Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt và là nguồn lực quan trọng của đất nước. Đất là một tư liệu sản xuất quan trọng và là nền tảng để tạo ra của cải vật chất, như K.Mark đã nói “đất là mẹ, lao động là cha”. Ngoài ra, đất đai còn là một trong những yếu tố tiên quyết để hình thành một quốc gia độc lập. Nó không phải là hàng hóa thông thường mà là một tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất và đời sống. Theo pháp luật nước ta, Nhà nước là người duy nhất có đầy đủ quyền năng của một chủ sở hữu và đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Nền kinh tế Việt Nam vận hành theo mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN, đòi hỏi chúng ta phải có những chủ trương, chính sách đất đai đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn. Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của xã hội, bên cạnh loại hình sở hữu đặc trưng, thống trị, bao giờ cũng kế thừa những hình thức sở hữu tàn dư của các phương thức sản xuất trước đó khiến cho trong cùng một thời gian, ở cùng một nước, luôn cùng tồn tại nhiều loại hình sở hữu đan xen nhau. Bài viết tập trung luận giải nội hàm và những vấn đề đặt ra về quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý nhằm đề xuất một số khuyến nghị quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực đất đai, bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG 1
I Trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai 1
1 Nhận thức quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý 1
2 Trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai 4
2.1 Quy định của pháp luật: 4
2.2 Trách nhiệm cụ thể của các cơ quan, ban ngành các cấp đối đất đai: 6
II Nhận xét thực tiễn thực thi trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai 7
1 Thực tiễn 7
2 Những hạn chế, yếu kém trên có các nguyên nhân chủ yếu sau: 8
3 Một số khuyến nghị 10
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt và là nguồn lực quan trọng của đất nước Đất là một tư liệu sản xuất quan trọng và là nền tảng để tạo ra của cải vật chất, như K.Mark đã nói
“đất là mẹ, lao động là cha” Ngoài ra, đất đai còn là một trong những yếu tố tiên quyết để hình thành một quốc gia độc lập Nó không phải là hàng hóa thông thường
mà là một tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất và đời sống Theo pháp luật nước
ta, Nhà nước là người duy nhất có đầy đủ quyền năng của một chủ sở hữu và đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nền kinh tế Việt Nam vận hành theo mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN, đòi hỏi chúng ta phải có những chủ trương, chính sách đất đai đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của xã hội, bên cạnh loại hình sở hữu đặc trưng, thống trị, bao giờ cũng kế thừa những hình thức sở hữu tàn dư của các phương thức sản xuất trước đó khiến cho trong cùng một thời gian, ở cùng một nước, luôn cùng tồn tại nhiều loại hình sở hữu đan xen nhau Bài viết tập trung luận giải nội hàm và những vấn đề đặt ra về quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý nhằm đề xuất một số khuyến nghị quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực đất đai, bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước Nhận
thức được tầm quan trọng đó, em xin được lựa chọn làm rõ đề tài số 24:
“Với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn bộ đất đai, Nhà nước có trách nhiệm gì đối với đất đai? Anh (chị) có nhận định gì về thực tiễn thực thi các trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai trong thời gian qua”.
Trang 3NỘI DUNG
I Trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai.
1 Nhận thức quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý
C.Mác viết: “Chúng ta đau khổ không những vì sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn đau khổ vì nó phát triển chưa đầy đủ Ngoài những tai họa của thời đại hiện nay ra, chúng ta còn chịu đựng cả một loạt những tai họa
kế thừa do các phương thức sản xuất cổ xưa lỗi thời vẫn tiếp tục sống dai dẳng với những quan hệ chính trị và xã hội trái mùa do chúng đẻ ra” Đây là phương pháp luận để xem xét các loại hình sở hữu trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Trong quá trình xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác lập chế độ
sở hữu đất đai và có những chủ trương, chính sách đất đai cụ thể phù hợp với từng giai đoạn lịch sử Trong thời kỳ trước năm 1959, có 2 hình thức sở hữu về đất đai:
sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân Giai đoạn 1959 - 1980, tồn tại chủ yếu 3 hình thức sở hữu về đất đai là Nhà nước, tập thể và tư nhân Từ năm 1980 đến nay, quy định một hình thức sở hữu đất đai là sở hữu toàn dân Sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta bắt đầu được xác lập từ Hiến pháp 1980, thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập
trung, và tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp 1992, thời kỳ kinh tế thị trường
định hướng XHCN
Điều 17 Hiến pháp năm 1992 quy định: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn
nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều
Trang 4thuộc sở hữu toàn dân Điều 18 quy định: Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất
đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả
Trong Hiến pháp 1992 đã có một số nội dung mới như: xác định rõ “Nhà nước giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”, trong khi Hiến pháp
1980 chỉ quy định cho “tổ chức và cá nhân được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả
lao động của mình”; mở rộng quyền cho tổ chức, cá nhân có thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trong khi Hiến pháp 1980 chỉ quy định cho họ quyền tiếp tục sử
dụng Luật đất đai 1993 còn cụ thể hóa thêm thành 6 quyền (chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn) và bổ sung nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được giao đất là phải nộp tiền sử dụng đất, ngoài đền bù cho người có đất bị thu hồi
Những nội dung mới nêu trên thể hiện tư duy kinh tế đổi mới, đặt nền móng pháp lý chuyển việc quản lý đất từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường Khẳng định chế độ sở hữu đất đai toàn dân, Nhà nước thay mặt nhân dân thực hiện quyền
sở hữu và quyền quản lý tối cao Tuy nhiên, đây không phải là chế độ sở hữu toàn
dân một cấp độ sở hữu - sử dụng như trong Luật Đất đai 1987, mà là chế độ sở hữu
đất đai toàn dân với đa cấp độ và hình thức, chủ thể sử dụng Với quan niệm về chế
độ sở hữu đất đai này, đất đai được “chủ thể hóa” có các chủ sử dụng cụ thể với các quyền và nghĩa vụ được luật pháp quy định Đây là cơ sở để khắc phục tình trạng
“vô chủ” về quan hệ đất đai trước đây Khẳng định quyền sử dụng đất có giá trị, được pháp luật và cuộc sống thừa nhận, do đó giá trị của quyền sử dụng đất là một yếu tố cơ bản trong sự vận động của quan hệ đất đai Khẳng định quyền sử dụng đất đai được tham gia trực tiếp vào cơ chế thị trường, là một yếu tố quan trọng hình thành thị trường bất động sản, một phương diện rất mới của quan hệ đất đai ở nước
ta so với trước đây
Trang 5Theo quy định tại Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 thì đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như sau: quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất (sau đây gọi chung là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất); quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; định giá đất Qua đó, Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai như sau: thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại; Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định, quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Theo quy định của Luật Đất đai, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước đại diện giao đất cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức
sử dụng đất ổn định, lâu dài Như vậy, các chủ thể này không phải là chủ sở hữu đối với đất đai được giao, mà chỉ là người sử dụng (người có quyền sử dụng đất) Ngoài các quyền bình thường như chiếm hữu, sử dụng, người sử dụng đất còn có các quyền khác mang tính định đoạt như: cho thuê, thừa kế, chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn Như vậy, quyền sử dụng đất mà Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức không còn là quyền năng bình thường mà trở thành một loại quyền sở hữu hạn chế, vấn đề này chưa được cụ thể hóa trong Luật Đất đai 2003, nhưng trên thực tế đã diễn ra như vậy
Điều 53 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục quy định: Đất đai, tài nguyên nước, tài
nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác
và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do
Trang 6Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Điều 54 quy định: Tổ chức,
cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa
vụ theo quy định của luật Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ, Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến
tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai Điều 4 Luật Đất đai năm 2013
tiếp tục quy định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
và thống nhất quản lý Điều này thể hiện sự vận dụng sáng tạo, đúng đắn các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề đất đai vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, sự nhận thức đúng đắn của Đảng ta, bởi đất đai là tài sản cực kỳ quý báu, là một nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay Khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân sẽ bảo đảm cho thành phần kinh tế nhà nước giữ được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, trên cơ sở đó giữ được định hướng XHCN Đất đai thuộc sở hữu toàn dân tạo khoản thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, các loại thuế liên quan đến đất đai và các loại phí, lệ phí quản lý và sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, các thành phần kinh tế và các vùng kinh
tế phát triển, tạo cơ sở điều tiết, phân phối thu nhập, bảo đảm sự vận hành của nền kinh tế
Theo Luật Đất đai năm 2013, Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép
người sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng đất đều là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử dụng Việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục
Trang 7đích sử dụng đất nhằm bảo đảm cho đất đai được phân phối và phân phối lại cho các đối tượng sử dụng hợp pháp, đúng mục đích mà Nhà nước đã quy định, đạt hiệu quả cao, thúc đẩy nền kinh tế phát triển Có thể thấy, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là một trong những chế định quan trọng nhất, thể hiện tính đặc thù của pháp luật đất đai Việt Nam Chế định này ra đời trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
2 Trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai.
2.1 Quy định của pháp luật:
Điều 23 Luật đất đai 2013 quy định:
“1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước.
2 Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về đất đai.
Bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giúp Chính phủ trong quản lý nhà nước về đất đai.
3 Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật này.“
Ngoài ra, tại Điều 30 Nghị định 46/2014/NĐ-CP có quy định cụ thể về trách
nhiệm của UBND cấp tỉnh trong việc quản lý thu tiền thuê đất như sau:
“1 Ban hành Bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất, mức tỷ lệ (%) tính đơn giá thuê đất, mức thu đối với đất xây dựng công trình ngầm, mức thu đối với đất có mặt nước và quyết định giá đất cụ thể làm căn cứ tính tiền thuê đất; quyết định đơn giá thuê mặt nước quy định tại Điều 7 Nghị định này đối với từng dự án cụ thể.
Trang 82 Chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương hoàn thiện hồ sơ pháp lý về đất đai đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nhưng chưa có quyết định cho thuê đất, hợp đồng thuê đất.
3 Chỉ đạo Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện các biện pháp kiểm tra, giám sát việc sử dụng đất của đối tượng được Nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước và việc thu nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định của Nghị định này
4 Chỉ đạo cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với cơ quan thuế tổ chức thực hiện việc quản lý đối tượng thuê và thu tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định của Nghị định này
5 Chỉ đạo kiểm tra và xử lý các trường hợp sai phạm về kê khai và thực hiện miễn, giảm không đúng đối tượng, chế độ gây thiệt hại cho Nhà nước cũng như người nộp tiền thuê đất
6 Giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc thu tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.”
2.2 Trách nhiệm cụ thể của các cơ quan, ban ngành các cấp đối đất đai:
- Cơ quan quản lý đất đai
1 Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý đất đai được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương
2 Cơ quan quản lý nhà nước đất đai ở trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi trường
Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương được thành lập ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; tổ chức dịch vụ công về đất đai được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ
Trang 9- Công chức địa chính ở xã, phường, thị trấn
1 Xã, phường, thị trấn có công chức làm công tác địa chính theo quy định của Luật cán bộ, công chức
2 Công chức địa chính ở xã, phường, thị trấn có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc quản lý đất đai tại địa phương
- Bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất
1 Bảo hộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người
sử dụng đất
2 Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật
3 Khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh
tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật
4 Có chính sách tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không có đất sản xuất do quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế được đào tạo nghề, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm
5 Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 10- Trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số
1 Có chính sách về đất ở, đất sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng
2 Có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn có đất để sản xuất nông nghiệp
- Trách nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng, cung cấp thông tin đất đai
1 Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin đất đai và bảo đảm quyền tiếp cận của tổ chức, cá nhân đối với hệ thống thông tin đất đai
2 Công bố kịp thời, công khai thông tin thuộc hệ thống thông tin đất đai cho
tổ chức, cá nhân, trừ những thông tin thuộc bí mật theo quy định của pháp luật
3 Thông báo quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản
lý đất đai cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp
4 Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong quản lý, sử dụng đất đai có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp thông tin về đất đai cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
II Nhận xét thực tiễn thực thi trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai
1 Thực tiễn
Trong thực tế vừa qua có mâu thuẫn về quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, nhưng quyền của đại diện chủ sở hữu, nhất
là quyền định đoạt và quyền hưởng lợi từ đất đai chưa được định rõ; trong khi đó,