SỰ PHÂN BỐ CỦA HỆ THỐNG HỒ CHỨA TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM.. Trên lưu vực sông Lam đã và đang xây dựng nhiều hồ chứa với dung tích lớn như Bản Vẽ, Khe Bố, Chi Khê, Bản Mồng, sông Sào, Ngàn Tr
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN KHOAKHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 33
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới PGS TS Nguyễn Thanh Sơn là
người đã tận tình trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt em trong suốt thời gian qua, giúp đỡ
em hoàn thành khóa luận này Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cô chú, anh chị
tại Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Bắc Trung Bộ, các thầy cô Khoa Khí tượng
Thủy văn và Hải dương học, bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ em trong quá trình thực
hiện khóa luận này Khóa luận đã hoàn thành song không thể tránh khỏi những
thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến góp ý cùng những lời phê bình quý
báu để em có thể tiếp tục hoàn chỉnh hơn khóa luận của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2017 Sinh viên
Vũ Thị Ngọc Diệp
Trang 44
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Bản đồ lưu vực sông và hệ thống đài trạm KTTV trên lưu vực sông Lam
( Phần lãnh thổ Việt Nam)…… 7
Hình 2: Bản đồ địa hình lưu vực sông Lam……… 8
Hình 3: Bản đồ thổ nhưỡng lưu vực sông Lam……… 9
Hình 4: Bản đồ thảm phủ thực vật lưu vực sông Lam……… 10
Hình 5: Vị trí các hồ chứa trên lưu vực sông Lam 22
Hình 6: Sơ đồ thủy lực khu vực tính toán trong Mike 11……….30
Hình 7: Lưu lượng thực đo và tính toán tại trạm Nghĩa Khánh năm 2010……… 30
Hình 8: Lưu lượng thực đo và tính toán tại trạm Dừa năm 2011……… 30
Hình 9: Lưu lượng thực đo và tính toán tại trạm Yên Thượng năm 2010……… 31
Hình 10: Mực nước thực đo và tính tại trạm Nam Đàn năm 2010……… 31
Hình 11: Mực nước thực đo và tính toán tại trạm Linh Cảm năm 2010………… 31
Hình 12: Lưu lượng thực đo và tính toán tại trạm Nghĩa Khánh năm 2011………33
Hình 13: Lưu lượng thực đo và tính toán tại trạm Dừa năm 2011………33
Hình 14:Lưu lượng thực đo và tính toán tại trạm Yên Thượng năm 2011……… 33
Hình 15:Mực nước thực đo và tính toán tại trạm Nam Đàn năm 2011………33
Hình 16: Mực nước thực đo và tính toán tại trạm Linh Cảm năm 2011………… 33
Hình 17 :Quan hệ H ~ F hồ Bản Vẽ 34
Hình 18: Quan hệ H ~ F hồ Bản Mồng 34
Hình 19: Quan hệ H ~ F hồ Thác Muối 34
Hình 20: Quan hệ H ~ F hồ Ngàn Trươi……… 34
Hình 21: Lưu lượng tính toán tại trạm Nghĩa Khánh theo các kịch bản………… 37
Hình 22: Lưu lượng tính toán tại trạm Dừa theo các kịch bản……….37
Hình 23: Lưu lượng tính toán tại trạm Yên Thượng theo các kịch bản………37
Hình 24: Mực nước tính toán tại trạm Nam Đàn theo các kịch bản……….37
Hình 25: Mực nước tính toán tại trạm Linh Cảm theo các kịch bản………38
Hình 26: Ảnh hưởng của hồ Bản Vẽ đến mực nước trạm Nam Đàn………38
Hình 27: Ảnh hưởng của hồ Bản Mồng đến mực nước trạm Nam Đàn 38
Hình 28: Ảnh hưởng của hồ Thác Muối đến mực nước trạm Nam Đàn………… 39
Hình29: Ảnh hưởng của hồ Ngàn Trươi đến mực nước trạm Nam Đàn…………39
Hình 30: Ảnh hưởng của hồ Bản Vẽ và Ngàn Trươi đến mực nước trạm Nam Đàn………39
Hình 321: Ảnh hưởng của hồ Bản Mồng và Ngàn Trươi đến mực nước trạm Nam Đàn……… 39
Trang 66
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Số giờ nắng trung bình tháng, năm trên lưu vực sông Cả năm 2000…….12
Bảng 2: Đặc trưng hình thái lưu vực sông Lam 13
Bảng 3 : Một số trận mưa từ 2006-2013 trên lưu vực sông Lam……….16
Bảng 4: Số ngày mưa lớn theo tháng từ 2008-2016 tại trạm Nam Đàn 17
Bảng 5:Tần suất xuất hiện lũ vào các tháng trong năm trên lưu vực sông Lam.17 Bảng 6: Một số hồ chứa trên khu vực Nghệ An và Hà Tĩnh………20
Bảng 7:Các thông số chính của hồ Bản Vẽ 22
Bảng 8: Các thông số chính của hồ Khe Bố 23
Bảng 9:Các thông số chính của hồ chứa Chi Khê 24
Bảng 10: Các thông số chính của hồ Thác Muối 24
Bảng 11: Các thông số chính của hồ Bản Mồng 25
Bảng 12:Các thông số chính hồ Ngàn Trươi 26
Bảng 13:Các thông số chính của hồ Hố Hô 27
Bảng 14: Kết quả chỉ tiêu Nash tại các vị trí hiệu chỉnh……… 31
Bảng 15: Bộ thông số mô hình hiệu chỉnh………32
Bảng 16: Kết quả chỉ tiêu Nash tại các vị trí kiểm nghiệm……… 33
Trang 77
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI LƯU VỰC
SÔNG LAM 9
1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 9
1.1.1 Vị trí địa lý 9
1.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo 10
1.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 11
1.1.4 Thảm phủ thực vật 12
1.1.5 Khí hậu 13
1.1.6 Thủy văn 15
1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI 16
1.2.1 Dân cư 16
1.2.2 Dân tộc 17
1.2.3 Cơ cấu kinh tế 17
1.2.4 Y tế, giáo dục 19
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGẬP LỤT VÀ HỒ CHỨA TẠI HẠ DU SÔNG LAM 20
2.1 TÌNH HÌNH MƯA, LŨ VÀ ÚNG NGẬP Ở LƯU VỰC SÔNG LAM 20
2.1.1 Tình hình mưa 20
2.1.2 Tình hình lũ lụt trên lưu vực sông Lam 22
2.1.3 Tình hình ngập úng lưu vực sông Lam 23
2.2 SỰ PHÂN BỐ CỦA HỆ THỐNG HỒ CHỨA TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM 24
2.2.1 Hồ chứa Bản Vẽ 27
2.2.2 Hồ chứa Khe Bố 28
2.2.3 Hồ chứa Chi Khê 29
2.2.4 Hồ chứa Thác Muối 29
2.2.5 Hồ chứa Bản Mồng 30
2.2.6 Hồ chứa Sông Sào 30
2.2.7 Hồ chứa Ngàn Trươi 31
2.2.8 Hồ chứa Hố Hô 32
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG HỒ CHỨA ĐẾN ÚNG NGẬP HẠ DU SÔNG LAM 34
3.1 MÔ PHỎNG DÒNG CHẢY TỰ NHIÊN TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM 34
3.1.1 Giới thiệu mô hình Mike 11 34
3.1.2 Giới thiệu số liệu 35
3.1.3 Kết quả mô phỏng 37
3.2 MÔ PHỎNG DÒNG CHẢY CÓ TÍNH ĐẾN HỒ CHỨA TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM 40
3.2.1 Mike 11 với model hồ chứa 40
3.2.2 Kết quả mô phỏng 42
3.2.3 Một số kịch bản vận hành hồ 44
3.3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HỒ CHỨA ĐẾN TÌNH HÌNH ÚNG NGẬP Ở HẠ DU SÔNG LAM 46
KẾTLUẬN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHỤ LỤC 50
Trang 88
MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây ở Miền Trung nước ta, thiên tai lũ lụt và hạn hán xảy ra nhiều hơn với mức độ trầm trọng hơn Đặc biệt năm 2007, lũ lụt đã gây thiệt hại nặng nề cho các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Nghĩa Đàn của tỉnh Nghệ An thuộc lưu vực sông Lam Ngoài nguyên nhân khách quan do thời tiết khí hậu, còn
có các nguyên nhân chủ quan khác như khả năng dự báo chưa tốt, sự phối hợp quản
lý, vận hành các hồ chứa hiện có trên lưu vực chưa hợp lý
Trên lưu vực sông Lam đã và đang xây dựng nhiều hồ chứa với dung tích lớn như Bản Vẽ, Khe Bố, Chi Khê, Bản Mồng, sông Sào, Ngàn Trươi …Đây là các hồ chứa đa mục tiêu phục vụ nhiều nhiệm vụ như phát điện, cấp nước, phòng lũ cho các ngành kinh tế trên lưu vực sông Lam Khi hồ chứa đi vào hoạt động đã làm thay đổi chế độ dòng chảy trên lưu vực đặc biệt là dòng chảy lũ
Do vậy để đánh giá tác động của hồ chứa đến công tác phòng chống lũ tại hạ
du nhằm giúp đưa ra các giải pháp vận hành hồ chứa để giảm nhẹ thiệt hại về kinh
tế - xã hội và môi trường Đây là lý do dẫn đến sự hình thành đề tài “Đánh giá vai trò của hệ thống hồ chứa đến ngập lụt hạ du sông Lam”
Bố cục khóa luận gồm :
Mở đầu
Chương 1 Đặc điểm địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội lưu vực sông Lam Chương 2 Tổng quan về hồ chứa và tình hình ngập lụt ở hạ du sông Lam Chương 3 Đánh giá ảnh hưởng của hệ thống hồ chứa đến úng ngập hạ du sông Lam
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 99
CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
LƯU VỰC SÔNG LAM
1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
hạ lưu sông tiếp nhận phụ lưu sông La từ Hà Tĩnh chảy sang tại Chợ Tràng Từ ngã
ba này đổ ra biển Đông sông được gọi là sông Lam.[1]
Lưu vực sông Lam nằm ở vùng có tọa độ địa lý từ 1030 45’20’’đến
105015’20’’ kinh độ Đông; 18015’ đến 20010’30’’ vĩ độ Bắc Điểm sông Cả chảy vào Việt Nam tại biên giới Việt- Lào tại xã Kỳ Sơn trên dòng Nậm Mộ có tọa độ
104004’12’’ kinh độ Đông; 190
24’59’’ vĩ độ Bắc Cửa ra của lưu vực là Cửa Hội nằm ở tọa độ 1050 46’40’’ kinh độ Đông; 180 45’27’’ vĩ độ Bắc Lưu vực sông Lam nằm trên hai quốc gia, phần thượng lưu nằm trên tỉnh Phông Sa Vẳn và Sầm Nưa
Trang 101.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Hình 2:Bản đồ địa hình lưu vực sông Lam.[3]
Lưu vực sông Lam có độ cao bình quân 294m và độ dốc bình quân lớn 18,3% Có thể chia lưu vực sông Lam trên lãnh thổ nước ta làm 3 dạng địa (Hình 2) [3,4]
Trang 1111
Vùng đồi núi : Vùng này thuộc 5 huyện vùng núi của Nghệ An bao gồm: Kỳ
Sơn, Con Cuông, Thanh Chương, Quế Phong, Quỳ Châu Hướng dốc chính Đông Bắc- Tây Nam tạo những thung lũng sông hẹp và dốc có độ cao 1200m-1500m, tổng diện tích vùng này khoảng 790758 ha chiếm tới 44,6% diện tích lưu vựctrên lãnh thổ Việt Nam
Vùng trung du: Bao gồm huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Anh Sơn,
Thanh Chương (Nghệ An), Vũ Quang, Hương Sơn và Hương Khê (Hà Tĩnh) Đây
là vùng đồi trọc với độ cao từ 300- 400 m xen kẽ là đồng bằng ven sông của các thung lũng hẹp có độ cao 15- 25 m, vùng có địa hình phức tạp bị cắt xẻ mạnh.Vùng này chịu ảnh hưởng của lũ khá mạnh do đất dễ bị xói mòn, rửa trôi Tổng diện tích dạng địa hình này vào khoảng 680000 (ha) chiếm 38,4% diện tích lưu vực trên lãnh thổ Việt Nam
Vùng đồng bằng và đồng bằng ven biển: Nhỏ và hẹp có tổng diện tích vào
khoảng 300000 ha chiếm 17% diện tích lưu vực trên lãnh thổ Việt Nam.Độ cao không quá 15 m Vùng đồng bằng bị chia cắt bởi mạng lưới sông, kênh hoặc đường giao thông Vùng ven biển chịu ảnh hưởng của lũ và thủy triều Khi mưa lớn ở hạ
du gặp lũ trên sông thì khả năng tiêu nước là kém Mặt khác, do tác động của thủy triều nhất là khi triều cường thì dễ gây ngập úng Vào mùa khô, lượng nước thượng nguồn chảy về ít có xảy ra hiện tượng xâm nhập mặn ở vùng này
Như vây, với địa hình là núi cao dốc theo hướng Tây Bắc- Đông Nam và là hướng đón ẩm nên thường gây ra những trận mưa lớn tại thượng nguồn lưu vực Độ dốc bình quân lưu vực lớn, diện tích phần đồng bằng hẹp, chiều dài sông ngắn, vùng trung du hẹp vì thế khi có mưa lớn thì khả năng điều tiết lũ kém, lũ tập trung nhanh nên lũ dồn về hạ lưu nhanh, dữ dội dễ dàng tạo ra các trận lũ lớn
1.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng
Lưu vực sông Lam có cấu trúc địa chất khá đa dạng và phức tạp Đất trong lưu vực chủ yếu là đất feralit đỏ vàng, đất cát phù sa, đất ngập mặn ven biển, đất bùn lầy… (Hình 3)
Nhìn chung, độ dày tầng đất hơn 50 cm, cấu tượng tốt song các loại đất đá có khả năng chứa nước chiếm một khối lượng không lớn so với các loại đất đá chứa và thấm nước kém Mặt khác do địa hình lưu vực bị phân cắt mạnh, sườn núi dốc, độ dốc lòng sông cao nên nước không có điều kiện tích tụ lại mà bị thoát nhanh ra sông.[3]
Trang 12-Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chiếm phần lớn diện tích
- Rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chiếm diện tích không lớn song lại có tác dụng phòng hộ, điều tiết dòng chảy để giữ nước và giữ đất chống xói mòn đất
Diện tích đất trống đồi núi trọc trên lưu vực khá lớn 20% diện tích đất tự nhiên [5]
Do vậy khi có mưa xuống khả năng giữ nước ở các sườn dốc kém làm gia tăng thời gian tập trung nước trong sông tạo nên các con lũ có cường độ lớn
Trang 13Lượng mưa trung bình nhiều nămbiến động khá mạnh mẽ ở các vùng, dao động từ (1120 1400) mm ở vùng ít mưa như khu vực Mường Xén, Tương Dương
và từ (1800 2500) mm ở vùng mưa vừa và lớn như ở thượng nguồn sông Hiếu (2000 2100) mm, vùng sông Giăng, khu giữa từ Cửa Rào - Nghĩa Khánh tới Dừa, lượng mưa năm trung bình từ (18002100) mm Vùng đồng bằng ven biển lượng mưa năm đạt (1800 1900) mm Trên tỉnh có xuất hiện vùng tâm mưa lớn nhất như tâm mưa thượng nguồn sông Hiếu
Nhân tố khí hậu kết hợp với địa hình tạo nên sự phân hóa về chế độ mưa trên lưu vực khá sâu sắc
Mùa mưa trên thượng nguồn sông Cả từ tháng VIII đến tháng XI Mùa hạ có gió Lào khô nóng hình thành một thời gian ít mưa từ tháng VI đến tháng VII Vào
Trang 1414
cuối mùa khô (khoảng tháng V) có xuất hiện lũ tiểu mãn.[5]
Lượng mưa phân bố không đều theo không gian, phân bố lớn dần tự Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông
Lưu vực sông Lam thuộc loại mưa nhiều so với miền Bắc và thay đổi theo từng vị trí trên lưu vực:
- Vùng phía Bắc và Tây bắc lưu vực sông Lam chịu ảnh hưởng của chế
độ khí hậu chuyển tiếp từ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Vùng này thuộc thượng nguồn trung lưu sông Hiếu với mùa mưa lũ đến sớm từ tháng VI kết thúc muộn tháng XI
- Vùng thượng nguồn sông Lam chịu ảnh hưởng gió mùa Tây Nam Mùa mưa lũ xảy ra sớm lũ lớn nhất năm tập trung vào tháng VIII nhiều hơn
- Vùng trung lưu sông Lam mùa lũ từ tháng VII - XI, lũ lớn tập trung chủ yếu vào tháng IX, Lượng mưa gia tăng do ảnh hưởng của biển
- Vùng đồng bằng hạ du sông Lam mùa lũ từ tháng VIII - XI, lũ lớn nhất năm xảy ra vào tháng IX
Nguyên nhân gây ra lũ đặc biệt lớn, lũ quét trên lưu vực thường là tổ hợp của các hình thế thời tiết gây mưa lớn:
- Bão và áp thấp nhiệt đới
- Bão (áp thấp nhiệt đới ) kết hợp cùng tác động của không khí lạnh
- Dải hội tụ nhiệt đới và không khí lạnh
- Không khí lạnh kết hợp cùng các hình thế gây mưa khác
Thể hiện qua những đặc trưng sau:
- Từ tháng XI đến tháng III chịu ảnh hưởng của khối không khí cực đới lục địa Châu Á gây ra thời tiết khô, lạnh vào các tháng mùa đông và mưa phùn vào cuối mùa đông
- Từ tháng IV đến tháng X chịu ảnh hưởng của khối không khí Thái Bình Dương mạnh nhất vào tháng IX, X với tính chất nóng ẩm gây ra mưa nhiều và các hiện tượng như bão, áp thấp nhiệt đới Mùa này gọi là mùa lũ
- Từ tháng V đến tháng VIII chịu ảnh hưởng của khối không khí nhiệt đới
ẩm Ấn Độ Dương, hoạt động mạnh nhất vào tháng VII mang khối không khí khô nóng sau khi vượt qua dãy Trường Sơn gây ra hiện tượng phơn (gió Lào)
- Độ ẩm tương đối trung bình nhiều năm của không khí khoảng 80-85% [7]
Trang 1515
- Nhiệt độ trung bình năm từ 20- 240C Nhiệt độ biến đổi theo mùa và theo vị trí Vùng núi nhiệt độ thấp hơn so với đồng bằng, nhiệt độ cao nhất vào tháng VI-VII do có hoạt động của gió Lào Nhiệt độ thấp nhất vào tháng I do ảnh hưởng của khối không khí lạnh
- Bốc hơi trung bình năm từ 640 mm- 900 mm đo bằng ống Piche
- Số giờ nắng trung bình từ 1500 giờ -1800 giờ Lượng bức xạ tổng cộng trung bình nhiều năm khoảng (100-120 kcal/cm2
) (Bảng 1)
Bảng 1:Số giờ nắng trung bình tháng, năm trên lưu vực sông Cả năm 2000.[4]
Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Vinh 72.3 48 63.8 132 213 186 206 167 152 135 94.8 87.5 1557
1.1.6 Thủy văn
Mùa lũ : Xuất hiện không đồng đều trên lưu vực và kéo dài từ tháng VI đến
tháng X hoặc tháng XI, muộn và ngắn dần từ bắc xuống nam.mùa kiệt từ tháng X hoặc tháng XI đến tháng V Lũ tiểu mãn xuất vào khoảng tháng V do hoạt động mạnh của gió tín phong Bắc bán cầu và gió mùa Tây Nam.[1]
Lượng nước mùa lũ chiếm 61%-75% lượng dòng chảy cả năm, lũ lớn nhất thường xuất hiện vào tháng IX
Nước lũ trên lưu vực sông Lam ảnh hưởng mạnh đến khu vực đồng bằng Nghệ An- Hà Tĩnh và tường gây lũ lụt khi có mưa bão Thời gian lũ lên nhanh 3-5 ngày ở lưu vực sông lớn, vài giờ ở lưu vực sông nhỏ Khi các hình thế gây mưa tác động mạnh thì thời gian duy trì đỉnh lũ từ 3-5 giờ, thời gian kéo dài trận lũ 15-20 ngày như các trận lũ lịch sử năm 1978, năm 1988, năm 2002, năm 2005
Trang 1616
Dòng chính sông Lam có chiều dài 531 km Các sông suối đổ vào sông chính
sông Lam đều ngắn và dốc, tổng số có 44 sông cấp I.[3]
Hệ thống sông Lam có mật độ lưới sông 0,6 km/km2 Những vùng mưa lớn như sông Hiếu, sông Giăng có mật độ lưới sông cao hơn đạt từ 0,7÷ 0,9 km/km2 Các sông suối ngắn và dốc đổ vào dòng chính sông Lam với tổng số 44 nhánh sông cấp I, có diện tích nhỏ nhất như Khe Trò là 20km2
và diện tích lớn nhất là sông Hiếu 5340km2
.(Bảng 2) Cùng với dòng chính sông Lam có hai nhánh sông lớn nhất
là sông La và sông Hiếu
Do mật độ lưới sông có vai trò lớn ảnh hưởng đến tập trung dòng chảy lũ trên lưu vực nên mật độ sông càng cao thì càng tăng nguy cơ dòng chảy lũ
Bảng 2: Đặc trưng hình thái lưu vực sông Lam.[3]
(km2)
Chiều dài sông (km)
Độ cao bình quân (m)
Độ dốc bình quân (%)
Mật
độ lưới sông
Hệ số không đối xứng
Hệ số hình dạng lưu vực
Hệ thống hồ và hồ chứa: trên lưu vực có 660 hồ chứa loại lớn, vừa, nhỏ, 341
đập dâng, 556 trạm bơm, 2 hệ thống thủy nông Có 122 hồ chứa có dung tích 0,5 triệu m3
trở lên tổng dung tích toàn bộ là 2918 triệu m3 trong lưu vực bao gồm 101
hồ chứa đang vận hành với tổng dung tích 2046 triệu m3, 7 hồ chứa được xây dựng với tổng dung tích 873 triệu m3, 14 hồ chứa dự kiến được xây dựng, có một số hồ chứa thủy điện lớn hồ Bản Vẽ, hồ Khe Bố, hồ Ngàn Trươi, hồ Thác Muối, [7]
1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI
1.2.1 Dân cư
Tổng dân số trên toàn lưu vực là 3800000 người hầu hết sống tại nông thôn chiếm 89% Số dân trong độ tuổi lao động chiếm 45% số dân Do số dân trong độ
Trang 1717
tuổi lao động lớn nên nguồn nhân lực dồi dào, giá thành lao động thấp đang là điểm thu hút đầu tư từ nước ngoài vào khu vực
1.2.2 Dân tộc
Bao gồm 6 dân tộc chủ yếu:Thái, Kinh, Thổ, Khơ- mú,Hmông, Ơ-đu Trong
đó người Kinh chiếm 85% Các dân tộc thiểu số chủ yếu sống tại khu vực Tương Dương, Kỳ Sơn, Quỳ Châu, Quế Phong,Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn và
3 xã của Quỳnh Lưu
1.2.3 Cơ cấu kinh tế
Về cơ cấu kinh tế: trong năm 2016 [6]
+ Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 26,3%
+ Công nghiệp, xây dựng chiếm 32,3%
+ Dịch vụ chiếm 41, 4%
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân khá đồng đều giữa các khu vực trên toàn lưu vực Trong những năm gần đây có sự tăng mạnh về công nghiệp và dịch
vụ
Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
Kinh tế trên lưu vực chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Do điều kiện về thổ nhưỡng vùng đồng bằng trồng chủ yếu là các loại cây lương thực như lúa, ngô, khoai, sắn và các cây ăn quả như cam, dứa.[6] Chăn nuôi ở khu vực này hầu như chăn nuôi theo kiểu hộ gia đình Song đã có mô hình kinh tế trang trại, chăn nuôi tập trung, bán công nghiệp như dư án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa quy mô công nghiệp tại Nghĩa Đàn, chăn nuôi lợn ngoại tai Đô Lương
Đã có sự chuyển đổi từ diện tích đất nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản Trong lâm nghiệp, đã chú trọng phát triển rừng kinh tế và rừng nguyên liệu,
tu bổ 40000 ha rừng và trồng mới 21997 ha
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Để có cơ cấu hiện đại phù hợp với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên lưu vực Nhằm vào chế biến sản phẩm nông lâm ngư nghiệp và công nghiệp vật liệu xây dựng, khai khoáng sẽ trở thành những điểm nhấn về kinh tế trên lưu vực Theo quy hoạch phát triển ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của Nghệ An và Hà
Trang 1818
Tĩnh nằm trong lưu vực sông Lam Các ngành công nghiệp chủ yếu và các khu công nghiệp sẽ được mở rộng xây dựng mới trên lưu vực như sau:
+ Công nghiệp khai khoáng:
- Khai thác thiếc Quỳ Hợp công suất 4000 tấn/năm bao gồm cả khu mỏ tuyến quặng và nhà máy luyện thiếc Quỳ Hợp
- Khai thác than ở Khe Bố công suất 10000 tấn/năm
+ Công nghiệp luyện kim: Phát triển công nghiệp luyện kim theo hướng hiện đại, ưu tiên sản xuất các sản phẩm phục vụ ngành đóng tàu, cơ khí, xây dựng Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư Xây dựng khu liên hợp luyện kim với công nghệ hiện đại, công suất 10 triệu tấn thép/năm, phân làm hai giai đoạn: giai đoạn I xây dựng nhà máy cán thép nguội công suất 1 triệu tấn/năm, giai đoạn II xây dựng nhà máy thép liên hợp có công suất 10 triệu tấn thép/năm, phù hợp tiến độ của dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê Sản phẩm chủ yếu: Thép phôi, thép cán, thép ống, thép hình
+ Công nghiệp vật liệu xây dựng: Xây dựng các nhà máy chế biến thủy tinh, chế biến thạch cao Ưu tiên phát triển gạch không nung để bảo đảm khoảng 50% nhu cầu gạch xây Xây dựng các nhà máy sản xuất gạch nung theo công nghệ lò tuynel, nhà máy khai thác khoáng chất Serict và sản xuất các vật liệu xây dựng khác như vật liệu xây, lợp, đá, cát, sỏi
+ Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản: Nghiên cứu xây dựng mới và
mở rộng các nhà máy hiện có chế biến thuỷ sản đông lạnh, thực phẩm đồ hộp, hoa quả xuất khẩu, chế biến thức ăn gia súc, chế biến tinh bột sắn, chế biến dầu ăn, chế biến mủ cao su, tinh dầu trầm, côlôphan… Củng cố và phát triển nhà máy nước khoáng
+ Tiểu thủ công nghiệp: Phát triển tiểu thủ công nghiệp (cơ khí, dịch vụ sửa chữa nhỏ phục vụ nông nghịêp, xây dựng, giao thông vận tải, nhu cầu dân sinh ), khôi phục các làng nghề
+ Các khu công nghiệp đã hình thành và sẽ hình thành trên lưu vực:
- Khu công nghiệp tổng hợp Bắc Vinh quy mô hiện tại 60.6 ha, tương lai năm 2020 sẽ mở rộng lên 143 ha
-Khu công nghiệp Nam Sông Cấm quy mô hiện tại 100 ha, tương lai năm
2020 mở rộng lên 327.8 ha
Trang 1919
- Khu công nghiệp Cửa Lò năm 2020 quy mô là 40.5 ha
- Khu công nghiệp Đông Hồi năm 2020 quy mô 1200 ha
Ba cụm công nghiệp tổng hợp Phủ Quỳ - Nghĩa Đàn Toàn bộ diện tích xây dựng các khu công nghiệp nằm trên lưu vực sẽ trở thành nơi thu hút lao động và các dịch vụ, đô thị kèm theo
Thương mại, dịch vụ và du lịch
Kim ngạch xuất khẩu năm 2016 đạt 855 triệu USD Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn( GRDP) năm 2016 cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước khoảng 6.3-6.5% Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2016 ước đạt 10.310 tỷ đồng GRDP bình quân đầu người là 28.54 triệu đồng
Trên lưu vực có nhiều thuận lợi phát triển du lịch như khu di tích Kim Liên, nhà lưu niệm Lê Hồng Phong, khu di tích Truông Bồn, vườn quốc gia Pù Mát và du lịch biển
1.2.4 Y tế, giáo dục
Cơ sở hạ tầng thiết bị y tế được nâng cấp số lượng bác sĩ phục vụ người dân cũng được tăng thêm 7.6 bác sỹ /vạn dân Tỉ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội đạt 81.6%, phát triển nhanh các cơ sở khám ngoài công lập
Về giáo dục, 100% các xã có trường mầm non Đào tạo và dạy nghề phát triển nhanh về quy mô và chất lượng phục vụ cho nhu cầu lao động của thị trường.[6]
Trang 2020
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGẬP LỤT VÀ HỒ CHỨA
TẠI HẠ DU SÔNG LAM
2.1 TÌNH HÌNH MƯA, LŨ VÀ ÚNG NGẬP Ở LƯU VỰC SÔNG LAM Trong mấy chục năm gần đây, Việt Nam đã hứng chịu nhiều thiên tai lũ, đặc biệt suốt dải ven biển miền Trung, trong đó co lưu vực sông Lam đã xảy ra những trận mưa,lũ lớn gây thiệt hại vô cùng nặng nề
Mưa lớn là hiện tượng mưa với tổng lượng mưa đạt trên 50 mm trong 24 giờ, trong đó mưa với tổng lượng mưa từ 51 mm đến 100 mm trong 24 giờ là mưa to, mưa với tổng lượng mưa trên 100 mm trong 24 giờ là mưa rất to
Bảng 3 : Một số trận mưa từ 2006-2013 trên lưu vực sông Lam.
Stt Năm Thời gian Tổng lượng Nguyên nhân
1 2006 17/7-18/7 421 Do hoạt động của rãnh áp thấp
2 2007 3/10-6/10 340 Bão số 5
3 2008 9/9-13/9 246 Do áp cao lạnh lục địa, rãnh áp thấp
4 2008 19/10-21/10 387 Do áp cao lạnh lục địa, rãnh áp thấp
5 2008 30/10-1/11 378 Dải hội tụ nhiệt+ gió đông ,đông nam
6 2009 23/9 - 26/9 461 Dải hội tụ nhiệt đới
7 2010 21/8 - 29/8 803 Cơn bão số 3 và hoàn lưu bão số 3
Trang 21Nguyên nhân chủ yếu gây mưa lớn:
- Bão và áp thấp nhiệt đới
- Bão (áp thấp nhiệt đới ) kết hợp cùng tác động của không khí lạnh
- Dải hội tụ nhiệt đới và không khí lạnh
- Không khí lạnh kết hợp cùng các hình thế gây mưa khác
Mùa lũ sông Cả bắt đầu từ tháng VII hoặc VIII đến tháng X hoặc XI
Bảng 4: Số ngày mưa lớn theo tháng từ 2008-2016 tại trạm Nam Đàn.
1 Cửa Rào Lam 6.0 17.6 52.9 23.5
Nguồn:Trung tâm Dự báo KTTV TW
Từ bảng 5 nhận thấy lũ lớn thường xuất hiện nhiều vào tháng 9 hàng năm
Trang 2222
chiếm tần suất lớn nhất tại các trạm trên lưu vực
2.1.2 Tình hình lũ lụt trên lưu vực sông Lam
Lũ là hiện tượng mực nước sông dâng cao trong khoảng thời gian nhất định Khi nước sông dâng lên cao do mưa lớn hoặc (và) triều cao vượt qua khỏi bờ tràn vào các vùng trũng gây ra ngập trên diện rộng trong khoảng thời gian nào đó gọi là ngập lụt
Trong mấy thập kỉ gần đây trên lưu vực xuất hiện rất nhiều trận lũ Lũ lớn trên lưu vực sông Lam có thường có dạng là lũ kép, đường quá trình của các sông nhánh ở một số trận lũ điển hình có nét tương đồng Sau đây là một số trận lũ điển hình cho các tháng
Trận lũ lớn tháng IX/2002
Tại Nghệ An đỉnh lũ xuất hiện lúc 3h ngày 22/IX ở Yên Thượng là 9.28 m; tại Nam Đàn đỉnh lũ xuất hiện lúc 4h-9h cùng ngày là 7.82 m Lúc 6h sáng ngày 29/IX mực nước tại Nam Đàn là 7.54 m dưới báo động 3 là 0.36 m
Tại Hà Tĩnh, trong các ngày 17-22/IX do mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn trên toàn bộ lưu vực hai hệ thống sông La và Cả nên đã xảy ra lũ lớn Lúc 6h sáng ngày 23/IX, mực nước tại Chu Lễ là 13.26 m trên báo động 3 là 0.26 m, tại Linh Cảm là 6.28 dưới báo động 3 là 0.22 m.[2]
Trận lũ tháng X/2007
Do mưa lớn ở phía Tây Nghệ An, Thanh Hóa (khu vực thượng lưu sông Hiếu), rạng sáng 5/X/2007 một cơn lũ quét bất ngờ tràn qua các xã Châu Kim, Mường Nọc, Tiền Phong, Nậm Giải huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An Mực nước lúc 16h ngày 5/X, trên sông La tại Linh Cảm: 4.56 m (trên báo động 1: 0.56 m); sông Cả tại Nam Đàn: 4.97 m (trên báo động 2: 0.43 m).[2]
Trận lũ lớn tháng X/2010
Trận lũ tháng X/2010 trên sông Ngàn Sâu đã xảy ra lũ đặc biệt lớn, tại Chu
Lễ đạt đỉnh là 16.56 m (lúc 19h ngày 16/X), trên báo động 3: 3.06 m vượt lũ lịch sử năm 2007: 0.43 m, 4 giờ sáng ngày 17/X, mực nước trên các sông Cả tại Nam Đàn: 5.38 m ở mức báo động 1; sông Ngàn Sâu tại Chu Lễ: 16.49 m trên báo động 3: 2.99 m (vượt lũ lịch sử năm 2007: 0.36 m); sông Ngàn Sâu tại Hòa Duyệt: 12.37 m (lúc 24h ngày 16/X) trên báo động 3: 1.87 m; sông Ngàn Phố tại Sơn Diệm: 12.56
m dưới báo động 3: 0.44 m; sông La tại Linh Cảm: 5.99 m dưới báo động 3: 0.51m
Trang 2323
Trận lũ lớn tháng IX/2011
Mưa lớn đã gây ra một đợt lũ lớn trên sông Cả và sông Hiếu Mực nước lúc 16h ngày 12/IX: Trên sông Hiếu tại Quỳ Châu: 71.42 m tại Nghĩa Khánh: 38.69 m; trên sông Cả tại Thạch Giám: 64.46 m; Dừa: 22.44 m; tại Đô Lương: 15.76 m; tại Nam Đàn: 6.90 m ngang báo động 2 Đỉnh lũ trên sông Hiếu tại Nghĩa Khánh là 39.30 m (thấp hơn lũ lịch sử 2.05 m) vào 19h ngày 12/IX/2011 Đỉnh lũ trên sông
Cả tại Nam Đàn: 7.59 m dưới mức báo động 3:0.31 m vào 2 giờ - 13 giờ ngày 14/IX/2011
2.1.3 Tình hình ngập úng lưu vực sông Lam
Các trận mưa lũ lớn gây ra thiệt hại to lớn đặc biệt là hiện tượng úng ngập
gây ảnh hưởng đến người dân trên lưu vực này Theo “Báo cáo tổng kết công tác phòng chống bão lụt – tìm kiếm cứu nạn” của ban chỉ huy phòng chống lụt bão –
tìm kiếm cứu nạn tỉnh Nghệ An từ 2005 -2016:
- Trong năm 2002 là một trong những năm đã xảy ra thiê ̣t hại rất lớn.Lũ đã tràn đê chậm lũ (hữu sông Cả), gây ngập 5 xã thuộc huyện Nam Đàn và một số xã thuộc huyện Hưng Nguyên, Thanh Chương, Anh Sơn Tuyến đê hữu sông Lam huyện Nam Đàn bị vỡ 2 đoạn dài 20 m, sâu 3 m, hồ bị vỡ sụt lở 136 chiếc, ngập 420
ha Hệ thống đường quốc lộ 1A qua đoạn Nghi Xuân, quốc lộ 8A bị ngập; tỉnh lộ huyện lộ, đường liên xã, liên thôn bị ngập, giao thông bị chia cắt; 392 km đường bị sạt lở,1014 cầu cống bị hỏng.…
- Năm 2006 do ảnh hưởng của bão số 5 và số 6 trên lưu vực sông Lam có lũ lớn Đường giao thông tỉnh lộ, huyện lộ và giao thông nông thôn bị ngập lụt, sạt lở Nhiều cơ sở hạ tầng bị thiê ̣t hại nghiêm trọng Diện tích lúa, hoa màu bị ngập 4764
ha, có 8988 ngôi nhà bị ngập chìm trong nước sâu từ 0.3 – 3.0 m chủ yếu ở các huyê ̣n miền núi Hương Sơn Hương Khê, Vũ Quang và Đức Thọ
- Năm 2007, tại Nghệ An: Các huyện huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong, Thanh Chương, Đô Lương bị ngập hoàn toàn trong nước lũ Tại huyện Nam Đàn có 13 xã bị ngập trong nước lũ
Tại Hà Tĩnh: 2 huyện Hương Sơn, Hương Khê bị ngập lụt nặng do nước lũ tràn về 16 xã nằm ven sông Ngàn Phố, thuộc địa bàn huyện Hương Sơn bị chìm sâu trong nước lũ, trong đó 3 xã Sơn Phúc, Sơn Mai, Sơn Thuỷ đã hoàn toàn bị cô lập Tại huyện Hương Khê có 9 xã bị ngập nặng bao gồm: Phương Mỹ, Phương Điền,
Hà Linh, Hương Giang, Hương Thuỷ, Hương Đô, Lộc Yên, Gia Phố, Hoà Hải
Trang 2424
- Trận lũ tháng X/2010 tại Hà Tĩnh ngập lụt diện rộng 178/262 xã của tất cả
12 huyện, thành phố, thị xã (Hương Khê 22/22 xã; Vũ Quang 12/12 xã; Hương Sơn 20/31 xã; Đức Thọ 27/28 xã; Cẩm Xuyên 15/27 xã; Thạch Hà 31/31 xã; Can Lộc 22/23 xã; Lộc Hà 09/13 xã; thành phố Hà Tĩnh 16/16 phường xã; thị xã Hồng Lĩnh
3 phường; Nghi Xuân 05/19 xã Trong trận lũ vừa qua thời gian ngập úng vùng này lên tới hơn 20 ngày đã làm ngập lụt 105 xã sâu tới 2 – 3 m; có nơi tới 6 m Tuyến đường sắt Bắc – Nam nhiều km bị ngập sâu 0.5 – 1.5 m Các tuyến đường tỉnh lộ giao thông nông thôn bị ngập 1 – 2 m Lũ lớn đã gây ngập lụt nghiêm trọng ở nhiều nơi thuộc lưu vực sông Ngàn Sâu, vùng trũng và đồng bằng các tỉnh Nghê ̣ An- Hà Tĩnh
Thành phố Vinh bị ngập nghiêm trọng Thiệt hại do đợt mưa tháng X/2010 tại vùng TP Vinh và vùng phụ cận như sau: làm ngập, hư hỏng: 10166 ngôi nhà, 52 trạm bơm, 1010 ha ao hồ, 3596 ha lúa, 5823 ha ngô, 600 ha lạc, 1836 ha hoa màu các loại, 300 ha khoai lang; làm sạt: 50m đê, 200m kênh,
- Năm 2011, xảy ra trận lũ lịch sử ở thượng nguồn sông Lam Trận lũ đã làm ngập 14329 ha diê ̣n tích lúa canh tác và hoa màu, ngập hoàn toàn các xã Phương Điền, Phương Mỹ, Hương Giang huyê ̣n Hương Khê và Đức Lĩnh , Đước Hương Đức Lĩnh, Đức Bống, Hương Thọ, Ân Phú huyê ̣n Vũ Quang Tuyến đường Quôc lộ 15A đoạn khe Giao đi Phúc Đồng Hương Khê bị chia cất hoàn toàn có chổ ngập sâu tới 1.2 m Ngoài ra các huyện Anh Sơn, Đô Lương, Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên và thành phố Vinh cũng bị ngập úng rất nặng
- Năm 2016, do ảnh hưởng không khí lạnh tăng cường xuống phía nam gây ra mưa lớn trên diện rộng ở Hà Tĩnh và Quảng Bình từ đêm 30 đến sáng 31/X Mưa lớn đã gây ngập lụt 93 xã trên địa bàn 9 huyện, thành phố gần 20 km đường sắt Bắc
- Nam chạy qua địa phận huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) cũng đã bị lũ cuốn xói mòn phần kè chắn sạt lở móng, mố và nền đường
2.2 SỰ PHÂN BỐ CỦA HỆ THỐNG HỒ CHỨA TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM
Trên lưu vực có khá nhiều hồ chứa nhưng hầu hết là các hồ chứa nhỏ phục
vụ cho công tác nông nghiệp trong khu vực nhỏ song bên cạnh đó các hồ chứa lớn
có tác động lớn đến lưu vực như các hồ Bản Vẽ, Thác Muối, Khe Bố, Bản Mồng, Ngàn Trươi, Hố Hô….trong công tác phòng chống lũ, chống hạn, đẩy mặn cho
Trang 257 hồ chứa được xây dựng với tổng dung tích 873 triệu
m3
Bảng 6: Một số hồ chứa trên khu vực Nghệ An và Hà Tĩnh
Stt Tên hồ Huyện Chảy vào
sông
Lưu vực sông Chức năng chính
1 Bản Vẽ Tương
Phòng lũ, phát điện, cấp nước sinh hoạt
2 Khe Bố Tương
Phòng lũ, phát điện, cấp nước sinh hoạt
3 Chi Khê Con Cuông Cả Cả Phòng lũ, phát điện, cấp nước sinh hoạt
4 Bản Mồng Quỳ Hợp Hiếu Hiếu Thủy lợi, cấp nước sinh hoạt
5 Thác Muối Thanh Chương Giăng Giăng Phòng lũ, phát điện, cấp nước sinh hoạt
6 Sông Sào Nghĩa Đàn Sào Sào Thủy lợi, cấp nước sinh
hoạt
7 Vực
Thủy lợi, cấp nước sinh hoạt
12 Cửa Ông Thanh
Trang 2626
Stt Tên hồ Huyện Chảy vào
sông
Lưu vực sông Chức năng chính
15 Khe Da Thanh Chương
Thủy lợi, cấp nước sinh hoạt
16 Khe Bòn Thanh Chương Thủy lợi, cấp nước sinh hoạt
17 Ngàn Trươi Vũ Quang Ngàn Trươi Ngàn Sâu Phòng lũ, phát điện, cấp nước sinh hoạt
18 Kẻ Gỗ Cẩm Xuyên Rào Cái Rào Cái Thuỷ lợi
19 Hố Hô Hương Khê Ngàn Sâu Ngàn Sâu Phòng lũ, phát điện, cấp
Trang 2828
được Chính phủ tập trung đầu tư khởi công xây dựng vào ngày 07/8/ 2004 trên dòng Nậm Nơn, xã Yên Na, huyện Tương Dương Đây là công trình thuỷ điện lớn nhất khu vực Bắc Trung Bộ với công suất 320 MW, được ngăn dòng vào ngày 26/12/2005 Với tổng mức đầu tư 5740 tỷ đồng Thuỷ điện Bản Vẽ là công trình thuỷ điện lớn, đa mục tiêu Nhiệm vụ chính: phát điện hoà lưới điện quốc gia đồng thời cung cấp một phần điện cho nước bạn Lào Ngoài ra, thuỷ điện Bản Vẽ còn cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất, đẩy mặn, chống lũ cho vùng hạ lưu sông Cả Nhờ có hồ chứa nước có diện tích lưu vực 8700 km2
, dung tích chứa 1834 triệu m3nên điều hoà được khí hậu; cải thiện môi trường môi sinh và phát triển du lịch Công trình đã đưa vào vận hành và hòa lưới điện quốc gia ngày 19/5/2010 với công suất của tổ máy 1 là 100 MW và tổ máy 2 là 90 MW
lũ và bảo đảm yêu cầu cấp nước cho hạ du với lưu lượng 95.5 m3/giây về mùa cạn Công suất lắp máy là 100MW
Bảng 8: Các thông số chính của hồ Khe Bố
Trang 2929
2.2.3 Hồ chứa Chi Khê
Hồ chứa thuộc công trình thủy điện Chi Khê là bậc thang thứ 3 trên dòng sông Cả thuộc địa phận xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An cách thành phố Vinh khoảng 140km về phía tây bắc Công trình được khởi công vào tháng 3/2013 và đưa vào vận hành trong năm 5/2016 Thủy điện Chi Khê khai thác thủy năng sông Cả để phát điện lên lưới điện quốc gia Theo thiết kế, công suất lắp máy của thủy điện là 41 MW Cùng với công trình Thủy điện Bản Vẽ và Khe Bố, thủy điện Chi Khê góp phần điều tiết sông Cả về mùa lũ và bảo đảm yêu cầu cấp nước cho hạ du với lưu lượng 95.5 m3/giây về mùa cạn
Bảng 9:Các thông số chính của hồ chứa Chi Khê
du sông Cả kết hợp nuôi trồng thủy sản, thăm quan du lịch
Trang 3030
Bảng 10: Các thông số chính của hồ Thác Muối
Hồ bao gồm các hạng mục lớn như: xây dựng một đập ngăn sông Hiếu, một tràn xả
lũ, một nhà máy thủy điện sau đập có công suất 42 MW (có 3 tổ máy), một cống thoát nước bằng đường ống thép đặt trong hành lang bê tông cốt thép được điều tiết bằng cửa van cống ở hạ lưu Hồ chứa nước Bản Mồng sẽ cấp nước tưới cho 18871
ha đất canh tác nông nghiệp ven sông Hiếu Trong đó tưới tự chảy cho hơn 2713 ha
Trang 3131
còn lại là tưới động lực Đặc biệt, sau khi công trình đi vào sử dụng sẽ cấp nước cho sông Cả về mùa kiệt khoảng 22 m3/s; cấp nước cho công nghiệp dân sinh và chăn nuôi trong vùng dự án; phát triển nuôi trồng thủy sản và tham gia cải tạo môi trường; kết hợp giảm một phần lũ cho hạ lưu sông Hiếu Công trình hồ chứa nước Bản Mồng sẽ có 28 trạm bơm và hệ thống kênh trải dài theo hai bờ sông Hiếu từ xã Yên Hợp (huyện Quỳ Hợp) đến xã Thành Sơn (huyện Anh Sơn) và sẽ cung cấp nước cho hầu hết các xã thuộc lưu vực sông Hiếu
Các huyện được hưởng lợi từ hồ chứa là: huyện Quỳ Châu, huyện Quỳ Hợp, huyện Nghĩa Đàn, huyện Anh Sơn, huyện Tân Kì, Thị xã Thái Hòa
2.2.6 Hồ chứa Sông Sào
Công trình thuỷ lợi Sông Sào nằm ở xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An được khởi công xây dựng từ tháng V/1996 và đã được đưa vào vận hành vào tháng I/2008 Nguồn nước đến hồ chứa là dòng chảy của Sông Sào bắt nguồn từ dãy núi phía Bắc Sông dài 20 km (tính đến tuyến đầu mối) và có diện tích lưu vực 132km2 Nhiệm vụ của công trình thuỷ lợi Sông Sào là cấp nưới tưới cho khu hưởng lợi theo hai giai đoạn (Đông Hiếu và Tây Hiếu) với diện tích 6616 ha (trong
đó giai đoạn 1 thuộc vùng Tây Hiếu có diện tích tưới 5562 ha) Hồ còn có nhiệm vụ cấp nước sinh hoạt cho dân cư trong vùng hưởng lợi, nuôi thả cá Ngoài nhiệm vụ cấp nước tưới, hồ chứa nước Sông Sào còn có nhiệm vụ cắt lũ giảm nhẹ tình trạng ngập lụt cho vùng hạ du, cải tạo cảnh quan môi trường và tạo điều kiện phát triển du lịch
+ Tưới khoảng 32585 ha đất canh tác nông nghiệp (trong đó có 9162
ha tưới bằng động lực của trạm bơm Linh Cảm chuyển sang tưới tự chảy) ở các huyện Hương Sơn, Vũ Quang, Đức Thọ, Can Lộc, Nghi Xuân một phần phía Bắc huyện Thạch Hà và thị xã Hồng Lĩnh
+ Nuôi trồng 5991 ha thủy sản (nước ngọt 3500 ha và 2491 ha nước lợ)
- Cấp nước cho các nghành công nghiệp khác và dân sinh
Trang 32Bảng 13:Các thông số chính của hồ Hố Hô.
Trang 3333
Nhận xét:
Qua sự phân bố hồ chứa, nhận thấy : tại Hà Tĩnh, hồ chứa tập trung trên khu vực sông Ngàn Sâu, tại Nghệ An, các hồ lớn đều nằm trên các nhánh sông lớn của lưu vực sông Lam
Từ kết quả khảo sát khóa luận đã chọn hồ Ngàn Trươi trên lưu vực sông Ngàn Sâu để đại diện cho khu vực Hà Tĩnh tham gia vào điều tiết trên lưu vực cũng như xét đến ảnh hưởng cuả 3 hồ chứa : Bản Vẽ trên sông Nậm Nơn, Thác Muối trên sông Giăng, Bản Mồng trên sông Hiếu đến lưu lượng và mực nước tại một số trạm
hạ lưu sông Lam
Trang 3434
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG HỒ CHỨA ĐẾN
ÚNG NGẬP HẠ DU SÔNG LAM
3.1 MÔ PHỎNG DÒNG CHẢY TỰ NHIÊN TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM
3.1.1 Giới thiệu mô hình Mike 11
MIKE 11 do DHI Water & Environment (Đan Mạch) phát triển, là một gói phần mềm kỹ thuật chuyên môn để mô phỏng lưu lượng, chất lượng nước và vận chuyển bùn cát ở cửa sông, sông, hệ thống tưới, kênh dẫn và các vật thể nước khác
MIKE 11 là mô hình động lực một chiều được sử dụng nhằm phân tích chi tiết, thiết kế, quản lý và vận hành cho sông và hệ thống kênh dẫn đơn giản hay phức tạp Với môi trường đặc biệt thân thiện, linh hoạt và tốc độ tính toán khá cao MIKE 11cung cấp một môi trường thiết kế hữu hiệu về kỹ thuật công trình, tài nguyên nước, quản lý chất lượng nước và các ứng dụng phục vụ cho quy hoạch
Mô đun mô hình thủy động lực (HD) là một phần trọng tâm của hệ thống mô hình MIKE 11 và hình thành cơ sở cho hầu hết các mô-đun bao gồm: dự báo lũ, truyền tải khuyếch tán, chất lượng nước và các mô-đun vận chuyển bùn lắng không
cố kết Mô-đun HD giải các phương trình tổng hợp theo phương đứng để đảm bảo tính liên tục và bảo toàn động lượng (momentum) Nghĩa là giải hệ phương trình Saint Venant
Các ứng dụng liên quan đến mô - đun HD bao gồm:
+ Dự báo lũ và vận hành hồ chứa
+ Các phương pháp mô phỏng kiểm soát lũ
+ Vận hành hệ thống tưới và tiêu thoát bề mặt
+ Nghiên cứu sóng triều và nước dâng do mưa ở sông và cửa sông
Đặc trưng cơ bản của hệ thống mô hình MIKE 11 là cấu trúc mô-đun tổng hợp với nhiều loại mô - đun được thêm vào mô phỏng các hiện tượng liên quan đến
hệ thống sông Ngoài các mô-đun HD đã mô tả ở trên MIKE bao gồm các mô-đun
bổ sung đối với:
+ Thủy văn
+ Tải khuyếch tán
+ Các mô hình về chất lượng nước
Trang 3535
+ Vận chuyển bùn cát có cố kết (có tính dính)
+ Vận chuyển bùn cát không có cố kết (không có tính dính)
Sau khi mô phỏng thủy lực lưu vực sông Lam trong mô hình Mike 11, tiến hành kiểm tra độ chính xác của mô hình với bộ thông số đã lựa chọn Chỉ tiêu đánh giá dựa vào chỉ số Nash được tính theo công thức :
Nash = 1 - (𝑄𝑡𝑑
𝑛 𝑖=1
(𝑄𝑡𝑑𝑖 −𝑄 )²𝑡𝑑
𝑛 𝑖=0
𝑄𝑡𝑑𝑖 : là lưu lượng thực đo tại thời điểm i
𝑄 : là giá trị trung bình của chuỗi số liệu trung bình thực đo 𝑡𝑑
W : là tổng lượng dòng chảy tính toán
3.1.2 Giới thiệu số liệu
Thiết lập mạng sông khu vực tính toán (Hình 6)
- Biên trên: trạm Mường Xén, Quỳ Châu, Thác Muối, Vũ Quang, Chu Lễ, Sơn Diệm, hồ Bản Vẽ
- Biên dưới: trạm Cửa Hội
- Nhập lưu khu giữa: Bản Vẽ - Thạch Giám, hạ lưu sông Nậm Mộ, Thạch Giám – Khe Bố, Khe Bố - Dừa, Dừa – Đô Lương, Quỳ Châu – Bản Mồng, Bản Mồng – Nghĩa Khánh, Nghĩa Khánh – Khe Chanh, Đô Lương – Yên Thượng, hạ lưu sông Giăng, Yên Thượng – Nam Đàn, Nam Đàn – Chợ Tràng, hạ lưu Ngàn Phố, Chu Lễ - Hòa Duyệt, Hòa Duyệt – Linh Cảm, hạ lưu Ngàn Trươi, Linh Cảm – Chợ Tràng, Chợ Tràng – Cửa Hội
Các yếu tố đưa vào mô hình Mike 11
- Mặt cắt: Số liệu mặt cắt đưa vào mô hình Mike 11 thiết lập trong file
*.xns11 Bài toán đã mô phỏng mặt cắt trên hệ thống sông Lam
+ Sông Nậm Mộ : chiều dài mô phỏng 50.755 km, 26 mặt cắt ngang