MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9 5. Phương pháp nghiên cứu 9 6. Cấu trúc của luận văn 10 NỘI DUNG 11 CHƯƠNG 1: VĂN HÓA LÀNG VÀ TIẾP CẬN TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HỮU NHÀN DƯỚI GÓC ĐỘ VĂN HÓA 11 1.1. Khái niệm văn hóa 11 1.2. Văn hóa làng Văn hóa làng Phú Thọ 13 1.2.1. Làng 13 1.2.2. Văn hóa làng 15 1.2.3. Văn hóa làng ở Phú Thọ 18 1.3. Tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Hữu Nhàn ở góc độ văn hóa 20 1.3.1. Vài nét về tác giả Nguyễn Hữu Nhàn 20 1.3.2. Tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Hữu Nhàn từ góc độ văn hóa 22 Tiểu kết chương 1 24 CHƯƠNG 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HỮU NHÀN 25 2.1. Vài nét về văn hóa Phú Thọ Văn hóa làng trung du Phú Thọ 25 2.2. Những giá trị văn hóa trong truyện ngắn của Nguyễn Hữu Nhàn 27 2.2.1. Đề cao những giá trị văn hóa làng quê vùng trung du Đất Tổ 27 2.2.2. Những biến đổi của văn hóa làng quê trước tác động của đô thị, kinh tế thị trường 40 Tiểu kết chương 2 50 CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT BIỂU ĐẠT VĂN HÓA LÀNG TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HỮU NHÀN 51 3.1. Một số biểu tượng văn hóa tiêu biểu 51 3.2. Xây dựng nhân vật 57 3.2.1.Nhân vật như là “mẫu người văn hóa” 57 3.2.2. Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật 61 3.2.3. Nghệ thuật miêu tả ngôn ngữ nhân vật 63 3.3. Nghệ thuật trần thuật trong việc biểu đạt văn hóa làng 67 3.3.1. Ngôn ngữ 67 3.3.2. Giọng điệu 76 Tiểu kết chương 3 82 KẾT LUẬN 83 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt Viết đầy đủ VHNT Văn học nghệ thuật TW Trung ương BCH Ban chấp hành PGS. TS Phó giáo sư .Tiến sĩ ĐHSPHN Đại học sư phạm Hà Nội NXB Nhà xuất bản MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1.1. Trong những năm gần đây, nhận thức về vai trò của văn hóa đã được nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó. Nghị quyết TW 9 khóa XI đã khẳng định “Văn hóa là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu nước mạnh dân chủ, công bằng và văn minh”. Giữ gìn và bảo vệ văn hóa làng đang là một vấn đề được Đảng và Nhà nước vô cùng quan tâm . Bới phát triển văn hóa làng cũng chính là góp phần vào phát triển nền văn hoá của dân tộc, góp phần xây dựng và bảo vệ một nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Một trong những mục tiêu phát triển đất nước là phát triển nền văn hóa, giữ gìn và phát triển văn hóa là nhiệm vụ không chỉ của một lĩnh vực riêng biệt mà của tất cả các ngành nghề các lĩnh vực. 1.2. Văn học là một bộ phận của tổng thể văn hóa, một yếu tố của hệ thống văn hóa, có nhiệm vụ biểu đạt văn hóa. Tiếp cận một tác phẩm văn học, ta có thể nhận ra các yếu tố văn hóa qua sự biểu đạt của nhà văn. Văn hóa ảnh hưởng quá trình sáng tác của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của bạn đọc. Các yếu tố văn hóa chi phối cách lựa chọn đề tài, chủ đề, cách xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ … ngược lại văn học cũng có những tác động trở lại tới văn hóa. Cùng với các cách tiếp cận văn học ở các lĩnh vực như xã hội học, thi pháp học thì cách tiếp cận văn học ở góc độ văn hóa giúp chúng ta lý giải một cách trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật với hệ thống mã văn hóa được bao hàm bên trong nó. 1.3. Trong số những nhà văn sống trên mảnh đất trung du đồi núi Phú Thọ, độc giả đã không còn xa lạ với những cái tên như: Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Tham Thiện Kế, Ngô Ngọc Bội và Nguyễn Hữu Nhàn. Ông là nhà văn của làng quê, gắn bó với đất và người làng quê đất Tổ với nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản..Một số kịch bản của ông đã được chuyển thể thành kịch bản phim đã chiếu trên Đài Truyền hình Việt Nam. Ngoài ra ông còn viết nhiều công trình nghiên cứu văn hóa về các tộc người sống trên mảnh đất trung du Phú Thọ.Với lối viết tự nhiên, giản dị, gần gũi, ông đi vào các giá trị văn hóa đã tồn tại từ ngàn đời nơi làng quê mà cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị . Khi nhận xét về nhà văn này PGS TS Ngô Văn Giá đã viết: Cây bút này “không đi vào những vấn đề tố khổ, hoặc phê phán chống tiêu cực, hoặc làm ăn chuyển đổi kinh tế…mà bằng một cách thật tự nhiên, nhất quán, ông chuyên chú đi vào các tầng vỉa văn hóa của làng quê thời hiện đại”.Văn Nguyễn Hữu Nhàn không đậm yếu tố “văn của từ ngữ” mà sâu nặng chất “văn của lòng”. Qua những trang văn của ông người đọc nhận ra những cung bậc cảm xúc thành thật và tha thiết của ông với mảnh đất cội nguồn của dân tộc. Không chỉ là sự biểu đạt văn hóa của các tộc người mà qua những nét đặc sắc của những nét văn hóa đó còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc của nhà văn về đời sống, phong tục tập quán, cách cư xử, lối sống sinh hoạt của những con người dân quê. Những giá trị văn hóa đích thực của làng quê đã và đang được người quê cố gắng gìn giữ đến mức đáng cảm động. Các truyện ngắn của ông không lớn tiếng phê phán mà kín đáo thể hiện những lo lắng những giá trị của văn hóa làng quê đang bị thay đổi trước những tác động của nền kinh tế thị trường.Và một ấn tượng động lại trong lòng độc giả về các truyện ngắn của nhà văn này đó là trong mỗi tác phẩm của mình ông lại có những cách biểu hiện văn hóa theo cách của riêng ông. Điều đó tạo nên sự hấp dẫn cho mỗi truyện ngắn mà nhà văn thể hiện. Cùng biểu đạt văn hóa nơi làng quê, trước Nguyễn Hữu Nhàn thì phải kể đến nhà văn Kim Lân. Trong sáng tác của mình, ông đã đưa người đọc đến với những nét văn hóa của vùng quê Kinh Bắc với những phong tục sinh hoạt văn hóa cổ truyền ở làng quê như chọi gà, thả chim, đánh vật. Thông qua phản ánh các “thú phong lưu đồng ruộng” nhà văn đã kín đáo thể hiện thái độ trân trọng và gìn giữ các giá trị văn hóa làng. Khi đọc những truyện ngắn của Duy Khán, Nguyễn Khắc Trường như “Tuổi thơ im lặng”, “Mảnh đất lắm người nhiều ma”, hay một số truyện ngắn trong các tập “Nghĩa địa xóm Chùa”, “Trinh tiết xóm Chùa”của Đoàn Lê, người đọc cũng dễ dàng nhận thấy các tác giả này đã thể hiện khá rõ các khía cạnh về văn hóa. Tuy nhiên họ lại hướng trọng tâm vào các vấn đề khác: Văn hóa làng là văn hóa lúa nước, hình thành và phát triển trên hai yếu tố cơ bản là nghề trồng lúa nước trong điều kiện kỹ thuật thủ công và quan hệ xóm làng. Đây là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm. Tìm hiểu văn hóa làng là để tìm hiểu chiều sâu vẻ đẹp trong các truyện ngắn của Nguyễn Hữu Nhàn đồng thời góp phần góp thêm một tiếng nói về bản sắc văn hóa của vùng quê đất Tổ. 1.4. Theo những nghiên cứu ban đầu, nghiên cứu những biểu hiện về văn hóa làng trong truyện của Nguyễn Hữu Nhàn mới chỉ có một số bài viết trên các báo và trên các tạp chí phê bình nghiên cứu của PGS.TS Phan Trọng Thưởng, PGS TS Ngô Văn Giá, Nhà báo Vũ Hà. Nhà văn Hà Văn Thể. Nghiên cứu về các sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn có một đề tài thạc sĩ “ Đề tài nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn” của tác giả Hoàng Thị Quế ĐHSPHN2. Qua khảo sát chúng tôi thấy chưa có một tác giả nào nghiên cứu về các giá trị văn hóa trong sáng tác của nhà văn này. Đó cũng là lý do chúng tôi thực hiện đề tài “ Văn hóa làng trong truyện ngắn của Nguyễn Hữu Nhàn”. Qua việc nghiên cứu, chúng tôi muốn khẳng định những đóng góp của nhà văn về các giá trị văn hóa của quê hương đồng thời góp phần khẳng định những nét đẹp của văn học đất Tổ.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Cấu trúc của luận văn 10
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: VĂN HÓA LÀNG VÀ TIẾP CẬN TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HỮU NHÀN DƯỚI GÓC ĐỘ VĂN HÓA 11
1.1 Khái niệm văn hóa 11
1.2 Văn hóa làng - Văn hóa làng Phú Thọ 13
1.2.1 Làng 13
1.2.2 Văn hóa làng 15
1.2.3 Văn hóa làng ở Phú Thọ 18
1.3 Tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Hữu Nhàn ở góc độ văn hóa 20
1.3.1 Vài nét về tác giả Nguyễn Hữu Nhàn 20
1.3.2 Tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Hữu Nhàn từ góc độ văn hóa 22
Tiểu kết chương 1 24
CHƯƠNG 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HỮU NHÀN 25
2.1 Vài nét về văn hóa Phú Thọ - Văn hóa làng trung du Phú Thọ 25
2.2 Những giá trị văn hóa trong truyện ngắn của Nguyễn Hữu Nhàn 27
2.2.1 Đề cao những giá trị văn hóa làng quê vùng trung du Đất Tổ 27
2.2.2 Những biến đổi của văn hóa làng quê trước tác động của đô thị, kinh tế thị trường 40
Trang 2Tiểu kết chương 2 50
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT BIỂU ĐẠT VĂN HÓA LÀNG TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HỮU NHÀN 51
3.1 Một số biểu tượng văn hóa tiêu biểu 51
3.2 Xây dựng nhân vật 57
3.2.1.Nhân vật như là “mẫu người văn hóa” 57
3.2.2 Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật 61
3.2.3 Nghệ thuật miêu tả ngôn ngữ nhân vật 63
3.3 Nghệ thuật trần thuật trong việc biểu đạt văn hóa làng 67
3.3.1 Ngôn ngữ 67
3.3.2 Giọng điệu 76
Tiểu kết chương 3 82
KẾT LUẬN 83
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1 Trong những năm gần đây, nhận thức về vai trò của văn hóa đãđược nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó Nghị quyết TW 9 khóa XI đãkhẳng định “Văn hóa là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnhnội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổquốc vì mục tiêu dân giàu nước mạnh dân chủ, công bằng và văn minh” Giữgìn và bảo vệ văn hóa làng đang là một vấn đề được Đảng và Nhà nước vôcùng quan tâm Bới phát triển văn hóa làng cũng chính là góp phần vào pháttriển nền văn hoá của dân tộc, góp phần xây dựng và bảo vệ một nền văn hóatiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Một trong những mục tiêu phát triển đấtnước là phát triển nền văn hóa, giữ gìn và phát triển văn hóa là nhiệm vụ khôngchỉ của một lĩnh vực riêng biệt mà của tất cả các ngành nghề các lĩnh vực
1.2 Văn học là một bộ phận của tổng thể văn hóa, một yếu tố của hệthống văn hóa, có nhiệm vụ biểu đạt văn hóa Tiếp cận một tác phẩm văn học,
ta có thể nhận ra các yếu tố văn hóa qua sự biểu đạt của nhà văn Văn hóa ảnhhưởng quá trình sáng tác của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của bạn đọc Cácyếu tố văn hóa chi phối cách lựa chọn đề tài, chủ đề, cách xây dựng nhân vật,
sử dụng ngôn ngữ … ngược lại văn học cũng có những tác động trở lại tớivăn hóa Cùng với các cách tiếp cận văn học ở các lĩnh vực như xã hội học,thi pháp học thì cách tiếp cận văn học ở góc độ văn hóa giúp chúng ta lý giảimột cách trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật với hệ thống mã văn hóa đượcbao hàm bên trong nó
1.3 Trong số những nhà văn sống trên mảnh đất trung du đồi núi PhúThọ, độc giả đã không còn xa lạ với những cái tên như: Phạm Tiến Duật, HữuThỉnh, Nguyễn Tham Thiện Kế, Ngô Ngọc Bội và Nguyễn Hữu Nhàn Ông
Trang 5là nhà văn của làng quê, gắn bó với đất và người làng quê đất Tổ với nhiềutruyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản Một số kịch bản của ông đã được chuyểnthể thành kịch bản phim đã chiếu trên Đài Truyền hình Việt Nam Ngoài raông còn viết nhiều công trình nghiên cứu văn hóa về các tộc người sống trênmảnh đất trung du Phú Thọ.Với lối viết tự nhiên, giản dị, gần gũi, ông đi vàocác giá trị văn hóa đã tồn tại từ ngàn đời nơi làng quê mà cho đến nay vẫn cònnguyên giá trị Khi nhận xét về nhà văn này PGS- TS Ngô Văn Giá đã viết:Cây bút này “không đi vào những vấn đề tố khổ, hoặc phê phán chống tiêucực, hoặc làm ăn chuyển đổi kinh tế…mà bằng một cách thật tự nhiên, nhấtquán, ông chuyên chú đi vào các tầng vỉa văn hóa của làng quê thời hiện
đại”.Văn Nguyễn Hữu Nhàn không đậm yếu tố “văn của từ ngữ” mà sâu nặng
chất “văn của lòng” Qua những trang văn của ông người đọc nhận ra nhữngcung bậc cảm xúc thành thật và tha thiết của ông với mảnh đất cội nguồn củadân tộc Không chỉ là sự biểu đạt văn hóa của các tộc người mà qua nhữngnét đặc sắc của những nét văn hóa đó còn thể hiện sự am hiểu sâu sắc của nhàvăn về đời sống, phong tục tập quán, cách cư xử, lối sống sinh hoạt của nhữngcon người dân quê Những giá trị văn hóa đích thực của làng quê đã và đangđược người quê cố gắng gìn giữ đến mức đáng cảm động Các truyện ngắncủa ông không lớn tiếng phê phán mà kín đáo thể hiện những lo lắng nhữnggiá trị của văn hóa làng quê đang bị thay đổi trước những tác động của nềnkinh tế thị trường.Và một ấn tượng động lại trong lòng độc giả về các truyệnngắn của nhà văn này đó là trong mỗi tác phẩm của mình ông lại có nhữngcách biểu hiện văn hóa theo cách của riêng ông Điều đó tạo nên sự hấp dẫncho mỗi truyện ngắn mà nhà văn thể hiện
Cùng biểu đạt văn hóa nơi làng quê, trước Nguyễn Hữu Nhàn thì phải kểđến nhà văn Kim Lân Trong sáng tác của mình, ông đã đưa người đọc đến vớinhững nét văn hóa của vùng quê Kinh Bắc với những phong tục sinh hoạt văn
Trang 6hóa cổ truyền ở làng quê như chọi gà, thả chim, đánh vật Thông qua phản ánhcác “thú phong lưu đồng ruộng” nhà văn đã kín đáo thể hiện thái độ trân trọng
và gìn giữ các giá trị văn hóa làng Khi đọc những truyện ngắn của Duy Khán,Nguyễn Khắc Trường như “Tuổi thơ im lặng”, “Mảnh đất lắm người nhiềuma”, hay một số truyện ngắn trong các tập “Nghĩa địa xóm Chùa”, “Trinh tiếtxóm Chùa”của Đoàn Lê, người đọc cũng dễ dàng nhận thấy các tác giả này đãthể hiện khá rõ các khía cạnh về văn hóa Tuy nhiên họ lại hướng trọng tâmvào các vấn đề khác: Văn hóa làng là văn hóa lúa nước, hình thành và pháttriển trên hai yếu tố cơ bản là nghề trồng lúa nước trong điều kiện kỹ thuật thủcông và quan hệ xóm làng Đây là một trong những vấn đề được Đảng và Nhànước quan tâm Tìm hiểu văn hóa làng là để tìm hiểu chiều sâu vẻ đẹp trongcác truyện ngắn của Nguyễn Hữu Nhàn đồng thời góp phần góp thêm mộttiếng nói về bản sắc văn hóa của vùng quê đất Tổ
1.4 Theo những nghiên cứu ban đầu, nghiên cứu những biểu hiện vềvăn hóa làng trong truyện của Nguyễn Hữu Nhàn mới chỉ có một số bài viếttrên các báo và trên các tạp chí phê bình nghiên cứu của PGS.TS Phan TrọngThưởng, PGS- TS Ngô Văn Giá, Nhà báo Vũ Hà Nhà văn Hà Văn Thể.Nghiên cứu về các sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn có một đề tài thạc sĩ “ Đềtài nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn” của tác giả Hoàng ThịQuế- ĐHSPHN2 Qua khảo sát chúng tôi thấy chưa có một tác giả nào nghiêncứu về các giá trị văn hóa trong sáng tác của nhà văn này Đó cũng là lý dochúng tôi thực hiện đề tài “ Văn hóa làng trong truyện ngắn của Nguyễn HữuNhàn” Qua việc nghiên cứu, chúng tôi muốn khẳng định những đóng góp củanhà văn về các giá trị văn hóa của quê hương đồng thời góp phần khẳng địnhnhững nét đẹp của văn học đất Tổ
Trang 7
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu văn hóa làng trong văn học Việt Nam hiện đại
Nông thôn là đề tài rộng lớn và đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập.Khi nghiên cứu về đề tài này người ta thường nhắc đến khái niệm văn hóalàng Đã có không ít bài viết và công trình nghiên cứu về vấn đề này
Vũ Ngọc Khánh khi viết về văn hóa làng trong cuốn Văn hóa làng ở
Việt Nam đã nghiêu cứu về cấu trúc của làng Ông chia làng xã Việt Nam
thành các nhóm khác nhau trong tổng thể văn hóa làng Việt Nam Tác giảviết: “trong đời sống phần đông người dân Việt nam hiện nay văn hóa lànggiữ vai trò quan trọng nhưng người ta sẽ phải chú tâm hơn để nền văn hóa
đẹp của làng không bị mai một [19; 68].
Luận văn thạc sỹ Nông thôn Việt Nam trong các tiểu thuyết từ năm
1986 đến năm 2000 của Trần Thị Thanh Xuân sau khi khảo sát về đời sống ở
nông thôn Việt Nam trong văn học đương đại đã đưa ra nhận xét: “xã hộinông thôn tưởng như chỉ có nét văn hóa bình dị yên ả với những xóm làngnhững nóc nhà lặng lẽ bên những rặng tre, những cánh đồng với vườn cây ao
cá Câu chuyện không bao giờ hết về cảnh vật, về đất về người Thế nhưnghòa mình vào cuộc sống ấy chúng ta mới thấy điều không đơn giản nó cũngmang trong mình lắm điều nhiêu khê, bức bối ngột ngạt” [38; 32]
Quan tâm nhiều hơn đến phần tâm hồn con người khi nghiên cứu về
văn hóa làng trong văn học, Bùi Như Hải có bài Ý thức về làng xã, họ tộc
trong tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại đã nhấn mạnh:“ Đặc thù ở nông
thôn Việt Nam là một làng có nhiều họ tộc và nhiều tôn giáo khác nhau sinhsống Từ đó nảy sinh tư tưởng bè phái, cục bộ địa phương Vì danh dự uy tíncủa dòng họ làng xã mà họ sẵn sàng chiến đấu chống lại các dòng họ khác,làng xã khác” [15; 15]
Trang 8Trong buổi Hội thảo về Lịch sử và văn hóa cái nhìn nghệ thuật NguyễnXuân Khánh, Viện văn học tổ chức năm 2012 có một số ý kiến nhắc đến vănhóa làng trong các tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh: “ở Đội gạo lên chùaNguyễn Xuân Khánh đã đề cao Phật giáo, văn hóa làng, mặt khác nhìn thấyvăn hóa khác (của Phương tây) vẫn còn tồn tại ở Việt Nam” Ở Mẫu ThượngNgàn, ông đã nỗ lực tìm kiếm yếu tố mang tính nền tảng của văn hóa, một hằng
số có khả năng kiến tạo văn hóa Việt, có sức cố kết cộng đồng… nhân tố đótheo ông là “ văn hóa làng” (Trần Thị An) Khi phân tích và chỉ ra những biểuhiện văn hóa làng trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh, người ta chủ yếuxem xét nó trong mối quan hệ với tôn giáo tín ngưỡng – đạo Phật (MẫuThượng ngàn)
Bàn về văn hóa được nói đến trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người
nhiều ma PGS TS Lê Nguyên Cẩn nhận xét: “Văn hóa tâm linh, văn hóa về cái
chết được các thế lực đối đầu trong cái xứ sở bé bằng bàn tay ấy triệt để lợidụng Điều đó cho thấy một hiện thực dữ dằn mà những người có lương tâmphải suy nghĩ Các biểu hiện khác nhau của văn hóa cũng xuất hiện: Văn hóalịch sử được cụ thể hóa bằng cuộc con đấu tố cha giữa thời cải cách bằng nghịquyết 04, bằng cuộc đi thăm của ông Bí thư Đảng ủy cũ, tham quan Định Công
và Quỳnh Lưu để biến mỗi huyện thành một pháo đài về quân sự và kinh tế,văn hóa ẩm thực diễn ra qua tiệc cưới của bà Son và ông Hàm, qua cuộc tiếpđãi Bí thư huyện ủy Luân… Văn hóa cưới xin tang lễ cũng tạo nền cho thế giới
kỳ ảo ấy, nó không có tính chất thiêng liêng nữa mà đều được trần tục hóanhằm phù hợp với kiểu nhân vật ở đây Các yếu tố văn hóa đan cài vào nhaudẫn tới việc tái hiện các phong tục chúng giúp cho phong tục trở nên sắc nét rõràng hơn và sự biến dạng của các phong tục ấy cũng cho thấy tính chất phúc
tạp của thời đại mới” [2; 8] Thế giới kì ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma
của Nguyễn Khắc Trường từ cái nhìn văn hóa - Văn học Việt (số 13)
Trang 9Trong bài về văn hóa làng nhìn qua trường hợp văn của Nguyễn HữuNhàn, PGS.TS Ngô Văn Giá đã chỉ ra những nhà văn biểu đạt văn hóa làng quêqua các tác phẩm của mình khá xuất sắc như Kim Lân, Ngô Tất Tố, Vũ TrọngPhụng Trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn, PGS TS cũng nhận xét: “Vănhóa làng được thể hiện thường trực hơn quán xuyến hơn” và có nét riêng: “ Làmột không gian văn hóa làng vùng trung du đất Tổ” Bài viết có những đánhgiá cao về nhà văn vùng trung du và đóng góp nổi bật về văn hóa làng
Tác giả Nguyễn Thị Mai Hương có bài Văn hóa nông thôn sau đổi mới
nhìn từ biểu tượng và ngôn ngữ, phần nào chạm đến văn hóa nông thôn qua
việc gợi dẫn một số biểu tượng (đình làng, cây đa, cây gạo) Tác gỉa cho rằng:
“Tổ chức truyện kể theo hệ thống biểu tượng này giúp tái hiện chiều sâu đờisống văn hóa nông thôn” [9; 26]
Những luận văn viết về văn hóa làng phải kể đến: Văn hóa làng xãvùng đồng bằng Bắc Bộ trong sáng tác của Trần Tiêu (Nguyễn Kim NhậtThanh) Tác giả đi tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật trong sáng tác củaTrần Tiêu để thấy rõ những nét đặc sắc của ông khi viết về đề tài nông thôn
cụ thể là văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ, qua đó thấy rõ hơn về văn hóalàng quê qua một thời kỳ lịch sử của Dân tộc.Văn hóa làng trong một số tiểuthuyết viết về nông thôn thời kỳ đổi mới (Ma Thị Thu Thủy- Đại Học HùngVương) đã đi vào nhận diện, phân tích được một số biểu hiện đặc trưng của
văn hóa làng trong ba tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương Hướng), Thời xa vắng (Lê Lựu).
Văn hóa làng trong sáng tác của Nguyễn Quang Thiều (Trần Thị MinhChiến - Đại học Sư phạm Hà Nội) đi sâu vào nghiên cứu các biệu hiện vănhóa làng (cảnh làng, nếp làng, hồn làng) chỉ ra những nét đặc sắc trong nghệthuật biểu hiện trong sáng tác của Nguyễn Quang Thiều
Trang 10Nhận xét chung: Văn hóa làng là một vấn đề khá hấp dẫn được các nhàvăn chú ý khai thác và thể hiện Tuy nhiên tiếp cận văn hóa làng chủ yếu tậptrung nghiên cứu ở các bình diện thiết chế xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, phongtục tập quán chưa chú ý đến những giá trị của văn hóa làng.
2.2 Nghiên cứu văn hóa làng trong truyện ngắn của Nguyễn Hữu Nhàn
Nghiên cứu truyện ngắn của Nguyễn Hữu Nhàn người đọc không chỉcảm nhận thấy sự phản ánh diện mạo làng xã - nông thôn Việt Nam mà cònthấy được trong những truyện ngắn của ông những nét độc đáo về văn hóacủa các tộc người sống trên mảnh đất Phú Thọ và những diện mạo riêng cả ởphương diện nghệ thuật
Ông được gọi là “nhà văn của làng quê” gắn bó với đất và con ngườinơi làng quê vùng trung du đất Tổ Theo lời đánh giá của PGS -TS Văn Giá:
“Cây bút này không đi vào tố khổ hoặc phê phán chống tiêu cực, hoặc làm ăn
và chuyển đổi kinh tế mà bằng một cách thật tự nhiên và nhất quán ôngchuyên chú đi vào các tầng vỉa văn hóa của làng quê thời hiện đại”[7; 8]
Sinh ra và sinh sống ở mảnh đất nhiều truyền thống lịch sử dựng nước
và giữ nước, giàu giá trị truyền thống văn hóa nên các sáng tác của ông thểhiện khá đậm nét các yếu tố của văn hóa Hình ảnh những làng quê, làng đồi,làng núi trở thành những không gian để gợi nên những nét văn hóa của cáctộc người sinh sống Nhà văn đã tự để cho nhân vật của mình bộc lộ tâm lý,tính cách qua đó kín đáo gửi gắm những quan điểm nhân sinh, những giá trịđạo đức đáng trọng ở đời “Các giá trị văn hóa truyền thống đã được hìnhthành và phát triển ra sao Những vấn đề khó khăn của khoa học đượcNguyễn Hữu Nhàn nghệ thuật hóa trong các hình tượng nghệ thuật nhờ vậy
mà tác phẩm văn nghệ có thêm chiều sâu tư tưởng…”[44; 3].
Viết về nông thôn, Nguyễn Hữu Nhàn không chỉ viết bằng tình yêu và
sự gắn bó với đồng ruộng, với những con người quanh năm chân lấm tay bùn
Trang 11mà còn ở sự nhất quán trong quan niệm của ông về văn hóa Văn hóa làng xã
đã tồn tại từ bao đời nay, nó đã trở thành hồn cốt trong cuộc sống của conngười lao động Từ những phong tục, tập quán, những lễ nghi tín ngưỡng đếnlối sống, cung cách sinh hoạt, ứng xử của con người đã trở thành truyền thốngvăn hóa làng xã, văn hóa dân tộc Một làng được đánh giá là giàu truyềnthống văn hóa phải được thể hiện ở các phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng Nếukhông có phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng không tạo nên văn hóa làng Mỗilàng có một nét văn hóa riêng biệt, chính những nét độc đáo riêng biệt đó tạonên bản sắc riêng của làng Văn hóa của các làng có sự ảnh hưởng giao thoalẫn nhau nhưng về cơ bản văn hóa của mỗi làng có những quy ước riêng chothành viên trong cộng đồng làng Hiện nay giữ gìn nét đẹp của văn hóa làng làgiữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc ta Với xã hội ngày càng phát triển nhưhiện nay, nền văn hóa của các nước du nhập vào nước ta ngày một nhiều nên
ta cần phải biết chọn lọc để giữ gìn và bảo vệ văn hóa làng
Hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu một cách hệ thống về văn hóalàng trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn Những bài viết, những gợi ý trongmột số bài nghiên cứu sẽ là những tham khảo bổ ích để chúng tôi có những nhậnđịnh đúng về những giá trị của văn hóa làng trong truyện ngắn của ông
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn hướng đến khẳng định những giá trị về văn hóa làng truyềnthống,những giá trị văn hóa đang bị xâm hại, bị biến đổi đang diễn ra trênmảnh đất quê hương vùng trung du Chỉ ra những nét riêng, nét độc đáo vềcách văn hóa vùng miền được nhà văn thể hiện Từ đó khẳng định nhữngđóng góp riêng về văn hóa vùng trung du, góp phần tạo nên diện mạo của vănhọc Đất Tổ nói riêng và nên văn học dân tộc nói chung
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu ở thể loại truyện ngắn để chỉ ra những giá trị văn hóađược thể hiện
Khảo sát các tín hiệu nghệ thuật, chỉ ra những nét đặc sắc trong việc biểuđạt văn hóa làng , từ đó khẳng định những nét riêng của nhà văn này trong việckhám phá văn hóa làng Phú Thọ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các giá trị văn hóa làng vùng trung du Phú Thọ và nghệ thuật biểuđạt văn hóa làng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các tập truyện ngắn gồm:
Tập “Chuyện Làng Gành” - NXB Hội VHNT Vĩnh Phú – 1973;
Tập “Phố làng” - NXB Quân đội nhân dân – 2006;
Tập “Gió thổi qua rừng” - NXB văn hóa dân tộc - 2007;
Tập truyện “Vui như hội” - NXB Quân đội Nhân dân – 2009;
Tập “Người quê” - NXB Quân đội nhân dân – 2015;
Tập “Sín Lủ” (in chung với Cầm Sơn) - NXB Hội nhà văn – 2014;Tuyển tập Nguyễn Hữu Nhàn - NXB Hội nhà văn – 2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá thực hiện luận văn chúng tôi đã thực hiện đồng bộ cácphương pháp sau:
5.1 Phương pháp tiếp cận văn hóa về văn học
Việc khám phá tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa sẽ giúp khámphá các giá trị văn học không chỉ ở hình tượng mà từ chiều sâu văn hóa củahình tượng Từ việc nghiên cứu khái niệm văn hóa, chỉ ra đặc trưng văn hóa,
Trang 13văn hóa làng, chúng tôi tiến hành khảo sát ngữ liệu theo các tiêu chí đã đượcxác định, tìm biểu hiện văn hóa làng trong truyện ngắn của Nguyễn Hữu Nhàn.
5.2 Phương pháp hệ thống
Nghiên cứu tác phẩm trong sự tương quan với các yếu tố trong mộtchỉnh thể nghệ thuật Nghiên cứu tác phẩm trong mối liên hệ với những tácphẩm trong cùng đề tài, giai đoạn sáng tác
5.3 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Phân tích tác phẩm văn học dưới góc độ thi pháp học Khám phá tácphẩm theo góc độ nghệ thuật biểu đạt, chia tách tác phẩm ở các phương diệnhình thức: Không gian, biểu tượng, cách xây dựng nhân vật, ngôn từ, giọngđiệu sẽ giúp cho việc nhìn tác phẩm trong tính chỉnh thể hữu có của nó
5.4 Phương pháp so sánh
So sánh trong tương quan cùng đề tài, cùng phương thức biểu đạt đểtìm ra sự khác biệt, nét đặc sắc riêng về đặc trưng văn hóa làng
5.5 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Kết hợp các kiến thức từ các lĩnh vực, các bộ môn, các chuyên ngành :
xã hội học, dân tộc học, tâm lí học… sẽ giúp cho vấn đề nghiên cứu được sâurộng, toàn diện và sâu sắc
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Văn hóa làng và tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Hữu Nhàn từgóc độ văn hóa
Chương 2: Các giá trị văn hóa tiêu biểu trong truyện ngắn của NguyễnHữu Nhàn
Chương 3: Nghệ thuật biểu đạt văn hóa làng trong truyện ngắn củaNguyễn Hữu Nhàn
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1: VĂN HÓA LÀNG VÀ TIẾP CẬN TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN HỮU NHÀN DƯỚI GÓC ĐỘ VĂN HÓA
1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm rộng, có nhiều định nghĩa khác nhau về vănhóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Chođến nay, theo thống kê của một số nhà nghiên cứu có hơn 164 định nghĩakhác nhau về văn hóa
Nhà nhân loại học người anh Edrward Bunrett Tylor (1832-1917) đãđịnh nghĩa: “Văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học làmột tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật đạo đức, luật pháp,phong tục, và bất cứ những khả năng tập quán nào mà con người thu nhậnđược với tư cách là một thành viên của xã hội”
Ở Việt Nam, thuật ngữ “văn hóa” là một từ Hán Việt có nguồn gốc từlâu đời “Văn” có nghĩa là cái đẹp, và “hóa” có nghĩa là thay đổi
Trong Tiếng việt, văn hóa được dùng chỉ học thức của một con người(trình độ văn hóa).Văn hóa có khi được hiểu là một lối sống, một tín ngưỡng,một phong tục …Theo nghĩa hẹp hơn thì văn hóa chỉ các hoạt động của conngười: văn hóa ăn, văn hóa mặc, văn hóa đi lại, văn hóa ứng xử…Theo nghĩachuyên biệtvăn hóa để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn Văn hóa là sảnphẩm do con người sáng tạo ra và tồn tại ngay trong đời sống của con người
Theo Từ điển Tiếng Việt "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần
do con người sáng tạo ra trong lịch sử" [42 ;1895]
Trong Từ điển tiếng Việt : “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Văn hóa
là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con
Trang 15người với môi trường tự nhiên xã hội”[41; 235] Văn hóa là sản phẩm của conngười; là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại của xã hội, trên các mặt vật chất,tinh thần, trí thức, tình cảm; do con người sáng tạo ra.
Trong cuốn Xã hội học Văn hóa tác giả cho rằng: “Văn hóa - vô sở bất
tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sángtạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có conngười nơi đó có văn hóa”[6; 96]
Trần Ngọc Thêm trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam cho rằng
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương
tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [37; 4].
Theo quan niệm của UNECO(1994): “Văn hóa có thể coi là tổng thểnhững nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tínhcách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồmnghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của conngười, những hệ thống và giá trị, tập tục và tín ngưỡng”
Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu văn hoá là tổng hợp các đặctrưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm, lối sống, nhữngquyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tínngưỡng, cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng… Văn hóa hình thànhtrong mối quan hệ giữa con người với con người, nó tạo nên diện mạo củamột xã hội Văn hóa thể hiện trình độ phát triển của một quốc gia một dân tộc.Dân tộc nào có nền văn hóa của dân tộc ấy.Văn hóa là sản phẩm do con ngườisáng tạo ra nhưng văn hóa tạo nên con người và góp phần duy trì trật tự và sựbền vững của xã hội
Trang 161.2 Văn hóa làng - Văn hóa làng Phú Thọ
1.2.1 Làng
Làng là một khái niệm trong hệ thống chính quyền trước đây, để chỉmột cấp hành chính Trong văn bản hành chính của của nhà nước phong kiếngọi làng là hương Dưới làng có thôn, giáp, nậu, sách, kẻ Làng là tên gọinôm, hương là tên chữ Đỗ Danh Huấn trong “Làng Việt – đối tượng nghiêncứu khu vực học”: “Làng ở Việt Nam được hiểu như một thực thể xã hội vớicấu trúc động của nó, được hợp chỉnh bởi nhiều thành tố như kinh tế, vănhóa, xã hội tôn giáo, tín ngưỡng và cảnh quan môi trường tự nhiên trong cácthành tố trên lại chứa nhiều thành tố nhỏ như: gia đình, dòng họ, phe, giáp,hương ước, tục lệ…”[10; 24]
Theo Từ điển Tiếng Việt, “làng là khối dân cư ở nông thôn làm thành
một đơn vị có đời sống riêng lẻ về nhiều mặt, là đơn vị hành chính thấp nhấttrong xã hội phong kiến” Làng Việt được hình thành từ rất sớm và trải qua quátrình phát triển lâu dài Từ thời kỳ tan rã của công xã thị tộc đến nay quá trìnhhình thành làng trải qua hơn 4000 năm Hiện nay mỗi làng bao gồm một số giađình sống quây quần trong một khu vực địa lý nhất định”.Làng là một hìnhthức phân chia khá đặc thù của nông thôn Việt Nam nhưng lại có một vai tròquan trọng trong việc kết nối giữa gia đình với nước, là một trong ba trụ cộtcủa hình thái làng xã: nhà – làng – nước Như vậy làng không đơn thuần chỉ là
sự phân chia theo khu vực hành chính mà còn là đợn vị văn hóa có những
có những đặc điểm riêng về phong tục lễ hội cúng tế, tập tục, về thiết chế cấutrúc của làng
Trước Cách mạng Tháng Tám, làng được tổ chức với những nguyên tắc sau:
Tổ chức theo lối huyết thống: Những người có chung huyết thống sống vớinhau tạo thành các gia tộc (dòng họ) Gia tộc trở thành cộng đồng gắn bó vớinhau sống quần tụ trong một khu vực gọi là làng Khi họ sống quần tụ chung
Trang 17như vậy sẽ tạo nên một khối đoàn kết đùm bọc, yêu thương nhau Người trongcùng một họ sẽ cưu mang nhau về vật chất, hỗ trợ về mặt tinh thần, dìu dắtnhau làm chỗ dựa cho nhau về chính trị
Tổ chức theo địa bàn cư trú: Những người sống chung trên một khu vực
ho cần đông người để liên kết với nhau, để đối phó với môi trường xã hội Họgánh vác cùng nhau công việc Do đặc thù chung của nghề nông nghiệp trồnglúa nước nên họ cần tổ chức làng theo địa bàn cư trú để chung sức tạo ra thứccủa cải chung và đảm bảo cho đời sống riêng của họ
Tổ chức theo nghề nghiệp: Là do một bộ phận cư dân sống bằng nghềkhác nhau, họ tụ tập lại cùng giúp đỡ nhau làm ra những sản phẩm để tự nuôisống mình Sự tụ tập các cư dân sống bằng nghề cúng trở thành một đơn vị cơ
sở có khi gọi là phường, cũng có khi gọi là làng “Đối với người Việt Nam,làng là nơi ý niệm sâu sắc và thiêng liêng, là nơi tượng trưng cho quê cha đất
tổ Làng là nơi ghi nhận những thành công và danh vọng của mỗi người Ngườixưa dù đi đâu ở đâu người vẫn tìm về làm như về cội ngưồn để được sống giữa
họ hàng làng mạc, để cuối cùng được chôn ở làng quê, bên cạnh tổ tiên củamình”[30; 168]
Làng là một đơn vị hành chính, có giới hạn địa vực, có môi trường vănhóa – tín ngưỡng xác định Là môi trường văn hóa bởi ở đó con người có đầy
đủ mọi yếu tố để tồn tại và phát triển Mỗi con người sống trong môi trườngvăn hóa của làng sẽ mang trong mình ý thức cộng đồng làng và rộng hơn làvùng miền, nước Ý thức đó tạo nên cái riêng của văn hóa từng làng, từng vùng
và cái chung của văn hóa dân tộc Vai trò của làng rất quan trọng, làng khôngchỉ là nơi sinh sống , là nơi diễn ra các hoạt động như lao động, sản xuất, làngcòn là nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa, là nơi gắn kết quan hệ dòng tộc xómgiềng Làng còn là nơi nảy sinh, gìn giữ tín ngưỡng, phong tục tập quán, truyềnthống đạo lý tốt đẹp của người Việt “làng xã có vị trí hết sức đặc biệt, làng là
Trang 18đơn vị cơ bản hình thành quốc gia dân tộc Nước (quốc gia) chỉ là tổng số là kếtquả của sự liên kết làng, xã Làng có vai trò gắn kết cá nhân – gia đình – làng
xã – Tổ quốc Làng là nhân tố giữ vai trò quyết định trong quá trình dựng nước
và giữ nước của dân tộc, còn làng thì còn nước” [29; 7]
1.2.2 Văn hóa làng
Khi nói về văn hóa làng, Vũ Thị Quyên cho rằng : “Văn hóa làng đượchiểu là tổng thể các biểu hiện và các giá trị văn hóa được thể hiện trong mộtnhóm người cùng chung một không gian cộng cư gọi là làng” [30; 54] Vănhóa làng được tạo nên bởi một cộng đồng cư dân có chung với nhau nhữngthần thành hoàng, cùng sinh sống trên một địa vực có với nhau những sắc tháivăn hóa riêng, một phong tục tập quán riêng
Còn Tạ Đình Hà trong bài Bảo tồn và phát huy văn hóa làng, xã Quảng
Bình “Văn hóa làng xã là một chỉnh thể thống nhất, bao gồm các di sản vănhóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể và môi trường sinh thái – nhân văn vàtoàn bộ hiện thực muôn màu muôn vẻ hoạt động sống của cộng đồng dân cưlàng xã”[13; 36]
Theo Nguyễn Quang Ngọc (Một số vấn đề về làng xã Việt Nam) văn
hóa làng là văn hóa lúa nước, hình thành và phát triển trên hai yếu tố cơ bản
là nghề trồng lúa nước Mang đặc điểm của văn hóa nông nghiệp nên về đờisống vật chất có các kỹ thuật nông nghiệp như (cấy hái, tưới tiêu ) các công
cụ sản xuất (rìu, cày bừa ) các loại cây trồng (bầu bí, trầu cau ) các loại thúnuôi (trâu, gà, lợn ); ăn thì cơm là chủ đạo, rau là thứ hai, cá là thứ ba: vớithức uống là rượu gạo; mặc các đồ thoáng mát (váy, yếm, khố) làm từ chấtliệu thực vật, cách ở có chọn hướng kỹ càng (hướng Nam)
Do đặc trưng của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, sống phụ thuộcnhiều vào các yếu tố tự nhiên nên con người hình thành lối tư duy tổng hợpbiện chứng, nặng về kinh nghiệm chủ quan, cảm tính.Chính lối tư duy này
Trang 19cùng với lối sống trọng tình trọng nghĩa đã tạo nên sự linh hoạt, tùy vào hoàncảnh mà có những sự thay đổi cho phù hợp Có thể thấy những đặc trưng củavăn hóa nông nghiệpđều được thể hiện rõ nét trong cách tổ chức đời sống,cách tư duy, các ứng xử của con người trong cuộc sống
Văn hóa làng là một bộ phận cơ bản tạo nên những yếu tố của kết cấuvăn hóa dân tộc Việt Nam Nói đến văn hóa Việt không thể không nói đếnvăn hóa làng Đó là toàn bộ cuộc sống văn hóa bao gồm cả văn hóa vật thể vàvăn hóa phi vật thể từ ăn ở, đi lại, với các phong tục tập quán trong sinh nở,cưới xin, yến lão, ma chay, cổ vũ việc học, tôn trọng người già, tương trợ lẫnnhau, họp làng, cúng tế, lễ hội, các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian đếncác thiết chế, cấu trúc của làng về quyền lợi nghĩa vụ, các quan niệm về thếgiới tâm linh, về xã hội trần tục
Nói chung , văn hóa làng được hiểu là tổng thể những nét đặc trưng tiêubiểu nhất của xã hội tất cả , những sản phẩm vật chất và tinh thần do người dântrong các làng xây dựng nên, lưu truyền cho đến ngày nay và còn có giá trị.Văn hóa làng biểu hiện ở lĩnh vực vật chất là trang phục, ẩm thực, nhà ở, cáccông trình (đình, chùa, miếu….) kiến trúc cộng đồng Văn hóa làng biểu hiện ởlĩnh vực tinh thần là tôn giáo, tín ngưỡng (thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoànglàng) phong tục tập quán (ngày tết, cơm mới…) hương ước lệ làng, nghệ thuậtdân gian, truyền thống đạo lý
Việt Nam là một đất nước có nhiều truyền thống văn hóa Bản sắc vănhóa Việt Nam biểu hiện rõ nét qua các giai đoạn lịch sử Giai đoạn mở đầucủa văn hóa dân tộc, thời kì Hùng Vương dựng nước mang sắc thái bản địa.Giai đoạn thứ hai văn hóa Việt Nam ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa Hán vớigần 1000 năm Bức thuộc, Đạo phật ảnh hưởng mạnh đến tư tưởng tôn giáongười Việt Giai đoạn thứ ba văn hóa Việt Nam phát triển rực rỡ dưới cáctriều đại phong kiến Lý, Trần, Lê, Nguyễn Giai đoạn thứ tư, văn hóa Việt
Trang 20Nam ảnh hưởng của văn hóa Phương Tây ở giai đoạn này ý thức tôn vinh dântộc mạnh mẽ.
Văn hóa làng hình thành và phát triển theo các giai đoạn lịch sử Ngay
từ khi bắt đầu hình thành văn hóa làng mang nhiều đặc trưng nhưng vẫn nổilên hai đặc trưng cơ bản là tính cộng đồng và tính tự trị Tính cộng đồng liênkết các thành viên trong làng với nhau, thành các gia tộc, những phường hội,những phe giáp mỗi người vì mọi người Mọi người trong làng sống với nhautheo quan điểm “Bầu ơi thương lấy bí cùng” hay “Lá lành đùm lá rách”; “Mộtmiếng khi đói bàng một gói khi no” hay “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” Họsẵng sàng giúp đỡ nhau, coi mọi người trong cộng đồng như anh em trongnhà Chính tính cộng đồng tạo nên người Việt có tính tập thể cao, hòa đồngvào cuộc sống chung, là ngọn nguồn tạo nên lối sống giàu tình nghĩa, đoànkết, hòa đồng dân chủ của những con người sống trong làng Tính cộng đồngbộc lộ trong các nguyên tắc tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú, theo nghềnghiệp, theo giáp Nói đến tính tính tự trị là nói đến tính độc lập của làng
“làng là một cộng đồng tự trị”, mỗi làng có địa vực rất rõ ràng, có mốc giới,
có lãnh thổ, có điếm canh, có cổng làng để phân biệt ranh giới từng làng Mỗilàng là một “vương quốc riêng” nhỏ khép kín với luật pháp riêng gọi là hươngước của làng Hương ước – những quy định chung của làng - lệ làng là sảnphẩm văn hóa được đúc kết từ trong đời sống của các cư dân nơi làng xã.Hương ước là một nét đẹp văn hóa của làng xã, có vai trò quan trọng trongđời sống của làng có thể coi như là cương lĩnh tinh thần, sợi dây kết nối các tổchức và thành viên trong làng Ngay từ thuở sơ khai, mỗi một nhóm cư dânnhỏ có những quy ước định sẵn, các quy ước này chi phối cách hành xử củamỗi con người sống trong cộng đồng làng Càng về sau những quy ước nàygắn kết mối quan hệ giữa con người với con người góp phần phát triển và gìngiữ văn hóa và sức sống của cộng đồng
Trang 21Tính tự trị nơi làng xã chính là chỉ một thiết chế hay một tổ chức xã hội
có một cách riêng trong quản lý các thành viên sống trong làng xã thành mộtkhối Mỗi làng có một cách tổ chức quản lý riêng Không có một cách quản lýnào dùng chung cho mọi làng xã Làng là một thực thể riêng biệt, trong làng cócác quy ước riêng ,độc lập nhất định Chính tính tự trị này một mặt tạo nên sự
cố kết chặt chẽ mà không một thế lực nào có thể phá vỡ, văn hóa làng sẽ không
bị các tổ chức văn hóa khác đồng nhất, nó giúp bảo lưu các giá trị văn hóatruyền thống Mặt khác, tính tự trị là nguồn gốc của thói xấu là thói ích kỷ, bèphái địa phương, cục bộ, làng nào biết làng ấy chỉ lo vun vén cho mình “Trốnglàng nào làng ấy đánh, Thánh làng nào làng ấy thờ”
Với những đặc trưng của văn hóa làng xã đã dẫn đến những đặc điểmtrong tính cách của con người Việt Nam: Đoàn kết tình nghĩa, cần cù tự lậpnhưng mặt nào đó nó cũng tạo nên tính dựa dẫm, ỉ nại, cào bằng, đố kị, tính tưhữu, ích kỉ, địa phương, cục bộ…
Văn hóa làng là văn hóa đặc trưng của người Việt, trong quá trình xâydựng và phát triển làng xã, nó biểu hiện vừa thống nhất vừa đa dạng phongphú Trong bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế thị trường ngày càng pháttriển, giao lưu quốc tế ngày càng mạnh mẽ, văn hóa làng cũng có những tậptục quan niệm trở nên lỗi thời nhưng nhìn chung nó vẫn còn lưu giữ nhữnggiá trị văn hóa truyền thống đẹp đẽ Chính văn hóa làng tạo nên sức sống bền
bỉ mãnh liệt của dân tộc Việt trong suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữnước, văn hóa làng là cốt lõi hình thành nên bản sắc văn hóa Việt Nam
1.2.3 Văn hóa làng ở Phú Thọ
Phú Thọ là vùng đất tổ cội nguồn của dân tộc Việt Nam, là nơi ra đờicủa nhà nước Văn Lang - quốc gia đầu tiên của Việt Nam Là nơi có nhiềudanh lam thắng cảnhđẹp, có lễ hội Đền Hùng nổi tiếng khắp cả nước Vùngđất miền sơn cước đất rộng người thưa có nhiều đầm hồ, sông ngòi, nhiều
Trang 22thủy sản, rừng nguyên sinh lâm sản phong phú đã tạo nhiều điều kiện thuậnlợi cho cuộc sống của con người nơi đây Song mảnh đất Phú Thọ không phải
là không có những khó khăn, với đặc trưng của vùng đất thuần nông nghiệp,con người sống phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên nên cuộc sống cònnhiều khó khăn
Nói về văn hóa làng ở Phú Thọ là nói đến làng của cư dân nông nghiệp.Trước đây làng được hình thành trên cơ sở của những người có chung huyếtthống hoặc có liên quan đến huyết thống Những về sau do sự mở rộng địabàn cư trú để phù hợp với điều kiện canh tác, sản xuất, số lượng người đôngdần lên, làng không chỉ còn của một dòng họ nữa mà phát triển thành nhiềudòng họ cùng sinh sống trong một làng Khi đó làng được chia theo đơn vịhành chính Trước đây làng ở Phú Thọ được gọi là Kẻ, nên nói về làng ở Phúthọ mới có những cái tên như Kẻ Mơ, Kẻ Máy, Kẻ Rền, Kẻ Dài, Kẻ Chen.Làng được chia thành các Giáp Giáp là đơn vị gọi theo cách tổ chức của namgiới, “Giáp quản lý 3 hạng người: Tỉ ấu là trẻ con đến 18 tuổi Tráng đinhgồm những người từ 18 tuổi trở lên là lực lượng chính có trách nhiệm vớinước với làng như đi tuần phiên, phục vụ lễ hội làng, phục vụ ma chay, đi phuphen tạp dịch, đi lính, đóng sưu thuế Hạng lão gồm những người từ 50 tuổitrở lên Lúc đầu Giáp được chia theo họ, mỗi họ là một giáp Về sau làngngười đông dần lên, người các họ ở xen kẽ, giáp lại thành một thiết chế trong
tổ chức làng xã truyền thống nên có sự trộn lẫn người của các họ”[29; 78]
Xét về cơ cấu tổ chức làng xã, cao nhất phải kể đến hội đồng kỳ mục.Hội đồng kì mục có vai trò to lớn đó là quyết định mọi việc trong làng Tiếpđến là Tiên chỉ và Thứ chỉ, những người có phẩm chất cao nhất ở làng “Saunày các làng còn có hội đồng Tộc biểu (đại biểu của các dòng họ) Mỗi họ cửmột hoặc một số người có của, có thế lực ở trong dòng họ họ vào hội đồngTộc biểu để khởi thảo bàn bạc việc làng, trình lên để hội đồng kỳ mục phê
Trang 23chuẩn thành nghị quyết chung”[29; 80] Trong làng chia ra thành các phường,các hội , việc chia theo các phường hội thuận lợi cho sinh hoạt, tổ chức sảnxuất.Các thành viên sống trong cộng đồng của các phường, hội cũng nhờ đó
mà gắn kết với nhau hơn, gắn bó hơn với quê hương làng xã của mình
Văn hóa làng ở Phú Thọ mang những đặc điểm chung của văn hóa làngquê trên cả nước song cũng mang bản sắc riêng của vùng núi trung du,vùngđồi Từ cơ cấu tổ chức làng xã, những phong tục, tập quán tín ngưỡng đếncách ứng xử, lối sống, tâm lý,điều đó đã tạo nên bản sắc văn hóa của PhúThọ
1.3 Tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Hữu Nhàn ở góc độ văn hóa
1.3.1 Vài nét về tác giả Nguyễn Hữu Nhàn
Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn quê ở Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh PhúThọ Hiện nay ông đang bước vào tuổi 70, nhưng với một trái tim đôn hậu,một tâm hồn sâu sắc, niềm say mê văn chương không vơi cạn khiến ông vẫnliên tục sáng tác
Ngay từ thuở nhỏ, những sáng tác của Gorki, Nguyên Hồng, Ngô Tất
Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao đã có sức hút mãnh liệt khiến ông giànhphần lớn thời gian để đọc Năm 20 tuổi (1958), ông rời quê đi làm công nhân ởCông ty vận tải đường thủy Phú Thọ Khi nhà nước mở công trường xây dựngthành phố công nghiệp Việt Trì (1962) ông chuyển về Ban kiến thiết của thànhphố Đơn vị ông làm có trụ sở ở Hà Nội Khi Ban này hoàn thành nhiệm vụchuyển về Hà Nội, ông xin ở lại.Sau khi học ở trường Bồi dưỡng những ngườiviết văn trẻ ông về Sở văn hóa tỉnh Vĩnh Phúc sau đó chuyển về Hội văn nghệdân gian rồi Ban vận động thành lập Hội văn nghệ tỉnh Vĩnh Phúc
Năm 1984, ông chuyển hẳn về nhà xuất bản của tỉnh, từ đây ông viếtvăn Ông say mê với công việc viết văn của mình và vô tình trở thành mộtnhà văn chuyên nghiệp Hiện nay công việc chính của ông là biên tập văn
Trang 24xuôi của Tạp chí văn nghệ đất Tổ, là Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn họcnghệ thuật tỉnh Phú Thọ Ông sáng tác nhiều thể loại: Tiểu thuyết, Truyệnngắn, kịch bản văn học Những truyện ngắn của ông phải kể đến như:Chuyện làng Giành, Truyện kể trong làng ; Phố làng , Người quê ; Tết ở BảnDèo; Gió thổi qua rừng ; Vui như hội Tiểu thuyết có: Dốc nắng; Làng Cói
Hạ ; Chớm nắng ; Rừng cười
Ông còn viết rất nhiều kịch bản và tác phẩm văn học, các tác phẩm củaông được chuyển thể thành kịch bản phim đã chiếu trên Đài Truyền hìnhViệt Nam: Người đọc không thể nào quên với Gió thổi qua rừng, ấn tượng vớiTết sớm ; cảm động trước những câu chuyện về người dân quê qua các phimLàng Một, Người quê ; và được sống trong không khí của Phố làng, Chớmnắng ; Đám cưới làng
Ông giành nhiều tâm huyết của mình vào việc nghiên cứu sưu tầm vănhóa làng xã Đi đến đâu ông viết đến đó, tìm ra nét đặc sắc văn hóa của mỗilàng Nghiên cứu văn hóa làng Vĩnh Phúc; Nghiên cứu tục múa mỡi củangười Mường; Nghiên cứu văn hóa làng Phú Thọ Nghiên cứu mối liên hệ vănhóa Việt Mường; Nghiên cứu văn hóa người Dao ở Phú Thọ; Nghiên cứu hiệntượng thơ Bút Tre; Nghiên cứu về nền văn nghệ kháng chiến chống Pháp ởPhú Thọ Chính vì tâm huyết này mà Chủ tịch lâu năm của Hội Nhà văn ViệtNam quý trọng và tin tưởng ông
Đi nhiều, tích lũy được nhiều tư liệu, viết được nhiều tác phẩm hay,Nguyễn Hữu Nhàn là một nhà văn tiêu biểu của làng văn trên quê hương Đất
Tổ Ông là người sống giản dị, trung thực, thẳng thắn nên được nhiều ngườitrân trọng quý mến Ông sống độ lượng, bao dung và giàu lòng nhân ái Vớitình yêu thì nồng nàn cháy bỏng, dám hy sinh cả công danh sự nghiệp để giữtrọn tình với người mình yêu Với bạn bè thì nhiệt tình, tận tâm giúp đỡ Dođiều kiện và hoàn cảnh nên Nguyễn Hữu Nhàn vừa làm, vừa học Ông luôn ý
Trang 25thức học thầy, học bạn, học qua sách vở, đi nhiều để tích lũy kinh nghiệm.Ông nghĩ phải thật gắn bó gần gũi với đời thường để tìm ra khuôn nhân vậtthật Chính với phương châm ấy giúp ông có một vốn tư liệu để viết về nôngthôn và người nông dân Ông am hiểu sâu sắc về văn hóa làng biến văn hóalàng đã trở thành đối tượng quan tâm và miêu tả trong hầu hết các truyện ngắncủa ông Chiều sâu của những sáng tạo là ở sự khắc họa thành công gươngmặt thời ông sống: Gương mặt của thời đại mà người nông dân là nhân vậttrung tâm Viết về nông dân, viết về nông nghiệp, nông thôn với chủ đích xoáysâu vào các vỉa tầng văn hóa và đưa tới cho người đọc nhận thức mới, giá trị mới
về văn hóa Chính vì thế mà nhà báo Xuân Thu gọi ông “Nhà văn của làng”
-“Một người giàu có trên cánh đồng văn hóa”
1.3.2 Tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Hữu Nhàn từ góc độ văn hóa
Văn hóa và văn học có mối quan hệ mật thiết chặt chẽ với nhau Vănhóa tác động đến văn học không chỉ ở đề tài mà còn tác động đến toàn bộ hoạtđộng sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của bạn đọc Lê Nguyên
Cẩn trong Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa đã khẳng định: “Nếu coi văn
hóa là toàn bộ các gía trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trongsuốt quá trình lịch sử nhằm tạo dựng diện mạo cho riêng nó, nhằm tạo dựngbản sắc văn hóa cho riêng mình thì tác phẩm văn hóa là một trong những giá
trị sáng tạo đó”[3 ;13] Qua một tác phẩm văn học, người đọc có thể nhận ra
những biểu hiện văn hóa của tộc người, một đất nước Văn học xuất phát từvăn hóa biểu hiện các mặt của đời sống đồng thời nó cũng làm chất liệu tácđộng các khía cạnh nghệ thuật của tác phẩm Điều đó đặt ra yêu cầu đối với
người đọc, người nghiên cứu tác phẩm văn học“cần phải gắn bó chặt chẽ với
lịch sử văn hóa Không thể hiểu nó ngoài cái bối cảnh nguyên vẹn của toàn bộvăn hóa một thời đại trong đó tồn tại không được tách nó khỏi bộ phận kháccủa văn hóa”[21; 318] (M Bathtin, Mỹ học với sáng tạo ngôn từ)
Trang 26Tìm hiểu văn hóa trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn là
đi tìm hiểu những biểu hiện nổi bật về văn hóa, đặc biệt văn hóa làng quêvùng đất Tổ qua những giá trị văn hóa về phong tục tập quán, lễ hội, tínngưỡng, tổ chức xã hội, truyền thống ở biểu tượng văn hóa được hình thànhmang ý nghĩa nghệ thuật, cách xây dựng hình tượng nhân vật, ngôn ngữ,giọng điệu của tác phẩm Luận văn sẽ tiến hành tìm hiểu những giá trị nổi bậtcủa văn hóa làng, những biểu hiện của văn hóa làng trong truyện ngắn củaNguyễn Hữu Nhàn ở những chương sau
Trang 27Tiểu kết chương 1
Văn hóa làng là một phần cơ bản của văn hóa Việt Nam, là nền tảng củađời sống tinh thần xã hội, văn hóa làng đóng góp vào sự phát triển của văn hóadân tộc.Văn hóa làng có một vai trò quan trọng, nó góp phần trong việc bảotồn, giữ gìn bản sắc, nuôi dưỡng và tạo nên sự bền vững của văn hóa dân tộc Phú Thọ là mảnh đất giàu có về văn hóa, là nơi bảo lưu những giá trị củavăn hóa làng Văn hóa làng của Phú Thọ có nét riêng so với văn hóa của nhữngvùng quê khác Tìm hiểu văn hóa làng của Phú Thọ - vùng đất trung du giúpcho người đọc khám phá về mảnh đất cội nguồn của dân tộc, thấy được nét đẹptrong phong tục, tín ngưỡng của các tộc người sống trên mảnh đất này từ đóthêm yêu, gắn bó, tự hào về mảnh đất quê hương
Văn học là một bộ phận của văn hóa, sáng tác văn học không chỉ là sự môphỏng hay sao chép hiện thực của đời sống mà còn cần hình thành thị hiếuthẩm mỹ của sáng tác văn học ấy Với hơn 30 năm sống và viết Nguyễn HữuNhàn thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa làng quê trung du đất Tổ Trongsáng tác của ông, đặc biệt ở thể loại truyện ngắn, những nét văn hóa được bộc
lộ khá rõ nét Qua cách miêu tả của nhà văn, người đọc thêm trân trọngnhững giá trị trong sáng tác của một tác giả văn học nói riêng và góp phầnvào giữ gìn phát huy bản sắc dân tộc nói chung
Trang 28CHƯƠNG 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN HỮU NHÀN 2.1 Vài nét về văn hóa Phú Thọ - Văn hóa làng trung du Phú Thọ
Phú Thọ là một tỉnh thuộc trung du miền nuí phiá Bắc, từ 20055 đến
21043 vĩ độ Bắc và từ 104048 đến 105027 kinh độ Ðông Phú Thọ có địahình đa dạng, từ vùng núi cao quanh năm mây phủ, miền đồi gò san sát nhưbát úp xanh thắm nương chè, rì rào tán cọ đến vùng đồng bằng châu thổ phìnhiêu màu mỡ với đồng lúa xanh rờn thẳng cánh cò bay, ngô xanh rờn đấtbãi Phú Thọ là vùng đất cổ, cái nôi của nền văn hóa Lạc Việt, trung tâmsinh tụ của người Việt Cổ thời các Vua Hùng dựng nước Văn Lang Mảnh đấtnày trải mấy ngàn năm lịch sử còn tồn tại và lưu giữ rất nhiều giá trị thiênnhiên và nhân văn vô cùng phong phú Mảnh đất nơi đây gắn liền với huyềnthoại về dòng giống Tiên Rồng của dân tộc Việt Nam cũng như lịch sử dựng
và giữ nước của 18 đời vua Hùng - triều đại đầu tiên trong lịch sử Việt Nam
Phú Thọ là nơi hội tụ của 21 dân tộc, ngoài hai thành phần dân cư chủyếu là người Việt và người Mường, Phú Thọ còn có thành phần dấn tộc khácnhư dân tộc Dao, dân tộc Cao Lan Tuy số lượng ít nhưng họ sống hòa nhậpvào cộng đồng dân tộc Phú Thọ Mỗi một dân tộc có nét văn hóa riêng, sự đanxen văn hóa của các tộc người sống trên địa bàn đã tạo nên sự phong phú đadạng trong đời sống của cư dân vùng Đất Tổ Các giá trị văn hóa tinh thầnđược lưu truyền từ đời này sang đời khác đã trở thành những di sản quý gíagóp phần làm cho văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam trở nên đa sắc
Phú Thọ có một hệ thống lễ hội dày đặc mang đậm bản sắc dân tộc,mỗi một lễ hội lại có nét riêng rất độc đáo và đặc sắc Các lễ hội chính có:Hội đền Hùng, Hội đền Mẹ Âu Cơ, Gia Thanh, Hội Đào Xá, Hội đình Cả,Hội Chu Hóa, Hội chọi trâu Phù Ninh, Hội mở cửa rừng, Hội đánh cá, Lễ Cầutháng Giêng, Hội phết Hiền Quan, hội rước voi Đào Xá, hội bơi chải Bạch
Trang 29Hạc, Hội hát xoan hát ghẹo ở Kim Đức Hội rước chúa Gái Hy Cương HộiTrò Trám ở Tứ Xã, Hội cồng chiêng, ném còn của dân tộc Mường Trong đó
có nhiều lễ hội mà tầm ảnh hưởng lan tỏa cả một vùng rộng lớn như lễ hộiĐền Hùng mang tính cả nước được kết tinh từ nét đẹp các hội làng của vùngĐất Tổ Hội được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm Vàodịp lễ hội, nhân dân cả nước nô nức tổ chức cuộc hành hương về cội nguồn đểthắp nén tâm hương tưởng nhớ các vị vua Hùng đã có công dựng nước Đây
là lễ hội thể hiện đầy đủ nhất về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” củadân tộc Việt Nam cũng là lễ hội thể hiện nét văn hóa tinh thần và tín ngưỡngđộc đáo: Thờ cúng ông bà tổ tiên của dân tộc Việt
Phú Thọ có một hệ thống di tích lịch sử với đình, chùa, đền miếu và các
di chỉ khảo cổ học Bên cạnh những giá trị văn hóa vật chất, Phú Thọ còn cónhững giá trị văn hóa phi vật thể đặc sắc: Xoan, Ghẹo, trống quân, Trìnhnghề, Chàm thau, Ví ống, đâm đuống múa Mỡi, múa chuông Trong đó hátxoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được UNESCO công nhận vănhóa phi vật thể của nhân loại
Là mảnh đất miền núi, Phú Thọ cũng có những đặc điểm văn hóa giốngvới văn hóa của các vùng miền khác nhưng lại có những nét riêng về văn hóa
mà chỉ khi đến với Phú Thọ người ta mới thấy được những nét văn hóa vôcùng phong phú của người dân nơi đây.Phú Thọ với nhiều làng Việt cổ nơibảo lưu nhiều dấu tích văn hóa cổ xưa, cuộc sống của những cư dân sống ởđây do phải chống trọi với những khắc nghiệt của thiên nhiên nền kinh tế của
họ là tự cung tự cấp, sống phụ thuộc vào thiên nhiên Họ sống nghèo khổ, lam
lũ nhưng lại sống gắn bó với đồng ruộng làng quê mình Cũng chính từ hoàncảnh sống khó khăn đã tạo nên nét tính cách của con người Phú Thọ là luôn dựtính lo toan, sống trách nhiệm, sống cộng đồng, coi trọng tình làng nghĩa xóm
Trang 30Sinh ra và lớn lên gắn bó với mảnh đất cội nguồn của dân tộc, Nguyễn HữuNhàn am hiểu các làng quê và văn hóa làng của các nhất là vùng dân tộc thiểu
số Trong các sáng tác của ông, văn hóa của các tộc người Dao, Mường sốngtrên địa bàn được thể hiện ở những góc cạnh trong cuộc sống sinh hoạt đờithường , khác hẳn với nét văn hóa của những tộc người mường Dao sống trêncác địa bàn tỉnh khác Chính những nét văn hóa ấy, người đọc nhận ra nét đặcsắc riêng về văn hóa của những tộc người sống trên địa bàn, thêm yêu nhữngnét đẹp mang bản sắc trong văn hóa của người và đất Phú Thọ
2.2 Những giá trị văn hóa trong truyện ngắn của Nguyễn Hữu Nhàn
Dựa trên đối tượng nghiên cứu và khả năng phản ánh, chúng tôi lựachọn 2 giá trị cơ bản nhất để khẳng định giá trị văn hóa trong truyện ngắn củanhà văn này
2.2.1 Đề cao những giá trị văn hóa làng quê vùng trung du Đất Tổ
2.2.1.1 Phong tục tập quán
Phong tục được hiểu là toàn bộ hoạt động sống của con người trong quátrình lịch sử và ổn định thành nền nếp, được công nhận, thừa nhận, tự giácthực hiện và được lưu truyền từ đời này sang đời khác, tạo nên tính tương đốithống nhất của cộng đồng Phong tục không mang tính bắt buộc như nghi lễ,nghi thức tuy nhiên nó không tùy tiện nhất thời như hoạt động thường ngày,
nó trở thành tập quán xã hội tương đối bền vững Phong tục có thể ở một dântộc, địa phương, tầng lớp xã hội hay một dòng họ, gia tộc Phong tục là một
bộ phận văn hóa có thể chia thành nhiều loại: phong tục về sinh đẻ, trưởngthành, cưới xin, mừng thọ, lên lão, ma chay
Tập quán được hiểu là những thói quen hình thành từ lâu trở thành nếpsống trong một cộng đồng và được mọi người công nhận làm theo Mỗi vùngquê thì có phong tục tập quán của vùng quê mình Còn tín ngưỡng được hiểu
Trang 31là con người có một niềm tin vào một thế giới tâm linh nào đó như: Tínngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ mẫu Con người dùng tín ngưỡng đểgửi gắm tâm linh.
Mang đặc trưng của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước nên đặc trưngvăn hóa của người Việt mang những đặc trưng của dân nông nghiệp Sinh ra
và lớn lên gắn bó với đồng ruộng nên mỗi người dân quê sống đều gắn bó,tình làng nghĩa xóm vì thế mà trở nên bền vững Họ sống vì nhau, làng trênxóm dưới,những nền nếp thói quen đã trở thành thói quen, lưu truyền từ đờinày sang đời khác Trong đời sống của nhiều dân quê những phong tục tậpquán ăn sâu bám rễ trong tiềm thức, có sức mạnh trở thành những luật tục khó
có thể phá vỡ hay thay đổi
Trong văn học Việt Nam, những nhà văn viết hay,viết nhiều về phongtục tập quán, tín ngưỡng vùng nông thôn phải kể đến Ngô Tất Tố, NguyễnTuân, Kim Lân, Tô Hoài Mỗi nhà văn nhìn ngắm phong tục ở những khíacạnh khác nhau Nếu như Ngô Tất Tố lớn tiếng tố khổ những tệ hậu của bọnđịa chủ gieo rắc ở nông thôn thì Kim Lân thông thạo với những phong tục gắn
bó với những thú chơi tao nhà ở vùng miền quê Nguyễn Tuân cảm nhậnphong tục ở những con người tài hoa, tài tử nay còn vang bóng, Tô Hoài cảmnhận phong tục dựa trên phương diện đời thường Còn với Nguyễn Hữu Nhànkhi viết về phong tục tập quán của cư dân Phú Thọ ông lại gắn với các sinhhoạt trong cộng đồng Ông đặc biệt chú ý đến các phong tục đậm dấu ấn dântộc của người dân tộc thiểu số: Người Mường, người Dao sống trên mảnh đấttrung du Phú Thọ Ông không đi sâu vào miêu tả cụ thể chi tiết của hoạt động
mà qua những phong tục, tập quán, tín ngưỡng được nhà văn miêu tả khá chitiết và hấp dẫn trong các tác phẩm của mình, ông đã dựng lên một mảng màuvăn hóa trong bức tranh phong tục về vùng đất “lắm cọ nhiều sim”
Trang 32Viết về người Mường ở Phú Thọ, nhà văn tập trung miêu tả phong tục tậpquán với những nét độc đáo riêng Người Mường ở Phú Thọ hiện nay sống tậptrung ở ba huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập Họ sinh sống ở những chânnúi, phương thức sản xuất của họ thuần sản xuất nông nghiệp, canh tác lúanước, sản xuất nhỏ theo kiểu tự túc, tự cấp Người Mường làm ruộng từ lâu đờinhưng có phát triển kinh tế cải thiện đời sống bằng khai thác lâm thổ sản nhưnấm hương, mộc nhĩ, quế, mật ong, gỗ, tre, nứa, mây, song Nghề thủ công tiêubiểu của người Mường là dệt vải, đan lát, ươm tơ.
Người Mường ở chủ yếu là nhà sàn, đó là nơi diễn ra cuộc sống sinhhoạt hàng ngày cũng là nơi diễn ra các nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo trong mỗigia đình của người Mường Nét văn hóa này của người Mường được thể hiệnqua truyện “ Mừng thọ” Ông miêu tả nhà ở của người Mường thông qua hoạtđộng của một buổi mừng thọ của ông Hà Văn Thổ lên tuổi 85 “Có anh contrai làm thứ Trưởng nên đám khao thọ được mở lớn linh đình tại xóm Mu quênhà” Nhà văn không miêu tả chi tiết, nhưng qua cách gọi tên, cách bố trí từnggian của ngôi nhà, người ta nhận ra ý nghĩa của những tập tục sinh hoạt củangười Mường Phải là người am hiểu sâu sắc tâm lý, quan niệm của ngườiMường nhà văn mới có thể mô tả đúng những đặc điểm nhà của ngườiMường từ vị trí đặt nhà, cách bố trí nền nhà, cách bài trí sử dụng trong nhà.Người Mường do quan niệm có gốc mới có ngọn nên người Mường lấy gianđầu cầu thang lên làm gian gốc, gọi là gian thờ, là nơi diễn ra những tế lễ linhthiêng của gia đình nên dù là những người có chức tước Thứ, Bộ trưởng đến
Bí thư, Chủ tịch các tỉnh bạn của con trai cụ Thổ khi đổ xuống đều khôngđược ngồi gian gốc Cửa chính được bố trí ở gian đầu nhà, cửa ra vào là phíadưới thì người Mường lại lấy phía của sổ, cửa voóng làm phía trên Với cách
bố trí như vậy nên khách vào nhà cứ tùy tuổi tác, vai vế mà lần lượt mời ngồi
từ trên xuống dưới “Trên là phía cửa voóng (cửa sổ) phía có bàn thờ Còn lại
Trang 33khách họ mạc dân làng hoặc khách Trung ương địa phương ngồi ở mấy gianbên và các dãy bàn kê dưới thướng(gầm sàn) trong chớp căng bạt ở trướcnhà” [22; 225] Trong nhà cột cái gian gốc ở nhà sàn Mường có tên là cột chồ.Người Mường rất coi trọng cột chồ nhà, cột chồ là trụ cột của ngôi nhà nênkhi dựng nhà thì phải dựng cột chồ đầu tiên Bán nhà cũng không được báncột chồ Hiểu được nét văn hóa này thư ký Hoàn dù đã năm mươi tuổi vẫnphải run rẩy lễ phép thưa nhắc cô vợ hai của thứ trưởng tên Ngọc Ánh khôngđược ngồi gian gốc, không được dựa lưng vào cột chồ
Đối với người Mường ngôi nhà có vai trò vô cùng quan trong trong đờisống tinh thần của họ Việc chia thành các gian và mỗi gian được chia theomột nguyên tắc và có một ý nghĩa nhất định thể hiện nét đặc biệt trong vănhóa của dân tộc Mường Ngôi nhà không chỉ là một tài sản lớn của ngườiMường mà còn là nơi để họ tâm tình chia sẻ trong cuộc sống thường ngày, lànơi để họ hướng về tổ tiên, cội nguồn của mình Với đặc điểm kiến trúc độcđáo, nhà sàn được coi là một minh chứng rõ nét nhất về những phong tục tậpquán đẹp đẽ của người Mường
Đời sống tâm linh của người Mường Phú Thọ có những nét độc đáo.Trong tang ma, nghi lễ của người Mường là một trong những nghi lễ đậm đặcvới nhiều tập tục cổ truyền, thể hiện rõ nét bản sắc về văn hóa.Đọc truyện
Ràn rạt rừng cười, người đọc nhận thấy đằng sau cái tưởng trừng như hủ tục
trong việc chôn người chết lại là quan niệm, tập tục của người Mường:“Thihài người chết được bó chiếu để ra góc vườn Người ta đặt xác chết lên ki nứa
có hai đòn hóp dài cho bốn người khiêng”[26; 173] Người Mường quan niệm
nếu chôn người chết bằng quan tài, người chết tối mắt không nhớ đường vềĐất Tổ Dương Châu nên chỉ chôn bó chiếu Kiêng đào huyệt bằng cuốcthuổng sắt Khi con cháu đủ lợn đủ gạo, đồng bào mới làm ma khô cho ngườichết và cúng người chết ở một khu mộ giả có hình nhân thay cho xác người
Trang 34Đám ma được tổ chức với những nghi lễ hết sức độc đáo Chủ lễ là thầy cả
có nhiệm vụ đọc sách cúng Đám ma sử dụng mọi nhạc cụ như: Trống, nhị,sập sèng, sáo, tù, dân làng cúng bái múa hát thâu đêm Họ đứng thành nhữngvòng tròn nhảy múa theo nhạc đến tận nửa đêm rồi cùng nhau uống rượu ănvới thịt chua
Tang lễ của người Mường là một trong những nghi lễ tôn giáo đậm đặcvới nhiều tập tục cổ truyền, yếu tố tâm linh thể hiện rất rõ nét qua các nghi lễ,Nhìn vào những nghi thức được tổ chức, người đọc thấy được những quanniệm về vũ trụ, nhân sinh, về cõi sống, cõi chết Người Mường quan niệm,chết không phải là hết, là kết thúc, mà là sự thay đổi môi trường sống của conngười từ "Mường người" sang "Mường ma" Khi còn sống ở “Mường người”đạo lý là hành động cư xử tốt đẹp, là sự chăm sóc tận tình với nhau, đến khichết đạo lý ấy biến thành trách nhiệm và bổn phận của người sống đối vớingười chết “nghĩa tử là nghĩa tận” Đối với người Mường, sự mất mát về conngười là nỗi mất mát chung, nên thường khi trong làng có một người qua đời,các gia đình trong làng không phân biệt sang hèn đều mang đến cho tang giamột xuất gạo, gà, rượu và muối để cùng lo tang lễ
Do đặc điểm di cư, những thay đổi về môi trường người Mường ở PhúThọ phần lớn sống tập trung thành xóm nhỏ ngay dưới những thung, chân núi.Văn hóa Mường của Phú Thọ khác với văn hóa Mường ở các vùng Hòa Bình,Sơn La, Thanh Hóa
Không chỉ thể hiện những nét văn hóa của người Mường, các truyệncủa Nguyễn Hữu Nhàn cũng đi vào thể hiện những nét văn hóa phong tục củangười Dao sống trên địa bàn
Người Dao vốn xuất xứ ở các tỉnh Hồ nam, Quảng Đông, Quảng Tây củaTrung Quốc thiên di vào Việt Nam Họ đi theo đường biển Móng Cái (QuảngNinh) hoặc đường bộ từ Trung Quốc vào Việt Nam Trong số nhóm người
Trang 35sang Việt Nam, trên đường di cư, các nhóm đã tiếp thêm những yếu tố vănhóa của các tộc người khác, đồng thời những yếu tố văn hóa mới cũng đượcnảy sinh mà hình thành những nét tính cách riêng, những tên gọi khác nhau.
Ở Phú Thọ, dân tộc Dao chỉ có người Dao Tiền và Dao Quần Chẹt(Dao Nga Hoàng) sinh sống tập trung thành xóm, bản ở 3 huyện Thanh Sơn,Tân Sơn và Yên Lập “Người Dao Tiền cư trú ở những xã của huyện ThanhSơn: Xã Xuân Sơn, Vinh Tiền, Tân Lập, Thượng Cửu, Kim Thượng, Đồng Sơn,Thạch Kiệt, Yên Sơn, Xuân Đài… Người Dao Quần Chẹt có tên là Mán SơnĐầu, Đại Bản hay Dột Kùn Họ cư trú tập trung chủ yếu ở một số xã thuộchuyện Yên Lập: Xã Nga Hoàng, Xuân Thủy, Trung Sơn, Cự Thắng, ThượngLong, Mỹ Lương… và các xã thuộc huyện Thanh Sơn: Xã Võ Miếu, CựThắng, Địch Quả, Thu Cúc, Hương Cần”[27; 184]
Người Dao cũng như nhiều dân tộc khác sống du canh du cư, trồng lúanương trên núi Phong tục tập quán người Dao của Phú Thọ có nét chung vềvăn hóa như những người Dao ở những vùng miền khác nhưng lại có nhữngnét riêng trong đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng, phong tục tập quán
Người Dao ở Phú Thọ có chung tín ngưỡng cúng Bàn Vương - ông Tổ(tô tem) của người Dao Tín ngưỡng cúng Bàn Vương là một sinh hoạt vănhóa lớn của người Dao Dù truyền thuyết về Bàn vương có tính chất hoangđường, nhưng thờ cúng Bàn Vương lại giúp cho con người ngưỡng vọng về tổtiên ông bà cha mẹ
Ngoài việc thờ cúng tổ tiên, người Dao còn thờ cúng các thần núi, thầnrừng nơi người Dao quần cư sinh sống, làm ăn Đáng chú ý là một số nhómngười Dao ở Phú Thọ, ngoài việc thờ các vị thần: Thần trời, thần đất, thầnsấm, thần sét, các quan dù, quan lớp, quan lang, quan giáp (quen thấy ở một
số ngôi miếu dựng sơ sài bằng tre nứa ở các xóm Dao) đồng bào Dao còn cócác bài cúng các vua Hùng, ông Tổ của dân tộc Việt Nam, cúng Đức vua Lê
Trang 36Thái Tổ, người có công che chở, cưu mang đồng bào Dao lúc ở Trung Quốcmới sang Việt Nam lánh nạn (theo truyền thuyết của đồng bào Dao).
Trong tang ma, người Dao rất coi trọng phần hồn của con người, xácchết thì tiêu đi nhưng hồn còn mãi mãi, người Dao cho rằng việc sống ở trên
đời là "gửi", khi chết là lúc linh hồn của con người thanh thản lên cõi Dương
Châu (cõi thiên đàng của người Dao) Đám tang của người Dao chia làm 2 loại:
Ma tươi và ma khô Người Dao vẫn giữ tục chôn một lần, không cải táng
Người Dao có lối sống du canh du cư, nên họ quan niệm linh hồn conngười phải gắn với núi rừng Do vậy, khi có người chết họ bỏ xác người chết
ra vườn rồi nhờ người đem ra rừng Họ quan niệm khi khiêng người chết đimột đường còn khi về đi đường khác sẽ phòng việc ma đánh, ma quấy nhiễu.Những gia đình có người chết đắp mộ giả ở một nơi khác rồi làm ma chongười chết Những gia đình có của, có điều kiện họ thực hiện nghi lễ cúng tếngười chết khi người chết vừa mới qua đời (nghi lễ ma tươi) Còn những giađình không có điều kiện thì phải chờ khi có đủ gạo lợn, thịt chua mới làm macho người chết(nghi lễ ma khô)
Nghi lễ Lập Tĩnh - lễ đặt tên thánh sư (tên âm) là một nét văn hóa nổibật của người Dao tiền ở Phú Thọ Theo quan niệm của người Dao, phải saukhi làm Lễ lập tĩnh, người con trai đó mới gia nhập ma vào dòng họ Danhtính của người Lập tĩnh do cha mẹ đặt tên từ khi mới sinh ra, nhưng phải qua
Lễ lập tĩnh, hay còn gọi là "Lễ cấp sắc" này mới được ông thầy cúng đặt cho
cái tên (ma) để báo cáo với tổ tiên, thần thánh, thiên đàng công nhận tên đócủa mình Tuy là sinh hoạt tín ngưỡng nhưng có nội dung văn hóa to lớn, nókhẳng định vị trí, trách nhiệm của mỗi nam giới trước gia đình và xã hội Nhờ
có lễ này mà con người thêm tự hào để luôn phải trau dồi tư cách, xứng đáng
là một thành viên của xã hội
Trang 37Trong truyện “Gió thổi qua rừng” nhà văn đã thể hiện sự hiểu biết vềphong tục tập quán của người Dao ở tục làm Lễ lập tĩnh Ông đã mô tả chitiết các hoạt động của buổi lễ cấp sắc - một sinh hoạt tín ngưỡng nhưng có nộidung văn hóa to lớn, nó khẳng định vị trí, trách nhiệm của mỗi nam giới trướcgia đình và xã hội: “Nhà lập tỉnh ở giữa bản Cao Cái bản Cao nằm nghiêngsườn núi chen chúc nhà gỗ mái và mái gianh Nhà và đá ở lẫn lộn Cả nền nhàcũng mấp mô đá Vách gian đầu cạnh bàn thờ của nhà lập tỉnh treo kín xanh
đỏ tranh thờ, đang có ba vòng người múa Người già múa vành ngoài, thanhnên múa vùng giữa, trẻ con ở vòng ngoài cùng Các vòng người múa quaytròn đi ngược kim đồng hồ, là hướng đi của mặt trời từ đông sang tây; là chiềuxoay của vũ trụ; là sự tuần hoàn tấn tới của mệnh người Đứa bé thụ lễ mặcquần áo mũ sừng, áo thụng, váy mới in hoa văn mặc trùm ngoài quần Đàn bàcon gái dự lễ đều váy áo tràm in hoa văn núi non chim thú và sau cổ áo đều
đính những đồng tiền Kim loại [24; 22] Những người con trai được cấp sắc là
người trưởng thành trong cộng đồng, ăn cỗ được ngồi mâm trên, được đi làmthầy cúng, khi chết được mời về Dương Châu đại điện cùng tổ tiên Nếukhông thực hiện Lễ cấp sắc để có tên âm thì coi như chưa được trưởng thành.Già mà không được cấp sắc bị cả cộng đồng khinh bỉ, không được ăn chung,chơi chung làm chung với mọi người Trong quan niệm của người Dao, nếuchưa được thầy cấp sắc, chưa có tên âm thì dù già bao nhiêu vẫn bị coi là trẻcon Đàn ông được cấp sắc dù ít tuổi vẫn được coi là người trưởng thành, đượctham gia vào các công việc hệ trọng của làng, được giúp việc cho thầy cúng,được cúng bái Cấp sắc – là được thánh thần ban tên, khai sinh, nên còn gọi là
lễ "khai sinh" hay lễ nhận lấy tên Hơn thế người Dao quan niệm, nếu muốn
làm ăn may mắn, dòng tộc phát triển thì phải thực hiện lễ cấp sắc Tục này,
“theo một số nhà nghiên cứu về bản chất được coi là một biểu hiện của lễ thành
Trang 38đinh hay có liên quan đến lễ thành đinh nguyên thủy, một thử thách đối với
những người trẻ tuổi chính thức gia nhập vào thế giới người lớn” [24; 159].
Gia đình nhà bà Lèng - một gia đình nghèo nhất bản Cao, nhà có một mẹmột con (Hem) Người bố hy sinh ở chiến trường miền Nam thời chống Mỹ
Vì nhà nghèo “nhà chỉ như cái lều nhỏ hai gian lúp xúp giấu mình trong bớilau, bới nữa Bát cơm cứ một hạt gạo cõng hai miếng sắn Thức ăn quanh năm
có nước mẻ chưng muối trắng làm nước chấm lá rau rừng Hem con bà Lèng
vì nhà nghèo không được cấp sắc nên luôn mamg tâm lý sợ người ta khinh, làngười xấu, người thừa Cố gắng tích trữ gà lợn làm cho được Lễ cấp sắc.Cấp sắc là một tục lệ rất phổ biến trong dân tộc Dao, và bắt buộc đối vớiđàn ông người Dao Tất cả những người đàn ông người Dao đều phải kinhqua lễ này, thậm chí lúc sống chưa được cấp sắc, sau khi chết con cháu phảilàm lễ Cấp sắc Người Dao cho rằng đàn ông được Cấp sắc mới có pháp danh,
có chức sắc để cúng bái, được tổ tiên công nhận là con cháu, khi chết mớiđược đưa ma về với tổ tiên Bởi vậy, hầu hết đàn ông người Dao đều trải qua
lễ Cấp sắc này và đây là điểm khác biệt so với Lễ Cấp sắc của một số tộcngười khác Lễ Cấp sắc có đặc điểm là mang tính tôn giáo, nhiều cấp bậc vàphải chọn ngày lành tháng tốt để làm lễ, dùng nhiều loại nhạc cụ “Hàng năm,
lễ cấp sắc được tổ chức vào tháng 11, 12 hoặc tháng 1, 2 âm lịch Tiến trìnhcủa một lễ Cấp sắc của người Dao Tiền và Dao Quần Chẹt có các nghi thứcchính: Lễ khai đàn, lễ trình diện của những người thụ lễ, lễ cấp đèn và hạ đèn,
lễ đặt pháp danh, lễ giao âm binh mã và gạo nuôi quân, lễ qua cầu, lễ cấpdụng cụ cúng bái, lễ truyền pháp lực, lễ cúng thần mặt trời Nếu làm cấp sắc
từ 7 đèn trở lên thì tiếp tục thực hiện những nghi lễ: Lễ tơ hồng hay còn gọi là
lễ cưới lần thứ hai, lễ cúng hồn lúa, lễ thăm thiên đình hoặc lễ sinh lần hai, lễthăng đèn Lễ cuối cùng là cúng Bàn Vương - lễ chung cho lễ 3 đèn và từ 7đèn trở lên”[27; 156]
Trang 39Lễ Cấp sắc là một nghi lễ mang giá trị văn hóa lớn của người Dao, lànghi thức tổng hợp bao gồm nhiều lĩnh vực: tâm linh, văn học, nghệ thuật camúa, nhạc cả sự kết hợp của mỹ thuật, hội họa Xét về tổng thể, lễ cấp sắcchứa đựng nhiều thành tố văn hoá tộc người Dao, có vai trò kế thừa và kếtnối các di sản văn hoá giữa các thế hệ.
Nếu gạt bỏ những yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng, thì lễ cấp sắc có tínhgiáo dục rất lớn, thể hiện qua những điều giáo huấn được thực hiện bằng lờithề dưới thiện, không làm điều ác Các điều giáo huấn được thực hiện lời thềdưới sự chứng kiến của tổ tiên và các quan binh nên tính giáo dục càng có giátrị Qua hoạt động này người được cấp sắc hiểu hơn về cội nguồn của dân tộcmình, giúp họ có thêm nghị lực hơn, tự tin hơn trong cuộc sống, vượt qua khókhăn, hướng tới những điều tốt đẹp trong tương lai
Lễ cấp sắc là một trong những nghi lễ độc đáo của người Dao đượclưu truyền từ nhiều đời nay trong cộng đồng các dân tộc Dao Đây là những
di sản văn hoá phi vật thể rất đa dạng, phong phú và mang đậm bản sắctruyền thống của dân tộc Dao đã tụ cư và sinh sống hàng ngàn đời nay trênquê hương đất Tổ
2.2.1.2 Văn hóa sinh hoạt
Văn hóa sinh hoạt bao gồm nếp sống, sinh hoạt vật chất (lao động ăn ở,
đi lại) và tinh thần (lễ hội, tín ngưỡng) Các truyện ngắn của Nguyễn HữuNhàn có những trang viết chân thực về đời sống vật chất lẫn tinh thần củangười dân vùng trung du đất Tổ Mang đặc trưng của cư dân nông nghiệptrồng lúa nước, lễ hội là một trong những sinh hoạt văn hóa cộng đồng phổbiến Lễ hội cổ truyền hay còn gọi là hội làng là một biểu tượng sống độngcho tín ngưỡng của làng quê
Hội làng là một hình thức sinh hoạt văn hóa có từ thời xa xưa, có nhiềuhội làng tiêu biểu cho tín ngưỡng phồn thực Hội là dịp để thể hiện những
Trang 40sinh hoạt văn hóa cộng đồng từ múa hát giao duyên, hát thờ hát diễn xướng,hát sân khấu các cuộc thi tài mang tính thượng võ Trong sinh hoạt hội, mọingười tham gia trình diễn, sáng tác, thưởng thức và hưởng thụ sau nhữngngày lao động mệt nhọc vất vả Vì thế hội làng tạo nên sự đồng cảm sâu sắcgiữa các thành viên trong cộng đồng, là sự nhất quán trong việc trao truyềnnhững các giá trị văn hóa giữa các thế hệ Hội làng mang tính cộng đồng sâusắc, tượng trưng cho sự hòa hợp, đoàn kết hướng tới một mong muốn vì sựphồn vinh của làng xã Hội làng gồm phần lễ và phần hội Phần lễ thường lànhững nghi lễ thể hiện lòng ngưỡng mộ, sùng bái anh hùng, tôn vinh danh nhânngười có công với dân, tổ nghề Yếu tố tâm linh thể hiện khá rõ trong hoạtđộng phần lễ bởi họ cho rằng có thần, phật, thánh, mẫu, những đại diện chotôn giáo, người bảo trợ tinh thần mới đem lại đời sống ấm no hạnh phúc chocộng đồng Phần hội là phần để người dân được tham gia các trò vui, được múahát Mỗi một miền quê có một hội làng mang những nét đặc trưng riêng songtựu trung các lễ hội đều mang tính phồn thực cao, thể hiện mong ước của ngườidân về một cuộc sống ngày càng no đủ, phồn thịnh hơn.
Sinh ra và lớn lên trên quê hương Tứ Xã – Lâm Thao, sống trongkhông khí của lễ hội Trò Trám - một lễ hội mang đậm nét văn hóa của vùngtrung du, nhà văn đã có những trang viết chân thực về lễ hội này Lễ hội TròTrám được dân gian gọi là trò vì từ lễ (cầu cúng tín ngưỡng) đến hội (các tròvui chơi múa hát) đều có các trò vui, khôi hài nhây nhả (tục tĩu) Trong
“Chuyện họ chuyện hàng” nhà văn tạo ấn tượng cho người đọc bởi những nét
đặc sắc của lễ hội người dân xóm trám làng Tứ Xã: “làng có các phường mộc,phường tôm, phường cá, phường chèo… là phường của những người cùnglàm một nghề Nhưng phường Mít lại là phường của mọi nhà, mọi người cùng
cư trú ở xóm Mít, cùng một ý thích diễn trò trình nghề vòa hội tháng ba hàngnăm Tối mồng chín tháng ba, phường vào đám bằng lễ mật ở miếu trò Hôm