1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc tày, xã tân thanh, huyện văn lãng, tỉnh lạng sơn)

36 118 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 718,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ AN NI ĐẶC TÍNH DÂN TỘC TRONG VIỆC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN TRONG GIA ĐÌNH Nghiên cứu trường hợp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ AN NI

ĐẶC TÍNH DÂN TỘC TRONG VIỆC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ VỊ

THÀNH NIÊN TRONG GIA ĐÌNH

(Nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày,

xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)

Chuyên ngành : Xã hội học

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS TS Phạm Văn Quyết

Hà Nội, 2009

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC BẢNG 3

DANH MỤC CÁC HÌNH 3

DANH MỤC CÁC HỘP 3

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do lựa chọn đề tài 4

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6

3 Mục tiêu nghiên cứu 6

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 8

NỘI DUNG CHÍNH 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU10 1.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng 10

1.2 Hệ thống lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 10

1.3 Hệ thống khái niệm sử dụng trong đề tài 13

1.4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 18

1.5 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 24

CHƯƠNG 2 ĐẶC TÍNH DÂN TỘC TRONG VIỆC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN TRONG CÁC GIA ĐÌNH DÂN TỘC TÀY 26

2.1 Kiến thức của cha mẹ trong lĩnh vực giới tính và tầm quan trọng của giáo dục giới tính đối với trẻ vị thành niên 26

2.1.1 Hiểu biết của cha mẹ về tuổi dậy thì, sự thay đổi tâm sinh lý và các mối quan hệ bạn bè của con 26

2.1.2 Quan niệm của cha mẹ về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân và những điều cấm kỵ của dân tộc Tày liên quan tới vấn đề này 38

2.1.3 Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục giới tính đối với trẻ vị thành niên 44

Trang 3

2.2 Nội dung và phương pháp giáo dục giới tính cho con trong độ tuổi vị thành

niên của cha mẹ người Tày 46

2.2.1 Các nội dung về biến đổi tuổi dậy thì cha mẹ người Tày dạy cho con46 2.2.2 Phương pháp giáo dục giới tính của cha mẹ với con trong tuổi vị thành niên 53

2.2.3 Đánh giá của cha mẹ về kiến thức giới tính của con 61

2.3 Giáo dục giới tính trong gia đình nhìn từ góc độ trẻ vị thành niên 63

2.3.1 Đánh giá về vai trò của gia đình trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên 63

2.3.2 Mong muốn về các thông tin giới tính được cung cấp 66

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 68

1 Kết luận 68

2 Khuyến nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Hiểu biết của cha mẹ về sự thay đổi cơ thể ở con trai và con gái khi dậy thì 29

Bảng 2.2 Nhận xét của cha mẹ về sự thay đổi tâm lý khi trẻ dậy thì 30

Bảng 2.3 Tương quan giữa sự cần thiết trao đổi với con về biến đổi tuổi dậy thì và có

nói chuyện với con về vấn đề giới tính 45

Bảng 2.4 Tương quan giữa người có quyền quyết định cao nhất trong gia đình và người

Bảng 2.5 Tương quan giữa thái độ của cha mẹ người Kinh và người Tày khi con hỏi về

Bảng 2.6 Tương quan giữa thái độ trả lời con về vấn đề giới tính và thời điểm chủ động

Bảng 2.7 Tương quan giữa hình thức cung cấp thông tin giữa cha và mẹ 60

Bảng 2.8 Tương quan giữa trình độ học vấn của cha mẹ và việc giới thiệu sách, báo, tạp

chí cho con tìm hiểu các kiến thức giới tính 60

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Tương quan giữa hiểu biết của cha và mẹ về số lần cần thay băng vệ sinh 33

Hình 2.2 So sánh giữa tâm trạng của cha mẹ người Tày và người Kinh khi con gái trong

Hình 2.3 Hành động của cha mẹ khi con gái có thai 41

Hình 2.4 So sánh sự cần thiết trao đổi với con về các vấn đề liên quan tới tuổi dậy thì

giữa cha mẹ người dân tộc Kinh và dân tộc Tày 45

Hình 2.5 Hình thức cung cấp thông tin về giới tính cho trẻ vị thành niên 59

DANH MỤC CÁC HỘP

Hộp 2.1 Lễ cúng sláo lườn của người Tày 42

Trang 5

Hộp 2.2 Chuyện của Lộc Thị B 52

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong vài thập niên gần đây, các công trình nghiên cứu về tâm lý học, giáo dục

học cho thấy gia tốc phát triển của trẻ em rất nhanh Điều này biểu hiện thông qua sự

trưởng thành và chín muồi nhanh về sinh lý giới tính (tuổi dậy thì phát triển sớm hơn) và

sự phát triển của tâm lý giới tính (nhu cầu quan hệ giới tính phát triển, quan hệ với bạn bè

khác giới, ứng xử với bạn khác giới…) Ở lứa tuổi dậy thì, các em bắt đầu nảy sinh sự tò

mò khám phá bản thân, những cảm xúc, tâm lý, các trạng thái tình cảm mới mẻ, khác biệt

với những gì các em đã từng trải qua trước đây Mặc dù vậy, những kiến thức được trang

bị cho các em về vấn đề giới tính, tình bạn, tình yêu còn rất hạn chế và không đầy đủ,

chính xác Là một nước Á đông, giáo dục giới tính (GDGT) là một là một đề tài tế nhị

nên từ xưa đến nay ít được đề cập tới Nhiều người quan niệm rằng việc dạy dỗ cho trẻ

em về vấn đề này chính là “Vẽ đường cho hươu chạy” Chính vì vậy, trong một thời gian

dài trước kia, cả nhà trường, gia đình và xã hội đều hạn chế đề cập tới Hiện nay, quan

niệm về vấn đề này đã cởi mở hơn nhưng việc GDGT cũng còn nhiều bất cập Trong nhà

trường, những nội dung này thường được lồng ghép trong môn Sinh học và Giáo dục

công dân Cả giáo viên và học sinh đều có tâm lý ngại ngùng, xấu hổ khi giảng dạy về sự

phát triển của sinh lý nam và nữ Trong gia đình, không phải bậc phụ huynh nào cũng có

kiến thức đầy đủ và hiểu được tầm quan trọng trong việc GDGT cho con ở lứa tuổi vị

thành niên (VTN) Như vậy, cả gia đình và nhà trường đã không thực hiện được chức

năng giáo dục, cung cấp các thông tin hữu ích nhất, giải đáp những thắc mắc cho trẻ

trong lứa tuổi từ trẻ em dần trở thành người lớn Trong khi ngoài xã hội, với sự bùng nổ

của các phương tiện truyền thông đại chúng thì trẻ VTN lại có nhiều nguồn khác nhau để

tiếp cận với những loại thông tin này Chính bởi sự lan tràn về thông tin như vậy khiến

VTN gặp nhiều khó khăn trong việc thu được với những thông tin mang tính khoa học,

thực sự cần thiết với các em

Theo thống kế của Hội Kế hoạch hóa gia đình, cũng bởi thiếu sự hiểu biết trong

cách ứng xử trong tình bạn, tình yêu, cùng kiến thức hạn chế về vấn đề sức khoẻ sinh sản,

Trang 6

sức khoẻ tình dục mà Việt Nam mỗi năm có 1,2 triệu – 1,6 triệu ca nạo phá thai, trong đó 20% ở lứa tuổi VTN và là một trong ba nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới [41] Tại bệnh viện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004 có trên 30.000 trường hợp nạo phá thai, trong đó gần 5.000 em gái dưới 19 tuổi [16] Các trường hợp nạo phá thai đều để lại những hậu quả rất lớn cho chính bản thân nạn nhân và gia đình, xã hội

Theo số liệu của cuộc Tổng điều tra dân số năm 1999, cả nước có gần 24 triệu người ở lứa tuổi VTN, thanh niên (10-24 tuổi), chiếm 31,6% tổng dân số 22,2% nam thanh niên chưa lập gia đình đã có quan hệ tình dục (QHTD) trước hôn nhân, trong số đó

có 21,5% QHTD với gái mại dâm; có trên 30% số ca nạo phá thai là phụ nữ trẻ chưa lập gia đình [17] Nhìn vào những số liệu trên đây, thật đáng lo ngại cho tương lai của thế hệ trẻ nước ta Chính vì vậy, việc GDGT cho VTN, thanh niên dù không còn sớm nhưng vẫn

Dân tộc Tày là một cộng đồng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái có số dân khoảng 1.500.000 người, đông nhất trong các dân tộc thiểu số nước ta Ở Lạng Sơn, dân tộc Tày chiếm số lượng đông đảo nhất Là một dân tộc thiểu số lại nằm ở tỉnh phía Bắc Việt Nam, đời sống của người dân ở đây còn gặp nhiều khó khăn và nhận thức cũng còn nhiều hạn chế Chính vì vậy, sự quan tâm của cha mẹ tới GDGT cho con cái trong lứa tuổi VTN còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, yếu tố văn hóa dân tộc cũng có những ảnh hưởng

nhất định tới việc GDGT cho con cái Nghiên cứu “Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày tại

xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)” nhằm tìm hiểu các yếu tố, các đặc

trưng của tộc người có ảnh hưởng như thế nào tới nhận thức của cha mẹ về tầm quan

Trang 7

trọng của việc GDGT cho con cái trong lứa tuổi VTN, cũng như những nội dung, phương pháp, cách thức họ dạy dỗ con về vấn đề này

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc xây dựng một chương trình hỗ trợ, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho cha mẹ thuộc nhóm các dân tộc ít người trong việc GDGT cho con ở lứa tuổi VTN

- Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm những khái niệm, phương pháp của Xã hội học, góp phần bổ sung các tri thức thực tiễn vào hệ thống tri thức và phương pháp nghiên cứu môn xã hội học Gia đình, xã hội học Văn hóa

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu nhằm làm rõ yếu tố, các đặc trưng của tộc người có tác động tới việc GDGT cho con cái của cha mẹ, từ đó góp thêm tiếng nói vào việc tuyên truyền giúp người dân và đặc biệt các bậc phụ huynh thuộc các dân tộc ít người có thêm hiểu biết, nhận thức về tầm quan trọng của việc GDGT cho con cái ở lứa tuổi VTN, cũng như hiểu rõ các nhu cầu, mong muốn của các em khi được học về vấn đề này

- Kết quả nghiên cứu sẽ được gửi tới các nhà tài trợ cho một dự án phát triển cộng đồng dành cho nhóm dân tộc thiểu số để hỗ trợ về kiến thức, kỹ năng cho phụ huynh, từ

đó giúp tăng cường mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái thông qua các hình thức GDGT

3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu yếu tố văn hóa dân tộc trong quá trình GDGT cho trẻ VTN trong gia đình, thể hiện qua những khía cạnh:

- Nhận thức của cha mẹ trong các gia đình dân tộc Tày về tầm quan trọng của việc GDGT cũng như kiến thức của họ trong lĩnh vực này

- Đặc tính dân tộc trong các phương pháp và nội dung của cha mẹ để GDGT cho trẻ VTN

- Nhận xét của trẻ VTN về các kiến thức cha mẹ cung cấp cũng như đánh giá về vai trò của gia đình trong việc GDGT cho chính các em

4 Đối tượng, phạm vi và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 8

Đặc tính dân tộc trong việc GDGT cho trẻ VTN trong gia đình người dân tộc Tày Tuy nhiên, nội dung GDGT trong nghiên cứu này được giới hạn trong khía cạnh cha mẹ dạy dỗ cho trẻ VTN về những biến đổi tâm sinh lý trong lứa tuổi dậy thì và cách vệ sinh thân thể, những cách ứng xử trong mối quan hệ bạn cùng giới, khác giới, trong tình bạn, tình yêu

- Các bậc cha mẹ trong các gia đình dân tộc Tày có con trong lứa tuổi 13 - 18

- Trẻ em trong lứa tuổi 13 – 18 có cha, mẹ là người dân tộc Tày

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập thông tin

5.1.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp này được vận dụng trong quá trình tác giả xây dựng đề cương nghiên cứu cũng như trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Tài liệu là kết quả nghiên cứu của các đề tài, các dự án đã có, bài viết trên các báo

in, tạp chí, các trang báo điện tử và các số liệu thống kê có liên quan tới đề tài nghiên cứu

5.1.2 Phương pháp quan sát

Phương pháp này được sử dụng trong quá trình thu thập số liệu tại địa bàn nghiên cứu Tác giả đã có 3 tuần sống cùng một gia đình người dân tộc Tày và tiếp xúc với nhiều bậc cha mẹ, VTN người Tày trong quá trình PVS và phỏng vấn bằng bảng hỏi tại xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn

Các thông tin thu được từ phương pháp quan sát có ý nghĩa hết sức quan trọng trong nghiên cứu này Đó là những thông tin bổ sung, kiểm chứng cho các thông tin thu được từ các phương pháp khác

5.1.3 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi

Trang 9

Phương pháp này được áp dụng với cha mẹ là người dân tộc Tày, có con trong độ tuổi 13 – 18 tại 6 thôn của xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, Lạng Sơn Tác giả đã tiến hành phỏng vấn bằng bảng hỏi với 145 vị phụ huynh và xử lý toàn bộ số phiếu thu về.

Bảng hỏi được xây dựng với 27 câu hỏi chia làm 5 phần bao gồm: kiến thức của cha mẹ về vấn đề giới tính, các nội dung về giới tính cha mẹ dạy dỗ con cái, thái độ về QHTD, mang thai trước khi cưới, cách thức dạy bảo con cái về vấn đề giới tính và thông tin chung về bản thân, gia đình người được phỏng vấn Do đặc thù là nhóm người ở vùng cao, trình độ học vấn hạn chế, lại là những người dân tộc thiểu số nên các câu hỏi được đưa ra hết sức đơn giản với từ ngữ dễ hiểu, tránh dùng các thuật ngữ chuyên môn, khoa học vẫn thường hay dùng khi đề cập tới vấn đề GDGT

Bảng hỏi thu về được xử lý trên phần mềm SPSS

5.1.4 Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phỏng vấn sâu (PVS) được áp dụng với 15 trẻ em trong độ tuổi 13 – 18 tuổi nhằm tìm hiểu những kiến thức của các em về vấn đề giới tính, cảm giác của các em khi trải qua giai đoạn có sự thay đổi về cơ thể, tâm lý, các thông tin nhận được từ cha mẹ cũng như đánh giá vai trò của cha mẹ trong việc dạy dỗ các em về vấn đề này

- PVS cũng được sử dụng với 8 cha mẹ có con trong tuổi 13 – 18 để tìm hiểu những phong tục tập quán của người Tày có ảnh hưởng như thế nào tới các vấn đề giới tính cha mẹ dạy dỗ cho con, nhận thức của họ về tầm quan trọng của việc GDGT cho con cũng như phương pháp giáo dục của cha mẹ

Các thông tin thu được từ PVS được xử lý trên phần mềm Nvivo

5.2 Phương pháp chọn mẫu

Toàn bộ cha mẹ trong các gia đình dân tộc Tày có con trong độ tuổi 13 – 18 ở xã Tân Thanh đều được mời tham gia phỏng vấn bằng bảng hỏi Tổng số mẫu được phỏng vấn bằng bảng hỏi là 145 Mẫu được chọn để PVS là có chủ định phù hợp với mục đích nghiên cứu

Theo Tổ chức Y tế thế giới, VTN được định nghĩa là nhóm người trong độ tuổi 10 – 19 Tuy nhiên trong nghiên cứu này, tác giả chọn nhóm VTN trong độ tuổi 13 – 18 cũng như các bậc phụ huynh có con trong độ tuổi này bởi thực tế ở Việt Nam, độ tuổi dậy

Trang 10

thì trung bình ở nữ là 14,4 [6, tr.16] và khi tròn 18 tuổi cá nhân đã hoàn toàn trở thành một thực thể độc lập, chịu trách nhiệm trước pháp luật

6 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết

6.1 Giả thuyết nghiên cứu

- Cha mẹ người dân tộc Tày có giáo dục con về vấn đề giới tính nhưng chỉ dựa trên trải nghiệm của bản thân

- Tâm sự, giải thích, nói chuyện trực tiếp là hình thức chủ yếu cha mẹ giáo dục giới tính cho con trong tuổi VTN

- Gia đình không phải là nguồn chính cung cấp thông tin giới tính cho trẻ vị thành niên

- So với cha mẹ người Kinh ở Nam Định, tỷ lệ cha mẹ người Tày ở Tân Thanh nhận thức được tầm quan trọng của việc GDGT cho trẻ VTN thấp hơn

mẹ trong việc GDGT cho trẻ VTN

Hình thức và nội dung GDGT

Kết quả

Đánh giá về vai trò của gia đình trong việc GDGT từ góc độ trẻ VTN

Mong muốn của trẻ VTN

về vấn đề cung cấp thông tin GDGT

Điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội,

đặc trưng tộc người

Trang 11

NỘI DUNG CHÍNH Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở lý luận cơ bản, là nguyên tắc cho mọi khoa học nói chung và khoa học xã hội nói riêng Vận dụng tổng hợp những lý luận này tuân theo các yêu cầu sau:

- Những quy luật vận động phát triển của xã hội phải được xem xét khách quan như nó đang tồn tại;

- Những hiện tượng xã hội phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với nhau;

- Xem xét các hiện tượng xã hội phải hướng đến cái bản chất, không tới cái ngẫu nhiên, bất bình thường;

- Tuân thủ các nguyên tắc lịch sử cụ thể;

- Xem xét yếu tố con người mang bản chất xã hội, trong tính hiện thực của nó

“con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, đồng thời cũng là chủ thể của

xã hội; từ đó coi việc ra sức phát huy nhân tố con người, con chiến lược con người là điểm mấu chốt của sự phát triển kinh tế - xã hội

Trong đề tài này, các nguyên lý cơ bản nêu trên được vận dụng để tìm hiểu tính dân tộc trong việc GDGT cho trẻ VTN trong gia đình người dân tộc Tày Cụ thể là tác giả tìm hiểu các phong tục, những kiêng kỵ của tộc người có ảnh hưởng như thế nào tới việc GDGT cho trẻ; sự giao lưu văn hóa, kinh tế có tác động tới nội dung, phương pháp giáo dục trẻ ra sao

1.2 Hệ thống lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Phương pháp luận dân tộc học

Phương pháp luận dân tộc học cũng là một lĩnh vực xã hội học quan tâm tới vì nó nghiên cứu toàn bộ tri thức, hành vi ứng xử, những quá trình, nếp sống, lối sống của một nhóm người trong xã hội trên cơ sở giải thích những loại hành động xã hội, những phong tục tập quán truyền thống của xã hội Tác giả nổi tiếng của trường phái phương pháp luận dân tộc học là Harold Garfinkel

Trang 12

- Phương pháp nghiên cứu thiết chế xã hội: Để nghiên cứu thiết chế xã hội, việc nghiên cứu môi trường thiết chế, mối quan hệ của môi trường thiết chế có ý nghĩa quan trọng để xác định những mô hình hành vi ứng xử, xác định phong tục tập quán của các nhóm xã hội khác nhau Do đó, mỗi thành viên trong cộng đồng có xu hướng tuân thủ các giá trị của tập thể hay các mô hình mà mọi người xung quanh thừa nhận Theo Harold Garfinkel, để nghiên cứu thiết chế cần sử dụng phương pháp phân tích đàm thoại, qua đó

có thể hiểu một cách chi tiết, cụ thể những cơ cấu cơ bản của tương tác người trong đàm thoại, trên cơ sở đó nghiên cứu được những hành vi hoặc phản xạ vô thức tiềm ẩn

- Phương pháp nghiên cứu hành vi thường ngày: Trong quá trình nghiên cứu hoạt động thường ngày, những cân nhắc, tính toán của các chủ thể hành động chính là hình thức gián tiếp mô tả, đánh giá những ý tưởng hoặc những tình huống xã hội đặc thù Để nghiên cứu hành vi thường ngày, các phương pháp tường thuật, mô tả, phân tích đàm thoại được sử dụng một cách triệt để Trên cơ sở đề nghị đối tượng bị nghiên cứu tường thuật lại những hành động cụ thể diễn ra trong cuộc sống hàng ngày, nhà nghiên cứu có thể đánh giá mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng hoặc cả cộng đồng với toàn xã hội Đây là những phản ánh chủ quan về đời sống xã hội khách quan, từ đó giải thích được

mô hình hành vi của các nhóm dân cư

- Cũng theo Harold Garfinkel, thói quen xã hội và những hành vi tiềm thức có ý nghĩa quan trọng giúp xác định mô hình ứng xử, phong tục tập quán của cá nhân và nhóm

xã hội Những thói quen và hành vi tiềm thức đó thường được bộc lộ trong các đàm thoại khi chủ thể không có ý thức kiểm soát lời nói hoặc hành vi của mình vì bị lôi cuốn vào mục tiêu của cuộc đàm thoại Chính vì vậy, hành vi tiềm thức và thói quen xã hội là những đối tượng nghiên cứu quan trọng theo lý thuyết phương pháp dân tộc học

Tóm lại, trong nghiên cứu này, phương pháp luận dân tộc học được sử dụng để nghiên cứu về các đặc trung của tộc người có ảnh hưởng như thế nào tới nhận thức cũng như hình thức, nội dung được cha mẹ lựa chọn trong việc GDGT cho trẻ VTN trong các gia đình người dân tộc Tày một cách khách quan, không áp đặt ý thức chủ quan của tác giả Việc cùng sống, sinh hoạt và tiếp xúc với người Tày trong 3 tuần giúp tác giả tìm hiểu được cuộc sống thực tế của người Tày ở Lạng Sơn

1.2.2 Thuyết Vai trò xã hội

Trang 13

Vai trò là tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể Những sự mong đợi này xác định các hành vi của con người được xem như

là phù hợp và không phù hợp đối với người chiếm giữ một địa vị Mỗi cá nhân có một loạt vai trò được đem lại từ những hình mẫu xã hội khác nhau mà anh ta tham dự Trong

cả cuộc đời, mỗi cá nhân thực hiện một số những vai trò khác nhau và tổng hợp tất cả các vai trò xã hội của anh ta đã thực hiện từ khi sinh ra cho đến lúc chết tạo thành nhân cách

xã hội của chính người đó

Tương ứng với mỗi quan hệ xã hội, cá nhân có một địa vị xã hội, nhưng cá nhân thường có rất nhiều quan hệ xã hội khác nhau, do vậy họ cũng có nhiều địa vị khác nhau Mỗi địa vị đó tương ứng với một vai trò cụ thể Chính vì vậy một cá nhân luôn có nhiều vai trò khác nhau Do đó, Merton đã đưa ra khái niệm hệ vai trò để chỉ một cấu trúc gồm các vai trò và các quan hệ của chúng mà cá nhân thực hiện khi nắm giữ một địa vị xã hội nhất định

Talcott Parsons đã phân tất cả các loại vai trò đa dạng khác nhau của cá nhân thành năm loại cơ bản:

- Một số vai trò đòi hỏi sự kiềm chế tình cảm khi thực hiện, trong khi một số vai trò khác lại không cần sự kiềm chế này

- Một số vai trò xã hội dựa trên địa vị đã có sẵn, một số vai trò dựa trên địa vị đạt được

- Một số vai trò được xác định hẹp còn một số khác lại được xác định rộng

- Một số vai trò đòi hỏi các cá nhân có thái độ ứng xử với mọi người theo các nguyên tắc chung; ngược lại, một số vai trò khác đòi hỏi phải đối xử với người khác theo cách đặc thù vì những quan hệ đặc biệt với họ

- Các vai trò khác nhau có những động cơ khác nhau

Theo năm loại vai trò do Parsons phân định, trong gia đình, vai trò của cha mẹ dựa trên địa vị đã có sẵn, và khi đó gia đình trở thành một thiết chế giáo dục, đóng vai trò xã hội hóa trẻ em và do đó, cha mẹ đóng vai trò là những nhà sư phạm, giúp con cái hòa nhập, thích nghi với xã hội Trong nghiên cứu này, vai trò xã hội của cha mẹ được xem xét từ khía cạnh giáo dục, xã hội hóa cho con ở tuổi VTN về vấn đề tuổi dậy thì, tình bạn tình yêu

Trang 14

1.2.3 Thuyết Tương tác xã hội

Tương tác là đơn vị cơ bản của sự kiện xã hội mà tại đó con người định hướng hành vi của họ vào nhau mà trong đó, trước tiên, những người tham gia phải thông tin cho nhau về hoàn cảnh tương tác Tương tác chịu ảnh hưởng của chuẩn mực và vai trò xã hội, của hình mẫu hành vi được thừa nhận và cả kỳ vọng của những người tham gia

Tương tác xã hội là khái niệm trung tâm trong tư tưởng xã hội học của Simmel

Cơ sở xuất phát điểm của Simmel là tác động qua lại giữa các bộ phận của thực tiễn:

“Chúng ta phải chấp nhận như là 1 nguyên tắc hợp thức cho cả thế giới là tất cả đều nằm trong một quan hệ qua lại nào đó” Theo Simmel, xã hội là kết quả của tác động qua lại giữa các cá thể, các nhóm và thành phần xã hội khác cấu tạo nên, trong đó các nhân tố không chỉ là các cá thể mà còn là các nhóm, các thành phần xã hội đông đảo khác

Trong nghiên cứu này, thuyết Tương tác xã hội được sử dụng để lý giải cho cách thức các bậc cha mẹ lựa chọn để trò chuyện, tâm sự, dạy dỗ con cái về vấn đề liên quan tới tuổi dậy thì, các cách ứng xử trong mối quan hệ giữa bạn cùng giới, bạn khác giới, về tình bạn, tình yêu

1.3 Hệ thống khái niệm sử dụng trong đề tài

1.3.1 Đặc tính dân tộc

Đặc tính là tính chất riêng, không giống với tính chất các sự vật khác

Dân tộc là tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc Theo cách hiểu của các nhà dân tộc học, dân tộc thực chất phải được hiểu là tộc người (ethnic) Tộc người là hình thái đặc biệt của một tập đoàn xã hội xuất hiện không phải do ý nguyện của con người mà là trong kết quả của quá trình tự nhiên lịch sử Điểm đặc trưng của các tộc người là có tính bền vững và giống như là những quy tắc, các tộc người tồn tại hàng nghìn năm Mỗi tộc người có sự thống nhất bên trong xác định, cả những nét đặc thù để phân định nó với các tộc người khác [14]

Theo đó, trong nghiên cứu này, đặc tính dân tộc được hiểu là những nét tiêu biểu, đặc trưng về văn hóa, phong tục tập quán, suy nghĩ, lối sống (sinh hoạt, giao tiếp, thói quen ) của nhóm người dân tộc thiểu số, cụ thể là dân tộc Tày

Trang 15

Trong đời sống hàng ngày, người Tày rất coi trọng thứ bậc tôn ty trật tự trong gia đình Việc cha mẹ dạy bảo con cái rất được quan tâm tới tuy nhiên chỉ ở góc độ giáo dục cách ứng xử, lễ phép thông thường Những vấn đề “tế nhị”, “nhạy cảm” liên quan tới mối quan hệ nam nữ, sự phát triển tâm sinh lý tuổi dậy thì ít được đề cập tới một cách thẳng thắn Mẹ thường nói riêng với con gái, cha ít nói với con trai bởi chính trong suy nghĩ của mình họ cũng cho rằng các em khắc lớn khắc biết

1.3.2 Khái niệm Giới

Khái niệm giới được hiểu là những đặc điểm, tính cách, cách ứng xử, vai trò và trách nhiệm của con trai và con gái mà xã hội quy định Các đặc điểm này được hình thành từ cuộc sống, chịu ảnh hưởng của gia đình, bạn bè, tôn giáo, văn hóa, nhà trường, báo chí… Các đặc điểm này có thể thay đổi được

1.3.3 Khái niệm Giới tính

Giới tính là khái niệm chỉ tập hợp những đặc điểm, tính chất riêng biệt tạo nên sự khác nhau giữa nam và nữ, những đặc điểm ấy giúp ta phân biệt được dễ dàng nam và nữ Giới tính hình thành từ hai nguồn gốc:

- Nguồn gốc sinh học: nam với nhiễm sắc thể XY, nữ là nhiễm sắc thể XX; nhiễm sắc thể quy định tính trạng nam, nữ là Y, X Cấu tạo cơ thể, nội tiết, tâm sinh lý bắt nguồn từ đó

- Nguồn gốc xã hội: tình cảm, ý thức được hình thành qua giao tiếp dưới ảnh hưởng của giáo dục, xã hội Mỗi xã hội có sự phân công lao động riêng, có quan niệm về giới tính theo những chuẩn mực đạo đức và văn hóa nhất định

Như vậy, giới tính là chỉ sự phân biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, theo đó các đặc điểm về giới tính không thể thay đổi được trừ khi phẫu thuật

1.3.4 Khái niệm Giáo dục giới tính

Có nhiều định nghĩa khác nhau về GDGT

1.3.4.1 Định nghĩa của A.G.Khơricôpva và D.B.Kôlêxốp

“GDGT là một quá trình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng và khuynh hướng phát triển của nhân cách nhằm xác định thái độ xã hội cần thiết của con người đối với những thuộc giới khác” [29, tr.15]

Trang 16

Định nghĩa này cho thấy phạm vi của GDGT không chỉ bó hẹp ở việc giáo dục mối quan hệ giữa nam và nữ mà bao gồm cả việc giáo dục những mối quan hệ nam nữ trong đời sống cũng như học tập, lao động, nghỉ ngơi, giải trí… Giáo dục cho con người biết rèn luyện những phẩm chất giới tính nhằm phát huy thế mạnh của giới tính

1.3.4.2 Định nghĩa theo Bách khoa toàn thư y học phổ thông (Pêtrôpxki chủ biên)

“GDGT là hệ thống các biện pháp y khoa và sư phạm nhằm giáo dục cho nhi đồng, thanh niên và thiếu niên có thái độ đúng đắn đối với các vấn đề giới tính” [29, tr.16] Định nghĩa này ngoài góc độ giáo dục còn đứng ở góc độ y học để xem xét nội dung GDGT, giúp thế hệ trẻ biết bảo vệ sức khoẻ của chính mình và những người khác trong quan hệ nam nữ

1.3.4.3 Định nghĩa theo Từ điển bách khoa về giáo dục

“GDGT là giáo dục về chức năng làm một con người có giới tính Điều quan trọng

là đề cập vấn đề giới tính một cách công khai và đầy đủ trong lớp học, từ nhà trẻ đến đại học, giúp cho học sinh cảm thấy an toàn và tự do trong việc biểu lộ các cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính” Định nghĩa này nêu bật được bản chất của công tác GDGT,

đó là sự định hướng cho thế hệ trẻ cách sống đúng đắn của con người có giới tính Việc giúp cho thế hệ trẻ “làm một con người có giới tính” là việc làm hết sức cần thiết trong cuộc sống Nhiều người không nhận thức được việc thiếu “nữ tính” của phụ nữ hoặc

“nam tính” của đàn ông là một tai hại Những “tính nam”, “tính nữ” này không thể hình thành một cách tự nhiên mà con người phải trải qua một quá trình được giáo dục, được rèn luyện mới có được Ngay chức năng giới tính mà thiên nhiên đã ban phú cho người đàn ông và người đàn bà đó là chức năng truyền giống ở đàn ông, chức năng sinh đẻ ở đàn bà cũng cần được giải thích làm sáng tỏ cơ sở khoa học của sự hoạt động có quy luật của hành vi tình dục nhằm mang lại “sự an toàn và tự do” cho con người Con người chỉ cảm thấy “tự do” khi đã nắm vững được cái “tất yếu”, những quy luật phát triển sinh lý, tâm lý của con người

1.3.4.4 Định nghĩa của D.N.Ixaev và V.E.Kagan

Theo D.N.Ixaev và V.E.Kagan, GDGT cần được hiểu theo hai nghĩa Trước hết, theo nghĩa rộng, thuật ngữ GDGT chỉ sự ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển tâm

lý tình dục và sự hình thành cá nhân Môi trường bao quanh con người là thực thể nhiều

Trang 17

mặt và cơ động, không phải lúc nào cũng hoạch định được hay mong muốn được những ảnh hưởng của nó GDGT là một bộ phận hợp thành của giáo dục học đại cương “Giáo dục phải đảm bảo sự phát triển tự do và vui sướng của mọi thể hiện tăng trưởng của con người từ bầu vú mẹ đến chiếc giường chung vợ chồng” [29, tr.17]

Theo nghĩa hẹp, GDGT là một quá trình tác động có hệ thống, được hoạch định và thực hiện một cách có ý thức, hướng tới kết quả cuối cùng xác định vào sự phát triển tâm

lý và thể chất của em trai và em gái với mục đích tối ưu hóa sự phát triển nhân cách và hoạt động của chúng trong mọi lĩnh vực của đời sống có liên quan tới các mối quan hệ của hai giới

Tóm lại: GDGT là một vấn đề quan trọng trong việc giáo dục sự phát triển toàn diện của

con người GDGT nhằm bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những hiểu biết cần thiết về giới tính, giúp họ có thái độ và kỹ năng giao tiếp, ứng xử lịch sự, văn minh trong quan hệ với người khác giới trong hoạt động và đời sống xã hội GDGT chủ yếu hướng vào thế hệ trẻ trước hôn nhân Ở nhiều nước, GDGT được tiến hành từ lứa tuổi mẫu giáo và đặc biệt được quan tâm ở giai đoạn tuổi dậy thì và thanh niên

Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, các nội dung GDGT cha mẹ người Tày dạy con được nghiên cứu là:

- Giải thích về sự thay đổi của cơ thể khi trẻ bước vào tuổi dậy thì

- Hướng dẫn vệ sinh thân thể khi con có những dấu hiệu dậy thì

- Hướng dẫn cách ứng xử trong cuộc sống hàng ngày với người lớn tuổi, bạn cùng giới, bạn khác giới

1.3.5 Khái niệm Vị thành niên

VTN là giai đoạn đặc biệt của cuộc đời con người Đó là bước quá độ từ tuổi ấu thơ trở thành người lớn Có nhiều quan điểm khác nhau về tuổi VTN Sự phân chia độ tuổi VTN ở các quốc gia, các chủng tộc và các khu vực khác nhau cũng rất khác nhau Tuy nhiên, có một điểm thống nhất là VTN nghĩa là người chưa trưởng thành và còn do người lớn giám hộ

Theo WHO, VTN có độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi Trên cơ sở quan niệm này, người

ta thường phân chia VTN thành ba nhóm: VTN sớm: 10 – 14 tuổi, VTN trung: 15 – 17 tuổi và VTN muộn: 18 – 19 tuổi

Trang 18

Ở Việt Nam, pháp luật quy định từ 18 tuổi trở lên thì một con người có đầy đủ những quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân độc lập Từ 18 tuổi họ có quyền kết hôn

và sinh con, nghĩa là khi đó họ không còn là VTN nữa Do vậy, VTN ở nước ta thường được xác định trong độ tuổi từ 10 đến trước 18 tuổi

VTN là giai đoạn trải qua quá trình dậy thì ở cuộc đời con người Chính vì thế, ở giai đoạn này từng bước có sự thay đổi toàn diện về tâm sinh lý và tình cảm:

- Sự phát triển của các cơ quan sinh sản, sự xuất hiện của ham muốn tình dục Nếu trước đây nhu cầu tình dục tồn tại ở dạng tiềm năng thì nay nó trở thành một động lực thực sự và được biểu hiện một cách nào đó trong các hành vi của chủ thể

- Sự thay đổi những năng lực tâm lý, đó là sự biểu hiện của cá tính, sự hiện diện rõ nét của các kiểu dạng tâm lý, VTN tự ý thức về bản thân, đề cao cái tôi cá nhân, muốn khẳng định mình, muốn trở thành người lớn

- Xuất hiện những sắc thái tình cảm khác nhau do sự biến đổi của các năng lực tình dục và tâm lý Những trạng thái tình cảm luôn biến đổi thất thường là nét đặc trưng của tuổi VTN Vì thế ở VTN xuất hiện những tình cảm mới lạ, những bất thường trong ứng xử, hành vi và có sự thay đổi rõ nét trong mối quan hệ với gia đình, bạn bè và xã hội

Như vậy, trong giai đoạn không còn là trẻ con cũng chưa trở thành người lớn, đặc trưng cơ bản của VTN là sự tăng trưởng nhanh về thể chất với việc hoàn thiện cơ quan sinh sản và sự phát triển về nhân cách

1.3.6 Khái niệm Gia đình

Gia đình được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) định nghĩa: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống chung và có cùng ngân sách chung” Như vậy, gia đình là một nhóm xã hội đặc biệt gắn bó với nhau bởi huyết thống và tình cảm Gia đình được hình thành trên cơ sở hôn nhân, và quan hệ huyết thống có được từ hôn nhân đó

Gia đình là một thiết chế đặc biệt, có nhiều chức năng khác nhau và đầu tiên phải

kể tới là chức năng xã hội hóa Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên giúp cá nhân thích nghi, làm quen với đời sống xã hội Chính vì vậy, gia đình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục cho các thành viên để hòa nhập với xã hội

1.3.7 Giáo dục giới tính cho vị thành niên trong gia đình

Ngày đăng: 05/04/2020, 14:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w