1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA HIỆN TƯỢNG PHÓNG CHIẾU TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

174 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích của luận án là nghiên cứu đặc điểm các thành phần phóng chiếu trên cú và trong cú trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới ánh sáng của lý thuyết ngôn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ HOÀI THU

ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA HIỆN TƯỢNG PHÓNG CHIẾU TRONG

TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NCS: VŨ HOÀI THU

ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA HIỆN TƯỢNG PHÓNG CHIẾU TRONG

TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nội dung luận án có tham khảo và sử dụng ngữ liệu được trích dẫn từ các tác phẩm và nguồn tư liệu đăng tải trên các trang thông tin điện tử theo danh mục tài liệu tham khảo của luận án

Tác giả Luận án

VŨ HOÀI THU

Trang 4

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các kí hiệu, chữ viết tắt sử dụng trong luận án

Danh mục các bảng biểu sử dụng trong luận án

Danh mục các hình vẽ, biểu đồ sử dụng trong luận án

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3 Đối tượng, phạm vi nguồn dữ liệu, phạm vi nghiên cứu, qui trình thu thập

dữ liệu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

6 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về một số khái niệm tương đương với phóng

chiếu trước Ngữ pháp chức năng hệ thống

1.1.1.1 Câu trong ngữ pháp truyền thống

1.1.1.2 Một số khái niệm tương đương trong ngữ pháp truyền thống về phóng chiếu

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về phóng chiếu dưới ánh sáng của lí thuyết ngữ

pháp chức năng hệ thống

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu về phóng chiếu trên thế giới

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu về hiện tượng phóng chiếu ở Việt Nam

Trang 5

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Lí thuyết nghiên cứu đối chiếu

1.2.2 Ngôn ngữ học chức năng hệ thống

1.2.3 Phóng chiếu trong ngữ pháp chức năng hệ thống

1.2.3.1 Khái niệm tương đương câu trong ngữ pháp chức năng hệ thống

1.2.3.2 Phóng chiếu trong ngữ pháp chức năng hệ thống

2.1 Phân tích đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếu trên cú

trong tiếng Anh

2.2 Phân tích đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếu trên cú

trong tiếng Việt

Trang 6

2.2.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa

2.3 Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa phóng chiếu trên cú trong tiếng Anh và tiếng Việt

2.3.1 Những điểm tương đồng

2.3.1.1 Những điểm tương đồng về đặc điểm ngữ pháp

2.3.1.2 Những điểm tương đồng về đặc điểm ngữ nghĩa

Trang 7

trong tiếng Việt

3.2.1 Phóng chiếu ngang cú: cụm giới từ phóng chiếu

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

146

151

152

Trang 8

HỆ THỐNG CÁC KÝ HIỆU QUY ƯỚC

| ranh giới cụm từ/nhóm từ

|| ranh giới cú

||| ranh giới cú phức

[…] ranh giới cụm từ bị bao

[[…]] ranh giới cú bị bao

* chỉ cú không có tính ngữ pháp hay không được chấp nhận

Trang 9

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Trang 10

(QTTT) trong tiếng Anh và tiếng Việt

100

Hình 2.2 Tỉ lệ các quá trình tham gia phóng chiếu trong tiếng Anh 102 Hình 2.3 Tỉ lệ các quá trình tham gia phóng chiếu trong tiếng Việt 102 Hình 2.4 Vị trí cú phóng chiếu (QTPN) trong tiếng Anh 104 Hình 2.5 Vị trí cú phóng chiếu (QTPN) trong tiếng Việt 104 Hình 2.6 Mức độ sử dụng động từ say (nói) trong tiếng Anh và

động từ nói trong tiếng Việt

107

Hình 3.1 Chu cảnh chỉ quan điểm và chu cảnh chỉ vấn đề trong

tiếng Anh và tiếng Việt

137

Hình 3.2 Cụm danh từ phóng chiếu bị bao trong tiếng Anh 140

Hình 3.3 Cụm danh từ phóng chiếu bị bao trong tiếng Việt 140

Hình 3.4 Cụm danh từ phóng chiếu thực tế trong tiếng Anh 141

Hình 3.5 Cụm danh từ phóng chiếu thực tế trong tiếng Việt 141

Hình 3.7 Cụm động từ phóng chiếu trong tiếng Việt 142

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp: một số quan niệm 14 Bảng 1.2 Thang cấp độ của các tầng ngôn ngữ nội tại 31

Bảng 1.5 Chức năng lời nói phóng chiếu: khiến nghị và phán đoán

Bảng 2.1 Số lượng tổ hợp cú phóng chiếu phát ngôn và tinh thần

trong tiếng Anh

Trang 12

Bảng 2.5 Số lượng và chức năng ngữ nghĩa của cú bị phóng chiếu

trong tiếng Anh

83

Bảng 2.6 Số lượng tổ hợp cú phóng chiếu phát ngôn và tinh thần

trong tiếng Việt

Bảng 2.11 Tần suất các quá trình tham gia phóng chiếu đối với từng

thể loại tiểu thuyết và báo chí

106

Bảng 3.1 Số lượng chu cảnh chỉ quan điểm và chu cảnh chỉ vấn đề

trong tiếng Anh

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cuối thế kỉ XX, ngôn ngữ học đón nhận sự ra đời của nhiều trào lưu mới như ngữ pháp văn bản, lí thuyết hành động ngôn từ, ngôn ngữ học tri nhận, ngôn ngữ học chức năng, v.v Mỗi lí thuyết ngôn ngữ mới ra đời đều là

sự đóng góp to lớn cho việc nghiên cứu và phát triển ngôn ngữ của con người Khuynh hướng đi sâu vào nghiên cứu bình diện chức năng và nội dung của ngôn ngữ đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới (Robins [33]) Các nghiên cứu truyền thống phần lớn đều xem ngôn ngữ như một tập hợp các quy tắc chứ không phải là một “nguồn lực để tạo nghĩa” (Halliday [74]; Halliday & Hasan [77]; Halliday & Matthiessen [75]; Martin [834]; Hoàng Văn Vân [47], [48], [103])

Trên thực tế, ngữ pháp truyền thống vẫn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiếp cận cả ngôn ngữ tiếng Việt (tiếng mẹ đẻ) và tiếng Anh (ngoại ngữ) trong quá trình dạy học trong các nhà trường tại Việt Nam Được dạy và học theo ngữ pháp truyền thống, phần lớn giáo viên dạy ngoại ngữ tập trung vào giải thích các quy tắc ngữ pháp một cách trừu tượng, độc lập với ngôn cảnh hay hoàn cảnh giao tiếp Điều đó có nghĩa là dạng thức hay cấu trúc bề mặt của ngôn ngữ được quan tâm nhiều hơn ý nghĩa hay chức năng giao tiếp của ngôn ngữ (Cao Xuân Hạo [17], [18]; Nguyễn Văn Hiệp [23]) Chính điều này

đã hạn chế người học hiểu được bản chất và nghĩa của cấu trúc ngữ pháp cần dạy Trong khi đó, Halliday [74], [13], Halliday & Matthiessen [75], [76] đã cho thấy ngữ pháp chức năng có nhiều tiềm năng ứng dụng, đặc biệt là ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục ngoại ngữ

Trong quá trình giao tiếp trao đổi thông tin, phóng chiếu là một hiện tượng lý thú của ngôn ngữ Nó xuất hiện nhiều trong báo chí và trong các tiểu thuyết viết theo thể loại văn trần thuật Tuy nhiên, đây lại là một khoảng trống

Trang 14

vì chưa có nhiều nghiên cứu đi sâu vào lĩnh vực này, đặc biệt là phóng chiếu trong cú Chính vì hiện tượng phóng chiếu chưa được quan tâm thỏa đáng nên xuất hiện những khó khăn khi giải thích và sử dụng phóng chiếu trong lĩnh vực dịch thuật và giảng dạy Trong quá trình giảng dạy tiếng Anh thực tế, chúng tôi nhận thấy học viên thường gặp rất nhiều khó khăn và thường mắc lỗi trong cách sử dụng, cách diễn đạt, cách sử dụng các động từ tường thuật, đặc biệt là cách phối hợp về thì (tense) trong các cú được các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống (Halliday [74], [13], Matthiessen [85]; Hoàng Văn Vân [103]; Halliday & Matthiessen [75]) gọi là cú “phóng chiếu” (projecting clause) và cú bị phóng chiếu (projected clause) Ngoài ra các bài tập truyền thống về chuyển đổi song song giữa lời nói gián tiếp và trực tiếp đã tạo cho người học chỉ nhận thức về mặt ngữ pháp-từ vựng rằng hai hiện tượng này thường song song và tương đương với nhau Như Halliday [74] đã chỉ ra, “Về góc độ ngữ nghĩa, lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp không hoàn toàn sóng đôi với nhau, và có nhiều trường hợp trong đó việc thay thế hiện tượng này bằng hiện tượng kia là không có nghĩa” Người học không phân biệt được mục đích của phát ngôn, dẫn tới cách chuyển từ lối nói trực tiếp sang lối nói gián tiếp không phù hợp

Nguyên nhân thường xuất phát từ hai phía: thứ nhất, giáo viên còn thiếu hiểu biết về bản chất của hiện tượng phóng chiếu; thứ hai học sinh bị ảnh hưởng bởi tiếng Việt mà trong dạy ngoại ngữ thường được gọi là “chuyển

di tiêu cực” (negative transference) Vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu là tìm

ra bản chất của hiện tượng phóng chiếu trong hai ngôn ngữ nhằm thiết lập những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ để từ đó đề xuất những phương thức và biện pháp giúp người Việt học tiếng Anh cũng như người Anh học tiếng Việt khắc phục được những khó khăn trên Tìm hiểu bản chất của phóng chiếu từ bình diện lí thuyết để giúp người dạy và người học có

Trang 15

cái nhìn toàn diện về vấn đề này từ nhiều góc độ và từ đó khắc phục được những khó khăn trong khi sử dụng phóng chiếu trong giao tiếp chính là hai lý

do thực tiễn thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài “Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của hiện tượng phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là nghiên cứu đặc điểm các thành phần phóng chiếu trên cú và trong cú trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới ánh sáng của lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống Trên cơ sở chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của hiện tượng phóng chiếu trong tiếng Anh với các đơn vị tương đương trong tiếng Việt, luận án giúp cho người học hiểu được logic của ngôn ngữ trong hệ thống các siêu chức năng (kinh nghiệm, liên nhân, ngôn bản và logic) từ đó biết cách chuyển

dịch giữa hai ngôn ngữ và nâng cao hiệu quả giao tiếp

Luận án của chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Hệ thống hoá cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu, cụ thể là hệ thống lí thuyết liên quan đến phóng chiếu trong ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng

- Nghiên cứu những đặc trưng của phóng chiếu ở các cấp độ: cụm từ, cú đơn và cú phức trong tiếng Anh và tiếng Việt

- Trên cơ sở của hai nội dung đã đề cập ở trên, luận án sẽ đối chiếu những đặc trưng phóng chiếu trong tiếng Anh với tiếng Việt để thiết lập những điểm tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ Trong quá trình đối chiếu, luận

án sẽ cố gắng giải thích những điểm tương đồng và khác biệt đó

Để thực hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu này, luận án cần trả lời được các câu hỏi nghiên cứu sau:

1 Phóng chiếu là gì?

Trang 16

2 Phóng chiếu được thể hiện như thế nào ở cấp độ trên cú (cú phức [câu phức và câu ghép trong ngữ pháp truyền thống]) và trong cú (bao gồm ngang cú [câu đơn trong ngữ pháp truyền thống] và dưới cú [từ và cụm từ]) trong tiếng Anh?

3 Phóng chiếu được thể hiện như thế nào ở cấp độ trên cú và trong cú (ngang cú và dưới cú) trong tiếng Việt?

4 Phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt có những điểm tương đồng và khác biệt gì?

Trên cơ sở các nhiệm vụ nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu mà luận án đặt ra, cái mà chúng ta cần trước hết là một mô hình lí thuyết nghiên cứu hiện tượng phóng chiếu toàn diện hơn, thâu tóm được cả hai bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa, nghiên cứu hiện tượng này không những từ bình diện trên cú hay

cú phức (tương ứng với câu phức và câu ghép trong ngữ pháp truyền thống), trong cú (tương ứng với câu đơn trong ngữ pháp truyền thống và các cụm từ)

và ý nghĩa mà chúng thể hiện

3 Đối tượng, phạm vi nguồn ngữ liệu, phạm vi nghiên cứu, qui trình thu thập dữ liệu

 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các thành phần phóng chiếu trên

cú và trong cú trong tiếng Anh và tiếng Việt

 Phạm vi nguồn ngữ liệu:

Trong tiếng Anh, các hiện tượng phóng chiếu được nghiên cứu thông

qua các cứ liệu là 15 bài báo trong tờ New York Times, 15 bài báo trong tờ USA Today (tập trung vào các bài báo là phóng sự về các sự kiện chính trị, đời sống xã hội) và tiểu thuyết Harry Porter and the Sorcerer's Stone (Harry

Porter và hòn đá phù thủy) của nhà văn J.K Rowling Tác phẩm được Bloomsbury xuất bản lần đầu tại Anh vào năm 1997 với nhan đề Harry

Trang 17

Potter and the Philosopher's Stone (Harry Potter và Hòn đá Giả kim) Năm

1998,Scholastic Corporation xuất bản tác phẩm tại Hoa Kì với nhan đề Harry Potter and the Sorcerer's Stone (Harry Potter và Hòn đá Phù thủy) và có chút thay đổi về văn phong để phù hợp với độc giả Mĩ; bản dịch tiếng Việt của nhà xuất bản Trẻcũng dựa trên ấn bản này Đây là tác phẩm đầu tiên trong bộ

truyện Harry Potter gồm 7 tập Tiểu thuyết Harry Porter and the Sorcerer's Stone (Harry Porter và hòn đá phù thủy) có độ dài 17 chương và là một tập

truyện quan trọng, bởi nó đặt nền tảng cho 6 tập tiếp theo

Trong tiếng Việt, chúng tôi chọn cứ liệu nghiên cứu thông qua 15 bài

báo trong tờ Nhân Dân, 15 bài báo trong trang Vietnamnet (tập trung vào các

bài báo là phóng sự về các sự kiện chính trị, đời sống xã hội) và hai tiểu

thuyết Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh và Cô gái đến từ hôm qua của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Tiểu thuyết Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh kể về tuổi thơ

của hai anh em Thiều và Tường ở một miền quê nghèo qua 81 chương ngắn

Tác phẩm Cô gái đến từ hôm qua gồm 10 chương, là chuyến du hành đầy

hoài niệm về một thời tuổi trẻ và những rung động đầu đời rất đỗi chân thành, ngọt ngào của chàng trai tên Thư

Lí do chọn các tác phẩm Harry Porter and the Sorcerer's Stone của J.K Rowling, và Cô gái đến từ hôm qua và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của

nhà văn Nguyễn Nhật Ánh là vì chúng cùng thể loại văn học dành cho thiếu nhi và ở cùng thời kì đương đại nên cập nhật được cách sử dụng ngôn ngữ hiện đại Ngoài ra, bên cạnh tính phổ thông được nhiều người biết đến, đây là các tiểu thuyết thuộc thể loại văn trần thuật (narrative) cho nên ngoài mối quan hệ giữa nhà văn và độc giả còn có nhiều mối quan hệ giữa các nhân vật trong tiểu thuyết nên chúng tôi chờ đợi có nhiều hội thoại giữa họ thuộc nhiều kiểu khác nhau, và do đó, chúng tôi hi vọng sẽ có đủ các kiểu phóng chiếu

Trang 18

giúp chúng tôi khảo sát để hình thành một khối liệu minh họa phong phú cho luận án

Lí do chọn các tờ báo New York Times, USA Today, Vietnamnet và Nhân Dân để lấy cứ liệu nghiên cứu là vì đây là các tờ báo lớn có uy tín và là

cơ quan ngôn luận của quốc gia nên có tính cập nhật và chính xác cao Đặc biệt, đặc thù của thể loại báo chí (các phóng sự) là trần thuật, nên sẽ là kho tư liệu phong phú cho chúng tôi khai thác các hiện tượng phóng chiếu

 Phạm vi nghiên cứu

Việc khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa-ngữ pháp của khối liệu ở bình diện phóng chiếu trong mối quan hệ lôgic-ngữ nghĩa cần được giới hạn vào các khía cạnh sau:

1 Phân tích để lấy số lượng, tỉ lệ phần trăm và đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếu trên cú: các kiểu quá trình phóng chiếu và có tiềm năng phóng chiếu, phương thức trích nguyên và thông báo lại trong khối liệu

2 Phân tích để lấy số lượng, tỉ lệ phần trăm và đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếu trong cú: cụm động từ phóng chiếu, cụm giới từ phóng chiếu và cụm danh từ phóng chiếu trong khối liệu

 Qui trình thu thập dữ liệu:

Như đã đề cập ở trên, cứ liệu nghiên cứu là 15 bài báo trong tờ New York Times, 15 bài báo trong tờ USA Today, 15 bài báo trong Vietnamnet và 15 bài báo trong tờ Nhân Dân Ngoài ra đối với thể loại tiểu thuyết, khối cứ liệu được lấy từ ba tiểu thuyết Harry Porter and the Sorcerer's Stone của J.K Rowling và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh cùng với Cô gái đến từ hôm qua

của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, với độ dài văn bản của khối liệu nghiên cứu của mỗi ngôn ngữ khoảng 80.000 từ Trên cơ sở khối liệu này chúng tôi tiến hành khảo sát hiện tượng phóng chiếu trên cú và trong cú Do chưa có phần

Trang 19

mềm kiểm đếm câu (cú) có xuất hiện phóng chiếu nên công việc này phải được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức đếm thủ công

Các dữ liệu về phóng chiếu được thu thập theo các nhóm: trên cú và dưới

cú Trong mỗi nhóm lại chia ra hai tiểu nhóm tiếng Anh và tiếng Việt, theo từng thể loại văn bản, tiểu thuyết và báo Các hiện tượng phóng chiếu được

mã hóa, mỗi mã gồm 3 kí tự: kí tự thứ nhất là mã ngôn ngữ, A cho tiếng Anh

và V cho tiếng Việt; kí tự thứ hai là mã thể loại, 1 cho tiểu thuyết và 2 cho báo; kí tự thứ 3 là số thứ tự của phóng chiếu trong các tiểu nhóm

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong luận án bao gồm:

4.1 Phương pháp mô tả

Phương pháp này dùng để mô tả các thành phần phóng chiếu trên cú và trong cú (ngang cú và dưới cú) Từ đó có thể chỉ ra được đặc điểm riêng của

các hiện tượng phóng chiếu được khảo sát

4.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu:

Đây là phương pháp chủ đạo, được sử dụng để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt của hiện tượng phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt Luận án nghiên cứu áp dụng nguyên tắc đối chiếu hai chiều, có nghĩa là

cả ngôn ngữ Anh và ngôn ngữ Việt đều được coi là ngôn ngữ nguồn và ngôn

ngữ đích để mô tả và đối chiếu hiện tượng phóng chiếu

4.3 Các thủ pháp nghiên cứu hỗ trợ khác

Trong quá trình khảo sát tư liệu, bên cạnh phương pháp chủ yếu vừa nêu trên, đề tài nghiên cứu còn sử dụng một số thủ pháp nghiên cứu khác như thống kê, phân loại, mô hình hóa,…

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Trang 20

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống chuyên sâu về phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt, cả ở cấp độ trên cú

và trong cú dựa trên khung lí thuyết chức năng hệ thống

Luận án đi sâu nghiên cứu đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếu nhằm làm rõ các điểm tương đồng và khác biệt của phóng chiếu trong mối quan hệ logic-ngữ nghĩa trong cú và trong tổ hợp cú trong tiếng Anh và tiếng Việt

6 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lí luận

Luận án nghiên cứu lí luận về phóng chiếu trong mối quan hệ logic-ngữ nghĩa trong cú và trong tổ hợp cú dưới ánh sáng của lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống, do đó luận án góp phần làm sáng tỏ các luận điểm lí thuyết, lí luận và bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu về phóng chiếu theo quan điểm của ngữ pháp chức năng hệ thống

Luận án cũng đi sâu vào nghiên cứu các đặc trưng của phóng chiếu bậc trong cú cả và bậc trên cú trong tiếng Anh so sánh đối chiếu với tiếng Việt, các kết quả khảo sát về phóng chiếu này góp phần giúp cho các nhà nghiên cứu có thêm luận chứng để đi sâu nghiên cứu thêm về ngữ pháp và ngữ nghĩa của chúng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp những người làm công tác giảng dạy ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt cũng như các những người làm công tác dịch thuật hiểu rõ hơn về đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của phóng chiếu bậc trong cú và trên cú Từ đó có thể kiến tạo các văn bản cũng như chuyển dịch các văn bản giữa hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt có sử dụng phóng chiếu hiệu quả hơn Ngoài ra, đối với những người làm công tác giảng dạy, việc hiểu rõ các đặc trưng của phóng chiếu trong từng ngôn ngữ sẽ

Trang 21

giúp họ có những chiến lược phù hợp, hiệu quả trong việc giảng dạy vấn đề này với người học Đặc biệt đối với chương trình đào tạo báo chí tại các cơ sở đào, đây là một trong những vấn đề thực tế rất hữu ích cần được quan tâm

7 Bố cục luận án

Luận án được trình bày trong 3 chương, ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục:

Chương 1: Tổng quan những vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương này cho biết sơ lược vấn đề nghiên cứu Ngoài ra, cũng trong chương này, chúng tôi trình bày các bước tiến hành nghiên cứu vấn đề đang nêu đồng thời chúng tôi phân tích và hệ thống một số lí luận có liên quan như khái niệm lời nói gián tiếp và lời nói trực tiếp, phóng chiếu, thành phần phóng chiếu, các cấp độ phóng chiếu, tóm tắt trình bày các quan niệm về phóng chiếu trong ngôn ngữ học chức năng hệ thống và khái niệm tương đương trong ngữ pháp truyền thống Chúng tôi cũng chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa

các khái niệm này trong ngữ pháp chức năng và ngữ pháp truyền thống

Chương 2: Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếu

trên cú trong tiếng Anh và tiếng Việt Chương này trình bày kết quả khảo sát và chỉ ra những đặc điểm về ngữ pháp và ngữ nghĩa của các thành phần phóng chiếu trên cú trong tiếng Anh và tiếng Việt Trên cơ sở kết quả khảo sát, luận án đối chiếu, thảo luận các điểm tương đồng và khác biệt của phóng chiếu giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt

Chương 3: Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếu trong cú trong tiếng Anh và tiếng Việt Chương này trình bày kết quả khảo

sát và chỉ ra những đặc điểm về ngữ pháp và ngữ nghĩa của các thành phần phóng chiếu trong cú (ngang cú và dưới cú) trong tiếng Anh và tiếng Việt Trên cơ sở kết quả khảo sát, luận án đối chiếu, thảo luận các điểm tương đồng

và khác biệt của phóng chiếu giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt

Trang 22

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

Dẫn nhập

Trong chương này chúng tôi trình bày các cơ sở lí thuyết của luận án và tổng quan các nghiên cứu về phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới ánh sáng của lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống Đó là những quan niệm

về lí thuyết có liên quan đến phóng chiếu trong ngữ pháp truyền thống và trong ngữ pháp chức năng hệ thống Khái niệm phóng chiếu trên cú và trong

cú cũng được thảo luận chi tiết để tìm ra khung lí thuyết phục vụ cho mục tiêu của luận án Chương một cũng tập trung giới thiệu tổng quan các nghiên cứu

về phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt của các tác giả theo đường hướng ngữ pháp chức năng hệ thống nhằm mục đích làm tiền đề và cơ sở lí thuyết cho việc phân tích dữ liệu cho những chương tiếp theo của luận án Trên cơ sở lí thuyết này, luận án có nhiệm vụ tìm ra điểm tương đồng và dị biệt của hiện tượng phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về phóng chiếu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về một số khái niệm tương đương với phóng chiếu trước Ngữ pháp chức năng hệ thống

Phóng chiếu trong ngữ pháp chức năng là một hiện tượng phức ở cả cấp

độ từ/cụm từ và cấp độ cú (cú phức) Cú là đơn vị trung tâm của ngữ pháp chức năng và ở nhiều khía cạnh tương ứng với đơn vị câu của ngữ pháp truyền thống Halliday [13, tr.44] cho rằng “cú ở bất kì chỗ nào cũng đều là một đơn vị giống nhau, cho dù nó đóng chức năng một mình (như một câu đơn), hay là một phần của cú phức (câu phức/câu ghép)” Diệp Quang Ban [5,tr.15] cũng nhận xét rằng nhìn chung, “cú” tương đương với cái được gọi

là câu đơn của ngữ pháp truyền thống và tác giả tổng kết rằng một số nhà

Trang 23

nghiên cứu phân biệt “câu” theo hướng cho rằng “câu” gắn với chữ viết như một đơn vị chính tả có dấu chấm ở hai đầu, còn “cú” không bị ràng buộc vào chữ viết Chính vì vậy để thảo luận khái niệm phóng chiếu trong ngôn ngữ học chức năng, chúng tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu những đơn vị tương ứng trong ngôn ngữ học truyền thống Chúng tôi sẽ bắt đầu nghiên cứu này với sự thảo luận sơ lược về đơn vị câu trong ngữ pháp truyền thống.

1.1.1.1 Câu trong ngữ pháp truyền thống

Câu là một đơn vị ngôn ngữ phức tạp với hàng trăm định nghĩa được các nhà ngôn ngữ đưa ra (xin xem Fries [70]) Cuối thế kỉ XIX, một nhà ngôn ngữ học đã cho biết rằng tới lúc đó đã có 150 định nghĩa khác nhau về câu (Nguyễn Kim Thản [37]) Rất nhiều định nghĩa về câu có ảnh hưởng từ định nghĩa của nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Nga Vinagradov:

Câu là một đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo các qui luật của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng nhất để cấu tạo, biểu hiện và truyền đạt tư tưởng Trong câu không phải chỉ có sự truyền đạt về hiện thực

mà còn có cả mối quan hệ của người nói và hiện thực (Vinagradov 1954, dẫn theo Nguyễn Kim Thản [37, tr.140])

Khi nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, nhiều nhà ngôn ngữ học cũng đã kế thừa tư tưởng trên (Hoàng Trọng Phiến [30]; Diệp Quang Ban [4]) Nói chung, trong các định nghĩa được đề cập đến, chúng ta đều tìm thấy ba yếu tố đặc trưng của câu: (1) về nội dung: câu có tư tưởng, ngữ nghĩa trọn vẹn và có thể kèm theo thái độ của người nói với đối với hiện thực được nói tới trong câu, (2) về hình thức: câu có cấu trúc ngữ pháp và có ngữ điệu kết thúc và (3)

về chức năng: câu có chức năng hình thành, biểu hiện và truyền đạt tư tưởng, tình cảm

Câu có nhiều định nghĩa khác nhau nên việc phân loại câu cũng được dựa trên các tiêu chí khác nhau và về nhiều phương diện khác nhau Hai tiêu chí phổ biến nhất là phân loại câu theo mục đích phát ngôn và phân loại câu

Trang 24

theo cấu trúc ngữ pháp Với tiêu chí dựa trên mục đích phát ngôn, ngôn ngữ

có bốn loại câu là: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán (Nguyễn Kim Thản [37]; Nguyễn Văn Hiệp [23]); còn dựa trên tiêu chí về cấu trúc ngữ pháp, chúng ta có câu đơn, câu phức và câu ghép; câu ghép được chia ra hai loại: câu ghép chính phụ và câu ghép đẳng lập Tuy nhiên, việc phân định giữa câu đơn, câu phức và câu ghép còn nhiều tranh cãi do có những tiêu chuẩn khác nhau

Ngữ pháp truyền thống thường dựa vào số lượng cụm chủ - vị để xác định câu đơn và câu không thuộc loại đơn Bùi Minh Toán và Nguyễn Thị Lương [34] cho rằng câu đơn được cấu tạo bằng một kết cấu chủ vị (cụm chủ vị), câu ghép là câu có từ hai kết cấu chủ - vị nòng cốt trở lên nhưng không có kết cấu chủ vị nào bị bao bởi một kết cấu chủ - vị khác; còn câu phức thành phần là kiểu câu gồm hai kết cấu chủ - vị trở lên, trong đó chỉ có một kết cấu chủ - vị nòng cốt Hãy xét hai ví dụ sau:

(1) Cách mạng tháng Tám thành công đem lại độc lập, tự do cho dân tộc (2) Lý Kiến khai tên ấy thuộc hạng dân lưu tán không về làng

(1) và (2) vừa được phân tích như kiểu câu phức thành phần (có chủ ngữ hoặc bổ ngữ là một cụm chủ vị) (Bùi Minh Toán & Nguyễn Thị Lương [34]) vừa được phân tích như câu đơn hai thành phần (Diệp Quang Ban [4]; Nguyễn Văn Hiệp [23]) Thậm chí Nguyễn Văn Hiệp [23, tr 354] còn khẳng định những câu được coi là câu phức mở rộng chủ ngữ hoặc bổ ngữ thực chất chỉ là “biến thể của câu đơn song phần đơn giản” Các ví dụ trên của chúng tôi đã minh họa phần nào sự phức tạp trong việc phân loại câu trong tiếng Việt trong ngữ pháp truyền thống

Khi phân loại câu trong tiếng Anh theo tiêu chí cấu tạo ngữ pháp, Quirk

và các cộng sự [94] phân chia làm ba loại: câu đơn (simple sentence), câu ghép (compound sentence) và câu phức (complex sentence) Theo Quirk và

Trang 25

các cộng sự [93], câu đơn bao gồm một mệnh đề độc lập; câu ghép bao gồm hai hoặc nhiều hơn hai mệnh đề độc lập; còn câu phức bao gồm duy nhất một mệnh đề độc lập và một hoặc lớn hơn một mệnh đề phụ thuộc Ngoài ba loại câu cơ bản này, Oshima & Hogue [91] bổ sung thêm một loại câu được gọi là câu phức-ghép kết hợp (compound-complex sentence), loại câu này bao gồm

ít nhất ba mệnh đề, trong đó có hai hoặc nhiều hơn hai mệnh đề độc lập và một hoặc nhiều hơn một mệnh đề phụ thuộc

Như vậy, khái niệm về câu đơn, câu phức và câu ghép trong tiếng Anh

và tiếng Việt không hoàn toàn trùng nhau nên việc phân tích thành phần câu cũng có những điểm khác nhau

1.1.1.2 Một số khái niệm tương đương trong ngữ pháp truyền thống về phóng chiếu

Trong Ngữ Pháp Tiếng Việt, Diệp Quang Ban [5] khi bàn đến câu ghép

đã đề cập đến khái niệm được ông gọi là xạ ảnh Theo ông, xạ ảnh là việc chuyển một sự việc nào đó vào một lời nói hay ý nghĩ khác và được hiểu là

“bắn” hay “phóng” hình ảnh của sự việc đó vào một lời hay ý nghĩ Hiện tượng này trước đây trong ngữ pháp truyền thống được gọi là dẫn lời, về sau thêm phần dẫn ý

Lời nói gián tiếp và lời nói trực tiếp trong tiếng Anh là vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu ngữ pháp truyền thống quan tâm Một số nghiên cứu dưới đây được cho là tiêu biểu

Trong một chuyên khảo ngôn ngữ về lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp

có nhan đề là Reported Speech: Some General Isues (Lời nói được tường

thuật lại: một số vấn đề đại cương), Coulmas [51] đã nghiên cứu các vấn đề chung về lời tường thuật lại trong các ngôn ngữ Tác giả thảo luận về các đặc điểm giống và khác nhau trong lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp thông qua

hệ thống từ vựng và ngữ pháp Theo dòng lịch sử, tác giả còn thảo luận thêm

Trang 26

về loại hình thứ ba với các đặc điểm của cả lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp và thống kê những khái niệm không đồng nhất về loại hình thứ ba này trong Bảng 1.1 dưới đây:

Bảng 1.1 Lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp: một số quan niệm

(Nguồn: Florian Coulmas [51])

1894 Tobler Lời nói trực tiếp Lời nói gián tiếp

Kết hợp cả hai: lời nói trực tiếp và lời nói gián

tiếp

1899 Kalepky Lời nói trực tiếp Lời nói gián tiếp Lời nói ẩn

(Veiled speech)

1912 Bally Lời nói trực tiếp Lời nói gián tiếp

Lời nói gián tiếp tự do

1919 Lerch Lời nói trực tiếp

Lời nói gần giống lời nói trực tiếp (Quasi-direct speech)

Lời nói gián tiếp

1921 Lorck Lời nhắc lại

(Repeated speech)

Lời nói được trải nghiệm (Experienced speech)

lời tường thuật lại (Reported speech)

1924 Jespersen Lời nói trực tiếp Lời nói gián tiếp

Lời nói phụ thuộc (Dependent speech)

Lời trình bày lại (Represented speech)

1929 Voloshinov Phát ngôn thay thế

(Subsituted discourse)

Phát ngôn gần giống phát ngôn trực tiếp (Quasi-direct discourse )

Phát ngôn gián tiếp (Indirect discourse) Theo Coulmas [51], ngay từ rất sớm, Tobler (1894) đã đề cập đến loại thứ ba như là một sự kết hợp pha trộn đặc biệt của phát ngôn trực tiếp và phát ngôn gián tiếp Theo quan điểm của Tobler, đây là một biến thể của lời nói

Trang 27

trực tiếp Tiếp sau đó, Kalepky (1899) đối xử với loại thứ ba này như một loại hoàn toàn độc lập chứ không phải loại kết hợp pha trộn và tác giả sử dụng thuật ngữ “lời nói ẩn” (veiled speech) cho đối tượng này Bally (1912) giới thiệu loại hình thứ ba là hình thức lời nói gián tiếp tự do (free indirect speech)

và coi đó là một loại của lời nói gián tiếp Tuy nhiên, ngay từ năm 1921, Lorck (1921) đã tranh luận rằng khái niệm “indirect” (lời nói gián tiếp) là sự dùng sai thuật ngữ của khái niệm này trong lời tường thuật lại (reported speech) Tác giả đã đưa ra khái niệm lời dẫn được trải nghiệm (experienced speech) nhưng khái niệm này bị Jespersen phê phán vì cho rằng người viết không có kinh nghiệm hay không sống với những suy nghĩ hay lời nói đó mà chỉ là nhắc lại chúng mà thôi Do vậy Jespersen đã phát triển loại lời tường thuật này với thuật ngữ “represented speech” (lời nó được tái hiện lại) Cùng quan điểm với Bally, Jespersen (1924) đồng nhất lời nói được tái hiện lại (represented speech) là một loại của lời nói gián tiếp Lerch (1919) lại chú ý đến lời nói trực tiếp và đưa ra loại thứ ba là lời nói gần giống lời nói trực tiếp (Quasi-direct speech) và sau này Voloshinov (1929) cũng sử dụng khái niệm này và gọi đây là loại trung lập nhất trong các thuật ngữ đã được sử dụng và đòi hỏi ít lí thuyết nhất Voloshinov không chỉ tập trung vào mô tả ngữ pháp trừu tượng mà còn xem xét lời nói gián tiếp từ quan điểm lịch sử để thấy được

sự phản ánh của ngôn ngữ về phát triển xã hội

Fillmore [65], [66]cho rằng cả lời nói trực tiếp và gián tiếp đều là bổ ngữ của động từ nói năng Ông xem tất cả các tham tố có thể xuất hiện trực tiếp sau động từ nói năng là thông điệp (message) và phân chia thành bốn loại: thông điệp-nội dung (message-content), thông điệp-hình thức (message-form), thông điệp phạm-trù và thông điệp loại (message-type) Trong đó, ông xếp lời nói trực tiếp thuộc thông điệp nội dung và lời nói gián tiếp thuộc thông điệp hình thức

Trang 28

Trong A Comprehensive Grammar of English (Ngữ pháp toàn diện của

tiếng Anh), Quirk và các cộng sự [94] đã thảo luận các nội dung tương tự như phóng chiếu mà họ gọi là “lời nói trực tiếp” (direct speech) và “lời nói gián tiếp” (indirect speech) Theo Quirk và các cộng sự [94], hai hiện tượng lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp nằm trong khu vực ngữ pháp của câu phức (the complex sentence) Tuy nhiên, đi theo cách phân tích thành phần câu của ngữ pháp truyền thống, Quirk và các cộng sự [94] coi lời nói trực tiếp hoặc lời nói gián tiếp là một thành phần có chức năng bổ ngữ hay tân ngữ trong câu Ngoài ra, dạng trung gian giữa lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp mà các tác giả gọi là lời nói gián tiếp tự do và lời nói trực tiếp tự do cũng được đề cập đến Các tác giả cũng có đóng góp quan trọng là bổ sung thêm khái niệm lời nói gián tiếp và lời nói trực tiếp trong ngữ pháp truyền thống Các tác giả đã chú giải “speech” (lời nói) phải bao hàm cả những hoạt động tinh thần không

được diễn tả bằng lời khi các động từ thông báo có thể là think (suy nghĩ), believe (tin tưởng), feel (cảm thấy), v.v… Trong khi bàn về câu phức

(Chương 14), Quirk và các cộng sự [94] dành một lượng đáng kể (13 trang)

để thảo luận về hình thức thông báo lại ngôn ngữ của người khác Các đặc điểm nhận dạng và phân biệt lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp được mô tả chi tiết Về nội dung, lời nói trực tiếp chuyển tải chính xác ngôn từ của phát ngôn gốc; còn lời nói gián tiếp chuyển tải phát ngôn gốc qua ngôn từ của người thông báo lại tiếp sau đó Lời nói gián tiếp thường được thể hiện thông qua việc diễn giải lại hoặc tóm tắt lại nên người nghe hoặc người đọc không thể khôi phục lại hoàn toàn phát ngôn gốc Về hình thức, các tác giả cũng đã cho thấy sự phong phú về vị trí của mệnh đề thông báo và mệnh đề được thông báo trong lời nói trực tiếp so với lời nói gián tiếp Đặc biệt là hiện tượng đảo ngữ giữa động từ thông báo và chủ ngữ không phải là đại từ mà trong ngữ pháp tiếng Việt không tồn tại hiện tượng này Để chuyển từ lời nói

Trang 29

trực tiếp sang lời nói gián tiếp có hàng loạt sự thay đổi: lùi thì (backshift), chuyển đổi đại từ nhân xưng (pronoun shift) và tính từ sở hữu, chuyển đổi các tham chiếu thời gian, địa điểm, các từ chỉ định Hình thức chuyển đổi từ trực tiếp sang gián tiếp đối với các loại câu theo mục đích phát ngôn: câu tường thuật, câu hỏi, câu cảm thán, câu mệnh lệnh cũng như thức giả định và các động từ tình thái được xem xét thấu đáo Bên cạnh đó, Quirk và các cộng sự [94] đã đưa ra hai hình thức trung gian là lời nói gián tiếp tự do và lời nói trực tiếp tự do Loại thứ nhất được sử dụng rộng rãi để thông báo lại lời nói hoặc ý tưởng Bởi vì nếu chỉ có sự lùi thì và thay đổi các tham chiếu ngôi, thời gian, địa điểm và từ chỉ định thì thực chất đó chỉ là tường thuật lại các từ hơn là lời nói gián tiếp Loại thứ hai thường được thể hiện trong việc viết các dòng suy nghĩ của ai đó trong tưởng tượng

Các công trình nghiên cứu về “lời nói trực tiếp” và “lời nói gián tiếp” chủ yếu là trong tiếng Anh, còn trong tiếng Việt thì dường như đây không phải vấn đề trọng tâm của nghiên cứu Nguyễn Vân Phổ [31], trong công trình nghiên cứu về ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt đã bàn về “lời dẫn trực tiếp” và “lời dẫn gián tiếp” vận dụng cả lí thuyết ngữ pháp cách của Fillmore và ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday Tác giả đã tập trung vào các vấn đề như hình thức của lời dẫn, quan hệ ngữ pháp và ngữ nghĩa của lời dẫn với động từ nói năng hoặc các tham tố khác, cương vị ngữ pháp của lời dẫn, v.v Theo tác giả, lời dẫn là “các thực thể âm thanh (hay chữ viết) mà người phát ngôn tiếp nhận có thể được phản ánh dưới hình thức ít nhiều nguyên vẹn của nó” Tác giả chia lời dẫn trực tiếp thành hai loại: (1) lời dẫn đóng vai trò bổ ngữ (của động từ) hoặc định ngữ (của danh từ) và (2) lời dẫn

là một cú độc lập (cấu trúc đề - thuyết hay cấu trúc chủ - vị) Còn đối với lời dẫn gián tiếp, hai cú có quan hệ phụ kết Tác giả cũng hướng tới việc phân biệt lời dẫn trực tiếp và lời dẫn gián tiếp trên phương diện ngữ pháp và ngữ

Trang 30

nghĩa Lời dẫn trực tiếp được thể hiện chính xác, đầy đủ trong khi lời dẫn gián tiếp hướng đến nội dung và ý nghĩa của nói và được biên soạn lại Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra rằng hai dấu hiệu hay yếu tố “rằng”, “là” trong tiếng Việt đánh dấu lời dẫn gián tiếp và có sự thay đổi quy chiếu ở lời dẫn gián tiếp trong tiếng Việt Trên bình diện ngữ dụng học, tác giả đã bàn đến vai trò của quan hệ giữa người phát ngôn và người thụ ngôn cũng như ngữ cảnh trực tiếp Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra được các đặc điểm chức năng của lời dẫn gián tiếp và lời dẫn trực tiếp

Khác với quan niệm của Quirk và các cộng sự [94] trong mối quan hệ với tiếng Anh, Diệp Quang Ban [4] và Nguyễn Văn Hiệp [23], trong mối quan hệ với tiếng Việt, đã xếp các câu được gọi là câu phức thành phần trong

đó có lời dẫn gián tiếp và lời dẫn trực tiếp vào nhóm câu đơn hai thành phần (câu đơn song phần) thể hiện trong ví dụ (3) và (4) dưới đây

(3) Anh ấy hẹn anh ấy đến trong ngày mai

(4) Nó nói nó không muốn đi học nữa

Cùng quan điểm với Fillmore, Diệp Quang Ban [4] và Nguyễn Văn

Hiệp [23] đều coi phần “anh ấy đến trong ngày mai” và “nó không muốn học nữa” là bổ ngữ biểu thị nội dung thông báo cho vị từ nói năng “hẹn” và ‘nói’

Diệp Quang Ban [4, tr 121, 134] thận trọng cho rằng kiểu câu như thế “có ít nhiều tư cách là kiểu câu cơ bản” và tạm xếp chúng vào bộ câu đơn; còn Nguyễn Văn Hiệp [23, tr 354] thì dứt khoát cho rằng các câu kiểu (3) và (4)

là “câu đơn song phần đơn giản có thành phần được mở rộng bằng kết cấu

C-V mà thôi.”

Tuy nhiên, sau này dựa trên sự kết hợp giữa ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng, khi bàn về câu ghép Diệp Quang Bang [6] đã đưa câu chứa lời dẫn trực tiếp và gián tiếp vào loại hình câu ghép bên cạnh loại câu ghép chính phụ và câu ghép đẳng lập Theo Diệp Quang Ban [6], lời dẫn trực

Trang 31

tiếp là lời hay ý của người khác được thuật lại mà vẫn giữ nguyên ngôi nhân xưng và các từ ngữ quy chiếu về thời gian, không gian Trong ngôn ngữ viết, lời dẫn trực tiếp thường được nhận diện thông qua dấu ngoặc kép và dấu hai

chấm; còn trong ngôn ngữ nói, thay cho dấu hai chấm tiếng rằng thường xuất

hiện trước lời nói trực tiếp hoặc lời nói gián tiếp Lời nói gián tiếp là lời hay ý của người khác được tường thuật lại với sự chuyển ngôi nhân xưng thứ nhất thành ngôi nhân xưng thứ ba và có sự chuyển đổi từ ngữ quy chiếu về thời

gian không gian khi cần thiết Tiếng rằng thường được đặt trước lời dẫn gián

tiếp mà không cần các dấu như đối với lời dẫn trực tiếp Tuy nhiên, ông cũng không bàn nhiều về loại hình câu ghép này; có lẽ vì trong tiếng Việt không tồn tại việc phù hợp thì của động từ nên hình thức biểu đạt các sự tình trong lời dẫn trực tiếp và lời dẫn gián tiếp hầu như không khác nhau

Có thể thấy, ngữ pháp truyền thống gọi mối quan hệ phóng chiếu trên cú

là lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp; có thể họ kết hợp hay đồng nhất cả phóng chiếu hữu ngôn và phóng chiếu tinh thần vào cùng một phạm trù Một

số ngữ pháp kết hợp cả hai hướng nghiên cứu hiện tượng này từ quan điểm truyền thống và quan điểm chức năng (Diệp Quang Ban [5], [6]) Về cấu trúc, các nhà ngữ pháp truyền thống, kể cả các nhà ngữ pháp theo hướng chức năng xem thành phần được phóng chiếu trên cú (câu đơn) là tân ngữ hoặc bổ ngữ (Diệp Quang Ban [4]; Nguyễn Văn Hiệp [23])

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về “lời nói trực tiếp” và “lời nói gián tiếp” mới chỉ đề cập nhiều đến mặt hình thức của lời nói, chưa quan tâm thỏa đáng đến vấn đề từ bình diện chức năng Để phục vụ mục đích học tập, ngữ pháp truyền thống, đặc biệt là ngữ pháp nhà trường đã tập trung nhiều vào các thủ thuật để chuyển đổi từ lời nói trực tiếp sang lời nói gián tiếp; mới chú ý nhiều đến các khía cạnh hình thức (cấu trúc) mà chưa chú ý thoả đáng đến các khía cạnh ý nghĩa (chức năng) của hiện tượng lí thú này trong giao

Trang 32

tiếp: phóng chiếu (lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp) là gì? phóng chiếu được kết cấu như thế nào? và hoạt động của nó ra sao ở các cấp độ từ, cú (câu đơn của ngữ pháp truyền thống) và trên cú (câu phức, câu ghép của ngữ pháp truyền thống)? Những câu hỏi này hướng chúng tôi tiếp cận với quan niệm của Halliday và các nhà ngữ pháp theo đường hướng chức năng hệ thống – một mô hình ngữ pháp mà chúng tôi dự định chọn làm khung lí thuyết để tiến hành đề tài nghiên cứu của mình

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về phóng chiếu dưới ánh sáng của lí thuyết

ngữ pháp chức năng hệ thống

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu về phóng chiếu trên thế giới

Từ những năm 1980 lí thuyết chức năng hệ thống nói chung và hiện tượng phóng chiếu nói riêng được nghiên cứu ứng dụng đa dạng ở nhiều ngôn ngữ khác nhau như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng trung Quốc, tiếng

Hy Lạp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Đức (chi tiết xin xem Hatzitheodorou & Marina [80]; Chen [53]; He & Junhui Wu [81]; Jing Fang [62]; Wang Pin [92]; Farahman Farrokhi [61]; Xinxin Zhang & Xueai Zhao [105]; Malte Rosemeyer [95]; Vicente López Folgado [67]; Alexandra Holsting [82], Wickens [106]) Trong luận án gồm 9 chương nghiên cứu về chức năng của

đề ngữ được thể hiện trong các văn bản hành chính (biên bản ghi nhớ, thư tín

và các báo cáo), Forey [69] đã dành riêng chương 6 để bàn về quan hệ giữa siêu chức năng liên nhân và đề ngữ mở rộng (extended theme) thông qua các

cú phóng chiếu Công trình nghiên cứu này bàn lại khái niệm phóng chiếu của Halliday Theo tác giả, phóng chiếu nên được xem là chức năng liên nhân vì

nó vốn đã phản ánh quan điểm của người viết và người viết có thể chủ động lựa chọn các cú phóng chiếu để thể hiện quan điểm theo cách chủ quan hoặc khách quan hơn

Trang 33

Trong lĩnh vực dịch thuật, Sanggam Siahaan & Tengkun Silvana Sinar [96] nghiên cứu về dịch quá trình phóng chiếu từ tiếng Batak Toba

(Indonesia) sang tiếng Anh (The Translation Process of Projection from Batak Toba Language into English) đăng trong tạp chí Khoa học Xã hội và

Nhân văn IOSR Các tác giả đã áp dụng chiến lược dịch tự khám phá1(heuristic) trong nghiên cứu sự tương đương về chức năng được sử dụng như một tham biến để xác định chất lượng dịch hiện tượng phóng chiếu tồn tại trong các bài phát biểu đám cưới truyền thống (ngôn ngữ nguồn) của người dân Batak Toba (Indonesia) sang tiếng Anh (ngôn ngữ đích) Các tác giả đã chỉ ra các mẫu phóng chiếu bằng tiếng Batak Toba trong các bài phát biểu đám cưới có thể được dịch sang tiếng Anh với các mẫu phóng chiếu tương đương về chức năng Các mẫu phóng chiếu đó là:

1 Phóng chiếu phát ngôn đồng đẳng với mẫu 1 “2 và phóng chiếu phát ngôn phụ thuộc với mẫu α “β

2 Phóng chiếu ý tưởng đồng đẳng với mẫu 1 “2

3 Phóng chiếu ý tưởng phụ thuộc: phán đoán (proposition) với mẫu α “β

4 Phóng chiếu ý tưởng đồng đẳng: khiến nghị (proposal) với mẫu 1 “2 Thông qua nghiên cứu dịch các hiện tượng phóng chiếu này, các tác giả

đã mở ra hướng chuyển dịch từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích thông qua phân tích ngữ pháp chức năng đồng thời gợi ý đánh giá chất lượng dịch thuật thông qua các tiêu chí tương đương về chức năng

Trong lĩnh vực báo chí, phóng chiếu là hiện tượng rất phổ biến nên thu hút được nhiều sự quan tâm của nhiều học giả Ayako Ochi [90] đã tiến hành một nghiên cứu về phóng chiếu tư tưởng và phóng chiếu liên nhân trong thông báo tin tức: những mẫu thức đánh giá trong tiếng Anh và tiếng Nhật

1

Đây là chiến lược dịch linh hoạt mà văn bản của ngôn ngữ nguồn có thể được chuyển dịch sang ngôn ngữ đích theo nhiều cách khác nhau tùy theo kinh nghiệm và mục tiêu của từng người dịch, Sanggam & Tengkun [96]

Trang 34

(Ideational projection and interpersonal projection in news reporting: patterns of evaluation in English and Japanese) Tác giả đã cho thấy phóng

chiếu liên nhân xuất hiện thường xuyên trong thông báo tin tức tiếng Nhật mà không có trong tiếng Anh ở lĩnh vực này Trong tiếng Nhật, lĩnh vực thông báo tin tức có đặc điểm là các minh chứng (evidentiality) về cái được nghe thấy (hearsay) và cái suy luận (inference) Hai minh chứng này được phân biệt nhờ chủ thể phóng chiếu (projector) Loại thứ nhất chủ thể phóng chiếu là nguồn thông tin (they say) trong khi loại thứ 2, chủ thể phóng chiếu là người phát ngôn (I hear/think) Tiềm năng đánh giá trong lĩnh vực thông báo tin tức tiếng Nhật được mở rộng thông qua phóng chiếu liên nhân Điều đó cho phép phóng viên/người thông báo ban hành/tuyên bố đánh giá của mình đối với phán đoán được thông báo mà không chịu trách nhiệm về đạo đức

Cũng trong lĩnh vực báo chí, José Manuel Durán [57] lại quan tâm đến mối tương quan giữa hệ thống thứ bậc (đồng đẳng và phụ thuộc) và hệ thống phóng chiếu (lời và ý tưởng) trong tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha Nghiên cứu của José Manuel Durán [57] tập trung phân tích mối tương quan này qua

24 bài báo đã được xuất bản tại Buenos Aires (Argentina) trong thời gian trước và sau bầu cử quốc gia năm 2007 Qua phân tích định lượng các văn bản, tác giả đã chỉ ra những kết luận sau:

1 Hệ thống phóng chiếu và hệ thống thứ bậc hoàn toàn độc lập với nhau

2 Các hệ thống này trong tiếng Anh hoạt động độc lập hơn trong tiếng Tây Ban Nha

3 Mỗi hệ thống này bị thay đổi bằng cách chúng thể hiện sự lựa chọn đánh đánh dấu hoặc không đánh dấu

4 Các tin tức chính trị được miêu tả sinh động trên các bài báo thiên về phát ngôn mà không thiên về ý tưởng

Trang 35

5 Các tin tức chính trị được miêu tả sinh động trên các bài báo thiên về quan hệ thứ bậc mà không thiên về quan hệ đồng đẳng

6 Cú phóng chiếu đứng trước cú được phóng chiếu nếu chúng ở trong mối quan hệ thứ bậc

7 Cú được phóng chiếu đứng trước cú phóng chiếu nếu chúng ở trong mối quan hệ đồng đẳng

8 Các tin tức chính trị được miêu tả sinh động trên các bài báo thiên về

cú phóng chiếu đứng trước cú được phóng chiếu

Nhìn chung các nghiên cứu trên thế giới về ngữ pháp chức năng hệ thống trong đó có phóng chiếu trong các thứ tiếng khác nhau rất đa dạng và phong phú Điều đó giúp ích cho chúng tôi có cái nhìn tổng quát hơn trong quá trình nghiên cứu so sánh phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu về hiện tượng phóng chiếu ở Việt Nam

Tuy lí thuyết về ngữ pháp chức năng hệ thống được nghiên cứu trên thế giới từ những năm 1960 nhưng lí thuyết này mới được ứng dụng trong tiếng Việt với một số lượng không nhiều các công trình nghiên cứu như công trình của Cao Xuân Hạo [17], [18], Phan Thiều [41], Hồ Lê [29], Hoàng Văn Vân [47], [48], Thái Minh Đức [59], Đỗ Tuấn Minh [88], Võ Việt Cường [52], Nguyễn Thị Lan Anh [1] và Nguyễn Thị Minh Tâm [99], [100] Vậy nên các công trình nghiên cứu về phóng chiếu ở Việt Nam lại càng khiêm tốn

Hoàng Văn Vân trong công trình nghiên cứu Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt: Mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống [47], [48] và công trình được bổ sung và cập nhật tái bản bằng tiếng Anh An Experiential Grammar of the Vietnamese Clause [103] đã thảo luận các quá trình phóng

chiếu trong tiếng Việt, coi hiện tượng phóng chiếu như một đặc điểm quan trọng khu biệt các quá trình tinh thần và quá trình phát ngôn với các quá trình khác Theo Hoàng Văn Vân [46], [48], phóng chiếu tinh thần là phóng chiếu ý

Trang 36

tưởng, còn phóng chiếu phát ngôn là phóng chiếu lời nói mà ông gọi là “hữu ngôn” Tuy nhiên, do công trình nghiên cứu của Hoàng Văn Vân liên quan đến mô tả hệ thống chuyển tác trong tiếng Việt (trong cú đơn), nên phóng chiếu chỉ được ông thảo luận như là một đặc điểm nổi bật của hai kiểu cú phát ngôn và tinh thần để phục vụ cho việc mô tả cú đơn, nên những chi tiết về phóng chiếu – một hiện tượng ngữ pháp lí thú nhìn tự góc độ cú phức chưa được thể hiện nhiều trong công trình nghiên cứu của ông

Xét ở cấp độ luận văn thạc sĩ trong nước, đã có một vài nghiên cứu bước đầu quan tâm đến lĩnh vực này Nguyễn Thị Minh Tâm [99] nghiên cứu quan hệ phóng chiếu trong tổ hợp cú tiếng Anh so sánh với tiếng Việt Tác giả

đã đưa ra được những đặc điểm giống và khác nhau cơ bản nhưng chủ yếu là

về hình thức thể hiện: động từ thông báo, vị trí của cú phóng chiếu và cú được phóng chiếu, và vị trí của hành thể Nguyễn Thị Xuân Mỹ [89], nghiên cứu về quá trình phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng việt bao gồm quá trình tinh thần và quá trình phát ngôn, nhưng tác giả chỉ tìm ra những điểm tương đồng

mà hầu như không tìm ra được sự khác nhau trong quá trình phóng chiếu giữa

2 ngôn ngữ Trần Hồng Vân [104], đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm ứng dụng lí thuyết ngữ pháp chức năng để nhận diện cú phóng chiếu qua phân tích bài phát biểu của tổng thống Barack Obama tại cuộc vận động tranh cử ở Las Vegas

Nguyễn Thị Minh Tâm [100], trong luận án tiến sĩ có nhan đề relationship in English and Vietnamese Clause Complexes (So sánh mối quan

Logico-hệ logic-ngữ nghĩa trong tổ hợp cú của tiếng Anh và tiếng Việt) đã phát triển

và đi sâu phân tích hai loại cú phức mà tác giả gọi là “tổ hợp cú bành trướng”

và “tổ hợp cú phóng chiếu” Dựa vào Halliday [74], [13]; Halliday & Matthiessen [75], [76] tác giả đã thiết lập một số tiêu chí cụ thể để phân biệt mối quan hệ logic-ngữ nghĩa giữa phóng chiếu và bành trướng Từ những tiêu

Trang 37

chí này, mối quan hệ logic-ngữ nghĩa trong tổ hợp cú được tác giả mô tả một cách chi tiết và toàn diện Tác giả đã nghiên cứu sự tương đồng và điểm khác biệt trong sự thể hiện và trong các hoạt động của cú phóng chiếu và cú bành trướng trong tiếng Anh và tiếng Việt Một trong những phát hiện quan trọng của tác giả về sự thể hiện quá trình phóng chiếu có trong tiếng Việt mà không

có trong tiếng Anh, đó là trong tiếng Việt không chỉ có động từ đóng vai trò hạt nhân trong quá trình phóng chiếu mà tính từ biểu thị nói năng hay suy nghĩ, thái độ tình cảm và đánh giá có thể được sử dụng để phóng chiếu, đặc biệt là dùng trong trích dẫn chứ không dùng trong thông báo lại (chi tiết, xin xem Nguyễn Thị Minh Tâm [100, tr 111,130] Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đầy đủ về sự thể hiện và các hoạt động của tổ hợp cú trong đó có cú phóng chiếu dưới ánh sáng của lí thuyết ngữ pháp chức năng ở Việt Nam Tuy nhiên, vì tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các mối quan hệ trên cú nên hiện tượng phóng chiếu trong cú chưa được tác giả quan tâm trong công trình này

Ngoài các công trình nghiên cứu đã đề cập ở trên, ở Việt Nam còn có công trình nghiên cứu ít nhiều có liên quan đến phóng chiếu như: Động từ nói năng của Nguyễn Văn Phổ [31] Một số công trình ngữ pháp chức năng hoặc do không phải là trọng tâm nghiên cứu nên chỉ đề cập sơ qua đến phóng chiếu (Hoàng Văn Vân [47], [48], [103]) hoặc do phóng chiếu chỉ là một trong hai trọng tâm nghiên cứu nên chủ yếu chỉ so sánh hiện tượng phóng chiếu ở cấp độ trên cú (câu phức, câu ghép) (Nguyễn Thị Minh Tâm [100]) Một số nghiên cứu khác tập trung vào các ứng dụng ngôn ngữ: phóng chiếu trong dịch thuật, phóng chiếu trong báo chí, v.v

Trong các nghiên cứu được tổng quan, chúng tôi nhận thấy một số vấn

đề sau:

Trang 38

1 Có sự thiếu nhất quán trong việc xem phóng chiếu thuộc cả hai kiểu câu (câu đơn và câu phức), xem cú được phóng chiếu là một thành phần của câu đơn hay là một cú (câu) của câu phức

2 Các nghiên cứu này hoặc chưa nghiên cứu sâu về phóng chiếu (Hoàng Văn Vân); hoặc chưa nghiên cứu đầy đủ các cấp độ trong đó hiện tượng phóng chiếu xuất hiện (Hoàng Văn Vân, Nguyễn Thị Minh Tâm, Diệp Quang Ban)

3 Hầu hết các nghiên cứu mới chỉ quan tâm đến bình diện cấu trúc của phóng chiếu, phục vụ cho mục đích dạy và học, nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào mô tả và hướng dẫn có tính kĩ thuật liên quan đến sự phối hợp thì trong phóng chiếu trên cú (Quirk và các cộng sự)

Trong ngữ pháp truyền thống không có khái niệm nào tương ứng với khái niệm “phóng chiếu” (projection) được Halliday giới thiệu trong ngữ pháp chức năng hệ thống Tuy nhiên, như sẽ được giải thích và làm rõ ở dưới đây, nội dung chứa đựng trong hai khái niệm “lời nói gián tiếp” (indirect speech) và “lời nói trực tiếp” (direct speech) trong ngữ pháp truyền thống có thể được xem là tương ứng với khái niệm “phóng chiếu” trong ngữ pháp chức năng, mặc dù phóng chiếu trong ngữ pháp chức năng không phải chỉ là lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp trong ngữ pháp truyền thống mà còn là cả những

ý nghĩ được trích nguyên hoặc thông báo lại Ngoài ra, khái niệm này còn bao hàm cả phóng chiếu trong cú (phóng chiếu ngang cú và phóng chiếu dưới cú) – một bình diện mà ngữ pháp học truyền thống dường như hoặc chưa quan tâm hoặc chưa đi sâu nghiên cứu Nói cách khác, ngữ pháp truyền thống tuy

có đóng góp rất lớn nhưng mới chỉ tập trung vào hình thức để giải thích hiện tượng này mà chưa quan tâm thỏa đáng xem chúng được sử dụng như thế nào trong giao tiếp Nó tập trung vào phát triển ngữ pháp mà chưa phát triển ý nghĩa của văn bản Để giải quyết vấn đề đó, chúng tôi chọn lí thuyết ngữ pháp

Trang 39

chức năng hệ thống của Halliday làm khung lí thuyết chính trong luận án này

vì ngữ pháp chức năng hệ thống là loại ngữ pháp được “đẩy về phía nghĩa” lấy ngữ pháp làm hình thức thể hiện để hiện thực hóa các ý nghĩa

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Lí thuyết nghiên cứu đối chiếu

Theo Lê Quang Thiêm [41, tr 42], “Nghiên cứu đối chiếu giúp ta xác định cái giống nhau và khác nhau của các ngôn ngữ về mặt cấu trúc, hoạt động và sự phát triển của chúng”

Theo Bùi Mạnh Hùng [25] có hai cách tiếp cận cơ bản tùy theo mục đích và nhiệm vụ cụ thể của một công trình nghiên cứu đối chiếu: (i) nghiên cứu đối chiếu một chiều và (ii) nghiên cứu đối chiếu hai chiều Với cách tiếp cận thứ nhất, một trong hai ngôn ngữ nghiên cứu được lấy làm cơ sở (ngôn ngữ nguồn/ ngôn ngữ xuất phát) là đối tượng cần được phân tích và làm rõ; và ngôn ngữ còn lại (ngôn ngữ đích) được coi là phương tiện, là điều kiện để làm

rõ các đặc điểm của ngôn ngữ cơ sở Việc chọn ngôn ngữ nào làm ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ nào làm ngôn ngữ đích phụ thuộc vào mục đích và nhiệm

vụ của công trình nghiên cứu đối chiếu chứ không phụ thuộc vào đặc điểm cấu trúc của ngôn ngữ Với cách tiếp cận thứ hai, cả hai ngôn ngữ đều được coi là ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích và được so sánh trong mối quan hệ qua lại, dựa trên một cơ sở đối chiếu gọi là TC (tertium comparationis: cái cơ

sở chung) Trong luận án này, chúng tôi sử dụng hướng tiếp cận thứ hai đó là đối chiếu hai chiều: cả hai ngôn ngữ Anh và Việt đều được chú ý như nhau Chúng tôi tiến hành nghiên cứu các hình thức thể hiện TC của hiện tượng phóng chiếu trong hai ngôn ngữ dựa trên lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday, sau đó phân tích những hình thức thể hiện của hiện tượng phóng chiếu có những điểm nào giống nhau và khác nhau trong tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 40

1.2.2 Ngôn ngữ học chức năng hệ thống

Lí thuyết chức năng hệ thống có nguồn gốc trực tiếp từ các công trình nghiên cứu của cố giáo sư J.R Firth (1890-1960), một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Anh, người chịu nhiều ảnh hưởng từ tư tưởng nghiên cứu ngôn ngữ của nhà nhân chủng học vĩ đại người Anh Brolislaw Malinowski (1844-1942)

Halliday là người phát triển và hoàn thiện lí thuyết ngôn ngữ học với tên gọi lí thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống (systemic functional linguistics) Lí thuyết ngôn ngữ học của Halliday “được dự định để tiếp tục

và xây dựng dựa vào quan niệm về ngôn ngữ của Firth và để thực hiện những

gì mà chính Firth trong thực tế chưa làm được” (Robins [33]) Ngôn ngữ học chức năng hệ thống là lí thuyết biểu hiện các mối quan hệ biến hóa giữa các đơn vị ngôn ngữ trong hệ thống hay khả năng kết nối của các đơn vị ngôn ngữ

ở mọi cấp độ ngôn ngữ Halliday [13] xem xét chức năng ngôn ngữ trong mối quan hệ giữa “các hệ thống xã hội với các hệ thông ngữ nghĩa, ngữ pháp của ngôn ngữ”

Trong lí thuyết chức năng hệ thống của Halliday (xin xem Halliday [72]; Halliday & Hasan [77]; Halliday & Matthieseen [75]), ngôn ngữ được giải thích như là một thực thể bao gồm bốn tầng từ trên xuống: ngôn cảnh, ngữ nghĩa học, ngữ pháp-từ vựng và âm vị học Trong bốn cấp độ này, ngôn cảnh tình huống là cấp độ nằm ngoài hệ thống ngôn ngữ Theo Hoàng Văn Vân [49], cấp độ ngôn cảnh được cho là “cấp độ bao trùm kích hoạt sự lựa chọn các ý nghĩa của người nói/viết trong hệ thông ngữ nghĩa (cấp độ ngữ nghĩa), và các ý nghĩa này, đến lượt chúng lại kích hoạt sự lựa chọn ngôn từ (từ, cấu trúc cú pháp…) của người nói/viết trong hệ thống ngữ pháp-từ vựng (cấp độ ngữ pháp-từ vựng)…” (xem thêm Hasan [78], [79]) Các tầng trong ngôn ngữ học hệ thống được cụ thể hóa trong Hình 1.1 dưới đây

Ngày đăng: 05/04/2020, 17:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w