MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 1.1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1 1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2 1.2.1. Nghiên cứu tiếp nhận Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám 1945 2 1.2.2. Nghiên cứu tiếp nhận Nam Cao sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX 3 1.2.3. Nghiên cứu Nam Cao hiện nay 6 1.2.4. Một hướng tiếp nhận mới: Chuyển thể văn học sang điện ảnh 7 1.3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 11 1.3.1. Mục tiêu nghiên cứu 11 1.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 11 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12 1.4.1. Đối tượng nghiên cứu 12 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu 12 1.5. Phương pháp nghiên cứu 12 1.6. Cấu trúc của luận văn 13 CHƯƠNG 1. CÁC VẤN ĐỀ VỀ LÍ THUYẾT 14 1.1. Lý thuyết tiếp nhận 14 1.1.1. Giới thiệu chung 14 1.1.2. Một số vấn đề cơ bản của lý thuyết tiếp nhận 18 1.2. Những vấn đề chung về văn học và điện ảnh 22 1.2.1. Văn học 22 1.2.2. Điện ảnh 23 1.2.3. Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh 23 1.2.4. Chuyển thể một hình thức dựng phim cơ bản, một dạng tiếp nhận đặc biệt 27 CHƯƠNG 2: VIỆC XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC CÁC TUYẾN TRUYỆN TRONG PHIM 36 2.1. Không gian trong truyện bối cảnh trên phim 38 2.2. Câu chuyện về lão Hạc người nông dân cơ cực, bần hàn 39 2.2.1. Nhân vật lão Hạc từ truyện lên phim 39 2.2.2. Những sáng tạo của Phạm Văn Khoa trên phim 41 2.3. Câu chuyện về nỗi đau thân phận của Chí Phèo 45 2.3.1. Câu chuyện về Chí Phèo từ trang sách lên màn ảnh 45 2.3.2. Nhân vật Chí Phèo trong cách nhìn của đạo diễn Phạm Văn Khoa 46 2.4. Câu chuyện của Thứ cuộc đời mòn và khao khát đổi thay 56 2.4.1. Bước ngoặt của cuộc đời mòn 56 2.4.2. Nguồn cảm hứng sáng tác bất tận 59 2.4.3. Hy vọng đổi thay vụt tắt 61 2.4.4. Quyết định cuối cùng 64 Chương 3: KẾT CẤU CỦA BỘ PHIM 67 3.1. Cuộc sống nông thôn u ám 67 3.1.1. Phần mở đầu 67 3.1.2. Phần phát triển 71 3.1.3. Phần cao trào 82 3.2. Bi kịch của những người nông dân và lựa chọn mới của người trí thức 84 3.2.1. Phần cởi nút 84 3.2.2. Phần kết thúc 85 KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Lý luận tiếp nhận là một lĩnh vực lớn của Lý luận văn học. Song đây lại là một vấn đề lớn đang bị bỏ ngỏ. “Nếu xem hoạt động của văn học bao gồm hai lĩnh vực lớn: sáng tác và tiếp nhận, thì bản thân sự tiếp nhận văn học đã hàm chứa một nửa lý luận văn học” 20; 40 Bản thân lý luận tiếp nhận liên quan đến nhiều loại lý thuyết khác như lý thuyết giao tiếp, kí hiệu học nghệ thuật, lý thuyết thông tin nghệ thuật, tâm lý học nghệ thuật, lý thuyết giải thích. Văn học tồn tại trong mỗi người đọc như một cơ thể sống. Song nó không tự nhiên sống được, chính bản thân nhu cầu của người đọc, sự hứng thú say mê, tìm tòi, khai thác, phát hiện, sáng tạo…mới làm nên sức sống bất tử của một tác phẩm. Nam Cao là một nhà văn có một vị trí đặc biệt trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Chính cuộc đời bế tắc của Nam Cao cũng được ông đưa vào những sáng tác của mình. Có thể nói ông là một trong số những nhà văn nghèo nhất của thế hệ nhà văn trước Cách mạng tháng Tám. Trong cuộc đời, từng có lúc ông phải bán đi vài cuốn tiểu thuyết mà mình rất trân quý để lấy tiền mua thuốc cho con. Với trường hợp của Nam Cao, có một sự thống nhất cao độ giữa lối sống và cách viết, giữa văn và đời. “Nhà văn mảnh khảnh thư sinh ăn nói ôn tồn nhiều khi đến rụt rè, mỗi lúc lại đỏ mặt, mà kì thực lại mang trong lòng một sự phản kháng mãnh liệt” 26; 419. Các tác phẩm của Nam Cao thể hiện một chủ nghĩa nhân văn cao cả, một quan niệm về con người đặc biệt thông qua phong cách nghệ thuật đa dạng phong phú. Trải qua sự thay đổi của thời gian, những sáng tác của ông vẫn còn nguyên giá trị, khẳng định được vị trí cuả Nam Cao trong lịch sử văn học dân tộc cũng như trong chương trình Ngữ văn phổ thông hiện nay. Chuyển thể điện ảnh là một phương thức tiếp nhận sáng tạo. Các tác phẩm điện ảnh chuyển thể từ văn học đã tạo ra một hướng tiếp nhận mới với những tác phẩm văn học. Sáng tác của Nam Cao trong nhà trường luôn luôn để lại một dấu ấn mạnh mẽ với đối tượng học sinh phổ thông. Rõ ràng, khi tiếp nhận tác phẩm văn học ở một dạng thức khác khiến học sinh luôn có những hứng thú nhất định. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nam Cao một cách đầy đủ và quy mô, tiếp nhận Nam Cao ở rất nhiều bình diện và khía cạnh, song chưa có nghiên cứu nào về lý luận tiếp nhận sáng tác của Nam Cao qua một trường hợp chuyển thể điện ảnh. Người viết chọn đề tài Nghiên cứu tiếp nhận Nam Cao qua chuyển thể điện ảnh “Làng Vũ Đại ngày ấy” với hy vọng góp phần bổ sung thêm những khía cạnh còn chưa được nghiên cứu về những sáng tác của Nam Cao, đa dạng hóa cách tiếp nhận về nhà văn, đặc biệt tạo hứng thú tiếp nhận văn chương cho đối tượng học sinh qua các tác phẩm chuyển thể. Thông qua việc đọc, hệ thống, phân tích, tìm hiểu đối sánh các truyện Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn của Nam Cao trong sự chuyển thể thành bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy của Phạm Văn Khoa, chúng tôi hy vọng sẽ đem đến một cách nhìn mới trong quá trình tiếp nhận về Nam Cao và những sáng tác của ông.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2
1.2.1 Nghiên cứu tiếp nhận Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám 1945 2
1.2.2 Nghiên cứu tiếp nhận Nam Cao sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX 3
1.2.3 Nghiên cứu Nam Cao hiện nay 6
1.2.4 Một hướng tiếp nhận mới: Chuyển thể văn học sang điện ảnh 7
1.3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 11
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu 11
1.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 12
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 12
1.5 Phương pháp nghiên cứu 12
1.6 Cấu trúc của luận văn 13
CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ VỀ LÍ THUYẾT 14
1.1 Lý thuyết tiếp nhận 14
1.1.1 Giới thiệu chung 14
1.1.2 Một số vấn đề cơ bản của lý thuyết tiếp nhận 18
1.2 Những vấn đề chung về văn học và điện ảnh 22
1.2.1 Văn học 22
1.2.2 Điện ảnh 23
1.2.3 Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh 23
1.2.4 Chuyển thể - một hình thức dựng phim cơ bản, một dạng tiếp nhận đặc biệt 27
Trang 2CHƯƠNG 2: VIỆC XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC CÁC TUYẾN TRUYỆN
TRONG PHIM 36
2.1 Không gian trong truyện - bối cảnh trên phim 38
2.2 Câu chuyện về lão Hạc - người nông dân cơ cực, bần hàn 39
2.2.1 Nhân vật lão Hạc từ truyện lên phim 39
2.2.2 Những sáng tạo của Phạm Văn Khoa trên phim 41
2.3 Câu chuyện về nỗi đau thân phận của Chí Phèo 45
2.3.1 Câu chuyện về Chí Phèo từ trang sách lên màn ảnh 45
2.3.2 Nhân vật Chí Phèo trong cách nhìn của đạo diễn Phạm Văn Khoa 46
2.4 Câu chuyện của Thứ - cuộc đời mòn và khao khát đổi thay 56
2.4.1 Bước ngoặt của cuộc đời mòn 56
2.4.2 Nguồn cảm hứng sáng tác bất tận 59
2.4.3 Hy vọng đổi thay vụt tắt 61
2.4.4 Quyết định cuối cùng 64
Chương 3: KẾT CẤU CỦA BỘ PHIM 67
3.1 Cuộc sống nông thôn u ám 67
3.1.1 Phần mở đầu 67
3.1.2 Phần phát triển 71
3.1.3 Phần cao trào 82
3.2 Bi kịch của những người nông dân và lựa chọn mới của người trí thức .84 3.2.1 Phần cởi nút 84
3.2.2 Phần kết thúc 85
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Lý luận tiếp nhận là một lĩnh vực lớn của Lý luận văn học Song đây lại
là một vấn đề lớn đang bị bỏ ngỏ “Nếu xem hoạt động của văn học bao gồmhai lĩnh vực lớn: sáng tác và tiếp nhận, thì bản thân sự tiếp nhận văn học đãhàm chứa một nửa lý luận văn học” [20; 40] Bản thân lý luận tiếp nhận liênquan đến nhiều loại lý thuyết khác như lý thuyết giao tiếp, kí hiệu học nghệthuật, lý thuyết thông tin nghệ thuật, tâm lý học nghệ thuật, lý thuyết giảithích Văn học tồn tại trong mỗi người đọc như một cơ thể sống Song nókhông tự nhiên sống được, chính bản thân nhu cầu của người đọc, sự hứngthú say mê, tìm tòi, khai thác, phát hiện, sáng tạo…mới làm nên sức sống bất
tử của một tác phẩm
Nam Cao là một nhà văn có một vị trí đặc biệt trong nền văn học ViệtNam hiện đại Chính cuộc đời bế tắc của Nam Cao cũng được ông đưa vàonhững sáng tác của mình Có thể nói ông là một trong số những nhà vănnghèo nhất của thế hệ nhà văn trước Cách mạng tháng Tám Trong cuộc đời,từng có lúc ông phải bán đi vài cuốn tiểu thuyết mà mình rất trân quý để lấytiền mua thuốc cho con
Với trường hợp của Nam Cao, có một sự thống nhất cao độ giữa lốisống và cách viết, giữa văn và đời “Nhà văn mảnh khảnh thư sinh ăn nói ôntồn nhiều khi đến rụt rè, mỗi lúc lại đỏ mặt, mà kì thực lại mang trong lòngmột sự phản kháng mãnh liệt” [26; 419] Các tác phẩm của Nam Cao thể hiệnmột chủ nghĩa nhân văn cao cả, một quan niệm về con người đặc biệt thôngqua phong cách nghệ thuật đa dạng phong phú Trải qua sự thay đổi của thờigian, những sáng tác của ông vẫn còn nguyên giá trị, khẳng định được vị trícuả Nam Cao trong lịch sử văn học dân tộc cũng như trong chương trình Ngữvăn phổ thông hiện nay
Trang 4Chuyển thể điện ảnh là một phương thức tiếp nhận sáng tạo Các tácphẩm điện ảnh chuyển thể từ văn học đã tạo ra một hướng tiếp nhận mới vớinhững tác phẩm văn học Sáng tác của Nam Cao trong nhà trường luôn luôn
để lại một dấu ấn mạnh mẽ với đối tượng học sinh phổ thông Rõ ràng, khitiếp nhận tác phẩm văn học ở một dạng thức khác khiến học sinh luôn cónhững hứng thú nhất định
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nam Cao một cách đầy đủ vàquy mô, tiếp nhận Nam Cao ở rất nhiều bình diện và khía cạnh, song chưa cónghiên cứu nào về lý luận tiếp nhận sáng tác của Nam Cao qua một trường
hợp chuyển thể điện ảnh Người viết chọn đề tài Nghiên cứu tiếp nhận Nam Cao qua chuyển thể điện ảnh “Làng Vũ Đại ngày ấy” với hy vọng góp phần
bổ sung thêm những khía cạnh còn chưa được nghiên cứu về những sáng táccủa Nam Cao, đa dạng hóa cách tiếp nhận về nhà văn, đặc biệt tạo hứng thútiếp nhận văn chương cho đối tượng học sinh qua các tác phẩm chuyển thể
Thông qua việc đọc, hệ thống, phân tích, tìm hiểu đối sánh các truyện Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn của Nam Cao trong sự chuyển thể thành bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy của Phạm Văn Khoa, chúng tôi hy vọng sẽ đem đến một cách nhìn
mới trong quá trình tiếp nhận về Nam Cao và những sáng tác của ông
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Căn cứ vào những tài liệu thu thập được trong quá trình tìm hiểu về kho
tư liệu phong phú về Nam Cao, chúng tôi phân chia việc nghiên cứu tiếp nhận
về nhà văn qua các giai đoạn sau:
1.2.1 Nghiên cứu tiếp nhận Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám 1945
Việc nghiên cứu tiếp nhận Nam Cao những ngày đầu gặp rất nhiều trởngại Số phận những tác phẩm của ông cũng không may mắn như chính cuộcđời nhiều cay đắng, lận đận của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám Trong
Trang 5suốt một thời gian dài, những sáng tác của ông nằm ngoài sự quan tâm củacác nhà nghiên cứu phê bình lý luận văn học, chưa hề được các văn nghệ sĩquan tâm và đánh giá một cách xứng đáng.
Một nhận xét đầu tiên của nhà văn Lê Văn Trương trong lời tựa cho tập
truyện Đôi lứa xứng đôi: “Dám nói và dám viết những cái khác người, ông
Nam Cao đã mang đến cho ta những khoái cảm mới mẻ, và ông đã tỏ ra làngười có can đảm” [26; 493] Nhà văn Vũ Bằng cũng dành tặng những lờitrân trọng: “May mắn làm sao tôi lại được đọc một truyện của Nam Cao vàngay mấy câu đầu tôi đã thích thú vì lối hành văn với những câu kệch cỡm,nghịch ngợm, có khi dớ dẩn nhưng đậm đà có duyên” [26; 499] Tuy nhiên,
với những sự nhận xét ưu ái như vậy nhưng truyện Đôi lứa xứng đôi vẫn
không hề nhận được sự quan tâm nào của giới truyền thông lúc bấy giờ Bộ
sách Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan dày hơn 1000 trang, gồm 5 tập, đề
cập tới 79 nhà văn, song chỉ có Nam Cao là không được nhắc đến
1.2.2 Nghiên cứu tiếp nhận Nam Cao sau Cách mạng tháng Tám
1945 đến hết thế kỉ XX
Việc nghiên cứu và tiếp nhận Nam Cao ở thời điểm này cũng không có
gì thay đổi nhiều Các nhà nghiên cứu ít nói đến Nam Cao Những tác phẩm
của ông vẫn chưa có sự đánh giá đúng mực Ngay trong bộ sách Lược thảo
lịch sử văn học Việt Nam (NXB Xây dựng, 1957) khi nói đến trào lưu văn học
hiện thực phê phán cũng chỉ có Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan đượcnghiên cứu riêng với tư cách là các nhà văn hiện thực tiêu biểu Quả thực đây
là một thiệt thòi lớn với nhà văn Nam Cao cũng như với nền nghiên cứu lýluận phê bình văn học nước nhà Sinh thời ông chưa từng được hưởng vinhquang như Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng… Ngay chính ông cũng đã từng tự
ti về những sáng tác của mình: “Trước 1945 không xuất bản được tác phẩmnào đáng kể” (Lời tự thuật gửi Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1950) Mãi cho
Trang 6đến khi ông qua đời, Điếu Văn của Nguyễn Huy Tưởng trong lễ truy điệu
Nam Cao 1951 mới bắt đầu có những đánh giá khác về văn nghiệp của nhàvăn - chiến sĩ này khi cho rằng cái chết của Nam Cao cũng chính là “cái tangcho giới văn nghệ và văn hóa Việt Nam” [1; 499] Tiếp ngay sau đó, năm
1952, trong bài Nam Cao, Nguyễn Đình Thi đã nhận định “Văn Nam Cao,
ngay những tác phẩm đầu, đã thực sắc sảo… anh tạo được những điển hìnhgiai cấp thật sống và cảm động” [1; 46] Năm 1954, hồi kí của Tô Hoài
“Chúng ta mất Nam Cao” viết đầy xúc động: “Con người Nam Cao, nghệthuật và tư tưởng Nam Cao, trước mặt và trong tâm trí tôi, lúc nào cũng làmột bài học phấn đấu, bài học tin tưởng của một thế hệ thanh niên đau khổ
mà dũng cảm của thời đại giữa hai lần chiến tranh thế giới” [1; 500] Có lẽcho đến thời điểm đó thì “tổn thất về Nam Cao mới thật sự thấm thía tronggiới nghệ thuật và công chúng” (Phong Lê)
Đến năm 1956, bản thảo Sống mòn (từng được Tô Hoài gìn giữ suốt
chiều dài cuộc kháng chiến) lần đầu tiên ra mắt bạn đọc thì tài năng của nhàvăn đã thực sự được khẳng định một cách chắc chắn Tiếp theo đó năm 1961,
một chuyên luận nghiên cứu về Nam Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc của Hà
Minh Đức đã bắt đầu khơi dòng nghiên cứu về Nam Cao
Cho đến hết thế kỉ XX, có khoảng 200 công trình lớn nhỏ, những luậnvăn, luận án… viết về Nam Cao Rất nhiều cách tiếp cận về Nam Cao vànhững tác phẩm của ông Thậm chí, những nhân vật điển hình mà Nam Caoxây dựng như Chí Phèo, Thị Nở…cũng có những ý kiến trái chiều Nhiều bàiviết giá trị của những nhà nghiên cứu như Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên
Ân, Huệ Chi - Phong Lê, Nguyễn Đức Dân…Đặc biệt, tháng 11 - 1991, Việnvăn học phối hợp với Hội Nhà văn và Hội văn nghệ Hà Nam Ninh, trườngĐại học Sư phạm I tổ chức một buổi hội thảo khoa học nhân 40 năm ngày mấtcủa nhà văn Nam Cao (1951 - 1991) Sau đó, cuốn sách giới thiệu những nhận
Trang 7thức và đánh giá mới về nhà văn ra đời, đó là cuốn Nghĩ tiếp về Nam Cao do
Nhà XB Hội nhà văn ấn hành năm 1992 Sau đó, đến tháng 10 - 1997, nhân kỉniệm 80 năm ngày sinh của Nam Cao, Viện Văn học đã tổ chức thành côngmột buổi hội thảo khoa học Ở cuộc hội thảo này, các ý kiến một lần nữakhẳng định vai trò, vị trí của nhà văn trong nền văn học Việt Nam Sau sựthành công của Hội thảo, một loạt các bài viết, tư liệu công trình nghiên cứu
về Nam Cao được khai thác và in ấn trên Tạp chí Văn học Đáng chú ý là các
cuốn Nam Cao, đời văn và tác phẩm của Hà Minh Đức (NXB Văn học, 1997), cuốn Nam Cao, phác thảo sự nghiệp và chân dung của Phong Lê
(NXB Khoa học xã hội, 1997) Đây là những công trình khoa học toàn diện
và hệ thống của những chuyên gia hàng đầu nghiên cứu về những di sản đặcsắc và phong phú của nhà văn Nam Cao
Có thể nói rằng, Nam Cao là một trong những nhà văn hiện đại đượcnghiên cứu nhiều nhất Quá trình nghiên cứu về Nam Cao cũng đạt nhiềuthành tựu tiến bộ Sự đọc và tiếp nhận nhà văn trong không khí dân chủ củavăn học ngày nay khiến người đọc được tiếp cận tác phẩm của Nam Cao ở rất
nhiều phương diện Thay vì chỉ chú ý đến những tác phẩm lớn như Sống mòn, Chí Phèo, giới nghiên cứu đã tập trung đến những tác phẩm khác như Lão Hạc, Lang Rận, Đời thừa, Một đám cưới…Từ đây nhiều vỉa tầng, lớp lớp ý
nghĩa dần được bóc tách Giới nghiên cứu phê bình hiện đại cũng tìm tòi khaithác các khía cạnh về ngôn ngữ, phong cách, thi pháp…khám phá những néttài hoa đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Nam Cao
Năm 1998, xuất hiện một cuốn sách được đánh giá hiện tượng văn học,
với kỉ lục tái bản tới 8 lần trong một thời gian ngắn, đó là cuốn Chân dung và
đối thoại của Trần Đăng Khoa Trong cuốn sách này, tác giả có nói tới Nam
Cao như thế này: về tài Nam Cao không hề thua Tsekhov, Lỗ Tấn nhưng tầmthì khác hẳn Ông cho rằng Tsekhov, Lỗ Tấn chỉ quan tâm đến vấn đề tinh
Trang 8thần, còn Nam Cao thì quan tâm đến cái bụng Văn chương nếu quanh quẩnmãi với cái đói, miếng ăn thì khó lòng mà lớn được Đây cũng là một trong sốnhững cách tiếp nhận, mà trong lịch sử tiếp nhận Nam Cao, Nguyễn ĐăngMạnh cho đó là nhận thức về tác phẩm một cách “hời hợt”
Đời tư của nhà văn cũng là một mối quan tâm lớn tới bạn đọc Chúng tatiếp cận đời thực Nam Cao qua những trang hồi kí của những người thân thiếtvới ông như người vợ Trần Thị Sen, các nhà văn, nhà thơ như Nguyễn HuyTưởng, Phong Nhã, Kim Lân, Lê Văn Trương, Hoàng Trung Thông, Phạm LêVăn…Những dòng hồi ức ấy như một cuốn phim quay chậm giúp chúng tahiểu rõ hơn về con người ông; một người cha hiền lành, đôn hậu, yêu thương
vợ con, yêu những người thân ruột thịt, yêu thương cả những nghèo khổ bầnhàn quanh ông
Làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (quê hương nhà văn) đã
đi vào văn chương thực tự nhiên và ngày nay trở thành “một địa chỉ văn hóa”một địa điểm du lịch thú vị với những món đặc sản dân dã truyền thống đã trởthành những thương hiệu đi khắp năm châu bốn biển như cá kho Đại Hoàng,chuối Đại Hoàng Không còn dấu vết của những năm tháng đói nghèo, làngquê xưa đã thực sự khởi sắc Đây cũng chính là mong ước của Nam Cao Ôngcũng đóng góp không nhỏ trong sự khởi sắc ấy Đó chính là cách ông yêu quêhương mình
1.2.3 Nghiên cứu Nam Cao hiện nay
Qua những nghiên cứu trong cuốn Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, Trần
Đăng Suyền đã “hy vọng đặt những viên gạch đầu tiên cho công trình nghiên
cứu toàn diện và hệ thống Những vấn đề của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam”[18; 290]
Một loạt các đề tài luận án, luận văn đã đề cập đến những biểu hiện mọimặt trong sáng tác của Nam Cao như: những phương diện chủ yếu của thi
Trang 9pháp văn xuôi tự sự, ngôn ngữ, một số phong cách nổi bât, đề tài cái đói, diễnngôn hội thoại trong truyện ngắn của Nam Cao, đối thoại, độc thoại và mạchlạc, tiểu từ tình thái trong tác phẩm của Nam Cao nhìn từ góc nhìn ngôn ngữhọc…Bên cạnh đó, sự tiếp nhận Nam Cao cũng có những thay đổi khi so sánhNam Cao với những tác giả trong và ngoài nước như Vũ Trọng Phụng,Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Ruinoxke Akutagawa (Nhật Bản), Lỗ Tấn(Trung Quốc), Sekhov (Nga)…, điều này mang đến những cảm quan rất mớicho những công trình nghiên cứu về nhà văn Nam Cao
Có thể nói rằng, cho đến nay, thật khó có một đặc điểm nào về nộidung và hình thức nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao chưa được nghiêncứu và tiếp cận Song, cũng cần khẳng định rằng, bất cứ một nhà nghiên cứunào dù tài năng đến đâu cũng không thể khám phá hết những giá trị tiềm tàng,nhiều vỉa tầng trong sáng tác của các nhà văn lớn Qua hàng trăm công trìnhnghiên cứu lớn nhỏ về Nam Cao trong hơn nửa thế kỉ, có thể thấy việc nghiêncứu tiếp nhận Nam Cao càng ngày càng trở nên đúng đắn hơn, tiếp cận đượcchân giá trị trong sáng tác của ông rõ nét Điều này khẳng định một chân lý:Nam Cao là một đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn họcViệt Nam 1930 - 1945
1.2.4 Một hướng tiếp nhận mới: Chuyển thể văn học sang điện ảnh
1.2.4.1 Vấn đề nghiên cứu chuyển thể
Vấn đề chuyển thể đã xuất hiện từ rất lâu và trở thành hiện tượng phổbiến ở Việt Nam cũng như trên thế giới Khi bộ phim chuyển thể được coi là
đầu tiên của nền điện ảnh Việt Nam Kim Vân Kiều (từ Truyện Kiều của
Nguyễn Du) xuất hiện, chúng ta đã nhận ra rằng, văn học chính là nguồn tàinguyên bất tận cho các kịch bản phim Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề líthuyết về chuyển thể vẫn chưa thực sự được chú ý Một số cuốn sách được
phát triển từ những luận án tiến sĩ như Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm
Trang 10điện ảnh (TS Phan Bích Thủy, Hội Điện ảnh Việt Nam và nhà Xuất bản Mỹ
thuật xuất bản, 2014) Gần đây, nhà Xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản cuốn
Chuyển thể văn học - điện ảnh (nghiên cứu liên văn bản) của Lê Thị Dương
(2016) Bên cạnh đó, cũng có một số bài đăng trên báo chí về vấn đề này:
Văn học - điện ảnh: Hiệu ứng cộng sinh (http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/van-hoc-dien-anh-hieu-ung-cong-sinh-2010112712436129.htm ) Báo An ninh
thế giới online cũng có bài: Chuyển thể văn học thành tác phẩm điện ảnh: Khó để so sánh, (http://antg.cand.com.vn/Kinh-te-Van-hoa-The-Thao/Mot-
khoang-cach-xakho-de-so-sanh-357492) Song cần khẳng định, chúng ta cóđánh giá ở khía cạnh nào đi chăng nữa thì mỗi tác phẩm điện ảnh sẽ là một tácphẩm độc lập chứ không phải là bản sao của tác phẩm văn học
1.2.4.2 Lịch sử chuyển thể các tác phẩm văn học giai đoạn 1930 -1945
Có thể khẳng định rằng, chuyển thể từ văn học sang điện ảnh là một
cách tiếp nhận và tái hiện nghệ thuật vô cùng đặc sắc Ngay từ khi xuất hiện,
nền điện ảnh Việt Nam đã mượn văn học làm nền tảng vững chắc cho mình.Trong từng giai đoạn văn học đều có những tác phẩm chuyển thể thành phim
Từ đó cho đến nay, số lượng các phim cải biên từ văn học ngày càng lớn.Tính riêng với những tác phẩm văn học trong giai đoạn 1930 - 1945 đã không
ít tác phẩm xuất hiện trên màn ảnh, và hầu hết đều đạt được những thành công
nhất định: Trống mái (chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Khái Hưng 1971), Gánh hàng hoa (dựa trên tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng - 1971), Chị Dậu (Tắt đèn của Ngô Tất Tố - 1980), Làng Vũ Đại ngày ấy (dựa trên ba tác phẩm Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn của nhà văn Nam Cao -
1982), Số đỏ (chuyển thể từ tiểu thuyết Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng
1990), Lều chõng (chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của Vũ Trọng Phụng 2009), Trò đời (chắt lọc từ các tác phẩm: Kĩ nghệ lấy tây, Cơm thầy cơm cô,
-Số đỏ của Vũ Trọng Phụng - 2013) Trong số những tác phẩm nêu trên, có
Trang 11những tác phẩm và đạo diễn đã mang lại danh dự cho nền điện ảnh nước nhàkhi tham dự các liên hoan phim trên thế giới Phải kể đến Phạm Văn Khoa
cùng bộ phim Chị Dậu đã nhận Huy chương vàng ở Pháp trong Liên hoan phim Nantes, phim Làng Vũ Đại ngày ấy vinh dự được gửi đi dự Liên hoan
phim quốc tế ở Hawaii Năm 2007, ông được trao tặng giải thưởng Nhà nước
cho bộ ba tác phẩm: Làng Vũ Đại ngày ấy, Chị Dậu và Lửa trung tuyến.
1.2.4.3 Lịch sử nghiên cứu về bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy
Bộ phim ra đời gây một tiếng vang lớn trong nền điện ảnh lúc bấy giờ.Nhiều ý kiến xoay xung quanh bộ phim này Nhà Biên kịch Đoàn Lê từngchia sẻ: “Bộ phim ra đời đã gây nên dư luận ồn ào trong cũng như ngoài giớiđiện ảnh Người khen sáng tạo, táo bạo Người chê tham lam lãng phí Tham
vì mâm cỗ văn chương sang trọng Nam Cao tặng cho đời có mấy món đầu vị
da đổi thịt Bước đột phá khi giữ nguyên cảnh nóng trên phim cũng gây nhiều
ồn ào trong giới báo chí Báo Tri thức trẻ online với bài Chuyện chưa tiết lộ
về cảnh nóng kinh điển của "Chí Phèo, Thị Nở,
(http://soha.vn/giai-tri/chuyen-chua-tiet-lo-ve-canh-nong-kinh-dien-cua-chi pheo-thi-no) Nhiều so sánh
khẳng định chất nghệ thuật trong “cảnh nóng” của bộ phim “Cảnh nóng phim Việt khó qua mặt Thị Nở, Chí Phèo, (http://soha.vn/giai-tri/canh-nong-phim-
viet-kho-qua-mat-thi-no-chi-phèo) Cũng có những bài viết tìm hiểu nhữngkhó khăn của đoàn làm phim đối với việc kiểm duyệt và sự tiếp nhận củakhán giả về việc giữ và công chiếu cảnh Chí Phèo cưỡng bức Thị Nở ở vườn
Trang 12chuối: Cảnh nóng trong phim Việt xưa: đằng sau cảnh nóng Chí Phèo - Thị
Nở,
(http://thanhnien.vn/van-hoa/canh-nong-trong-phim-viet-xua-dang-sau-canh-nong-cua-chi-pheo-thi-no-616406.html Tri thức trẻ cũng có nhiều bài
viết về các nhân vật trong phim như “Người đóng vai Chí Phèo “kinh điển” nhất Việt Nam bây giờ ra sao” hay “Người diễn vai Thị Nở “kinh điển” nhất Việt Nam bây giờ ra sao” Hầu hết các bài viết tập trung khai thác thành công
của bộ phim ở khía cạnh nhân vật, cảnh phim có tính chất đột phá, những ảnhhưởng của bộ phim đến đời sống của người dân làng Vũ Đại ngày nay Luậnvăn thạc sĩ Ngôn ngữ và Văn hóa học của Nguyễn Thị Tuyết Nhung nghiên
cứu đề tài “Phim truyện Làng Vũ Đại ngày ấy và việc chuyển thể các tác phẩm truyện văn học của Nam Cao” (Thành phố Hồ Chí Minh - 2015) đã tìm
hiểu vấn đề chuyển thể từ tác phẩm truyện văn học sang tác phẩm điện ảnh,khai thác chuyển thể từ khía cạnh tình huống, sự kiện và nhân vật tương ứngtrong truyện, đồng thời cũng phát hiện những đóng góp cũng như những tồntại của bộ phim
Thực tế, có rất nhiều thú vị xoay xung quanh câu chuyện làm phim.Chẳng hạn việc người đồng nghiệp Kim Lân trở thành nhân vật Lão Hạc củaNam Cao, những chi tiết về đời thực của ông được đưa lên màn ảnh…đãkhiến cho kho tàng văn chương quý giá của ông một lần nữa đến với côngchúng bạn đọc qua sự tiếp nhận của một đối tượng người đọc đặc biệt, ở mộtloại hình nghệ thuật cũng đặc biệt không kém
Trong quá trình nghiên cứu, mỗi cuốn sách, bài báo, luận văn…đều là
những nguồn tư liệu quý báu để tôi tiếp cận và khai thác đề tài: “Nghiên cứu tiếp nhận Nam Cao qua chuyển thể điện ảnh Làng Vũ Đại ngày ấy”
Trang 131.3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nam Cao là một tên tuổi lớn Những vấn đề đặt ra trong sáng tác củaNam Cao chưa bao giờ là cũ Thực hiện đề tài này luận văn hướng tới những
mục đích sau:
- Trước hết, tìm hiểu cơ bản về vấn đề lý thuyết tiếp nhận văn học
- Hình dung về công tác chuyển thể - một cách tiếp nhận văn học độcđáo
- Khai thác cách tiếp nhận tác phẩm văn chương qua trường hợp
chuyển thể điện ảnh Làng Vũ Đại ngày ấy
- Khẳng định vị trí của Nam Cao và mở ra những hướng tiếp nhận mới
về những tác phẩm của ông đối với đối tượng học sinh phổ thông
1.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
GS Trần Đăng Suyền đã cho rằng: “Tuy rằng sự nghiệp văn học củaNam Cao đã thu hút hàng trăm công trình nghiên cứu lớn nhỏ của các nhànghiên cứu, lý luận, phê bình văn học, nhưng sáng tác của ông về nhiềuphương diện vẫn cần được tiếp tục đào sâu nghiên cứu” [17; 5] Quả thực,những nghiên cứu về Nam Cao chưa bao giờ là cũ, những tác phẩm vănchương của ông luôn là những mạch nguồn không hề vơi cạn trong đời sốngnghiên cứu phê bình văn học mọi thời Với luận văn này, chúng tôi mongmuốn đóng góp một khía cạnh mới mẻ trong nghiên cứu tiếp nhận về NamCao trong tương quan với bộ phim điện ảnh về những tác phẩm của ông, đểtiếp cận giá trị của dòng văn học hiện thực phê phán 1930 -1945 ở mộtphương diện khác, ở một cách đọc và tiếp nhận đầy sáng tạo Đồng thời thấynhững giá trị lâu bền của những tác phẩm văn học khi được chuyển thể và
xuất hiện trên màn ảnh Làng Vũ Đại ngày ấy đã trở thành một trong những
Trang 14tác phẩm điện ảnh kinh điển Việt Nam vì giá trị tư tưởng và tấm lòng nhânđạo sâu sắc của nhà văn cùng với góc nhìn và sự tri âm, đồng sáng tạo của cácnhà làm phim Bên cạnh đó, luận văn cũng hy vọng góp phần khẳng địnhthêm tính hiệu quả và hiện đại trong việc nghiên cứu tiếp nhận các tác phẩmvăn chương trong tương quan với các tác phẩm điện ảnh nhằm khơi gợi niềmyêu văn chương, trân trọng, lưu giữ những giá trị nghệ thuật của giới trẻ - mộtnhiệm vụ quan trọng của giáo viên Ngữ văn hiện nay
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tìm hiểu lý thuyết tiếp nhận
- Bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy kịch bản Đoàn Lê, đạo diễn Phạm Văn
Khoa trong sự đối sánh với cuộc đời Nam Cao và ba tác phẩm được chuyển
thể: Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tác phẩm điện ảnh Làng Vũ Đại ngày ấy
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
- Sử dụng phương pháp liên ngành: Có tham khảo các nghiên cứu trong
lĩnh vực văn hóa, điện ảnh, văn học… giúp người viết có kiến thức đa dạnglàm phong phú hơn cho đề tài của mình
- Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ những nghiên cứu về
vấn đề tiếp nhận, vấn đề chuyển thể, về cuộc đời nhà văn Nam Cao, các tuyếntruyện, kết cấu cốt truyện trong văn học và điện ảnh, người viết đã tổng hợp
và đưa ra những nhận định đánh giá riêng về tiếp nhận văn học ở một dạngđặc biệt là chuyển thể điện ảnh
Trang 15- Sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh: Mục đích để đối chiếu
những tiếp nhận sáng tạo của các nhà làm phim so với các tác phẩm văn học,
từ đó mở ra một hướng tiếp cận mới với các sáng tác của nhà văn Nam Cao
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên văn bản: Để thấy sự thay đổi
của các ký hiệu trong mối tương tác giữa điện ảnh và văn học
- Sử dụng thao tác phân loại, thống kê: Nhằm mục đích thấy các khía
cạnh giống và khác nhau ở tác phẩm văn học và tác phẩm điện ảnh
1.6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phụlục, nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Các vấn đề về lí thuyết
Chương 2: Việc xây dựng và tổ chức các tuyến truyện trong phim
Chương 3: Kết cấu bộ phim
Trang 16CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ VỀ LÍ THUYẾT 1.1 Lý thuyết tiếp nhận
1.1.1 Giới thiệu chung
Tiếp nhận văn học là một nội dung vừa mang tính văn chương vừamang tính xã hội rất rõ nét Cũng như các vấn đề khác trong xã hội, văn họccũng có sự tồn tại, phát triển của riêng mình Sự vận động phát triển của vănhọc lệ thuộc rất nhiều vào hoạt động sáng tác, đồng thời còn phụ thuộc vàonhu cầu văn hóa, sở thích văn hóa, động cơ và những yêu cầu văn học khácnhau của mỗi con người ở từng thời kì nhất định Hans Robert Jauss vàWolfgang Iser là những nhà lý thuyết tiêu biểu của trường phái Konstanz(Đức) Họ đã làm cho văn học có những chuyển biến lớn nhìn từ góc độ tiếpnhận Lý thuyết tiếp nhận của H.R.Jauss đã hoàn thiện lý thuyết tiếp nhận củanhững bậc đàn anh đi trước như Bêlinxki, Skhlôpxki, Roman Ingarden, HansGeorg Gadamer…H.R.Jauss cho rằng: Các tác phẩm bao giờ cũng bao gồm
cả sự thể hiện ý tưởng sáng tạo của nhà văn và sự tiếp nhận thực tế của ngườiđọc Vì vậy, chúng ta có thể hiểu là lịch sử văn học vừa là lịch sử của tác giảvừa là lịch sử của người đọc trong quá trình tiếp nhận Đây là cách nhìn rấtmới lạ về “tính lịch sử của văn học” Và từ quan niệm này, ông cho rằng tácphẩm văn học là sự kết hợp giữa văn học và sự tiếp nhận của công chúng.Vậy có thể hiểu rằng quá trình nhà văn sáng tạo là cả một quá trình đi từ sángtác đến tiếp nhận, chỉ khi được người đọc tiếp nhận, những tác phẩm vănchương mới có sức sống riêng của nó Cũng từ đây, những khái niệm trọngtâm của lý thuyết tiếp nhận đã ra đời như “tầm đón nhận”, “khoảng cách thẩmmỹ”…Cùng với Hans Robert Jauss, Wolfgang Iser cũng là một trong nhữngngười tiên phong đặt những viên gạch đầu tiên cho lý thuyết tiếp nhận Iser đãchú ý nghiên cứu sự tiếp nhận văn học trên một hoạt động đọc cụ thể Lý
Trang 17thuyết này của W.Iser cũng dựa trên cơ sở kế thừa, phát triển của các trườngphái lý luận khác nhau trước đó, tạo nên một sự tiếp cận hoàn toàn mới đốivới văn học Hành trình nghiên cứu của Iser, như ông nói là: “Từ sự hồi ứngcủa người đọc đến nhân học văn học”, ông luôn quan tâm đến đặc trưng củavăn học tạo nên sự tương tác giữa văn học với người đọc.
Ở Việt Nam khoảng hai thập niên cuối thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu
phê bình lý luận văn học ở nước ta đã ý thức được tầm quan trọng của lýthuyết tiếp nhận, nghiên cứu và phổ biến đến bạn đọc Việt Nam Thực tế chưa
có nhiều công trình nghiên cứu lớn về lý luận tiếp nhận song cũng có một sốbài viết về tiếp nhận văn học đăng trên các bài báo, tạp chí Trên tạp chí vănhọc số 4 (xuất bản 1971) Nguyễn Văn Hạnh cho rằng với một tác phẩm vănhọc, giá trị của nó không giới hạn ở khâu sáng tác của tác giả mà nó còn đượcxác định ở khâu “thưởng thức” Như vậy, ở thời điểm đó, Nguyễn Văn Hạnh
đã đưa ra một quan điểm vô cùng mới mẻ đó là mối quan hệ chặt chẽ giữa giátrị văn học và vấn đề thưởng thức các tác phẩm văn học của người đọc Điềunày khiến cho trong quá trình đánh giá giá trị của tác phẩm, các nhà nghiêncứu sẽ không chỉ dừng lại ở việc đối chiếu những vấn đề được đặt ra trong tácphẩm, những giá trị tự thân của tác phẩm mà còn phải chú ý đến những ảnhhưởng tới thực tế xã hội, những đánh giá khác nhau của người đọc với tácphẩm, những yếu tố lịch sử xã hội và cả tâm lý của sự tiếp thu.Tuy nhiên, ýkiến này của Nguyễn Văn Hạnh ngay lập tức vấp phải nhiều ý kiến trái chiềukhi bị cho rằng ông đã coi nhẹ nhân tố sáng tác, coi nhẹ lập trường tư tưởnggiai cấp trong nghiên cứu, mặc dù vấn đề tiếp nhận ở thời điểm đó trên thếgiới đang được trao đổi, bàn luận một cách sôi nổi Rõ ràng, giới nghiên cứuthời kì này vẫn chưa có một cái nhìn xác đáng về vấn đề tiếp nhận trong sángtác văn chương
Trang 18Đến 1985, trên tạp chí Thông tin KHXH, lần đầu tiên lý thuyết tiếpnhận đã được Nguyễn Văn Dân giới thiệu đầy đủ và khá kĩ lưỡng Tại đây, líthuyết tiếp nhận của trường phái Konstanz (Đức) mà đứng đầu là Han RobertJauss được phổ biến rộng rãi Đây là công trình có sự tiếp thu của các côngtrình nghiên cứu về độc giả của các tác giả trước như Levin Schucking (Đức),Walter Hohmann Harald Weinrich (Đức), Robet Escarpit (Pháp)…để tạonhững tiền đề khoa học chặt chẽ, chính xác có hiệu quả để nghiên cứu tiếp
nhận văn học Năm 1986, một khái niệm mới ngưỡng tâm lí đã được Nguyễn Văn Dân đề xuất Đến năm 1999, tập tiểu luận Nghiên cứu văn học lý luận và ứng dụng được xuất bản và được nhận giải thưởng lý luận phê bình của Hội
Nhà văn Việt Nam năm 2000 Cũng từ đây, lý thuyết tiếp nhận văn học đã có
vị trí đúng của nó trong lý luận văn học, đồng thời cũng chứng tỏ đó là mộthướng nghiên cứu có nhiều tiềm năng
Năm 1986, cuốn Lý luận văn học tập 1 (Nhà xuất bản Giáo dục) do
Trần Đình Sử biên soạn đã ra mắt bạn đọc và được sử dụng cho các trường sư
phạm Vấn đề tiếp nhận được ông đặt ở chương X với tên Bạn đọc và tiếp nhận văn học, sau đó bộ sách được tái bản và in lại thành một tập do Phương
Lựu chủ biên Đồng thời, kiến thức tiếp nhận văn học cũng được đưa vàogiảng dạy ở chương trình lớp 12 Ngữ văn Trung học phổ thông Điều này đãchứng tỏ vị trí của lý thuyết tiếp nhận văn học trong nền văn học nước nhà.Trong nghiên cứu tiếp nhận văn học thì Trần Đình Sử, Phương Lựu là nhữngnhà nghiên cứu đáng lưu ý về chiều sâu, tâm huyết và bề dày kinh nghiệm
Năm 1990, Huỳnh Vân trong bài viết Quan hệ văn học - hiện thực và vấn đề tác động, tiếp nhận và giao tiếp thẩm mỹ đã đánh giá cao về chức năng
giao tiếp của văn học Ở bài viết này, ông đã nhắc tới vấn đề cần hiểu mốiquan hệ hiện thực - văn học ở cả hai chiều: từ tác giả, tác phẩm đến hiện thực
và ngược lại, tức là ở hai khía cạnh phản ánh và tác động, tiếp nhận Về vấn
Trang 19đề tiếp nhận, Huỳnh Vân tiếp tục phát triển nghiên cứu trong mối quan hệ vớinhững nhận định, những nghiên cứu của nhà lý luận người Đức Hans RobertJauss Những nghiên cứu của tác giả là những đánh giá có cơ sở, đáng tin cậy
vì tác giả là người có những hiểu biết sâu sắc về lý thuyết tiếp nhận
Bên cạnh đó phải kể đến một loạt các tác giả khác như Đỗ Đức Hiểu
với bài Đổi mới phê bình văn học, Nguyễn Thanh Hùng với cuốn Đọc và tiếp nhận Văn chương, cuốn Lý luận văn học, vấn đề và suy nghĩ - một cuốn tài
liệu tham khảo chuyên sâu dành cho sinh viên do hai nhà nghiên cứu HuỳnhNhư Phương và Nguyễn Văn Hạnh biên soạn Tác giả Phan Trọng Luận cũng
được chú ý với cuốn Văn học nhà trường: nhận diện, tiếp cận Giáo trình Cảm thụ văn học của Dương Thị Hương cũng là một cuốn sách đáng chú ý
trong nhà trường phổ thông…
Viết về vấn đề tiếp nhận thì nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung làngười chuyên sâu và bền bỉ Những cuốn sách được đón nhận của ông như:
Tác phẩm văn học như là một quá trình, Từ văn bản đến tác phẩm văn học.
Ông đã khai thác những vấn đề còn bỏ ngỏ về tiếp nhận như: Sự đọc và cắtnghĩa văn bản, Văn bản văn học và sự cụ thể hóa văn bản… Những bài viếtcủa ông hầu như đều được nhận định là có tính khoa học và thuyết phục cao
Một thực tế là các công trình có tính chất kinh điển của lý thuyết tiếpnhận được giới thiệu ở Việt Nam chưa nhiều Trường phái Konstanz (Đức) làtrường phái tiêu biểu khai thác về vấn đề tiếp nhận Những tác giả nổi tiếngnhư Hans Robert Jauss, Wofgang Iser đã có đóng góp lớn cho nền lý luận thếgiới song họ vẫn chưa được giới thiệu một cách đầy đủ ở Việt Nam vì khảnăng tiếp cận với những văn bản gốc của những tác giả này vẫn còn hết sứchạn chế Có thể nói rằng, còn nhiều vấn đề về lý thuyết tiếp nhận chưa đượckhai thác triệt để ở nước ta hiện nay, song bước đầu các nhà nghiên cứu đã
Trang 20nắm bắt được những điều cốt lõi, căn bản Điều này dễ hiểu vì đây là lý thuyếtmới đang trên đường tìm kiếm và tự hoàn thiện mình
1.1.2 Một số vấn đề cơ bản của lý thuyết tiếp nhận
1.1.2.1 Người đọc
Mỗi tác phẩm văn học là một quá trình mà ở đó không hề có điểm kếtthúc hay bất biến Nó luôn được sáng tạo, mở rộng vô tận nhờ độc giả Độcgiả trở thành nhân tố vô cùng quan trọng song hành cùng tác phẩm văn học
GS Đỗ Đức Hiểu nhận định độc giả chính là “thượng đế của văn học” Sự tiếp
nhận một tác phẩm văn học chính là hoạt động mà ở đó người đọc mở hồn ra
để đón nhận những tác phẩm văn chương, sống trong thế giới nghệ thuật,thưởng thức cái hay, cái đẹp và tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo Ở đó,người đọc phải tiếp nhận bằng tất cả sự tích cực và sáng tạo của mình Đốivới những tác phẩm có giá trị, tác phẩm ấy không chỉ sống một lần mà sốngnhiều cuộc đời trong mỗi người đọc, ở từng thời kì khác nhau, trong từnghoàn cảnh xã hội tác phẩm lại mang một giá trị riêng Cũng có thể nói, ngườiđọc cùng sáng tạo với tác giả, song bản chất sự sáng tạo của người đọc và tác
giả có sự khác biệt Độc giả đã “Sáng tạo trong sự tiếp nhận” [22; 162], chọn
lựa cho mình những tác phẩm phù hợp với thị hiếu, nhận thức, có ích cho xãhội và bản thân, làm cho tác phẩm có một cuộc sống khác, giàu ý nghĩa hơn
Ở phương diện lý thuyết tiếp nhận, Hans Robert Jauss cho rằng: Lịch
sử văn học là lịch sử tiếp nhận Như thế có nghĩa là tạo nên lịch sử văn họcchính là người đọc, khi chúng ta viết về lịch sử văn học là chúng ta viết lạilịch sử tiếp nhận của người đọc đối với những tác phẩm văn học nghệ thuật.Với ý nghĩa này, chúng ta thấy được khả năng sáng tạo một cách chủ độngcủa người đọc với những giới hạn vô biên Và từ khả năng sáng tạo một cáchchủ động này thì sự tồn tại lâu bền của một tác phẩm văn học mới được khởisắc Song cũng cần nói thêm rằng, khả năng tiếp nhận tác phẩm ra sao, có
Trang 21đúng ý tưởng sáng tạo và truyền tải của tác gia văn học hay không, sáng tạođược điều gì, tạo nên sự trường tồn của tác phẩm hay không hoàn toàn phụthuộc vào tầm đón nhận, từ quan niệm cảm thụ nghệ thuật hiện tại của ngườiđọc Vì thế một tác phẩm mang ý nghĩa gì, giá trị ra sao nó sẽ phụ thuộc hoàntoàn vào tầm đón nhận của độc giả đó Một tác phẩm ngay khi được xuất bản,được phổ biến rộng rãi thì nó đã trở thành tài sản chung của công chúng Tácphẩm đó trường tồn hay chết yểu hoàn toàn phụ thuộc vào độc giả Vậy
“trong mối quan hệ với văn bản, độc giả không thụ động, ngược lại anh ta làmột loại độc giả tích cực (active audience) Bằng việc đưa vào văn bản nhữngkinh nghiệm sống, kinh nghiệm đọc (Jauss) hay bằng một điểm nhìn lưuchuyển của sự hồi tưởng và dự phóng (Iser), anh ta có quyền năng lớn lao
trong việc tạo nghĩa cho văn bản” [27; 242]
Tiếp cận sâu phạm trù người đọc, ta thấy rằng có nhiều dạng độc giảkhác nhau, có nhiều dạng công chúng mà tác phẩm muốn tác động, giao tiếptrong suốt quá trình thai nghén và hình thành tác phẩm, đồng thời cũng chịutác động ngược trở lại của những đối tượng đó Có thể nói rằng, giữa văn bản
và độc giả diễn ra một cuộc đối thoại Văn bản chính là tiếng nói của nhà văn
và độc giả, thông qua văn bản, lắng nghe tiếng nói ấy Hiệu quả của việc tiếpnhận ra sao lệ thuộc khá nhiều vào trình độ, giới tính, lứa tuổi, vị trí xã hộị,mối quan tâm…của người đọc Có thể chia người đọc ra thành các loại ngườiđọc như sau:
+ Người đọc tiềm ẩn
+ Người đọc thực tế
Người đọc tiềm ẩn là một khái niệm rất quen thuộc do W.Iser đề xuất.Đây là khái niệm chỉ hình ảnh người đọc xuất hiện trong niềm mong đợi củanhà văn, nó hiện diện trên văn bản và chi phối tới sáng tác của tác giả Trong
Trang 22suốt quá trình đó “Cái bóng của người đọc luôn hắt lên từng trang viết củanhà văn” [25; 166]
Người đọc thực tế “chỉ đối tượng tiếp nhận văn học tồn tại thật trongcuộc đời…nó vượt khỏi khả năng bao quát của tác giả, không nhất thiết phảitrùng khớp và không thể nào trùng khớp với độc giả tiềm ẩn” [25; 167].Trong người đọc thực tế, căn cứ vào tầm đón nhận có thể chia ra các loại độcgiả như: độc giả bình dân, độc giả có vốn tri thức nhất định, độc giả có trình
độ chuyên môn cao như các nhà nghiên cứu, phê bình, lí luận… Có thể thấy
rõ ràng rằng, những loại độc giả này đã khiến cho quá trình tiếp nhận không
có sự đồng nhất Nghiên cứu lịch sử văn học của từng giai đoạn, kiểm chứng
sự tiếp nhận của độc giả, người ta có thể xây dựng lại một cách khá đầy đủ vềmột thời kì văn học với các đặc điểm về sở thích, thị hiếu, tâm lý, trình độ vănhóa… Cần căn cứ vào sự tiếp nhận của độc giả ở từng đối tượng cụ thể đểlàm rõ tiến trình tiếp nhận và hiệu quả tiếp nhận
1.1.2.2 Tầm đón nhận (Tầm đón đợi)
Đây là một khái niệm được dùng khá phổ biến trong các công trìnhnghiên cứu của trường phái Konstanz (Đức) H.R.Jauss tiếp thu khái niệm này
từ K.Mannheim, được xác định khá rõ ràng trong cuốn Lịch sử văn học như
là sự khiêu khích đối với khoa học văn học (1970) Với ông, tầm đón nhận
chính là kinh nghiệm và khả năng văn chương của mỗi người đọc khi tiếp xúcvới tác phẩm, nó hợp thành bởi ba bộ phận: quan niệm về hình thức và đề tài,quan niệm về thể loại, quan niệm về đặc trưng văn chương ở mối quan hệgiữa sáng tạo với thực tế, giữa ngôn ngữ nghệ thuật trong văn chương và ngônngữ được sử dụng toàn dân Nói như vậy, tầm đón nhận không thể tạo thànhtrong ngày một ngày hai mà được hình thành và xây dựng trong cả quá trìnhdài Đây là một quá trình mà ở đó người đọc có thể tiếp xúc, làm quen, đốithoại với những tác phẩm nghệ thuật để đạt được sự chủ động tiếp nhận trong
Trang 23mối tương quan với chính tác phẩm văn học đó Khi độc giả tiếp nhận nhữngtác phẩm mới với chất lượng khác trước, cao hơn thì người đọc cũng đượcthuyết phục bởi những chuẩn mực mới, lúc này, tầm đón nhận của độc giảcũng được nâng cao, và ngược lại, khi tác phẩm nghệ thuật có chất lượngthấp, chạy theo thị hiếu tầm thường thì tầm đón đợi của độc giả cũng vì thế
mà bị hạ thấp xuống Rõ ràng, có mối liên hệ chặt chẽ giữa tiếp nhận và sángtác Thông qua tìm hiểu tầm đón nhận, ta nhận ra được sự tác động chi phốimạnh mẽ của tiếp nhận với sáng tác
Gần đây, trong bài viết Những giới hạn tiếp nhận bà Bovary ở Việt Nam qua trường hợp các bản dịch của Phùng Ngọc Kiên đã đưa ra một cách
hiểu mới về khái niệm tầm đón nhận Căn cứ vào một tác phẩm được dịch qua
tiếng Pháp Vì một công việc chú giải văn học của H.Jauss, ông hiểu khái niệm
“erwahrtungshorizont” là giới hạn đón nhận bởi theo ông “H.Jauss và các
nhà phê bình tiếp nhận muốn coi việc cắt nghĩa văn bản như là quyền cá nhâncủa người đọc đứng trước văn bản” [30]
Có thể nói rằng, tầm đón nhận đã được xem như một chuẩn mực để có
thể xác định được mối liên hệ giữa người đọc với phẩm chất và tài năng nghệthuật của nhà văn Đồng thời, đây cũng là một mục tiêu chung mà cả xã hộiđang tới nhằm mục đích cuối cùng là định hướng và tạo nền tảng cho nhâncách con người
Trang 24qua tác phẩm Khoảng cách thẩm mỹ không chỉ bị chi phối bởi không gian, thời gian thông thường mà đôi khi khoảng cách thẩm mỹ còn là thước đo giá
trị của tác phẩm Căn cứ vào lý thuyết tiếp nhận thì một trong nhưng lí do đểxác định được giá trị của một tác phẩm chính là sự thể hiện các cảm xúc phẫn
nộ hay đồng tình, ngạc nhiên hay thất vọng… của người tiếp nhận Nếu giữa
tầm đón đợi của văn bản với tầm đón nhận của người đọc có sự khác biệt sẽ
gây ra các trạng thái cảm xúc như do dự, lưỡng lự hoặc thờ ơ, vô cảm, còn khi
tầm đón đợi của tác phẩm ngang bằng với tầm đón nhận của người đọc thì sẽ
xuất hiện trạng thái cảm xúc thẩm mỹ hứng khởi, vui sướng…
Trên đây là những quan niệm cơ bản nhất của lý thuyết tiếp nhận.Song, nghiên cứu tiếp nhận không chỉ dừng ở đó, con đường nghiên cứu tiếpnhận còn nhiều điều mới mẻ cần khám phá ở phía trước Hẳn rằng lý thuyếttiếp nhận sẽ còn được mở rộng và còn nhiều đóng góp cho nền lý luận vănhọc nước nhà
1.2 Những vấn đề chung về văn học và điện ảnh
1.2.1 Văn học
Văn học phản ánh những vấn đề về con người và đời sống xã hội Đểsáng tạo văn học người ta dựa trên sự hư cấu và thể hiện sự hư cấu đó quangôn ngữ Văn học chính là bộ môn nghệ thuật lấy con người và các vấn đềliên quan đến con người làm đối tượng trung tâm của sự nhận thức, để biểuđạt nội dung, văn học xây dựng hệ thống hình tượng, và để biểu đạt hìnhtượng, văn học lấy ngôn từ làm chất liệu Dựa trên phương diện thẩm mỹ, vănhọc đã nhận thức con người với toàn bộ tính toàn vẹn, tổng hợp, sống độngtrong các mối quan hệ đời sống phức tạp và đa dạng của nó Song không đơnthuần dừng lại ở việc phản ánh, văn học còn đi sâu khám phá thế giới nội tâmcủa con người với những khát vọng, ước mơ, những tâm tư tình cảm của tâmhồn con người Văn học còn có khả năng vô hạn trong việc chiếm lĩnh thời
Trang 25gian, không gian để phản ánh qúa trình phát triển không ngừng của đời sống.Hơn nữa nó còn có thể tái hiện lại được lời nói và tư tưởng của con người,điều mà các hình thái nghệ thuật khác không làm được.
1.2.2 Điện ảnh
Điện ảnh xuất hiện khoảng cuối thế kỉ XIX Từ khi ra đời, nó được coi
là ngành nghệ thuật thứ bảy sau điêu khắc, kiến trúc, hội họa, âm nhạc và thi
ca (theo cách phân loại của triết học gia người Đức Hegel) Là ngành nghệthuật mới mẻ nhưng lại đạt được những thành tựu to lớn, nó thừa hưởng vàtiếp thu tinh hoa của các ngành nghệ thuật đi trước đồng thời có ảnh hưởnglớn tới đời sống tinh thần của con người Đây là một khái niệm rộng gồmnhững bộ phim tạo bởi những khung hình chuyển động (phim); kĩ thuật ghilại hình ảnh, âm thanh, ánh sáng để tạo thành một bộ phim (kỹ thuật điệnảnh); những hình thức nghệ thuật liên quan đến việc tạo ra một bộ phim;
quảng bá và phân phối phim Điện ảnh mang trong mình 8 thuộc tính cơ bản:
tính quần chúng, tính quốc tế, tính dân tộc, tính thương mại, tính giải trí vàmang giá trị nhân sinh sâu sắc Sự xuất hiện của điện ảnh là thành quả của sựphát triển công nghệ, nó cũng có vị trí trong cấu trúc truyền thông
1.2.3 Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh
1.2.3.1 Văn học luôn là nguồn nguyên liệu dồi dào của điện ảnh
Văn học trở thành mảnh đất mới lạ và màu mỡ của điện ảnh Mối liên
hệ giữa văn học và điện ảnh có sự tác động qua lại chứ không phải chỉ từ mộtchiều Nhà văn “cho đi” để rồi “nhận lại” rất nhiều từ điện ảnh Họ học từđiện ảnh kỹ thuật lắp ghép (montage) và lối viết hình ảnh như kịch bản phim
Ở đây, để phục vụ cho đề tài của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập tới nét tươngđồng giữa điện ảnh và văn học
Trang 26Trước tiên, điện ảnh và văn học có mối quan hệ cùng một hình thái ýthức - thẩm mỹ, cùng có những đặc tính, chức năng chung và chịu sự quyếtđịnh của đời sống xã hội Tuy nhiên cách thể hiện của chúng khác nhau.
Văn học và điện ảnh có những mối tương đồng:
* Tương đồng về nội dung, tư tưởng
Tư tưởng nội dung của tác phẩm là vô cùng quan trọng Nội dung làtổng hòa mọi yếu tố và quá trình nội tại làm nên bản thân của sự vật, còn “tưtưởng chính là một phán đoán khái quát về hiện thực Trong phán đoán đóbao giờ cũng chứa đựng một quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật hiệntượng của đời sống” [17; 166] Nội dung tư tưởng được quyết định bởi tácgiả, bởi sự lĩnh hội đời sống, hiểu biết về thế giới của người nghệ sĩ Nội dung
tư tưởng của một tác phẩm được bộc lộ dưới hình thức đề tài và chủ đề Đề tàimang ý nghĩa khách quan về một phạm trù văn hóa, kinh tế chính trị, xã hộinhưng lại được nhìn nhận và đánh giá theo quan niệm riêng của người sángtác Chủ đề lại nảy sinh do kinh nghiệm của nhà văn với cuộc sống Lựa chọnmột đề tài, xây dựng một chủ đề trung tâm thể hiện khuynh hướng, sở trường,
sự sáng tạo và trách nhiệm của người nghệ sĩ Chẳng hạn, từ yêu mến tác
phẩm Tắt đèn, Phạm Văn Khoa tâm huyết xây dựng một bộ phim đầy ám ảnh
Chị Dậu, sau đó tiếp tục xây dựng bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy cũng trên
nền tảng văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930 - 1945 Có thể nói, sựgặp gỡ về nội dung tư tưởng dẫn tới sự hội ngộ của các tác giả văn học vớicác nhà làm phim bằng việc các tác phẩm văn học (đứa con tinh thần của nhàvăn) được thai nghén bởi các nhà làm phim và làm sống lại trên màn ảnh quanhững chi tiết, nội dung, nhân vật… tạo ra một giá trị nghệ thuật không phảibản sao: tác phẩm điện ảnh
* Tương đồng về nhân vật, sự kiện
Trang 27Qua các sự kiện, biến cố, tính cách và số phận của hình tượng nhân vậtđược bộc lộ và phát triển Chính mâu thuẫn xã hội là môi trường để sự kiệnnảy sinh, tính cách số phận nhân vật được làm rõ, phát triển và làm tỏa sángchủ đề tư tưởng Chẳng hạn, chế độ sưu thuế vô nhân đạo đã tạo nên số phậnđáng thương, một thảm cảnh như gia đình Chị Dậu, Phạm Văn Khoa đã táihiện từng thước phim đau thương đó như một lời đồng cảm sâu sắc với thânphận bọt bèo, cùng quẫn của những người nông dân trong xã hội cũ.
* Tương đồng về phương thức tự sự
Sự tương đồng này là ở chỗ sự sắp xếp theo một trật tự nhất định từ đầuđến cuối và luôn đi kèm với sự đánh giá Điều này được thể hiện thông quacác điểm nhìn về những sự kiện nêu ra trong tác phẩm
* Sự tương đồng trong trần thuật văn học và trần thuật điện ảnh
Ở cả điện ảnh và văn học, trần thuật là phương thức chủ yếu xây dựngnên tác phẩm tự sự Trần thuật được dẫn dắt bởi một đối tượng được gọi làngười trần thuật hay chủ thể trần thuật Cách dẫn dắt này có đầu có cuối giúpđộc, khán giả theo dõi và hiểu được truyện
Như vậy có thể nói rằng, văn học và điện ảnh có một sự tương tácmạnh mẽ Một tác phẩm văn học có giá trị sẽ là một ý tưởng tuyệt vời cho tácphẩm điện ảnh và ngược lại, phim nổi tiếng sẽ tạo sức sống mới cho tác phẩmvăn học
1.2.3.2 Kịch bản điện ảnh - chiếc cầu nối giữa văn học và điện ảnh
Điện ảnh và văn học là hai loại hình nghệ thuật khác biệt nhưng giữachúng lại có những mối tương đồng nhất định Mối tương đồng đó tạo nênmột loại hình mới: kịch bản điện ảnh Kịch bản điện ảnh chuyển thể khôngphải là bản photo nguyên tác mà là một sáng tạo độc lập, những kịch bản điệnảnh chuyển thể thành công còn được coi như tác phẩm văn học riêng biệt, mộttiếp nhận nghệ thuật sáng tạo, độc đáo
Trang 28Cũng cần nói rõ thêm, kịch bản trong phim truyện điện ảnh còn được
gọi là kịch bản văn học điện ảnh, kịch bản văn học hoặc kịch bản điện ảnh, kịch bản phim hay đơn giản là kịch bản Kịch bản có hai loại kịch bản chuyển thể và kịch bản sáng tạo Nhưng dù ở loại nào thì chúng cũng có vai trò như nhau trong sáng tạo phim và đều tuân thủ theo nguyên tắc chung Có thể nói,
sáng tác kịch bản điện ảnh là một công đoạn quan trọng, bởi lẽ kịch bản làyếu tố đầu tiên giữ vai trò nền móng cho bộ phim tương lai Thế nên kịch bảnhời hợt, thiếu kịch tính, thiếu xung đột, nhân vật không có tính cách điển hìnhthì diễn viên dù có là ngôi sao Hollywood cũng không thể diễn hay được Vàmột kịch bản chất lượng sẽ quyết định lớn tới thành công của bộ phim
Nhà văn Nga nổi tiếng M Gorki (người có khoảng 20 tác phẩm chuyểnthể) đã nhận thấy rõ vai trò to lớn của văn học với điện ảnh Ông đã kêu gọicác nhà văn nên viết kịch bản phim truyện Vai trò của kịch bản như cơ sởnghệ thuật, tư tưởng của một tác phẩm điện ảnh đã được khẳng định một cách
chắc chắn bằng một Tuyển tập kịch bản điện ảnh lần đầu tiên xuất bản tại
Matxcơva năm 1930 Điều này chứng minh cho sự gắn bó mật thiết giữa vănhọc và điện ảnh Người ta cũng thấy rằng, những tiêu chí cơ bản của văn họccũng là những tiêu chí cơ bản của kịch bản điện ảnh như xây dựng bối cảnh,cốt truyện, tạo dựng hình tượng nhân vật… Các nhà nghiên cứu cũng đãkhẳng định: muốn có một phim thành công, đầu tiên là phải có kịch bản tốt.Kịch bản điện ảnh là biểu hiện rõ nét của tính văn học trong điện ảnh Có thểnói rằng, điện ảnh không thể tồn tại nếu không có văn chương Một tác phẩmđiện ảnh sẽ không thể thành hình nếu thiếu cốt truyện, nhân vật, tình huốnghay các xung đột Tất cả các yếu tố cần và đủ ấy, điện ảnh đều học từ vănchương Xét cho đến cùng, kịch bản điện ảnh cũng chính là văn bản vănchương dưới một dạng trình bày đặc biệt Nhóm đạo diễn, diễn viên, nhóm
Trang 29quay phim sẽ dựa trên những phác thảo của nhà biên kịch và chuyển thể theocách của họ.
Những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam đã bước đầu tạo được nhữngdấu ấn trong lòng khán giả trong nước và quốc tế Có nhiều bộ phim chuyểnthể được đánh giá cao, gửi đến khán giả những thông điệp nhân văn sâu sắc
như: Hương Ga, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Quyên… Những thành công
ấy phần nào làm nên thương hiệu cho điện ảnh Việt Nam Dấu ấn của thể loạiphim này đã từng được ghi nhận trong quá khứ với những bộ phim gây tiếng
vang như: Chị Dậu, Vợ chồng A Phủ, Làng Vũ Đại ngày ấy… tái hiện một
thời kì đen tối mà thấm đẫm giá trị nhân văn Những bộ phim sau này như:
Chùa Đàn, Đất phương Nam… cũng để lại những ấn tượng khó phai trong
lòng khán giả Để những bộ phim này thành công cũng đòi hỏi tài năng củacác nhà biên kịch Bởi lẽ nếu tác phẩm văn học phản ánh nội dung qua chấtliệu ngôn từ thì tác phẩm điện ảnh lại phản ánh nội dung qua chất liệu hìnhảnh Tuy nhiên giữa ngôn từ và hình ảnh không hề có sự tách biệt mà giaothoa bổ sung lẫn nhau Trong văn học vẫn có hình ảnh gợi nên từ ngôn từ,trong điện ảnh vẫn có sự xuất hiện của ngôn ngữ (thông qua lời trần thuật, tiếngngoài hình (voice over), lời thoại của nhân vật) để làm rõ nghĩa cho hình ảnh
Tóm lại, điện ảnh và văn học gắn bó, bổ sung cho nhau trong quá trìnhkhẳng định bản thân với tư cách là một loại hình nghệ thuật Trong mối quan
hệ khăng khít ấy, kịch bản điện ảnh như chiếc cầu nối liền hai loại hình nghệthuật tưởng như riêng rẽ này, tạo nên sự giao thoa tuyệt vời giữa chúng
1.2.4 Chuyển thể - một hình thức dựng phim cơ bản, một dạng tiếp nhận đặc biệt
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật thứ bảy, các vấn
đề về chuyển thể đã được xem xét khá tường tận Nó được khảo nghiệm khoahọc và trở thành một hệ thống lý thuyết tương đối đầy đủ Điều này giúp cho
Trang 30việc đánh giá trở nên đúng đắn và thận trọng, nó cũng làm cho các nhà làmphim có lựa chọn phù hợp khi quyết định chuyển thể một tác phẩm văn họcnào đó Chuyển thể văn học sang điện ảnh là một cách thức tiếp nhận đặc biệt.Điện ảnh và văn học là hai loại hình tồn tại riêng biệt, vì thế nó cũng quy địnhnhững đặc thù riêng của từng đối tượng tiếp nhận
1.2.4.1 Khái quát về chuyển thể
Chuyển thể (cải biên/cải tác) được hiểu là cải biến nội dung của hìnhthức nghệ thuật này cho phù hợp với hình thức nghệ thuật khác Vậy có thểhiểu công tác chuyển thể là việc chuyển đổi tác phẩm nghệ thuật từ thể loạinày sang thể loại khác Trong điện ảnh, các nhà làm phim đã sử dụng ngônngữ điện ảnh chuyển dịch một tác phẩm thuộc loại hình khác như thơ ca,kịch… thành tác phẩm điện ảnh Lúc đầu, công việc chuyển thể còn rất thô
sơ, có những tác phẩm điện ảnh chỉ như sự minh họa tác phẩm văn học bằnghình ảnh Dần theo thời gian, công tác chuyển thể ngày càng chiếm vị trí quantrọng Từ đây các bộ phim chuyển thể có giá trị ra đời, vừa trung thành vớinguyên tác vừa có những sáng tạo mang dấu ấn riêng và giá trị nghệ thuậtriêng Trên thế giới phải kể đến hàng loạt những siêu phẩm điện ảnh chuyển
thể như: “Cuốn theo chiều gió” (đạo diễn Fleming, Mỹ, 1939, từ tiểu thuyết
của nhà văn Mitchell), “Hăm let” (đạo diễn Olivier, Anh, 1948, từ vở kịch
cùng tên của Shakespeare), “Chiến tranh và hoà bình” (Đạo diễn
Bondarchuk, Liên Xô, 1965, từ tiểu thuyết cùng tên của Tolstoj)… Trường
hợp bộ phim “Gã khờ” (đạo diễn Kurosawa Arika, quay tại Nhật Bản, 1951,
từ tiểu thuyết cùng tên của Đôxtôepxki) là một trường hợp chuyển thể đặcbiệt Tác phẩm giữ nguyên cốt truyện nhưng bối cảnh lại được xây dựng ởmột thành phố Nhật Bản thời hậu chiến Điều này đã khiến bộ phim khoác lênmình một lớp ý nghĩa mới mẻ
Trang 31Ở Việt Nam, hình thái chuyển thể đã xuất hiện từ rất lâu Từ xa xưa,những câu chuyện truyền miệng dân gian, những câu hò vè… đã đi vào cácvai diễn trên sân khấu chèo tuồng Sau này, chính những chất liệu dân gian ấy
lại một lần nữa xuất hiện trên màn ảnh như những câu chuyện về Thằng Bờm, Thị Mầu… Ngày nay, những hình thức chuyển thể ngày càng phong phú hơn,
các tác phẩm văn học được dựng thành kịch nói, phim truyện, nhạc kịch…đôi khi, một vài mẩu chuyện, một phóng sự, một cuốn nhật kí cũng trở thànhgợi ý, thành đề tài cảm hứng cho các nhà làm điện ảnh
Khái niệm chuyển thể điện ảnh có những cách hiểu khác nhau Với cácnhà làm phim, chuyển thể hiểu đơn giản là phỏng theo, cải biên những sự kiện
có sẵn thành một tác phẩm điện ảnh, hiện diện duới hình thức kịch bản điệnảnh Còn đối với mỗi độc giả khi thưởng thức phim chuyển thể sẽ có nhiềucách hiểu khác nhau một cách có ý thức hoặc không có ý thức Còn với cácnhà phê bình thì đây chính là địa hạt đa dạng, với nhiều ý kiến trái chiều Thếnên, ở mỗi đối tượng tiếp cận, chuyển thể lại mang đến một nội hàm riêngbiệt Vấn đề chuyển thể luôn luôn là vấn đề phức tạp, khơi gợi nhiều tranh
luận Lê Thị Dương trong cuốn “Chuyển thể điện ảnh - văn học (nghiên cứu liên văn bản)” đã tổng hợp các tư liệu khảo sát lịch sử điện ảnh thế giới và
chia ra hai cách hiểu cơ bản về chuyển thể phổ biến từ trước đến nay
- Một phía coi chuyển thể chỉ là một dạng sản phẩm thứ cấp, “hạnghai”
- Phía khác coi “chuyển thể là sinh thể độc lập, đồng đẳng với các tácphẩm văn học” [10; 73] Lê Thị Dương cũng cho rằng, khó có thể đi đến một
sự thống nhất, đồng thuận trong cách hiểu, khó có thể đưa ra duy nhất cáchhiểu chung về vấn đề chuyển thể vốn dĩ đã rất phức tạp này
Tuy nhiên, thực tế khảo sát về giải Oscar năm 1992 cho thấy có tới85% các phim đoạt giải lại là các tác phẩm chuyển thể, và ở nền điện ảnh
Trang 32Pháp có tới 50% lấy nguồn từ văn học, và không có nơi nào trên thế giớinhững tác phẩm văn học giá trị của mỗi quốc gia lại không một lần xuất hiệntrên màn ảnh Điều này cho thấy những phim chuyển thể không phải là bảnsao của tác phẩm văn học mà nó còn là một thực thể riêng biệt với những khátvọng sáng tạo không ngừng của các nhà làm phim mọi thời, và trên lý thuyếthay thực tiễn thì nó cũng chính là một hình thức dựng phim cơ bản của nềnđiện ảnh nhân loại
1.2.4.2 Các phương thức chuyển thể cơ bản
Thực tế chuyển thể cũng là một dạng của liên văn bản, trong đó chọnlọc những chi tiết cơ bản của văn bản gốc để sáng tạo ra một tác phẩm khác
Từ cách tiếp nhận văn bản trên bình diện ngôn từ sang tiếp nhận văn bản trênnhiều yếu tố như âm thanh, hình ảnh, bối cảnh… Mỗi cách đọc đem lại nhữngkhoái cảm riêng cho người tiếp nhận, đem lại những hiệu ứng riêng cho từngtác phẩm Các nhà làm phim cũng chính là những người đọc, tiếp nhận mộtcách sáng tạo những tác phẩm văn học đó Dựa vào cách “đọc” văn bản vănhọc đặc biệt này, điện ảnh thế giới đã tổng kết hai phương thức cơ bản nhất,phổ biến nhất là chuyển thể tự do và chuyển thể trung thành với nguyên tác
** Chuyển thể trung thành.
Tức là cách chuyển thể dựa hoàn toàn vào văn bản gốc, không thay đổi
bổ sung gì Trong lịch sử điện ảnh nước nhà, có rất nhiều tác phẩm thuộc
dạng này như: Chị Dậu (đạo diễn Phạm Văn Khoa, chuyển thể từ Tắt đèn của
Ngô Tất Tố), Vợ chồng A Phủ (đạo diễn Mai Lộc - chuyển thể từ truyện cùng tên của Tô Hoài), Tướng về hưu (đạo diễn Nguyễn Khắc Lợi, chuyển thể từ truyện cùng tên của Nguyễn Huy Thiệp), Bến không chồng (đạo diễn Lưu Trọng Ninh - chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của Dương Hướng), Cánh đồng bất tận (đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình, chuyển thể từ tiểu thuyết
cùng tên của Nguyễn Ngọc Tư)… Trong số những tác phẩm chuyển thể kể
Trang 33trên, có những tác phẩm thành công, có những tác phẩm còn thiếu sót, chưatạo được dấu ấn riêng Gọi là chuyển thể trung thành bởi dấu ấn văn học hiệnlên rất rõ Đây chính là sự đối chiếu giữa hai văn bản, tồn tại ở dạng côngkhai trích dẫn, thế nên nó đem lại hiệu ứng thẩm mĩ khá giống nhau Tuynhiên, không phải cứ chuyển thể trung thành từ một tác phẩm văn học nổitiếng là tác phẩm ấy thành công Đôi khi, điện ảnh lại không vượt qua đượccái bóng khổng lồ của tác phẩm văn học gốc Nói như vậy để thấy rằng,chuyển thể trung thành có nhiều điểm thuận lợi như sẵn kịch bản, sẵn ýtưởng, sẵn nhân vật, sẵn sự nổi tiếng đảm bảo cho thương hiệu phim, songviệc chuyển thể để đạt sự thành công không hề đơn giản Nó vấp phải muônvàn khó khăn từ phía các nhà làm phim, nó đóng khung sự sáng tạo của họ, từnhững cái có sẵn ấy, nếu tác giả xử lí không khéo sẽ biến tác phẩm thành sự
mô phỏng, hạn chế sự tưởng tượng liên tưởng của độc giả, đồng thời khó cóthể tạo nên tính liên văn bản rộng tới những loại hình khác ngoài văn bản gốc.Hơn nữa, độc giả tiếp nhận luôn khe khắt, họ đặt kì vọng nhiều vào các tácphẩm điện ảnh chuyển thể, họ luôn so sánh và đối chiếu Điều này gây không
ít áp lực cho các nhà làm phim khi phải làm hài lòng cả hai đối tượng ngườixem mới và độc giả cũ của văn bản gốc Song, việc chuyển thể trung thành ấycũng chỉ có tính chất tương đối Các nhà làm phim vẫn có thể thay đổi vài chitiết, đưa vào những ý tưởng mới mẻ, cắt đi vài nhân vật, tình tiết không cầnthiết… để tạo ra những nét riêng độc đáo của một tác phẩm điện ảnh Điềunày cần đến tài năng, tâm huyết và sự sáng tạo của các nhà làm phim
** Chuyển thể tự do
Nền điện ảnh Việt Nam phần lớn là các phim chuyển thể tự do với
nhiều cách tiếp cận khác nhau Có thể kể đến bộ phim kinh điển Làng Vũ Đại
ngày ấy với ý tưởng tích hợp ba tác phẩm và một số nét về cuộc đời của nhà
văn Nam Cao vào phim, Mùa len trâu lấy ý tưởng từ truyện ngắn Mùa len
Trang 34trâu trong tập truyện Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam, Long Thành cầm giả ca lấy ý tưởng từ một bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, hay
Em còn nhớ hay em đã quên lấy gợi ý từ những ca khúc của Trịnh Công Sơn… Đặc biệt Đừng đốt là một bộ phim chuyển thể liên văn bản phức tạp,
tác phẩm bắt nguồn từ cuốn nhật kí Đặng Thùy Trâm, rồi có sự tích hợp liênvăn bản với văn hóa, xã hội, lịch sử, báo chí… Ngược lại với chuyển thểtrung thành, chuyển thể tự do chỉ dựa trên một vài ý tưởng, một vài nhân vật,tình tiết, đôi khi chỉ là một vài gợi ý nhỏ từ một hoặc một vài tác phẩm theocác phương thức cắt dán, hoặc kết hợp từ nhiều tác phẩm văn học, hoặc kếthợp các văn bản văn học với các văn bản phi văn học Do vậy khi xem những
bộ phim dạng này, ta chỉ thấy “thấp thoáng bóng dáng” [10; 78] của tác phẩmvăn học được chuyển thể Đối với dạng chuyển thể tự do, người đọc có vai tròlớn trong việc phát hiện mối liên quan giữa các tác phẩm văn học với các tácphẩm chuyển thể, hoặc giữa các tác phẩm điện ảnh với tác phẩm điện ảnh.Còn với các nhà làm phim, họ được thỏa sức sáng tạo, thậm chí mở rộng hơnbiên độ của thông điệp gốc Và đương nhiên điều này sẽ tạo được những hứngthú bất ngờ từ phía khán giả, thậm chí là cả độc giả của tác phẩm văn họcđược chuyển thể
Cần nói thêm, biên độ giữa chuyển thể trung thành và chuyển thể tự docũng chỉ có tính chất tương đối, bởi chúng đều xuất phát từ một nội hàm gốcnào đó
1.2.4.3 Cơ sở của chuyển thể
Khi các nhà làm phim thực hiện công tác chuyển thể, họ căn cứ vàonhững điểm giống và khác nhau giữa hai loại hình này Một trong những sựtương đồng để làm nên mối tương giao giữa điện ảnh và văn học đó là tươngđồng về tính tổng hợp và tương đồng về tính tự sự Về tính tổng hợp, điện ảnh
và văn học đều tiếp nhận các thành tựu của những ngành nghệ thuật khác như
Trang 35âm nhạc, hội họa, điêu khắc… Nó cũng tích hợp trong mình những đặc trưngcủa các môn khoa học khác như lịch sử, văn hóa… Bản thân hai loại hình nàycũng có sự ảnh hưởng lẫn nhau, vì thế chúng càng trở nên đa dạng hơn Vềtính tự sự, trong văn học, tự sự là kể chuyện, là cách thức lí giải câu chuyệntheo những cách riêng của nhà văn Với điện ảnh, tự sự cũng trở thành nghệthuật kể chuyện bằng âm thanh và hình ảnh Thực tế, tự sự trong điện ảnhcũng giống như trong văn học, nó thể hiện một trật tự sắp xếp hoàn chỉnh cóđầu có cuối và đi kèm theo sự nhận xét của tác giả thông qua điểm nhìn củanhân vật về những sự kiện được nêu ra.
Có thể nói rằng, từ những điểm tương đồng này mà càng ngày chúng
ta càng thấy sự tương tác giữa điện ảnh và văn học Điện ảnh tiếp nhận mạchnguồn tư liệu, ý tưởng từ văn học, văn học cũng tiếp nhận cách viết, cách xâydựng tác phẩm, bố trí bối cảnh, phân cảnh… từ điện ảnh
1.2.4.4 Những khó khăn của chuyển thể
Chuyển thể là công việc vô cùng khe khắt, nó đòi hỏi sự chú tâm, tàinăng và tầm nhìn của mỗi nhà làm phim Thế nên, không phải bất cứ nhà làmphim danh tiếng nào cũng đảm bảo độ thành công của tác phẩm mà mìnhchuyển thể Trong qúa trình làm phim của mình, họ đã chia sẻ những khókhăn gặp phải
Trước tiên ở đặc trưng thể loại Quả thực những đặc trưng riêng biệt vềloại hình, ngôn ngữ… đã khiến công việc chuyển thể gặp muôn vàn khó khăn
và cả những áp lực Có khi, tiểu thuyết cả vài trang miêu tả nhưng điện ảnhcũng chỉ thu hẹp vào trong khuôn hình vài giây Song hiệu quả của điện ảnh
là ở chỗ, chỉ vài giây ngắn ngủi nhưng nó có tác động mạnh mẽ, có sự tổnghợp của tất cả các hiệu ứng như âm thanh, hình ảnh, cử chỉ, điệu bộ, nétmặt… thậm chí, chỉ một cái nhíu mày, chớp mắt của diễn viên cũng đủ miêu
Trang 36tả nội tâm nhân vật mà có khi văn học cần đến cả trang giấy Cần phải nóithêm, với tác phẩm văn chương độc giả có thể được các nhà văn giải thích cặn
kẽ, thấu đáo, nhưng với điện ảnh sự hạn chế về ngôn từ khiến cho điện ảnhđòi hỏi người xem cần chú tâm nhiều hơn vào ngôn ngữ đặc trưng của điệnảnh để cảm và hiểu đúng những diễn biến tâm trạng nhân vật, những ý đồsáng tạo của của các nhà làm phim
Khó khăn thứ hai là ở vấn đề cấu trúc của tác phẩm văn học Các nhàvăn luôn luôn có một thế giới ngôn từ rộng mở để thỏa sức sáng tạo Trướcđây, trong văn học dân gian, cách kể chuyện đơn giản theo tuyến tính, nhưngngày nay, kết cấu truyện đã trở nên vô cùng phức tạp, nhiều lớp lang, tầngbậc, nhiều tuyến nhân vật nhiều điểm nhìn và đôi khi rất khó để xác địnhngười kể chuyện chính
Chuyển thể là tổ hợp của một văn bản đọc trong đó cách đọc của cácnhà làm phim như đạo diễn, biên kịch, quay phim ít nhiều cũng có những nétkhác biệt so với cách đọc của diễn viên Đồng thời ở mỗi người cách tiếpnhận cũng không giống nhau, điều này đã tạo nên sự đa dạng, phức hợp vàcũng đầy khó khăn của thể loại chuyển thể Vấn đề hồi tưởng, dựng phim, sắpxếp hình ảnh, cảnh quay, hiệu ứng được tạo ra từ những thiết bị kĩ thuật,chính là ngôn ngữ đặc trưng của điện ảnh để các nhà làm phim kể câu chuyệncủa mình
* Tiểu kết
Có thể khẳng định rằng, chuyển thể chính là công việc tạo dựng lạimột tác phẩm văn học bằng một loại hình nghệ thuật Đó là hiện tượng sángtạo lại tác phẩm thông qua một hệ thống các nhân tố tiếp nhận như biên kịch,đạo diễn, diễn viên, kĩ thuật viên, quay phim… Phim chuyển thể không phải
là sự mô phỏng lại tác phẩm văn học mà nó tồn tại độc lập, mang sắc tháimới, gợi sự liên tưởng đến các tác phẩm văn chương khác cùng đề tài, cùng
Trang 37thể loại Sự tiếp nhận thành công và sáng tạo của các nhà làm phim sẽ tạonhiều dấu ấn riêng trong lòng khán giả Tác phẩm “tái sáng tạo” này sẽ đếntay độc giả, và trong chính quá trình tiếp nhận của mình, độc giả có khả năngcung cấp thêm nhiều trường nghĩa cho các văn bản.
Trên đây là những vấn đề lý thuyết cơ bản về vấn đề tiếp nhận, vềnhững mối liên hệ cơ bản giữa văn học với điện ảnh, những khái quát vềchuyển thể, những phương thức, cơ sở để chuyển thể và những khó khăn màcác nhà làm phim gặp phải trong quá trình chuyển thể Một cách thức tiếpnhận không hề dễ dàng nhưng nó lại mang lại vô vàn hứng thú và cảm hứngsáng tạo cho các nhà làm phim Soi sáng vấn đề tiếp nhận dưới góc độ lý
thuyết giúp chúng ta nghiên cứu tiếp nhận Nam Cao qua chuyển thể Làng Vũ Đại ngày ấy một cách đầy đủ và khoa học nhất.
Trang 38CHƯƠNG 2: VIỆC XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC CÁC TUYẾN TRUYỆN TRONG PHIM
Đôxtôiepxki từng nói: “Hãy nhớ lấy lời di huấn của tôi, đừng bao giờbày đặt ra những cốt truyện, những mưu mẹo Hãy nắm lấy cái mà bản thâncuộc sống đưa lại Cuộc sống có giàu lên vì những lời bịa đặt của chúng tađâu! Trí tưởng tượng kém cỏi không nghĩ được cho anh cái điều mà bản thâncuộc sống bình thường hàng ngày đưa lại, hãy tôn trọng cuộc sống” [25; 8].Câu nói của Đôxtôiepxki khiến ta nghĩ tới Nam Cao và những cốt truyện củaông Có thể nói rằng, đưa câu chuyện về với dạng đời thường nhất, soi rọi vào
đó luồng ánh sáng mạnh mẽ của tư tưởng, nắm cái hồn cốt hàng ngày của tưtưởng, khai thác những điều vặt vãnh để qua đó gửi gắm những giá trị nhânsinh sâu sắc là một trong những đặc trưng tiêu biểu trong những tác phẩm củaNam Cao
Như chúng ta đã biết, cốt truyện được tạo nên bởi những diễn biếnhành động của các nhân vật Cốt truyện, xét đến cùng, là những mâu thuẫn xãhội được phản ảnh qua các mâu thuẫn về nhân cách Đối với những sáng tácthuộc chủ nghĩa hiện thực, cơ sở của cốt truyện đều bắt nguồn từ nhũng mâuthuẫn trong hiện thực đời sống, trong chính thế giới nội tâm phức tạp của conngười và trong mối liên hệ với hiện thực đời sống Mỗi nhà văn hiện thực sẽlựa chọn cho mình một kiểu cốt truyện riêng Vì thế, như trên đã nói, “cốttruyện, một mặt phụ thuộc vào đặc điểm của hiện thực …, mặt khác bị chi
phối bởi ý đồ sáng tạo của ông ta” [24; 42] Nhân vật trong tác phẩm luôn luôn gắn liến với cốt truyện Có thể thấy, trong quá trình sáng tác, Nam Cao
luôn dụng công xây dựng cốt truyện và nhân vật Ông thường hướng ngòi bútcủa mình vào việc miêu tả những cuộc đời quen thuộc ở quanh ta, những việctưởng như vặt vãnh hàng ngày Dường như ông luôn muốn hiểu thấu và ráoriết truy tìm đến nguyên nhân của các hiện tượng trong xã hội Ám ảnh của
Trang 39Nam Cao là tình trạng sống mòn và ông luôn day dứt câu hỏi “Liệu có thểbiến đổi thói quen của con người, liệu nhân loại có khả năng thoát ra khỏi tìnhtrạng chết mòn hay không?” Những nhân vật của ông cũng là những conngười hết đỗi bình thường trong cuộc sống Ông rất ít khi chọn những kiểucốt truyện mô tả hành động mà thường chuyên tâm chú ý đến những kiểunhân vật với một thế giới nội tâm đầy phức tạp và mâu thuẫn Thế nên, sựthay đổi của các sự kiện, xét đến cùng, chủ yếu là trạng thái tâm lí của chúngchứ không hẳn là số phận, tính cách, cuộc đời của nhân vật Hầu hết nhữngtruyện của Nam Cao cho chúng ta thấy ông có hứng thú đặc biệt với thế giớinội tâm của con người - một thế giới đầy sự bất ngờ, phong phú và phức tạp.Trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Nam Cao, cốt truyện hầu như không cầnđến sự tổ chức, sắp xếp, sự hư cấu dường như rất đơn giản Nam Cao khôngchấp nhận chỉ phản ánh những cái hời hợt bên ngoài của xã hội Ông muốnkhai thác bề sâu của hiện thực, bề sâu trong tâm hồn của con người Ông luônnới lỏng cốt truyện để cho những sự thực vặt vãnh ngoài cuộc sống ùa vàotrong tác phẩm, làm cho cuộc sống và nhân vật trong tác phẩm thật tự nhiênnhư nó vốn có
Cốt truyện hoạt động được là nhờ nhân vật Và sự kết nối các tuyếnnhân vật là điều mà chúng tôi đề cập; tức là việc khai thác các câu chuyệnkhác nhau trong tác phẩm theo lát cắt dọc Bộ phim của đạo diễn Phạm VănKhoa là sự kết hợp nhiều câu chuyện khác nhau và nó gồm ba tuyến truyệnchính: câu chuyện về lão Hạc, câu chuyện về Chí Phèo và câu chuyện về giáoThứ với những chi tiết về đời thực của Nam Cao Nhà văn hướng tới bao trùmnhiều đối tượng, với mỗi tác phẩm của mình, ông đều hướng tới một nhómđối tượng khác nhau Cảm hứng sáng tạo của Phạm Văn Khoa là tổ chức lạicác tuyến truyện ấy, đặt các nhóm đối tượng ấy trong một không gian chung
và dựng lên một bộ phim về những sáng tác của Nam Cao
Trang 402.1 Không gian trong truyện - bối cảnh trên phim
Không gian trong hầu hết những tác phẩm của ông là thôn quê vớinhững con đường làng, những vườn tược, những căn nhà dân dã, nghèo nàn…
Và trong số đó dường như không gian làng quê được chiếm trọn bởi nhữngngôi nhà, con đường, và những thứ còn lại dường như chỉ làm nền cho khônggian đó
Chọn làng Vũ Đại là bối cảnh chính trong phim, Phạm Văn Khoa đãkhéo léo sắp xếp tạo nên một không gian hoàn chỉnh, liền mạch cho 3 câuchuyện Vẫn con đường làng, vẫn những ngôi nhà quê dân dã, thêm bối cảnhbến đò và dòng sông quê, tác giả đã phác họa hoàn chỉnh bức tranh về làng
Vũ Đại với những nét vẽ đặc trưng của nông thôn đồng bằng Bắc Bộ
Trong tác phẩm của nhà văn Nam Cao, ba tác phẩm viết về ba conngười ở những thế giới riêng với những tính cách và hoàn cảnh sống riêng,
song trong phim Làng Vũ Đại ngày ấy họ lại có cùng một hoàn cảnh, môi
trường sống và có những mối liên hệ gần gũi láng giềng thân thiết Nhân vậtnày soi chiếu vào nhân vật kia, làm bừng tỉnh và nhận thức số phận Trênphim, ba con người với ba số phận bi đát của cuộc sống mỏi mòn đã giúpchúng ta hình dung một cách đầy đủ bức tranh của làng quê Việt Nam trướccách mạng tháng Tám, tiếng nói phê phán của bộ phim dường như trở nên sâusắc hơn