1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG

100 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 893,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK NÔNG

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn Thạc sĩ “Thực hiện Chính sách phát triển nguồn nhân lực từ thực

tiễn tỉnh Đắk Nông” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi dưới sự

hướng dẫn tận tình của TS Đinh Khắc Tuấn Các số liệu, kết quả nghiên cứu được công bố trong công trình hoàn toàn trung thực Trong công trình nghiên cứu này mọi sự tham khảo, trích dẫn đều được chú thích thỏa đáng, không có bất kỳ sự sao chép nào mà không có trích dẫn nguồn, tác giả

Tôi xin cam đoan những lời trên đây là đúng sự thật và xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan của mình./

Đắk Lắk, tháng 11 năm 2019

Học viên Cao học

Trần Văn Phúc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, Học viên đã nhận được sự động viên, giúp đỡ, hướng dẫn tận tình và quý báu của quý thầy, cô giáo cùng với sự động viên, khuyến khích của đồng nghiệp, người thân và bạn bè Trước hết, Học viên xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các giảng viên đã tận tình giảng dạy, cung cấp phương pháp nghiên cứu và giúp bản thân có thêm nhiều hiểu biết mới về chính sách công để Học viên tự tin, chủ động xây dựng

và hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến TS Đinh Khắc Tuấn, Người Thầy đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ Học viên trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đắk Nông; Lãnh đạo và cán bộ công chức các Sở, Ban, Ngành của tỉnh Đắk Nông đã quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để Học viên học tập, nghiên cứu, thu thập thông tin, tài liệu,

số liệu để hoàn thành Luận văn này

Với khả năng của bản thân và thời gian nhất định, chắc chắn Luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót; Học viên rất mong nhận được sự thông cảm cũng như đóng góp ý kiến của quý thầy, cô giáo, các nhà khoa học và sự chia sẽ của đồng nghiệp, bạn bè để Học viên có thể tiếp tục nghiên cứu sâu hơn và toàn diện hơn

Xin chân thành cảm ơn./

Đắk Lắk, tháng 11 năm 2019

Học viên Cao học

Trần Văn Phúc

Trang 5

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 8

1.1 Các khái niệm liên quan đến chính sách phát triển nguồn nhân lực 8 1.2 Khái niệm, vị trí, ý nghĩa thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực 13 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực 15

1.4 Nội dung quy trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TỈNH ĐẮK NÔNG 67

3.1 Mục tiêu, phương hướng về phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Đắk Nông trong thời gian tới 67 3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực 69

Trang 6

3.3 Một số kiến nghị về thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực 77

Tiểu kết Chương 3 78

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHẦN PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BCHTW Ban chấp hành Trung ương CBLĐQL Cán bộ lãnh đạo quản lý CMCN Các mạng công nghiệp CNXH Chủ nghĩa xã hội CNH- HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CS; CSC Chính sách; Chính sách công GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

HĐND Hội đồng nhân dân HNQT Hội nhập quốc tế KH&ĐT Kế hoạch và Đầu tư KH&CN Khoa học và Công nghệ KHXH Khoa học xã hội

KHTN Khoa học tự nhiên KHKT Khoa học kỹ thuật

KT - XH Kinh tế - xã hội

LĐ, TB&XH Lao động, Thương binh và Xã hội LHQ Liên Hiệp quốc

NNL Nguồn nhân lực PTNNL Phát triển nguồn nhân lực

QP - AN Quốc phòng - An ninh TCCS Tổ chức cơ sở

UBND Ủy ban nhân dân XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm phân theo thành thị, nông thôn 33 Bảng 2.2: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm phân theo ngành kinh tế 33 Bảng 2.3: Thống kê công tác truyền thông về công tác đào tạo nhân lực có tay nghề cao 39

Trang 9

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Ngay từ khi lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ, xem đây là khâu then chốt trong toàn bộ hoạt động, là nguyên nhân thành, bại của cách mạng Việt Nam Trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là Việt Nam đang đẩy mạnh tiến trình Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, điều đó lại được khẳng định lại một lần nữa Tại các kỳ Đại hội XI, XII, Đảng ta khẳng định “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao làm một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020” “tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba khâu đột phá trong chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo, PTNNL, nhất là NNL chất lượng cao …” đây là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay

Từ khi thành lập tỉnh đến nay, tỉnh Đắk Nông luôn đứng trước những thách thức về nguồn nhân lực bởi tiến trình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh đòi hỏi rất cao về chất lượng nguồn nhân lực Tuy nhiên, đội ngũ nhân lực của tỉnh, đặc biệt là cán bộ chủ chốt chủ yếu được điều động từ tỉnh Đắk Lắk sang, đến nay phần lớn lực lượng này đã nghỉ hưu hoặc đến tuổi nghỉ hưu Đội ngũ cán bộ trẻ mới tuyển dụng hầu hết được đào tạo cơ bản nhưng chưa có điều kiện để rèn luyện, thử thách cọ xát với thực tế nhiều nên chất lượng còn hạn chế, chưa đủ đáp ứng được yêu cầu phát triển của tỉnh Bên cạnh đó, chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về công tác tại tỉnh Đắk Nông còn gặp nhiều khó khăn, chưa mang lại hiệu quả

Tỉnh Đắk Nông được tái lập vào ngày 01/01/2004, là tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của Tây Nguyên, có đường biên giới tiếp giáp với Campuchia dài 130km Trong những năm qua được sự quan tâm đầu tư của Trung ương cùng với

sự nổ lực của cán bộ, quân và dân tỉnh Đắk Nông đã đạt được tốc độ phát triển khá

Trang 10

2

nhanh: năm 2018 dân số đạt trên 644.000 người với 8 đơn vị hành chính cấp huyện; tốc độ tăng trưởng GDP hơn 12%; quy mô nền kinh tế của tỉnh năm 2018 tăng gấp 4,32 lần so sới năm 2004; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 40,72 triệu đồng/người/năm 2018; cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển biến rõ nét từ chủ yếu là nông nghiệp sang hướng công nghiệp, dịch vụ Tuy nhiên, tỉnh Đắk Nông về cơ bản vẫn là một tỉnh có “kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém, nội lực yếu, nguồn nhân lực bất cập” Trước những yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế và thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh Ngày 10/8/2011 Tỉnh ủy Đắk Nông đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU về phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 35/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông về quy định các chính sách phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2012-2015; Ngày 09/10/2013, UBND tỉnh Đắk Nông đã ban hành Quyết định số 1594/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đắk Nông đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 Bên cạnh đó, nhiều đơn vị, địa phương trong tỉnh đã ban hành và tiếp tục thực hiện có hiệu quả nhiều chủ trương, chính sách nhằm đào tạo, phát triển và thu hút nhân lực trên địa bàn như chính sách về công tác cán bộ; Chính sách hỗ trợ kinh phí cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số tại chỗ, chính sách dạy nghề; chính sách phát triển giáo dục và đào tạo; chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, đội ngũ cán

bộ chủ chốt đã được các cấp ủy và lãnh đạo đơn vị quan tâm thực hiện, khuyến khích tự đào tạo sau đại học, đại học văn bằng 2, bồi dưỡng theo vị trí việc làm, nâng cao kỹ năng lãnh đạo, quản lý, kỹ năng xử lý tình huống … Trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách trên, bước đầu đã mang lại hiệu quả đáng ghi nhận trong công tác đánh giá, quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng cán bộ trong

hệ thống chính trị, công tác đào tạo nghề, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân từ

cơ sở đến tỉnh Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị, chất lượng cán bộ, trình độ tay nghề của người lao động được nâng lên rõ rệt Bên

Trang 11

3

cạnh những thành quả chung, cũng đã nhận thấy rõ những vướng mắc, bất cập Đó

chính là lý do tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực từ

thực tiễn tỉnh Đắk Nông” để thực hiện luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của mình Việc

nghiên cứu đề tài là thiết thực và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Nông hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ngoài các tài liệu thu thập được từ Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông, một số

đề tài, luận văn, sách báo, bài viết liên quan đến PTNNL được tác giả tham khảo, kế thừa và phát triển trong luận văn này như:

- Vũ Văn Phúc, Nguyên Huy Hùng (đồng chủ biên – 2012), Phát triển nguồn

nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội Các tác giả đã trình bày từ những vấn đề lý luận chung, kinh nghiệm trong nước và quốc tế từ đó nêu lên thực trạng, những kiến nghị và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH và HNQT Đây là cuốn sách có giá trị tham khảo trong học tập và nghiên cứu áp dụng cho thực tiễn Việt Nam

- Trần Văn Tùng – Lê Ái Lâm (1996), Phát triển nguồn nhân lực: kinh

nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Các tác giả

luận giải một số vấn đề về cơ sở lý luận chung về NNL, phân tích thực trạng nguồn nhân lực và khái quát một số kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực trên thế giới

và Việt Nam

- Chu Chí Thắng (2002), Hợp tác quốc tế về đào tạo nguồn nhân lực Khoa

học và công nghệ sau đại học – Nghiên cứu trường hợp Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ quốc gia Đề tài đã đi sâu vào phân tích những yếu tố đã đạt

được trong quá trình hợp tác với các trường liên kết đào tạo, làm rõ những yếu điểm, phân tích quá trình hợp tác và định hướng phát triển cho trung tâm trong những giai đoạn tiếp theo…

- TS Nguyễn Tuyết Mai (2000), “Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của

Việt Nam”, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, do Bộ Kế hoạch và đầu tư chủ trì Tác

Trang 12

4

giả đã chỉ ra tầm quan trọng, quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển NNL của nước ta

- Nguyễn Thanh (2002), “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước” Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Dưới góc độ Triết

học, tác giả đã khẳng định phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay; Việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng ở nước ta, thực trạng và một số định hướng chủ yếu về phát triển nguồn nhân lực Từ đó, tác giả đã đưa ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho CND, HĐH

- Tô Huy Rứa (2015), Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực chất lượng

cao ở nước ta hiện nay, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 12-2014, số 1-2015, số

2+3-2015 Tác giả đã trình bày cơ sở lý luận khẳng định: Nguồn nhân lực chất lượng cao

- nhân tố quyết định thành công trong cạnh tranh, hội nhập và phát triển và đề xuất giải pháp nhằm phát triển NNL chất lượng cao đáp ứng kịp thời yêu cầu tiếp tục công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước

- Luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông

thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông” của Lê Thị Mỹ Hằng, năm 2017 Tác giả đã hệ

thống hóa các cơ sở lý luận, phân tích, đánh giá mục tiêu và đưa ra các giải pháp, công cụ, vai trò của hoạt động quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông trong thời gian tới

Các công trình trên đã nêu lên những thực trạng chung và đã đưa ra những giải pháp khái quát nhằm phát triển nhân lực trong điều kiện hội nhập, song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể về “Thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực từ thực tiễn tỉnh Đắk Nông” để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk

Nông có hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh Do đó, đề tài “Thực

hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực từ thực tiễn tỉnh Đắk Nông” là công

trình nghiên cứu có tính độc lập

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề cơ sở lý luận về thực thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực;

- Phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông từ năm 2011 đến nay

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông

4.2 Phạm vi nghiên cứu

a) Về nội dung: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về phát trển nguồn nhân

lực, chính sách phát triển nguồn nhân lực, thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông

b) Về không gian: tại tỉnh Đắk Nông

c) Về thời gian: Luận văn thực hiện việc phân tích, đánh giá việc thực hiện

chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông từ năm 2011 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Trang 14

6

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu: Tác giả luận văn nghiên cứu các văn bản quy phạm có

liên quan đến đề tài nghiên cứu; tài liệu sách, báo, bài viết hội thảo, hội nghị; Kết

quả nghiên cứu của các đề tài khoa học có liên quan đã được công bố

- Phương pháp phân tích thống kê mô tả: Chủ yếu tập trung vào thống kê mô

tả, so sách thông qua các số liệu, chỉ tiêu để đánh giá chính sách, các bảng biểu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng để tổng hợp và phân tích

các số liệu về nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông trong thời gian từ 2011 đến 2015

và từ 2015 đến nay, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được; những hạn chế, yếu kém của việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông

- Phương pháp phân tích so sánh: Kết quả việc thực hiện chính sách phát

triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông từ năm 2011 đến 2015 và từ 2015 đến nay,

từ đó đưa ra các đánh giá trong việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn đã hệ thống hóa, cung cấp các cứ liệu, góp phần bổ sung vào khoảng trống nghiên cứu về quá trình thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông, làm phong phú thêm những nhận thức nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

Kết quả nghiên cứu của Luận văn cũng cung cấp những nhận thức mới về quá trình thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông từ đó tìm ra những ưu điểm, tồn tại và bất cập để rút ra bài học kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại các tỉnh khác nói chung

- Luận văn đã đóng góp những đề xuất, ý tưởng và những giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông

Trang 15

7

- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý trên địa bàn các tỉnh nói chung và tỉnh Đắk Nông nói riêng trong việc ban hành chính sách và thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực của tỉnh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực từ thực tiễn tỉnh Đắk Nông

Chương 3: Phương hướng, mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu quả thực

hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông

Trang 16

8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN

NHÂN LỰC 1.1 Các khái niệm liên quan đến chính sách phát triển nguồn nhân lực

1.1.1 Nguồn nhân lực

Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [31, tr.3]

Theo GS.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” [16,tr 269]

Theo PGS.TS Hoàng Chí Bảo: “nguồn lực con người là sự kết hợp thể lực

và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển con người” [1, tr 53]

Như vậy, khi nói đến nguồn nhân lực tức là nói đến toàn bộ những người có khả năng tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội trực tiếp và các thế hệ những người

sẽ tiếp tục tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội (tiềm năng) Nguồn nhân lực không đơn thuần là lực lượng lao động có và sẽ có mà là tập hợp gồm cả ba yếu tố thể lực, trí lực và kỹ năng lao động, thái độ lao động và phong cách làm việc Những đặc điểm này thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực và được đánh giá bằng các chỉ tiêu tổng hợp là văn hóa lao động

Từ các cách hiểu nêu trên và từ thực tiễn gắn với góc độ nghiên cứu của đề tài, có thể hiểu: NNL là nguồn lực con người, là tổng thể số dân và chất lượng con người với những chỉ tiêu về thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình lao động sáng tạo

vì sự phát triển và tiến bộ của xã hội

Trang 17

9

Như vậy, trong nguồn nhân lực thì yếu tố chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng, quyết định cho sự phát triển và tiến bộ của xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh

mẽ và nhanh chóng thì nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò cực kỳ quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững, thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển

1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực

Theo Liên Hiệp Quốc: Phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo

và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống nguồn nhân lực [60]

Theo GS Nguyễn Đình Tấn: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế - xã hội [37, tr 32]

Theo PGS Phạm Thành Nghị: Phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực

và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng gia tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội [34, tr 14]

Từ những khái niệm trên, tác giả cho rằng, phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi cả về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực và tâm lực nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển Như vậy, PTNNL bao gồm phát triển về số lượng và phát triển về chất lượng Trong giai đoạn hiện nay, PTNNL về chất lượng đang được đặc biệt quan tâm để tạo ra NNL chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của đất nước

Phát triển về mặt số lượng là làm tăng số lượng nhân lực trẻ cơ học thông qua các chính sách dân số, điều tiết cơ cấu vùng miền, cơ cấu sản xuất

Phát triển về mặt chất lượng là nâng cao sức khỏe, thể lực chiều cao, cân nặng cân đối, trình độ chuyên môn, văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức, lối sống …

Trang 18

Qua nghiên cứu cho thấy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nội hàm của chính sách Tuy nhiên, tác giả đồng ý với cách hiểu:

“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Muốn đầu ra chính sách đúng phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh loạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể” [30, tr 475] Đây là một khái niệm tương đối hoàn chỉnh về chính sách nói chung, theo khái niệm này, nội hàm của chính sách gồm:

Thứ nhất, Chính sách là văn bản cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với một lĩnh vực nào đó, một đối tượng nào đó

Thứ hai, CS thường được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Thứ ba, Chính sách được ban hành phải căn cứ vào đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước và tình hình thực tế nhắm đến một mục đích nào đó; nhằm thực hiện mục tiêu nào đó

Thứ tư, Chính sách muốn có tính khả thi cao khi áp dụng vào thực tế thì khi xây dựng chính sách cần sát với tình hình thực tiễn và khi áp dụng phải có tính linh hoạt, sáng tạo trên cơ sở vận dụng đường lối, chủ trương, nhiệm vụ để phù hợp với điều kiện thực tế của từng ngành nghề, từng địa phương, vùng miền

1.1.4 Chính sách công

Theo PGS.TS Đỗ Phú Hải: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định

Trang 19

11

chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể với các giải pháp công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của Đảng chính trị cầm quyền” [18, tr 37]

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Hải: "Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội" [20, tr 51]

Theo PGS.TS Hồ Việt Hạnh: “Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng” [21, tr 6]

Tóm lại từ các khái niệm trên, cho thấy Chính sách công đều có những đặc trưng quan trọng đó là:

Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước Nhà nước ở đây

được hiểu là các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước, bao gồm Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, chính quyền địa phương các cấp… CSC do Nhà nước đề ra

và tổ chức thực thi nên CSC luôn phản ánh bản chất của Nhà nước đó Nhà nước ta

là nhà nước của dân, do dân và vì dân Vì vậy các CSC của Nhà nước là sự tác động của Nhà nước lên các lĩnh vực kinh tế - xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước, phục vụ lợi ích của nhân dân Trong giai đoạn hiện nay, các CSC của Nhà nước hướng vào việc tạo ra những động lực và phát huy sức mạnh nội tại trong dân, kết hợp với việc tạo dựng nguồn vốn, môi trường và điều kiện quốc tế để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thứ hai, CSC gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau Khái niệm quyết

định ở đây có thể được coi như một sự lựa chọn hành động của Nhà nước Chính sách là một chuỗi hay một loạt các quyết định cùng hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy Nhà nước ban hành trong một thời gian dài Một chính sách có thể được thể chế hóa thành các văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp lý cho việc thực thi

Thứ ba, các quyết định này là những quyết định hành động CSC trước hết thể

hiện dự định của nhà hoạch định chính sách làm thay đổi hay duy trì một hiện trạng

Trang 20

12

nào đó Song, nếu chính sách chỉ là những dự định, dù được ghi thành văn bản thì

nó vẫn chưa phải là một chính sách CSC còn phải bao gồm các hành vi thực hiện những dự định nói trên và đưa lại những kết quả thực tế

Thứ tư, CSC tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế -

xã hội theo những mục tiêu xác định Khác với các loại công cụ quản lý khác như chiến lược, kế hoạch của nhà nước là những chương trình hành động tổng quát, bao quát một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc điểm của CSC là chúng được đề ra và được thực hiện nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội

Có thể nói, vấn đề chính sách là hạt nhân xuyên suốt toàn bộ quy trình chính sách

Thứ năm, xét theo nghĩa rộng, CSC bao gồm những việc nhà nước định làm và

không định làm Điều đó có nghĩa là, không phải mọi mục tiêu của CSC đều dẫn tới hành động, mà nó có thể là yêu cầu của chủ thể không được hành động Chẳng hạn, chính sách thả nổi giá cả xác định việc Nhà nước không can thiệp vào sự lên xuống của giá cả mà để cho chúng biến động theo cơ chế thị trường

Thứ sáu, CSC tác động đến các đối tượng của chính sách Đối tượng chính

sách là những người chịu sự tác động hay điều tiết của chính sách Phạm vi điều tiết của chính sách có thể rộng hay hẹp tùy theo nội dung của từng chính sách

Thứ bảy, CSC được Nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng

đồng hoặc của quốc gia Tuy nhiên, trên thực tế có tình trạng là một chính sách công đem lại lợi ích cho bộ phận dân cư này nhiều hơn so với bộ phận dân cư khác, thậm chí có bộ phận bị thiệt thòi

1.1.5 Chính sách phát triển nguồn nhân lực

Từ những khái niệm chung về chính sách công và khái niệm về PTNNL Tác giả luận văn xác định cách hiểu chính sách PTNNL như sau:

Chính sách phát triển nguồn nhân lực là những hành động ứng xử của Nhà nước thông qua các hình thức khác nhau để chăm lo, giáo dục, đào tạo, tạo điều kiện cho công dân trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu

sự nghiệp phát triển của xã hội, bảo vệ tổ quốc và hội nhập quốc tế

Khái niệm nêu trên đã bao gồm các nội dung:

Trang 21

13

Thứ nhất, Cơ quan ban hành chính sách PTNNL là Nhà nước: Quốc hội, Chính phủ; các bộ ngành thuộc Chính phủ và HĐND các cấp

Thứ hai, các chính sách được thể hiện bằng các công cụ, hình thức khác nhau như

hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật: Luật, Nghị định, Nghị quyết, Thông tư …

Thứ ba, các chính sách PTNNL thể hiện việc chăm lo, giáo dục, đào tạo trình

độ chuyên môn, văn hóa, nghề nghiệp, tay nghề, kỷ thuật lao động, kỹ năng lao động cho người lao động

Thứ tư, Mục tiêu của các chính sách PTNNL là đào tạo công dân trở thành nguồn lực có tay nghề, trình độ chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp phát triển của xã hội, bảo vệ tổ quốc và hội nhập quốc tế

1.2 Khái niệm, vị trí, ý nghĩa thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

1.2.1 Khái niệm thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Thực hiện chính sách công nói chung, chính sách PTNNL nói riêng là toàn

bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách PTNNL thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu định hướng của Nhà nước Thực hiện chính sách PTNNL là giai đoạn thứ tư, đặc biệt quan trọng của chu trình chính sách PTNNL Nói cách khác, đây là quá trình kết hợp giữa con người với các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ nhằm sử dụng các nguồn lực này một cách có hiệu quả theo những mục tiêu đề ra

1.2.2 Vị trí của thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Nếu ví chu trình chính sách PTNNL như một sợi xích liên kết lại với nhau thì

tổ chức thực hiện chính sách là một mắt xích quan trọng trong chu trình chính sách, nếu thiếu vắng mắt xích này thì chu trình chính sách không thể tồn tại Trên thực tế, khi một chính sách được triển khai vào đời sống xã hội thì sẽ có các trường hợp xảy

ra như sau: Thứ nhất, một chính sách tốt nếu thực hiện tốt thì chính sách đó thành công; Thứ hai, một chính sách tốt nếu thực hiện không tốt thì chính sách đó thất bại;

Thứ ba, một chính sách không tốt nếu thực hiện tốt thì chính sách đó thành công; Thứ

tư, một chính sách không tốt nếu thực hiện không tốt thì chính sách đó thất bại kép

Trang 22

14

Tổ chức thực hiện chính sách PTNNL là trung tâm kết nối các giai đoạn trong chu trình chính sách PTNNL thành một hệ thống Giai đoạn thực hiện chính sách được coi là giai đoạn tổng hợp của cả 3 giai đoạn gồm: Hoạch định chính sách, thực thi chính sách và đánh giá chính sách So với các khâu khác trong chu trình chính sách PTNNL, tổ chức thực hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hóa chính sách PTNNL vào trong đời sống xã hội Thực tiễn

là chân lý, nếu đưa vào thực hiện chính sách PTNNL tốt không những mang lại lợi ích to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng mà còn củng cố niềm tin của nhân dân vào các chính sách của Nhà nước Điều này hoàn toàn có lợi về mặt chính trị và xã hội, làm tăng uy tín của Nhà nước trong công tác quản lý

Ngoài ra, chính sách PTNNL là chính sách có đặc thù vì nó tác động sâu rộng tới toàn thể nhân dân do đó trong tổ chức thực hiện chính sách PTNNL phải chú ý đến đặc thù này để tìm ra giải pháp phù hợp, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của chính sách

Tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL là yêu cầu tất yếu khách quan

để duy trì sự tồn tại của chính sách PTNNL với tư cách là công cụ vĩ mô theo yêu cầu quản lý của nhà nước và cũng là để đạt mục tiêu mà chính sách phát triển NNL theo đuổi

1.2.3 Ý nghĩa của việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

- Tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL là để từng bước thực hiện các

mục tiêu chính sách và mục tiêu chung

Thông qua quá trình thực thi chính sách để đạt được các mục tiêu chính sách,

vì thực thi chính sách bao gồm các hoạt động của các cơ quan nhà nước với các đối tác xã hội thực hiện nhằm hướng tới đạt được các mục tiêu và mục đích của chính sách Khi triển khai thực hiện chính sách, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản, hoặc chương trình, dự án để hiện thực hóa các mục tiêu và mục đích chính sách, và tiến hành các hoạt động để thực hiện các văn bản, chương trình,

dự án đó

- Tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL là để khẳng định tính đúng đắn của chính sách

Trang 23

15

Trong đời sống xã hội, việc nhận thấy những mâu thuẫn cần được giải quyết bằng chính sách nhờ quá trình hoạch định chính sách Tuy nhiên, chính sách đó có thực sự đúng đắn hay không chỉ có thể được khẳng định trong giai đoạn thực hiện chính sách Thực hiện chính sách công chính là giai đoạn cung cấp thêm các bằng chứng thực tiễn về mục tiêu chính sách công có thực sự phù hợp hay không, các giải pháp chính sách có thực sự phù hợp với vấn đề mà nó hướng tới giải quyết hay chưa Về lý thuyết, khi chính sách được ban hành thì nó đã phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của một chính sách tốt và đã được chủ thể ban hành chính sách thừa nhận, nhưng khi triển khai vào đời sống xã hội thì tính đúng đắn của nó mới được

xã hội và các đối tượng thụ hưởng chính sách khẳng định một cách chắc chắn

- Tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL là nhằm giúp cho chính sách ngày càng hoàn thiện hơn

Khi chính sách phát triển NNL ban đầu được ban hành thì cũng chỉ mang tính định hướng về mục tiêu và giải pháp để giải quyết các vấn đề về phát triển NNL Căn cứ vào mục tiêu và giải pháp của chính sách ban đầu, tùy theo thẩm quyền của các cơ quan nhà nước các cấp thiết kế, ban hành các quy định, chương trình, thủ tục, dự án để cụ thể hóa các mục tiêu và giải pháp cho phù hợp với điều kiện thực tế Song song với đó, thông qua quá trình thực hiện chính sách, những người thực hiện chính sách sẽ đưa ra các đề xuất điều chỉnh chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế đời sống xã hội và rút ra những bài học kinh nghiệm cho các chính sách sau này Chính vì thế, có thể nói giữa giai đoạn hoạch định chính sách và thực hiện chính sách có mối quan hệ hữu cơ Việc phân tách rạch ròi giữa thực hiện chính sách với hoạch định chính sách trước đây đã không còn phù hợp

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Trang 24

16

tác động của chúng đến quá trình thực hiện chính sách lại rất lớn vì cơ chế tác động giữa chúng với các vấn đề chính sách được hình thành trên cơ sở quy luật Vì đây là các yếu tố khách quan nên chúng ta không thể cải biến mà chỉ tìm cách điều chỉnh các hoạt động quản lý, điều hành cho phù hợp với quy luật vận động trong mỗi điều kiện về không gian và thời gian Các yếu tố khách quan chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổ chức thực hiện chính sách PTNNL gồm:

- Tính chất của vấn đề chính sách phát triển NNL:

Vấn đề chính sách phát triển NNL là vấn đề phức tạp, có quan hệ lợi ích với nhiều đối tượng trong xã hội, thời gian thực hiện tương đối dài Bên cạnh đó tính cấp bách, thời sự của chính sách phát triển NNL cũng tác động lớn đến kết quả tổ chức thực hiện Không thể một sớm, một chiều có thể thực hiện thành công chính sách phát triển NNL Do đó, tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL cần phải quan tâm đến tính chất của vấn đề chính sách

- Môi trường thực hiện chính sách phát triển NNL:

Đây là yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,

an ninh quốc phòng, môi trường tự nhiên và quốc tế… Các hoạt động này diễn ra theo quy luật trong những điều kiện cụ thể, nên nó độc lập với quá trình thực thi chính sách Tỉnh Đắk Nông là tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số cao so với tỷ lệ bình quân cả nước Đến năm 2011, dân số tỉnh Đắk Nông là 521.677 người, gồm 40 dân tộc cùng sinh sống Trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 32% dân

số toàn tỉnh Dân tộc M’Nông, Mạ và Ê Đê là 3 dân tộc sinh sống lâu đời ở địa phương, chiếm trên 30% so với tổng số dân tộc thiểu số toàn tỉnh, là tỉnh có nền văn hóa, văn nghệ dân gian phong phú và đa dạng như các nghi lễ, lễ hội, truyện cổ, lời nói vần, sử thi (ót n’drông) với tầm vóc và số lượng đồ sộ hàng ngàn, hàng vạn câu văn vần, đàn đá Đắk Kar, các luật tục, văn hóa công chiêng …

Năm 2011, số người trong độ tuổi lao động toàn tỉnh đang làm việc trong các ngành kinh tế là 315.675 người, chiếm 60,5% dân số, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 27,75% Số lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Đắk Nông có khoảng 16.492 người Trong đó, nữ khoảng 6.359; Dân tộc: 1.397 người

- Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thiện chính sách phát triển NNL:

Trang 25

17

Đây là yếu tố thể hiện sự thống nhất và không thống nhất về lợi ích của các đối tượng trong việc thực hiện mục tiêu chính sách phát triển NNL Cho nên, trong thực hiện chính sách phát triển NNL cần phải chú ý đến mối quan hệ này Có giải pháp tạo được sự đồng thuận và thống nhất cao về lợi ích giữa các đối tượng trong

tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL Cần tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các đối tượng tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách phát triển NNL

- Tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách phát triển NNL:

Đây là yếu tố thể hiện thực lực và tiềm năng mà mỗi nhóm có được trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác trong chính sách phát triển NNL Tiềm lực các nhóm đối tượng chính là kinh tế, chính trị, xã hội … Tiềm lực các nhóm đối tượng trong chính sách phát triển NNL ở nước ta rất khác nhau do hoàn cảnh tự nhiên, văn hóa lịch sử về nguồn nhân lực nước ta chưa được đồng đều, nguồn nhân lực đa dạng, đa sắc tộc, phong phú

- Đặc tính của đối tượng chính sách phát triển NNL:

Là các tính chất đặc trưng mà mỗi đối tượng của chính sách phát triển NNL

có được từ bản tính cố hữu hay do môi trường sống tạo nên qua quá trình vận động mang tính lịch sử Các đặc tính này thường liên quan đến tính kỷ luật, tính sáng tạo, tính tự giác, lòng quyết tâm, tính truyền thống … Các đặc tính này gắn liền với đối tượng thực hiện chính sách phát triển NNL Do đo, các chủ thể tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL cần phải biết cách khơi gợi hay hạn chế nó để có được kết quả tốt nhất trong quá trình thực hiện chính sách phát triển NNL

1.3.2 Yếu tố chủ quan

Trong quá trình thực hiện chính sách phát triển NNL, ngoài các yếu tố khách quan cần quan tâm thì cần cần chú ý đến các yếu tố chủ quan như:

- Các chính sách của địa phương về phát triển nguồn nhân lực:

Trên cơ sở nghiên cứu, quán triệt nôi dung Nghị quyết số 05, HĐND tinỉ, UBND tỉnh, các huyện ủy, thi ủy, đảng ủy trực thuộc, các sở, ban, ngành, Măt trận, đoàn thể, các doanh nghiệp của tỉnh đã cụ thể hóa Nghị quyết số 05 thành các đề án,

kế hoạch, chương trình hành động và tổ chức triển khai thực hiện như:

Trang 26

18

- HĐND tỉnh ban hành:

Nghị quyết số 35/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 của HĐND tỉnh, quy định các chính sách phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2012-2015;

Nghị quyết số 38/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 của HĐND tỉnh, về chính sách hỗ trợ kinh phí cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Nông từ năm học 2011-2012 đến năm học 2015-2016;

Nghị quyết số 41/2012/NQ-HĐND, ngày 20/12/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông thông qua Đề án nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Nông từ năm học 2012-2013 đến năm học 2015-2016;

Nghị quyết số 45/2012/NQ-HĐND, ngày 20/12/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông về chính sách tạo quỹ đất ở và hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho cán

bộ, công chức, viên chức;

Nghị quyết số 09/2014/NQ-HĐND, ngày 16/7/2014 của HĐND tỉnh, Quy định chính sách thu hút, đãi ngộ đối với bác sĩ, dược sĩ đại học và sau đại học về công tác tại các cơ quan, đơn vị y tế công lập trên địa bàn tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2015-2020

Quyết định số 1987/QĐ-UBND, ngày 15/12/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông về việc ban hành Đề án đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020;

Quyết định số 168/QĐ-UBND, ngày 08/02/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông về chính sách hỗ trợ kinh phí cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Nông từ năm 2011-2012 đến năm học 2015-2016;

Trang 27

19

Quyết định số 03/2012/QĐ-UBND ngày 09/3/2012 của UBND tỉnh Đắk Nông về việc Quy định các chính sách phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2012-2015;

Quyết định số 18/2012/QĐ-UBND, ngày 21/9/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông về việc ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Đắk Nông;

Quyết định số 1594/QĐ-UBND, ngày 09/10/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông về phê duyệt Đề án Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đắk Nông đến 2015 và định hướng đến năm 2020;

Quyết định số 346/QĐ-UBND về Kế hoạch thực hiện Đề án củng cố và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức xã phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2014-2021;

- Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL:

Quy trình thực hiện chính sách được xem là những nguyên lý khoa học được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống Việc tuân thủ quy trình là một nguyên tắc hành động của các nhà quản lý Các bước trong quy trình thực hiện chính sách phát triển NNL đều có vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của nó Các bước trong quy trình thực hiện chính sách phát triển NNL gắn kết chặt chẽ với nhau, bổ trợ và tác động lẫn nhau, làm tốt bước này là nên tảng, ảnh hưởng, tác động đến bước kia và ngược lại Bên cạnh đó cần phải thực hiện đầy đủ các bước, không được bỏ qua bất cứ bước nào trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL Kết hợp các hoạt động tuyên truyền, phổ biến và vận động thực thi chính sách sẽ giúp cho các đối tượng chính sách nêu cao tinh thần tự nguyện, tự giác trong thực hiện chính sách Như vậy

sẽ tạo điều kiện, giúp cho các hoạt động thực thi chính sách được thuận lợi

- Năng lực thực thi chính sách của cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý Nhà nước:

Đây là yếu tố chủ quan có vai trò trò to lớn, quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL Năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ công chức bao gồm nhiều yếu tố như trình độ, năng lực được đào tạo, kỹ năng, kinh

Trang 28

20

nghiệm trong công tác cũng như tinh thần, thái độ thực thi công vụ, khả năng phân tích, dự báo trước các tình huống có thể xảy ra trong quá trình thực hiện chính sách phát triển NNL Những cán bộ công chức được giao nhiệm vụ tổ chức, điều hành thực hiện chính sách phát triển NNL cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, kỷ luật để đạt được kết quả tốt nhất Đối với các cán bộ công chức, cơ quan có thẩm quyền nếu thiếu năng lực thực tế thì khi được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện chính sách

có thể đưa ra ra kế hoạch dự kiến không sát với thực tế, làm lãng phí nguồn lực huy động, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách, thậm chí còn làm biến dạng chính sách trong quá trình tổ chức thực hiện Như vậy, năng lực thực thi của cán bộ công chức tốt không những chủ động điều phối được các yếu tố chủ quan tác động theo định hướng, mà còn khắc phục những tác động tiêu cực từ các yếu tố khách quan để công tác tổ chức thực hiện chính sách đạt hiệu quả cao nhất

- Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực hiện chính sách phát triển NNL:

Đây là yếu tố thể hiện ngày càng quan trọng để cùng phối hợp với nhân lực

và các điều kiện khác để thực hiện thành công chính sách phát triển NNL Trong điều kiện phát triển như hiện nay để quản lý mọi mặt hoạt động, nhà nước phải luôn tăng cường các nguồn lực vật chất và nhân sự, trong đó nguồn lực vật chất tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Nếu điều kiện vật chất, kỹ thuật được đáp ứng theo yêu cầu thì làm tăng tính khả thi trong việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL Do đó, cần đặc biệt quan tâm và tăng cường đầu tư cho điều kiện vật chất trong việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL

- Sự đồng tình ủng hộ của dân chúng:

Đây là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của một chính sách Chính sách phát triển NNL là một chính sách lớn, có sự tham gia vào cuộc của toàn thể nhân dân Xét cho cùng thì các chính sách nói chung

và chính sách phát triển NNL nói riêng là chính sách trong đó Nhà nước chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành công tác tổ chức thực hiện chính sách, còn các tầng lớp nhân dân là đối tượng thực hiện chính sách Từ đó ta thấy, nhân dân chính là người trực tiếp tham gia hiện thực hóa mục tiêu của chính sách, vừa là người trực tiếp thụ hưởng những lợi ích do chính sách mang lại Nếu chính sách phát triển NNL đáp

Trang 29

21

ứng được yêu cầu thực tế của xã hội về mục tiêu và các giải pháp triển khai thì sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân và được nhân dân ủng hộ Còn nếu không thiết thực với dân, không sát với tình hình thực tế thì sẽ bị tẩy chay hoặc “bị bỏ rơi” thậm chí

bị phản đối Từ những yếu tố trên để có thể nói, chính sách phát triển NNL nói riêng

và chính sách nói chung sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân là yếu tố chủ quan cực

kỳ quan trọng tác động trực tiếp đến sự thành công của việc thực hiện chính sách

1.4 Nội dung quy trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

1.4.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Đây là bước đầu tiên trong việc tổ chức thực hiện chính sách PTNNL Quá trình thực hiện chính sách PTNNL là quá trình lâu dài, phức tạp Do đó, các cơ quan triển khai thực hiện chính sách PTNNL cần lập ra kế hoạch, chương trình để triển khai thực hiện chính sách PTNNL một cách chủ động hoàn toàn Nội dung xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện gồm:

+ Kế hoạch tổ chức, điều hành: Đề ra hệ thống các cơ quan tham gia chủ trì và phối hợp; số lượng và chất lượng về nhân sự tham gia; phân công, cơ chế trách nhiệm

từ cán bộ thực thi đến quản lý; cơ chế tác động giữa các cấp thực hiện chính sách

+ Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực: Dự kiến cơ sở kiến trúc; trang thiết

bị kỹ thuật; tài chính … để tổ chức thực hiện chính sách

+ Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện: Dự kiến về khoảng thời gian duy trì chính sách; các bước thực hiện cần dự kiến thời gian bắt đầu và kết thúc

+ Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách: đưa ra các hình thức kiểm tra tiến độ, giám sát thực hiện và các phương pháp thực hiện

+ Dự kiến những nội quy, quy chế: Cần ban hành rõ các nội quy, quy chế về cách thức tổ chức, điều hành, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của từng cá nhân

và của các cơ quan tham gia thực hiện chính sách Các hình thức khen thưởng, kỷ luật trong quá trình tổ chức thực hiện

Trang 30

22

1.4.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách phát triển nguồn nhân lực

Trên cơ sở bản kế hoạch triển khai thực hiện được thông qua, các cơ quan nhà nước tiến hành triển khai thực hiện theo đúng kế hoạch Việc cần làm đầu tiên trong quá trình này là tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách Đây là việc làm hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách phát triển NNL Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách tới toàn thể nhân dân tốt sẽ giúp cho các đối tượng chính sách

và người dân tham gia thực hiện hiểu rõ hơn về mục đích, yêu cầu của chính sách;

về tính đúng đắn, khả thi của chính sách trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định

… để từ đó họ tự giác thực hiện theo yêu cầu của quản lý của nhà nước Bên cạnh

đó còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách đối với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL được giao

Công tác phổ biến, tuyền truyền cần được tăng cường đầu tư về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, về trang thiết bị kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền, vận động Tuyên truyền, vận động thực thi chính sách cần được thực hiện thường xuyên, liên tục kể cả khi chính sách đang trong quá trình thực thi,

để người dân và các đối tượng được củng cố lòng tin vào chính sách và tích cực thực thi chính sách Việc tuyên truyền, vận động chính sách có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng tiếp nhận; gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng … Tùy theo yêu cầu của từng cơ quan quản lý và tính chất của chính sách và điều kiện thực tế mà có thể lựa chọn các hình thức tuyên truyền, vận động cho phù hợp

1.4.3 Phân công phối hợp thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Bước tiếp theo là phân công, phối hợp các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL theo kế hoạch đã được phê duyệt

Chính sách phát triển NNL tại tỉnh Đắk Nông được thực thi trên địa bàn tỉnh, vì thế số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách là rất lớn Số lượng tham

Trang 31

23

gia bao gồm các đối tượng chịu sự tác động của chính sách này, nhân dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực thi chính sách trên địa bàn tỉnh Cho nên, muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia vào quá trình thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách

Trong thực tế, chính sách có thể tác động đến lợi ích của một bộ phận dân

cư, nhưng kết quả tác động lại liên quan đến nhiều yếu tố, quá trình thuộc các bộ phận khác nhau Do đó, để việc thực thi chính sách phát triển NNL tại tỉnh Đắk Nông thực hiện được đúng mục tiêu quản lý thì cần phải phối hợp các yếu tố, bộ phận, đối tượng tác động có liên quan

Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách

1.4.4 Duy trì chính sách phát triển nguồn nhân lực

Duy trì chính sách tức là làm cho chính sách đó tồn tại và phát huy tác dụng

và hiệu quả Để đảm bảo thực hiện tốt việc duy trì chính sách phát triển NNL tại tỉnh Đắk Nông cần phải có sự đồng tâm, hiệp lực của nhiều yếu tố như người tổ chức, người thực thi và môi trường tồn tại Đối với các cơ quan Nhà nước, người tổ chức thực hiện chính sách cần thường xuyên tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực hiện chính sách Nếu việc thực thi chính sách gặp phải khó khăn do môi trường thực tế thay đổi thì cơ quan Nhà nước

sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực hiện chính sách, đồng thời điều chỉnh chính sách cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới Trong một chừng mực nào đó, để đảm bảo lợi ích chung của xã hội, các cơ quan Nhà nước có thể kết hợp các biện pháp hành chính để duy trì chính sách, bên cạnh đó, cần tăng cường thực hiện dân chủ để người dân mạnh dạn tham gia quản lý xã hội, trong đó tự giác chấp hành chính sách và tham gia tìm kiếm, đề xuất các biện pháp để thực hiện mục tiêu chính sách

1.4.5 Điều chỉnh chính sách phát triển nguồn nhân lực

Thực tế chính sách trong quá trình thực hiện do tác động của nhiều yếu tố sẽ

Trang 32

24

bộc lộ sự bất cập Do đó, Điều chỉnh chính sách là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong quá trình tổ chức thực thi chính sách Điều này được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền bổ sung, điều chỉnh chính sách, nhưng trên thực tế, việc điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách diễn ra rất linh hoạt, vì thế cơ quan quản lý nhà nước các ngành, các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách, miễn là không làm thay đổi mục tiêu của chính sách Một nguyên tắc cần phải chấp hành khi điều chỉnh chính sách là: để chính sách tiếp tục tồn tại Chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu, hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách thì coi như chính sách không tồn tại

Hoạt động điều chỉnh chính sách đòi hỏi phải chính xác, hợp lý, nếu không

sẽ làm sai lệch, biến dạng chính sách, làm cho chính sách trở nên kém hiệu quả, thậm chí không tồn tại được Muốn vậy, cơ quan nhà nước các cấp, các ngành phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực thi mới kịp thời phát hiện những sai sót để kịp thời điều chỉnh, bổ sung

1.4.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Thực thi chính sách diễn ra trên địa bàn rộng và do nhiều cơ quan, tổ chức, các nhân tham gia Do vậy các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách Qua đó, các mục tiêu và biện pháp của chính sách lại được khẳng định để nhắc nhở mỗi cán bộ, công chức, viên chức

và mỗi đối tượng thực thi chính sách tập trung chú ý những nội dung ưu tiên trong quá trình thực thi chính sách Trên cơ sở kế hoạch kiểm tra, đôn đốc đã được phê duyệt, các tổ chức cá nhân có trách nhiệm thực hiện hoạt động kiểm tra có hiệu quả

Kiểm tra thường xuyên giúp cho nhà quản lý nắm được tình hình thực thi chính sách, nhờ đó:

Tạo ra sự tập trung thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu chính sách;

Phát hiện, đánh giá khách quan về những điểm mạnh, điểm yếu của công tác

Trang 33

Biết được những hạn chế của mình để điều chỉnh bổ sung, hoàn thiện;

Nhận thức đúng vị trí của mình để yên tâm thực hiện có trách nhiệm công việc được giao;

Giúp các đối tượng nắm chắc quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thực thi chính sách để yêu cầu các cơ quan Nhà nước chấp hành đầy đủ nghĩa vụ

Kiểm tra, theo dõi sát sao tình hình tổ chức thực thi chính sách vừa kịp thời

bổ sung, hoàn thiện chính sách, vừa chấn chỉnh công tác tổ chức thực thi chính

sách, giúp cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách

1.4.7 Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm

Trong quá trình thực hiện chính sách, người ta có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực hiện chính sách, trong đó đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi kết thúc toàn bộ chính sách Đánh giá tổng kết bước tổ chức thực hiện chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo - điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách

Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách là các cơ quan trên địa bàn tỉnh Ngoài ra còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách Cơ sở để đánh giá tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế được xây dựng Đồng thời còn kết hợp sử dụng các văn bản liên tịch giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội và các văn bản quy phạm khác để xem xét tình hình

Trang 34

26

phối hợp chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách của các tổ chức chính trị và xã hội với Nhà nước Bên cạnh đó còn xem xét đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách bao gồm: đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách Thước đo đánh giá kết quả thực thi của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quy định

về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian

1.5 Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

1.5.1 Phương pháp kinh tế

Đây là cách thức tác động lên các đối tượng tham gia thực hiện chính sách dựa trên các biện pháp kinh tế Ví dụ như dùng lợi ích kinh tế để kích thích hoặc hạn chế một hoạt động hay hành vi nào đó Đây là phương pháp liên quan trực tiếp đến lợi ích của các nhóm đối tượng chính sách, do đó có tác dụng rất mạnh so với các phương pháp khác

1.5.2 Phương pháp thuyết phục

Đây là phương pháp mang tính giáo dục, tác động vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình của họ, làm cho họ nắm được mục tiêu, nhiệm vụ của chính sách, đồng thời để cho họ hiểu được trách nhiệm của mỗi bản thân để góp phần vào sự nghiệp chung Để thực hiện thành công phương pháp này đòi hỏi người thực hiện cần có kỹ năng, phương pháp tuyên truyền, thuyết phục

1.5.3 Phương pháp hành chính

Đây là phương pháp tác động lên đối tượng thông qua việc các cơ quan nhà nước ban hành các quy định, nội quy, mệnh lệnh hành chính; kiểm tra việc chấp hành các quy định, nội quy, mệnh lệnh hành chính và xử lý vi phạm Trên thực tế thường hay sử dụng phương pháp kinh tế và phương pháp thuyết phục nhưng cũng

có trường hợp hai phương pháp này không mang lại hiệu quả, nên phải dùng đến phương pháp hành chính để cưỡng chế thi hành

1.5.4 Phương pháp kết hợp

Trang 35

27

Đây là phương pháp tác động lên đối tượng và quá trình chính sách bằng tất

cả các yếu tố để triển khai thực hiện chính sách có hiệu quả Đây là phương pháp được xây dựng bằng cách kết hợp các phương pháp trên theo một trật tự, quy mô phù hợp Phương pháp này không có một cấu trúc nhất định, mà tùy vào điều kiện

cụ thể, nhà quản lý sẽ kết hợp các phương pháp trên để phù hợp với yêu cầu tổ chức thực hiện chính sách

Như vậy, việc áp dụng các phương pháp tổ chức thực hiện chính sách là quyền chủ động của chủ thể quản lý nhằm tác động có hiệu lực hiệu quả lên các đối tượng chính sách

Tiểu kết Chương 1

Trong chương 1, tác giả đã nghiên cứu và trình bày, hệ thống hóa một số cơ sở

lý luận cơ bản về chính sách PTNNL, trình bày một số khái niệm liên quan như nguồn nhân lực, PTNNL, chính sách PTNNL và thực hiện chính sách PTNNL

Chương này tác giả đã làm rõ nội dung vị trí, ý nghĩa của việc thực hiện chính sách PTNNL cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách PTNNL Các yêu cầu của việc thực hiện chính sách PTNNL

Thực hiện chính sách PTNNL nói riêng và thực hiện chính sách công nói chung là 1 trong 5 bước của chu trình chính sách và được tổ chức thực hiện thông qua quy trình gồm 7 bước: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; Phân công phối hợp thực hiện chính sách; Duy trì chính sách; Điều chỉnh chính sách; Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách và Đánh giá, rút kinh nghiệm Ngoài ra, tác giả đã nêu lên các phương pháp tổ chức thực hiện chính sách như: Phương pháp kinh tế; Phương pháp thuyết phục; Phương pháp hành chính và phương pháp kết hợp

Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, tác giả chỉ mới nêu, phân tích và tổng hợp được một số cơ sở lý luận cơ bản có liên quan đến đề tài Những cơ sở lý luận này sẽ là tiền đề quan trọng để tác giả đi nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách PTNNL từ thực tiễn tỉnh Đắk Nông ở chương 2

Trang 36

28

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

TỈNH ĐẮK NÔNG 2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Đắk Nông

Tỉnh Đắk Nông được thành lập vào đầu năm 2004 trên cơ sở chia tách tỉnh Đắk Lắk cũ thành 2 tỉnh (Đắk Lắk và Đắk Nông) theo Nghị quyết số 22/2003/NQ-QH11 Khóa XI, kỳ họp thứ 4 ngày 26/11/2003 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đến nay, tỉnh Đắk Nông có 8 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm thị xã Gia Nghĩa và các huyện Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R’Lấp, Krông

Nô, Đắk G’Long, Tuy Đức) với tổng số 71 xã, phường, thị trấn [45]

Nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của Tây Nguyên, được xác định trong khoảng tọa độ địa lý: 11045' đến 12050' vĩ độ Bắc, 107013' đến 108010' kinh độ Đông [65] Đắk Nông là tỉnh nằm trong khu vực tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp Vương quốc Campuchia

Quốc lộ 14 chạy qua tỉnh Đắk Nông nối thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh vùng Đông Nam bộ với các tỉnh Tây nguyên, trung tâm tỉnh Đắk Nông cách thành phố Hồ Chí Minh 230 km về phía Bắc và cách thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lăk) 120 km về phía Tây Nam; Tuyến Quốc lộ 28 nối Đắk Nông với tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Bình Thuận và các tỉnh Duyên hải miền Trung, cách thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) 180 km và thành phố Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận) 230 km về phía Đông Tỉnh Đắk Nông có 130 km đường biên giới với nước bạn Campuchia,

có 02 cửa khẩu Bu Prăng và Dak Peur nối thông với các tỉnh Mondulkiri, Kratie, Kandal, Pnom Penh, Siem Reap, v.v

Các dự án tuyến đường sắt Đắk Nông-Chơn Thành-Di An ra cảng Thị Vải, Đắk Nông – Tân Rai ra cảng Kê Gà trong tương lai, khi được triển khai thì sẽ mở ra

cơ hội lớn cho Đắk Nông đẩy mạnh khai thác các thế mạnh của tỉnh

Trang 37

29

Tỉnh Đắk Nông có mạng lưới sông suối, hồ, đập phân bố tương đối đồng đều khắp tỉnh Đây là điều kiện tự nhiên thuận lợi để khai thác nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng các công trình thủy điện, du lịch và phục vụ nhu cầu dân sinh Các sông chính chảy qua địa bàn tỉnh gồm: Sông Sêrêpôk, sông Krông Nô, sông Đồng Nai Ngoài ra còn có các hồ, đập lớn có tác dụng giữ nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện, du lịch như Hồ Tây, EaSnô, Ea T’Linh, Đắk Rông, Đắk Đier, Đắk R’tik, Đồng Nai 3, 4 v.v

Diện tích đất tự nhiên của tỉnh Đắk Nông là 650.927 ha, nằm trên cao nguyên M’Nông, độ cao trung bình khoảng từ 600m đến 700m so với mặt nước biển, có những điểm lên tới 1.982m (Tà Đùng) [62] Đắk Nông là tỉnh có địa hình

đa dạng và phong phú, bị chia cắt mạnh, có sự xen kẽ giữa các núi cao hùng vĩ, hiểm trở với các cao nguyên rộng lớn, đốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ các dãi đồng bằng trũng thấp

Đắk Nông nằm giữa hai tiểu vùng khí hậu Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, chế độ khí hậu mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng

có sự nâng lên của địa hình nên có đặc trưng của khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng

Diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 306.749ha, đất lâm nghiệp có rừng khoảng 279.510 ha, đất phi nông nghiệp khoảng 42.307ha, dất chưa sử dụng khoảng 21.327 ha, trong đó đất sông suối và núi đá không có cây rừng khoảng 17.994 ha Đắk Nông có nhiều loại khoáng sản như: Boxit, wolfram, antimoal, bazan bọt, bazan cột, bazan khối, cát xây dựng, đá bazan, đá granit, sét gạch gói, than bùn, opal, thiết sa khoáng, saphir … trong đó Boxit là khoáng sản có trữ lượng lớn nhất

dự đoán 5,4 tỉ tấn[62]

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Nông

Sau 15 năm kể từ khi thành lập đến nay, tỉnh Đắk Nông đã đạt được những thành tựu to lớn về tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng (GRDP giá 1994) 12,6% Trong đó, khu vực nông nghiệp tăng 9,3%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 16,83%; khu vực dịch vụ tăng 15% [56, tr3]; Giai đoạn 2016-2018 đạt khoảng 9,26%, trong đó: Khu

Trang 38

30

vực công nghiệp - xây dựng tăng 16,78%; Khu vực nông nghiệp tăng 3,33%; khu vực dịch vụ tăng 18,54%.[57, tr2] Như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn duy trì ở mức khá và ổn định Khu vực nông nghiệp duy trì mức tăng trưởng cao, góp phần đáng kể cho việc duy trì tăng trưởng kinh tế của tỉnh ở mức cao và ổn định, trong khi Khu vực công nghiệp - xây dựng thấp hơn so với kế hoạch (25,2%) chủ yếu là do một số dự án hạ tầng và khu công nghiệp lớn chậm tiến độ; Khu vực dịch vụ tuy chưa đạt kế hoạch (19%) nhưng vẫn đạt mức khá

Tổng sản phẩm nội tỉnh (GRDP giá 2010) năm 2015 đạt trên khoảng 14.776

tỷ đồng, quy mô nền kinh tế tăng 1,33 lần so với năm 2011(11.143 tỷ đồng) [7]; năm 2018 đạt 19.217 tỷ đồng, tăng 1,30 lần so với năm 2015[58]

Cơ cấu kinh tế có những chuyển biến tích cực, tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm dần, khu vực công nghiệp, dịch vụ tăng dần, đúng định hướng Đến năm 2015,

tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 49,61% giảm 4% so với đầu nhiệm kỳ; tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 26,71%, tăng 2,6% so với đầu nhiệm kỳ; tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 23,68%, tăng 1,4% so với đầu nhiệm kỳ [56, tr3] Đến năm 2018, khu vực nông nghiệp chiếm 46,2%; khu vực công nghiệp – xây dựng chiếm 15,89%, khu vực dịch vụ chiếm 32,85%; khu vực thuế chiếm 5,06%.[58, tr2]

GRDP bình quân đầu người tăng dần theo từng năm, thể hiện đời sống kinh

tế của người dân có những bước cải thiện và dần được nâng cao GRDP bình quân dầu người năm 2011 đạt 27,75 triệu động; 2015 đạt 35 triệu đồng[56, tr3]; năm

2018 đạt 45,24 triệu đồng [58, tr2]

Đến cuối năm 2016, toàn tỉnh có trên 2.782 cơ sở, nhà máy chế biến công nghiệp, tăng 1.387 cơ sở so với năm 2004 Tổng số khu, cụm công nghiệp toàn tỉnh hiện nay 07 khu, cụm; tỉnh đang triển khai khu công nghiệp Nhân cơ 2 để đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp sau Nhôm Quy mô của các ngành công nghiệp năm

2018 tăng 21 lần so với năm 2004, tăng bình quân 24,6%/năm Trong đó, các ngành chủ lực như: công nghiệp khai khoáng tăng bình quân 17,4%/năm; công nghiệp chế biến tăng bình quân 11,92%/năm; công nghiệp năng lượng tăng bình quân 46,4%/năm [64] Thu hút và triển khai đầu tư một số dự án công nghiệp lớn, tác

Trang 39

31

động lan tỏa đến phát triển kinh tế xã hội Bước đầu hình thành chuỗi công nghiệp Alumin - luyện nhôm và sau nhôm trọng điểm của quốc gia

Hoạt động văn hóa, thể dục và thể thao tiếp tục được đẩy mạnh từ tỉnh đến

cơ sở và đã có những bước phát triển sâu rộng, thu thút đông đảo quần chúng tham gia Cấp tỉnh tổ chức từ 14-16 giải/năm, cấp huyện tổ chức từ 06-08 giải/năm và cấp

xã tổ chức từ 01-03 giải/năm [57] Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển Hoạt động thể thao thành tích cao có sự phát triển, công tác tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện vận động viên được chú trọng nhằm xây dựng

và kiện toàn các đội tuyển thể thao thành tích cao của tỉnh để tham gia các giải khu vực và quốc tế Kết quả vận động viên tham gia 28 giải thi đấu khu vực và toàn quốc, kết quả đạt được 127 huy chương các loại [57]

Quy mô giáo dục tiếp tục phát triển và mở rộng Đến năm 2018, toàn tỉnh Đắk Nông có 402 cơ sở giáo dục, tổng số học sinh là 170.592 học sinh[58, tr8]; tăng

82 cơ sở và 36.958 học sinh so với năm 2011[7] Tổng số trường chuẩn quốc gia là

121 trường, tăng 20 trường so với năm 2015 [58, tr8] Chất lượng giáo dục tiếp tục được nâng cao toàn diện, tỷ lệ tốt nghiệp THPT năm sau cao hơn năm trước Số lượng học sinh đạt giải thi khoa học kỹ thuật, học sinh giỏi quốc gia ngày càng tăng Công tác tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên luôn được chú trọng và thực hiện thường xuyên Tuy nhiên, cơ sở vật chất trường lớp chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, trang thiết bị vừa thiếu vừa không đồng bộ ảnh hưởng đến công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia Chất lượng giáo dục chưa đồng đều, nhất là vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; công tác xã hội hóa giáo dục chưa đạt chất lượng cao

Công tác khám chữa bệnh được duy trì thường xuyên, chất lượng liên tục được cải thiện và ngày càng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi để người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em dưới

6 tuổi, các đối tượng chính sách được khám chữa bệnh miễn phí, góp phần thực hiện công bằng xã hội Cơ sở vật chất, nguồn nhân lực ngành y tế ngày càng được đầu tư và phát triển Năm 2011, toàn tỉnh có 80 cơ sở y tế khám chữa bệnh (trong

đó có 8 bệnh viện, 01 nhà hộ sinh và 71 trạm y tế xã, phường) với 1066 giường

Trang 40

32

bệnh và 1471 nhân lực y tế thì đến cuối năm 2017, số giường bệnh tăng lên là 1.456 giường, tăng gần 1,37 lần và số nhân lực y tế là 1.782 người, tăng 1,21 lần Số giường bệnh bình quân 1 vạn dân năm 2017 là 23,18 giường bệnh, tăng so với bình quân 20,43 giường bệnh của năm 2011 [4];[7]

Năm 2011, dân số tỉnh Đắk Nông là 522 nghìn người, năm 2015 là 578 nghìn người, đến năm 2017, dân số tỉnh Đắk Nông là 628 nghìn người Trong đó: dân số thành thị: 95.281 người, chiếm 15,17%; dân số nông thôn: 532.786 người, chiếm 84,83%; dân số nam: 322.864 người, chiếm 51,41%; dân số nữ: 305.203 người, chiếm 48,59% [6, tr45] Với cộng đồng dân cư gồm 40 dân tộc cùng sinh sống Trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 32% dân số toàn tỉnh Dân tộc M’Nông, Mạ và Ê Đê là 3 dân tộc sinh sống lâu đời ở địa phương, chiếm trên 30% so với tổng số dân tộc thiểu số toàn tỉnh

Đến năm 2017, Số người trong độ tuổi lao động toàn tỉnh đang làm việc trong các ngành kinh tế là 388 ngàn người, chiếm 61,6% dân số Đắk Nông là tỉnh

có cơ cấu kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, do vậy lực lượng lao động tham gia sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn; tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn tiếp tục giảm mạnh Cơ cấu lao động có bước chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, tăng dần tỷ trọng lao động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng - khai khoáng (năm 2011 có 2,47%, năm 2018 tăng lên 13,93%); lĩnh vực dịch vụ (năm 2011 có 10,23%, năm 2018 tăng lên 23,71%) và giảm dần trong lĩnh vực nông-lâm-thủy sản (năm 2011 có 87,3%, năm 2018 giảm xuống còn 62,36%)

Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng dần, năm 2011 là 27,75%; năm 2015 là 35%; đến này khoảng 40,5% [63] Dân số tăng đồng đều qua các năm với cơ cấu dân số vàng mang lại nhiều lợi thế phát triển cho tỉnh Đắk Nông Như vậy, ưu điểm của nguồn nhân lực tỉnh Đắk Nông là rất dồi dào, cần cù, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông, lâm nghiệp và đang dần chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh hướng đến xây dựng tỉnh Đắk Nông

thành tỉnh CNH, HĐH trong thời gian tới (xem Bảng 2.1, Bảng 2.2)

Ngày đăng: 05/04/2020, 09:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w