt động đã hoàn tất Bên cạnh đó, người học có thể học bất cứ thời gian nào họ cảm thấy phù hợp nhất,

từ đó mang lại kết quả học tập tối ưu

(5) Có thêm phản hồi

Áp dụng công nghệ trong giảng dạy giúp giáo viên phân tích nhanh chóng hơn

và đánh giá hiệu quả hơn khả năng ngôn ngữ của người học, từ đó đưa ra phản hồi

về những hoạt động đã thực hiện Điều này giúp họ điều chỉnh phương pháp giảng dạy và phản hồi đối với học sinh trong khi hiệu quả về mặt thời gian vẫn được cải thiện Phản hồi từ giáo viên giúp người học nhận ra điểm mạnh và điểm yếu của mình, cho phép họ đưa ra nhiều lựa chọn hơn về các nhu cầu học tập của bản thân

Trang 26

Đối với một số hoạt động áp dụng phương pháp học tập kết hợp, giáo viên có thể đưa ra phản hồi ngay lập tức, nâng cao hiệu quả của quá trình này

(6) Tương tác giữa người học và giáo viên

Dù cho công nghệ trong lĩnh vực giáo dục mang lại nhiều lơi ích, tương tác giữa người học và giáo viên vẫn đóng một vai trò quan trọng Nhất là đối với phương pháp học kết hợp, yếu tố tương tác và giáo viên vẫn đóng vai trò chủ đạo

Cả giáo viên lẫn bạn học đều mang lại những kiến thức có giá trị, bên cạnh đó còn mang lại yếu tố xã hội và tính thực tế trong quá trình học tập Những lớp học như thế này chủ yếu tập trung vào việc phát triển khả năng ngôn ngữ, giúp cho người học cải thiện khả năng giao tiếp và nhận được phản hồi từ bạn học và giáo viên

(7) Cải thiện kết quả học tập

Phương pháp này giúp học viên kiểm soát hiệu quả hơn về thời gian, tốc độ học tập, lộ trình và địa điểm học, từ đó giúp họ có thêm động lực học tập Người học sẽ có nhiều thời gian hơn để hoàn thành những bài tập được giao trong điều kiện phù hợp

nhất, giúp họ tập trung hơn, và cải thiện được kết quả học tập của bản thân

1.4 Thực trạng sử dụng internet trong học tập của HS ở trường THPT

Để đưa ra cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng sử dụng Internet trong học tập của HS ở trường THPT Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

a) Mục tiêu điều tra

Điều tra mức độ sử dụng và khai thác mạng Internet trong học tập, những khó khăn HS gặp phải khi khai thác mạng Internet trong học tập và điều tra các công cụ

có thể sử dụng để học tập trực tuyến của HS lớp 11 trường THPT Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

b) Phương pháp điều tra

- Phát phiếu điều tra HS (phụ lục)

- Phỏng vấn trực tiếp một số GV ở phổ thông

c) Kết quả điều tra và đánh giá

Chúng tôi đã tiến hành điều tra, thăm dò ý kiến của 106 HS lớp 11 của

Trang 27

trường THPT Cẩm Giàng Kết quả được thống kê như sau:

Về mức độ và sử dụng mạng Internet của học sinh thể hiện bảng 1.1

Bảng 1.1 Mức độ sử dụng Internet của học sinh THPT

Không bao giờ 3,77 % Thỉnh thoảng 33,02 % Thường xuyên 47,17 % Ngày nào cũng truy cập 16,04 %

Phần trăm số HS không sử dụng Internet rất ít cho thấy việc sử dụng Internet

đã dần trở lên phổ biến và quen thuộc với HS ở trường phổ thông

Bảng 1.2 Các hoạt độngchủ yếu của HS khi sử dụng Internet

Lướt facebook 75,47 % Xem phim, nghe nhạc 56,6 % Chơi game 33,02 % Đọc báo 32,07 % Tìm kiếm và trao đổi thông tin về bài học 28,3 % Tham gia khóa học trực tuyến 19,81 %

Các hoạt động chủ yếu khi truy cập mạng Internet chủ yếu là hoạt động giải trí, việc sử dụng Internet với mục đích học tập còn ít, đặc biệt phần trăm HS tham gia các khóa học trực tuyến qua mạng không nhiều, chứng tỏ hình thức học tập này cũng chưa phổ biến ở trường THPT

Những khó khăn gặp phải khi sử dụng Internet trong học tập đối với HS được thể hiện trong bảng 1.3

Trang 28

Bảng 1.3 Những khó khăn gặp phải khi sử dụng Internet của học sinh

Những khó khăn gặp phải Tỉ lệ

Không có thời gian 40,57 % Chưa biết cách tìm kiếm 22,64 % Cước phí cao 17,92 % Quá nhiều thông tin liên quan 71,69 %

Lí do khác Không gặp khó khăn 33,02 %

Số liệu cho thấy HS khi sử dụng Internet trong học tập gặp khó khăn chủ yếu

do có quá nhiều thông tin trên Internet và có ít thời gian để học tập

Khi được hỏi về công cụ học tập trực tuyến, hầu hết các em HS đều có thể tham gia học tập với một trong số các công cụ (máy tính mượn người thân, máy tính cá nhân, điện thoại, tivi kết nối internet) 94,34% số HS được hỏi đều có tài khoản facebook cá nhân

Ngoài ra, Chúng tôi cũng đã tiến hành trao đổi trực tiếp 16 GV ở trường THPT Cẩm Giàng, Hải Dương qua trao đổi phần lớn các GV cho rằng việc sử dụng CNTT, đặc biệt là Internet trong dạy học hiện nay là cần thiết, các em HS đã có những kĩ năng tin học nhất định, việc học tập qua mạng đối với HS khối 11 là khả thi, tuy nhiên GV cần có những thiết kế các hoạt động dạy học hợp lý để giảm áp lực cho các em HS trong quá trình học tập

Qua kết quả điều tra, chúng tôi đưa ra một số kết luận sau làm cơ sở thực tiễn cho các thiết kế trong đề tài:

- Trong điều kiện hiện nay, Internet đã trở lên phổ biến trong cuộc sống, các

kĩ năng truy cập internet của HS khá tốt, phần lớn các HS đều sử dụng facebook, đều

có thể tham gia học tập trực tuyến, điều này thuận lợi cho việc áp dụng BL trong dạy học, đặc biệt là việc sử dụng facebook làm công cụ phân phối tư liệu học tập cho HS

- Việc tổ chức học tập trực tuyến có thể thực hiện được ở trường THPT, tuy nhiên, để dễ dàng hơn cho HS, GV cần tổ chức trao đổi trước với các em về cách học qua mạng để HS có thể làm quen và thực hiện tốt

Trang 29

Chương 2 VẬN DỤNG MÔ HÌNH BLENDED LEARNING TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “HIĐROCACBON KHÔNG NO”, HÓA HỌC 11

2.1 Mục tiêu và nội dung dạy học chương “Hiđrocacbon không no”, Hóa học 11

- Trình bày nguyên tắc gọi tên của các anken, ankadien, ankin

- Trình bày được tính chất vật lí, tính chất hóa học của các hiđrocacbon không

no tiêu biểu

- Phát biểu nội dung quy tắc Cộng Mac-côp-nhi-côp

- Trình bày được phương pháp điều chế và một số ứng dụng quan trọng của anken, ankin, ankadien

b Kĩ năng

- Viết công thức cấu tạo đồng phân của anken, ankadien, ankin và gọi tên

- Viết các phương trình phản ứng minh họa tính chất hóa học

- Xác định được các sản phẩm, sản phẩm chính của phản ứng cộng theo quy tắc Mac-côp-nhi-côp

- Vận dụng tính chất hóa học để nhận biết các chất và giải các bài tập tính toán

có liên quan

- Các kĩ năng thực nghiệm: Quan sát, tiến hành thí nghiệm, nêu và giải thích các hiện tượng và rút ra kết luận

c Thái độ

Trang 30

- HS độc lập, sáng tạo, tác phong làm việc khoa học, tinh thần hợp tác, tích cực trong học tập và nghiên cứu

- Anken, ankadien, ankin và các sản phẩm trùng hợp có nhiều ứng dụng quan trọng trong đời sống sản xuất, từ đó HS thấy được tầm quan trọng của các hidrocacbon này và hứng thú học tập, yêu thích môn Hóa học

d Định hướng phát triển năng lực

- Năng lực giải quyết vấn đề

- Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học

- Năng lực tự học

- Năng lực hợp tác

- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin

2.1.2 Nội dung và phân phối chương trình

Đối với tính chất vật lí của các hidrocacbon không no HS cũng sẽ tìm hiểu về trạng thái của các chất ở điều kiện thường và quy luật biến đổi của nhiệt độ sôi, nhiệt độ nóng chảy, khối lượng riêng trong dãy đồng đẳng của chúng

Từ đặc điểm cấu tạo của các hidrocacbon không no là trong phân tử chứa liên kết bội nói cách khác là chứa liên kết  kém bền nên tính chất đặc trưng của chúng

sẽ là dễ tham gia vào phản ứng cộng (cộng X2, HX ) ngoài ra thì chúng còn có phản ứng oxi hóa (phản ứng đốt cháy, làm mất màu dung dịch thuốc tím), phản ứng trùng hợp Với ankin có phản ứng thế bằng ion kim loại

Trong chương học này HS cũng được biết đến quy tắc Mac-côp-nhi-côp trong

Trang 31

phản ứng cộng HX, cách điều chế một số hợp chất hữu cơ và đặc biệt là những ứng dụng rất hữu ích của các hợp chất hữu cơ trong quá trình sản xuất hóa học

Tóm lại, kiến thức trong chương “Hidrocacbon không no” đều được xây dựng theo con đường suy luận và vận dụng lý thuyết, do đó các GV cần hướng dẫn HS tích cực sử dụng lý thuyết cơ sở của hóa hữu cơ như một công cụ để học tập và nghiên cứu

2.1.2.2 Phân phối chương trình

Chương VI: Hiđrocacbon không no (8 tiết)

Tiết 42, 43 Bài 29: Anken

Tiết 44 Bài 30: Ankadien

Tiết 45 Bài 31: Luyện tập: Anken và ankađien

Tiết 46 Bài 32: Ankin

Tiết 47 Bài 33: Luyện tập – Ankin

Tiết 48 Bài 34: Bài thực hành số 4:

Điều chế và tính chất của etilen và axetilen Tiết 49 Kiểm tra

Trang 32

2.2 Quy trình vận dụng mô hình Blended learning trong dạy học chương

“Hiđrocacbon không no”, Hóa học 11

Dựa trên định nghĩa về Blended learning đã trình bày ở trên, theo chúng tôi việc kết hợp giữa dạy học trực tiếp truyền thống và dạy học trực tiếp qua mạng theo các trình tự, tỉ lệ khác nhau sẽ tạo nên các mô hình Blended learning khác nhau Sau đây là quy trình vận dụng Blended learning trong dạy học, cũng chính là một mô hình Blended learning mà chúng tôi đã áp dụng trong dạy học chương “Hiđrocacbon không no”, Hóa học 11

Bước 1 - HS xem video bài giảng được GV đăng tải trên nhóm facebook trước

khi đến lớp

Bước 2 - HS nghiên cứu bộ câu hỏi định hướng, xây dựng LĐTD hệ thống

kiến thức cơ bản của tiết học, trao đổi qua nhóm facebook trước khi đến lớp

Bước 3 - GV tổ chức HS hoạt động nhóm thực hiện các nhiệm vụ học tập

nhằm luyện tập, vận dụng và mở rộng kiến thức trên lớp học

Bước 4 - HS tiến hành các nhiệm vụ ở nhà, trao đổi kết quả và khó khăn qua

nhóm facebook với GV và HS khác, làm bài kiểm tra sau bài học

2.3 Một số công cụ sử dụng trong trong dạy học chương “Hiđrocacbon không no”, Hóa học 11 theo mô hình Blended learning

2.3.1 Video bài giảng

Một trong các nhiệm vụ quan trọng theo quy trình của chúng tôi là thiết kế các video bài giảng và cung cấp cho HS xem trước khi đến lớp Quy trình thiết kế video bài giảng được chúng tôi thực hiện qua 5 bước:

(1) Xác định mục tiêu, kiến thức cơ bản của bài học

(2) Xây dựng cấu trúc, kịch bản bài giảng

(3) Quay video

(4) Cắt ghép và chỉnh sửa video

Chúng tôi sử dụng phần mềm camtasia để cắt ghép các video để thu được những video bài giảng hoàn chỉnh

Trang 33

(5) Xin ý kiến chuyên gia, các GV và hoàn thiện video bài giảng

Các video bài giảng chúng tôi thiết kế gồm (Lưu trong đĩa CD ) :

1 Bài 29: Anken (tiết 1, tiết 2)

Bước 1: Đăng nhập tài khoản facebook cá nhân của bạn

Bước 2: Tới giao diện chính của tài khoản và chọn mục "Tạo nhóm"

Trang 34

Bước 3: Lúc này sẽ có một hộp thoại xuất hiện, để tạo nhóm trên facebook thì bạn

cần nhập các thông tin cần thiết như: Tên nhóm, thêm các thành viên trong mục

"Thành viên" và lựa chọn 1 trong 3 chết độ riêng tư:

- Công khai (Public): Ai cũng có thể tìm thấy nhóm và xem được các danh sách bài đăng

- Nội bộ (Closed): Ai cũng có thể tìm ra nhóm nhưng chỉ xem được danh sách thành viên mà không xem được các bài đăng

- Nhóm kín (Secret): Là chế độ mà chỉ có thàn viên trong nhóm mới tìm được

ra nhóm

Bước 4: Sau khi nhập tên nhóm và các thành viên bạn chỉ cần lựa chọn các

quyền riêng tư ở đây và bắt đầu tạo mới bằng cách click Tạo mới (Create)

Trang 35

Bước 5: Khi tạo mới nhóm facebook thì một hộp thoại xuất hiện, bạn sẽ lựa

chọn biểu tượng cho nhóm vừa tạo và chọn "OK" Sau khi hoàn thiện quá trình tạo

nhóm trên facebook bạn sẽ thấy giao diện của nhóm bạn vừa tạo

Dưới đây là những hình ảnh về nhóm facebook mà chúng tôi đã tạo trong quá trình thực nghiệm

Trang 36

Với cách thức học tập này thì HS có thể học ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào, hơn nữa các em có thể xem video bài giảng nhiều lần để hiểu rõ hơn về những phần kiến thức mà em cảm thấy khó hiểu Ở đây các em có thể trao đổi với nhau những thông tin cần thiết về học tập và có thể nêu ra những khó khăn mà các em gặp phải về mặt kiến thức cũng như quá trình học tập với phương pháp mới này

2.3.3 Một số bài tập chương “Hiđrocacbon không no”

Câu 1: Đốt cháy hoàn toàn 0,15 mol hỗn hợp X gồm anken và ankađien thu được

CO2 và H2O trong đó số mol CO2 nhiều hơn số mol H2O là 0,1 mol Vậy 0,15 mol hỗn hợp X có thể làm mất màu dung dịch chứa tối đa bao nhiêu mol brom?

A 0,15 mol B 0,20 mol C 0,30 mol D 0,25 mol

Trang 37

Câu 2: Người ta điều chế poliisopren theo sơ đồ sau: isopentan    2H 2 isopren



 poliisopren Tính khối lượng isopentan cần lấy để có thể điều chế được 68 gam poliisopren Biết hiệu suất của quá trình đạt 72%

A 90 gam B 120 gam C 110 gam D 100 gam

Câu 3: Ba hiđrocacbon X, Y, Z là đồng đẳng kế tiếp, khối lượng phân tử của Z

bằng 2 lần khối lượng phân tử của X Các chất X, Y, Z thuộc dãy đồng đẳng?

A ankin B ankan C ankađien D anken

Câu 4: Dẫn 3,36 lít (đktc) hỗn hợp X gồm 2 anken là đồng đẳng kế tiếp vào bình

nước brom dư, thấy khối lượng bình tăng thêm 7,7 gam CTPT của 2 anken là:

A C2H4 và C3H6 C C4H8 và C5H10

B C3H6 và C4H8 D C5H10 và C6H12

Câu 5: Hỗn hợp X gồm 2 anken là đồng đẳng liên tiếp có thể tích 4,48 lít (ở đktc)

Nếu cho hỗn hợp X đi qua bình đựng nước brom dư, khối lượng bình tăng lên 9,8 gam % thể tích của một trong 2 anken là:

A 50% B 40% C 70% D 80%

Câu 6: Một hỗn hợp X có thể tích 11,2 lít (đktc), X gồm 2 anken đồng đẳng kế tiếp

nhau Khi cho X qua nước Br2 dư thấy khối lượng bình Br2 tăng 15,4 gam Xác định CTPT và số mol mỗi anken trong hỗn hợp X ?

A 0,2 mol C2H4 và 0,3 mol C3H6 B 0,2 mol C3H6 và 0,2 mol C4H8

C 0,4 mol C2H4 và 0,1 mol C3H6 D 0,3 mol C2H4 và 0,2 mol C3H6

Câu 7: Khi cho but-1-en tác dụng với dd HBr, theo qui tắc Maccopnhicop sản phẩm

nào sau đây là sản phẩm chính ?

A CH3-CH2-CHBr-CH2Br B CH2Br-CH2-CH2-CH2Br

C CH3-CH2-CHBr-CH3 D CH3-CH2-CH2-CH2Br

Câu 8: Hỗn hợp X gồm metan và anken, cho 5,6 lít X qua dung dịch brom dư thấy

khối lượng bình brom tăng 7,28 gam và có 2,688 lít khí bay ra (đktc) CTPT của anken là:

A C4H8 B C5H10 C C3H6 D C2H4

Câu 9: Thực hiện phản ứng crackinh butan thu được một hỗn hợp X gồm các ankan

và các anken Cho toàn bộ hỗn hợp X vào dung dịch Br dư thấy có khí thoát ra

Trang 38

bằng 60% thể tích X và khối lƣợng dung dịch Br2 tăng 5,6 gam và có 25,6 gam brom đã tham gia phản ứng Đốt cháy hoàn toàn khí bay ra thu đƣợc a mol CO2 và b mol H2O Vậy a và b có giá trị là:

A a = 0,9 mol và b = 1,5 mol B a = 0,56 mol và b = 0,8 mol

C a = 1,2 mol và b = 1,6 mol D a = 1,2 mol và b = 2,0 mol

Câu 10: Có bao nhiêu anken ở thể khí (đktc) mà khi cho mỗi anken đó tác dụng với

dung dịch HCl chỉ cho một sản phẩm hữu cơ duy nhất ?

A 2 B 1 C 3 D 4

Câu 11: Cho hiđrocacbon X phản ứng với brom (trong dung dịch) theo tỉ lệ mol

1:1 thu đƣợc chất hữu cơ Y (chứa 74,08% Br về khối lƣợng) Khi X phản ứng với

HBr thì thu đƣợc hai sản phẩm hữu cơ khác nhau Tên gọi của X là:

A but-1-en B but-2- en C Propilen D Etilen

Câu 12: Hỗn hợp khí X gồm CH4, C2H4 có Mtb X = 23,5 Trộn V (lít) X với V1 (lít) hiđrocacbon Y đƣợc 107,5g hỗn hợp khí Z Trộn V1 (lít) X với V (lít) hiđrocacbon Y đƣợc 91,25g hỗn hợp khí F Biết V1 – V = 11,2 (lít) (các khí đo ở đktc) Công thức của Y là:

A C2H4 và C5H10 C C4H8 và C5H10

Trang 39

B C3H6 và C5H10 D A hoặc B

Câu 16: Đốt cháy hoàn toàn a gam hỗn hợp eten, propen, but-2-en cần dùng vừa đủ

b lít oxi (ở đktc) thu được 2,4 mol CO2 và 2,4 mol nước Giá trị của b là:

A 92,4 lít B 94,2 lít C 80,64 lít D 24,9 lít

Câu 17: Hh X gồm vinylaxetilen eten va propin có tỉ khối vs hidro bằng 17 đốt

cháy hoàn toàn X thu được CO2 và 3,6g H2O Dẫn toàn bộ sản phẩm cháy qua dd Ca(OH)2 dư thì thu được m gam kêt tủa.Tính m ?

CH4 Cho Y qua nước brom một thời gian thấy khối lượng bình đựng nước brom tăng 3,84 gam và có 11,424 lít hỗn hợp khí Z thoát ra (đktc) Tỉ khối của Z so với

H2 là:

A 8 B 7,41 C 7,82 D 2,7

Câu 20: Oxi hóa hoàn toàn 100ml hỗn hợp X gồm H2, 1 an ken và 1 an kan thu được 210 ml CO2 Nung 100ml hỗn hợp X trên với xúc tác Ni thu được 1 hidro cacbon duy nhất Tính % số mol của anken(các thể tích đo ở cùng điều kiện)

A 30% B 40% C 50% D 20%

Câu 21: Hỗn hợp khí gồm 1 hidrocacbon no X và 1 hidrocacbon không no vào

bình nước brom chứa 40 gam brom Sau khi brom phản ứng hết thì khối lượng bình tăng lên 10,5 g và thu được dung dịch B, đồng thời khí bay ra khỏi bình có khối lượng 3,7 gam Đốt cháy hoàn toàn lượng khí bay ra khỏi bình thu được 11 g CO2 Hidrocacbon X là :

A 2 chất B 1 chất C 3 chất D 4 chất

Trang 40

Câu 22: Hỗn hợp khí X gồm 0,5 mol H2; 0,1 mol vinylaxetilen và 0,2 mol axetilen Nung X một thời gian với xúc tác Ni, thu được hỗn hợp khí Y có tỉ khối so với H2 là 28,5 Nếu cho toàn bộ Y sục từ từ vào dung dịch brom (dư) thì có m gam brom tham gia phản ứng Giá trị của m là:

A 32 B 64 C 48 D 16

Câu 23: Cho ankin : CH3-CH(C2H5)-C≡CH Tên gọi của ankin này là:

A 2-etylbut-3-in B.3-metylpent-4-in

C 3-etylbut-1-in D 3-metylpent-1-in

Câu 24: Gọi tên của hợp chất sau theo IUPAC CH3-CH2-CH(CH3)-CHCl-C CH

A 3-metyl-3-clo hex-1-in B 3- clo-4- metyl hex-2-in

C 3- clo-4- metyl hex-1-in D 4- clo-3- metyl hex-5-in

Câu 25: Cho hỗn hợp chất rắn gồm CaC2, Al4C3, Ca vào nước thu được hỗn hợp X gồm 3 khí, trong đó có 2 khí có cùng số mol Lấy 8,96 lít hỗn hợp X (đktc) chia làm

2 phần bằng nhau Phần 1 : cho vào dung dịch AgNO3 trong NH3 (dư) , sau phản ứng hoàn toàn, thấy tách ra 24g kết tủa Phần 2 : Cho qua Ni đun nóng thu được hỗn hợp khí Y Thể tích O2 vừa đủ (đktc) cần dùng để đốt cháy hoàn toàn Y là :

A 5,6 lít B 8,4 lít C 8,96 lít D 16,8 lít

Câu 26: Cho 1,5 gam khí hidrocacbon X tác dụng với lượng dư dung dịch

AgNO3/NH3 thu được 7,92 gam kết tủa vàng nhạt Mặt khác 1,68 lít khí X (ở đktc)

có thể làm mất màu tối đa V lít dung dịch Br2 1M Giá trị V là:

A 0,2 B 0,15 C 0,3 D 0,25 Câu 27: Để điều chế cao su butađien (cao su buna ) người ta dùng nguyên liệu có

sẵn trong thiên nhiên Đó là nguyên liệu nào sau đây?

A.Từ dầu mỏ B.Từ than đá và đá vôi

C.Từ tinh bột, xenlulozơ D Cả A, B, C đều đúng

Câu 28: Đốt cháy hoàn toàn 5,4g ankađien X thu được 8,96 lít khí CO2 ( đktc) Công thức phân tử của X là:

A C4H4 B C4H8 C C4H6 D C4H10

Ngày đăng: 05/04/2020, 19:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp Hành Trung Ƣơng (2013), Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Chấp Hành Trung Ƣơng (2013), Nghị quyết 29-NQ/TW
Tác giả: Ban Chấp Hành Trung Ƣơng
Năm: 2013
2. Bộ Chính Trị (2000), Về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính Trị (2000)
Tác giả: Bộ Chính Trị
Năm: 2000
4. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2008), Về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 – 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2008)
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Năm: 2008
6. Nguyễn Cương (2007), Phương pháp dạy học hóa học ở nhà trường phổ thông và đại học – Một số vấn đề cơ bản, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hóa học ở nhà trường phổ thông và đại học
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
7. Nguyễn Danh Nam (2007), Các mức độ ứng dụng E-Learning ở các trường đại học Sư phạm, Tạp chí Giáo dục số (175) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mức độ ứng dụng E-Learning ở các trường đại học Sư phạm
Tác giả: Nguyễn Danh Nam
Năm: 2007
8. Nguyễn Văn Hiền (2009), Hình thành cho sinh viên kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin để tổ chức bài dạy Sinh học, Luận án tiến sĩ, Khoa Sinh Học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành cho sinh viên kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin để tổ chức bài dạy Sinh học
Tác giả: Nguyễn Văn Hiền
Năm: 2009
9. Phạm Xuân Lam (2010), Xây dựng mô hình học kết hợp để dạy sinh học 10 (THPT) nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm Moodle, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Sinh học, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình học kết hợp để dạy sinh học 10 (THPT) nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm Moodle
Tác giả: Phạm Xuân Lam
Năm: 2010
10. Phạm Xuân Quế (2004), E – Learning và khó khăn trong việc xây dựng trang Web có nội dung thực nghiệm – Các giải pháp khắc phục, Tạp chí Giáo dục số (90– Chuyên đề) Sách, tạp chí
Tiêu đề: E – Learning và khó khăn trong việc xây dựng trang Web có nội dung thực nghiệm – Các giải pháp khắc phục
Tác giả: Phạm Xuân Quế
Năm: 2004
13. Tô Nguyên Cương (2012), Dạy học kết hợp – Một hình thức tổ chức dạy học tất yếu của một nền giáo dục hiện đại, Tạp chí giáo dục số (283), tr. 27-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Nguyên Cương (2012), "Dạy học kết hợp – Một hình thức tổ chức dạy học tất yếu của một nền giáo dục hiện đại
Tác giả: Tô Nguyên Cương
Năm: 2012
14. Thủ Tướng Chính Phủ(2009), Phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ Tướng Chính Phủ
Tác giả: Thủ Tướng Chính Phủ
Năm: 2009
15. Trần Trung Ninh (2007), Đề cương bài giảng Ứng dụng ICT trong dạy học hóa học, Trường Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng Ứng dụng ICT trong dạy học hóa học
Tác giả: Trần Trung Ninh
Năm: 2007
16. Trần Triệu Phú (2008), Nghiên cứu Moodle và ứng dụng Moodle để xây dựng “Lớp học Vật lí phổ thông”, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Triệu Phú (2008), "Nghiên cứu Moodle và ứng dụng Moodle để xây dựng “Lớp học Vật lí phổ thông”
Tác giả: Trần Triệu Phú
Năm: 2008
17. Bersin( 2004), Implementing Blended Learning Technology in Higher Professional Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: Implementing Blended Learning Technology in Higher
18. Bonk,C.J. & Graham, C.R.(Eds.).(in press). Handbook of blended learning: Global Perspectives, local designs, chapter 11. San Francisco, CA: Pfeiffer Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of blended learning
20. Osguthorpe, R. T & Graham, C. R. (2003), Blended learnin systems: Definitions anddirections. Quarterly Review of Distance Education, 4(3), 227–234 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blended learnin systems: Definitions anddirections. Quarterly Review of Distance Education
Tác giả: Osguthorpe, R. T & Graham, C. R
Năm: 2003
21. Roone,J.E. (2003), Blending learning opportunities to enhance educational programming and meetings. Association Management, 55(5), 26–32.Page 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Blending learning opportunities to enhance " educational programming and meetings
Tác giả: Roone,J.E
Năm: 2003
22. Russell T Osguthorpe và Charles R Graham (2003). "Blended learning environments: Definitions and directions". Quarterly Review of Distance Education. 4(3), page 227-333 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blended learning environments: Definitions and directions
Tác giả: Russell T Osguthorpe và Charles R Graham
Năm: 2003
25. John Watson, Blending Learning: The Convergence of Online and Face-to- Face Education, Evergreen Consulting Associates, Pg6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Convergence of Online and Face-to-Face Education, Evergreen Consulting Associates
3. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo(2016), Quy định chế độ giảm định mức giờ dạy cho giáo viên,giảng viên làm công tác đoàn không chuyên trách trong các cơ sở giáo dục độc lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Khác
5. Đoàn Hoàng Duy, Nguyễn Đức Hiều, Nguyễn Gia Nhƣ, Mô hình dạy học điện tử một cách tiếp cận, Kỷ yếu hội thảo quốc tế Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w