1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chng trinh c nhan khoa hc tai nang t

7 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 230,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vũ Minh Huyền Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN Mở đầu Cách đây tròn 20 năm, Chương trình Đào tạo Cử nhân Khoa học Tài năng ĐTCNKHTN đã được ra đời tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

Trang 1

Chương trình cử nhân khoa học tài năng tại Việt Nam: Đối sánh với Hoa Kỳ và hình dung trong

tương lai

TS Phạm Hùng Hiệp

Đại học Văn hoá Trung Hoa, Đài Loan (Trung Quốc)

ThS Vũ Minh Huyền

Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

Mở đầu

Cách đây tròn 20 năm, Chương trình Đào tạo Cử nhân Khoa học Tài năng (ĐTCNKHTN) đã được ra đời tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHKHTN), Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) Sự thành công nổi bật ngay sau vài năm thành lập của chương trình trong việc

đã khởi đầu cho một trào lưu giáo dục về đào tạo sinh viên trình độ cao trong khắp cả nước vào cuối những năm 1990 và đầu thập kỷ 2000-2010 Có thể kể kể ra đây vài cái tên chương trình ra đời sau và cũng gặt hái được nhiều thành tựu, như Kỹ sư Tài năng (Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội), Kỹ sư Chất lượng cao (Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Trường Đại học Giao thông Vận tải, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh…), Cử nhân Chất lượng cao (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN …), và sau này là Cử nhân và Kỹ sư theo các Chương trình Tiên tiến (Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Điều dẫn tới thành công của chương trình ĐTCNKHTN trước hết nằm ở tư duy khác biệt và tầm nhìn xa của những người gây dựng và phát triển nó Ngược dòng lịch sử, xã hội Việt Nam đầu những năm 1990 tuy đã có nhiều khởi sắc bắt nguồn từ những cải cách trên nhiều khía cạnh của cuộc sống từ sau Đổi mới (1986), nhưng những hệ quả của một nền kinh tế kế hoạch vẫn để lại nhiều dấu ấn trong phát triển khoa học và giáo dục Tư duy cào bằng trong đánh giá hay duy ý chí trong triển khai chính sách khiến cho khoa học và giáo dục Việt Nam ở góc độ nào đã không còn đóng vai trò tạo ra động lực cho sự phát triển của xã hội Sự sụp đổ của nhiều nước xã hội chủ nghĩa và tan rã của Liên bang Xô Viết năm 1991 đã khiến cho nguồn nhân lực đào tạo cán bộ khoa học và giáo dục trình độ cao bị hẫng hụt nghiêm trọng Chính vì thế, ỷ tưởng về tự đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng để gây dựng và phát triển trường ĐHKHTN, và xa hơn là đào tạo tinh hoa cho nền khoa học và giáo dục nước nhà, là một bước đi đột phá vào thời điểm bấy giờ

Chương trình ĐTCNKHTN có tên tiếng Anh là Honour Program, được lấy cảm hứng và học

tập một phần cách tiếp cận từ chương trình có cùng tên gọi tại các trường đại học tại Hoa Kỳ cũng như một số nước tiên tiến trên thế giới (Đàm Trung Đồn, 2007) Tuy nhiên, câu hỏi đặt

ra cho những người làm chính sách hoặc quan tâm chương trình ĐTCNKHTN: Hiện tại chúng

ta đang ở đâu trong bức tranh toàn cảnh của các chương trình Honour Program trên thế giới?

Mục tiêu chính của bài viết này thử làm một đối sánh giữa chương trình ĐTCNKHTN ở Việt Nam với các chương trình Honour Program trên thế giới, lấy điển hình từ Hoa Kỳ Bài viết được cấu trúc thành 3 phần Trong phần đầu, bài viết giới thiệu về các chương trình Honour Program tại Hoa Kỳ, là quốc gia mà mô hình đào tạo này phát triển mạnh nhất Tiếp đó, chúng tôi tóm lược những nét nổi bật của Hệ ĐTCNKHTN tại Trường ĐHKHTN Trong phần

Trang 2

chính, chúng tôi đối sánh sự khác biệt về: bối cảnh ra đời, mục tiêu, cách thức triển khai và xây dựng chương trình và đưa ra một số dự đoán về việc phát triển chương trình ĐTCNKHTN nói riêng cũng như các chương trình dành cho sinh viên tài năng và chất lượng cao nói chung tại Việt Nam trong thời gian tới

Chương trình “Honour Program” tại Hoa Kỳ

Hoa Kỳ có một hệ thống giáo dục đại học tương đối khác biệt so với thế giới, khi mà các đại học tư ra đời trước các đại học công Các trường công ra đời muộn, và chỉ thực sự phát triển

từ thế kỷ 20 cùng với sự quan tâm đầu tư nhiều hơn của chính phủ Hoa Kỳ dành cho giáo dục đại học Theo phân tầng về sứ mệnh đại học, nếu xem giáo dục đại học Hoa Kỳ hiện nay

là một kim tự tháp, thì phần đỉnh tháp là các đại học tinh hoa, tầng thứ hai là các đại học định hướng đào tạo và dưới cùng là các trường cao đẳng cộng đồng

Tầng đỉnh tháp bao gồm một nhóm nhỏ, theo tỷ lệ phần trăm chiếm dưới 10% trên tổng số

4600 các cơ sở giáo dục bậc cao (higher education) tại Hoa Kỳ Chúng là các đại học nghiên cứu có quy mô trung bình, tỷ lệ sinh viên sau đại học trên tổng số sinh viên toàn trường cao, đầu vào là sinh viên ưu tú nhất trong nước và quốc tế nhất, tỷ lệ được chấp nhận nhập học luôn ở mức rất thấp (dưới 20%) Trong nhóm nhỏ các đại học nghiên cứu này, nổi bật nhất là các đại học tư, tiêu biểu là những trường thuộc Ivy League Các đại học công định hướng nghiên cứu (như các trường thuộc khối Đại học California) chiếm tỷ lệ nhỏ trong số này, và thường mỗi Bang1 của Hoa Kỳ chỉ có một vài trường Ở tầng thứ hai và thứ ba của kim tự tháp là các đại học thiên về đào tạo 4 năm và cao đẳng cộng đồng 2 năm Ở hai tầng này, tỷ

lệ đại học công lại nhiều hơn đại học tư Hai nhóm đại học này chủ yếu do nhà nước đầu tư, nhằm nhiệm vụ phổ cập giáo dục cho đại bộ phận thanh niên muốn nâng cao trình độ học vấn Mức học phí và tỷ lệ cạnh tranh đầu vào do đó thấp hơn đại học nghiên cứu thuộc nhóm đại học nghiên cứu kể trên

Hình 1 Kim tự tháp đại học tại Hoa Kỳ

Theo Seifert và cộng sự (2007), đa số các chương trình Honour Program ở Hoa Kỳ nằm ở tầng thứ hai (đại học 4 năm), và một số ít nằm ở tầng thứ ba (cao đẳng cộng đồng 2 năm) Qua ước tính, Hội đồng Đào tạo Danh dự Quốc gia (National Collegiate Honors Council) cho rằng hiện nay Hoa Kỳ có khoảng 1400 trường có chương trình đào tạo Honour Program, với chừng 65% (xấp xỉ 900 trường) đã là thành viên của Hội đồng này

Nhiều chương trình Honour Program được các trường đại học 4 năm và cao đẳng cộng đồng

2 năm mở ra Đôi khi chúng còn có “nickname” là “public Ivy”, hàm ý đại học công mà có chất lượng như đại học thuộc nhóm Ivy Có rất nhiều lý do mở để các trường này mở

1

Tương đương với Tỉnh hoặc Thành phố trực thuộc Trung ương ở Việt Nam

Trang 3

Honour Program Một trong những lý do quan trọng nhất là nhằm khuyến khích, hỗ trợ các sinh viên có học lực khá có được môi trường học tập phù hợp trong bối cảnh mặt bằng chung của các trường đại học 4 năm và cao đẳng cộng đồng 2 năm có học lực trung bình (Austin, 1985; Shushock, 2003) Bên cạnh đó, sinh viên giỏi hơn cũng là động lực giúp giữ chân các giảng viên tốt (Bulakowski & Townsend, 1995) và tạo động lực giúp bạn học cũng học tốt hơn (hiệu ứng “peer effect”) (Long, 2002) Một lý do khác, có lẽ quan trọng nhất, là việc xây dựng hình ảnh và thương hiệu trường Nói đến trường đại học tốt, nhận thức thông thường của xã hội vẫn thường gắn với việc trường đó có sinh viên giỏi Chính vì vậy, nhiều trường với sứ mệnh chung là đào tạo lực lượng đại trà (trường 4 năm và 2 năm) vẫn cố gắng

mở, thậm chí là cấp học bổng cho sinh viên giỏi theo học Honour Program, nhằm cạnh tranh trực tiếp với các đại học nghiên cứu (định hướng tinh hoa, dành cho sinh viên giỏi) để tạo danh tiếng (Seifert et al., 2007) Nói cách khác, đây là cách phát triển thương hiệu của các đại học “phân khúc thấp và trung bình” nhằm tuyển sinh tốt hơn, trong bối cảnh nhiều đại học thuộc nhóm này ở Hoa Kỳ ngày càng gặp khó khăn vì cắt giảm ngân sách từ Chính phủ,

và trở nên buộc phải phụ thuộc nhiều hơn vào học phí thu được từ sinh viên

Về chương trình đào tạo, Honour Program tại Hoa Kỳ có rất nhiều hình thức Một số trường

mở riêng các trường thành viên chuyên đào tạo chất lượng cao (honour college), trong khi

số khác mở các chương trình đặc biệt nhúng trong đào tạo đại trà (có tín chỉ riêng, có tín chỉ chung với sinh viên thường) Tại nhiều nơi, Honour Program dành cho sinh viên đại học (thường tốt nghiệp là 3-4 năm) có thành tích xuất sắc, muốn học lên cao hơn, nơi họ sẽ có thêm 1 năm nữa để được đào tạo chuyên sâu hoặc tham gia nghiên cứu Nói chung, trong khi sinh viên đa phần theo đuổi quá trình học-thi để lấy bằng cấp, thì sinh viên tại các chương trình Honour Program thường được tạo điều kiện tham gia nghiên cứu và làm luận văn vào các năm cuối (Sederberg, 2005) Hội đồng Đào tạo Danh dự Quốc gia cũng tham gia kết nối và hỗ trợ các chương trình Honour Program trên toàn Hoa Kỳ thông qua việc ban hành bộ khung mẫu đề cương môn học và tổ chức các chương trình hỗ trợ, tập huấn định

kỳ2

Về hiệu quả của các chương trình Honour Program, đã có khá nhiều nghiên cứu thực chứng cho thấy sinh viên học theo chương trình này có kết quả học tập tiến bộ hơn trên nhiều khía cạnh: năng lực nhận thức, kỹ năng liên cá nhân, tự tin, toán học … (Bulakowski & Townsend, 1995; Seifert et al, 2007) Tuy nhiên, các chương trình Honour Program cũng nhận được không ít chỉ trích Chẳng hạn, có ý kiến cho rằng tại sao phải đầu tư đặc biệt cho một nhóm nhỏ sinh viên, điều trái ngược với chức năng và sứ mệnh của các trường công 4 năm hoặc 2 năm tại Hoa Kỳ Một số khác lập luận: việc tách biệt sinh viên Honour Program (tại các chương trình được thiết kế riêng rẽ) đã dấn tới xu thế cô lập sinh viên này ra khỏi cộng đồng sinh viên chung của trường

Hệ ĐTCNKHTN

Hệ ĐTCNKHTN3 ra đời tại Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN năm 1997 trong một bối cảnh giáo dục đang đối diện với nhiều khó khăn: đất nước mới bắt đầu hội nhập sau cải cách, đầu tư cho giáo dục đại học mặt bằng chung là rất thấp, chất lượng sinh viên đầu vào không cao và nguy

cơ hẫng hụt giảng viên trình độ cao tại các ngành cơ bản tại ĐHQGHN ngày càng hiển hiện (Bùi Duy Cam & Nguyễn Văn Nhân, 2007)

2

Xem thêm tại: https://nchc.site-ym.com/page/indexsyllabi

3

Theo trao đổi riêng với giáo sư Nguyễn Văn Mậu, chữ “đào tạo” được thêm vào (thành “chương trình đào tạo

cử nhân…” chứ không phải “chương trình cử nhân”) để sinh viên có thành tích cao giữ được tinh thần khiêm tốn

để rèn luyện, học tập

Trang 4

Trong bối cảnh đó, lãnh đạo Trường ĐHKHTN và ĐHQGHN đã đưa ra một sáng kiến “đột phá” nhằm khắc phục các vấn đề trên Ý tưởng là lập ra một chương trình dành riêng cho đối tượng sinh viên giỏi, đã từng đạt giải quốc gia, quốc tế (sau này mở rộng ra sinh viên có điểm thi đại học đầu vào cao), được đào tạo đặc biệt Đi kèm với đó, sinh viên được hỗ trợ tốt nhất về cơ sở vật chất, giảng viên, được cấp học bổng cao hơn mức trung bình suốt 4 năm học, được ưu tiên ký hợp đồng làm giảng viên khi ra trường, được học thẳng lên tiến sĩ (bỏ qua thạc sĩ) và nhiều quyền lợi khác Đến năm 2001, trên nền tảng thành công của chương trình ĐTCNKHTN, dự án “đào tạo nguồn nhân lực tài năng” của trường ĐHKHTN, ĐHQGHN, đã được Nhà nước phê duyệt với kinh phí hỗ trợ đáng kể, cao hơn mức trung bình của sinh viên thường (Mai Trọng Nhuận & Nguyễn Văn Nhã, 2007)

Chương trình đào tạo dành cho sinh viên Hệ ĐTCNKHTN về cơ bản tương đối giống khung chương trình của sinh viên hệ đại trà Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở các nội dung: (1) Tổ chức lớp học, (2) Nội dung kiến thức và giáo trình, (3) Cơ sở vật chất hỗ trợ cho môn học và (4) Trình độ giảng viên Mỗi năm, sẽ có khoảng 50-100 sinh viên được chọn ra sau thi tuyển (IQ, EQ và viết luận) từ vài trăm hồ sơ đủ điều kiện (giỏi, xuất sắc) Mỗi khoa trong trường sẽ

có tương ứng từ 5-15 sinh viên được chọn, tùy theo quy mô của khoa và nguyện vọng của sinh viên khi thi vào Hai năm đầu, tất cả sinh viên từ nhiều khoa và ngành khác nhau này được học tập trung trong các chương trình đào tạo riêng, với yêu cầu nặng hơn về chuyên môn Theo Đàm Trung Đồn (2007): trong 2 năm đầu này, sinh viên các ngành khác nhau sẽ phải học chung với nhau các môn cơ bản như Toán học, Vật lý… Do số lượng sinh viên ít, nên lớp học các môn sẽ được ghép, ví dụ: ngành Toán học sẽ ghép chung với sinh viên viên ĐTCNKHTN ngành Vật lý và Toán học và ngược lại Chính vì thế, yêu cầu học tập sẽ không chỉ khó hơn sinh viên đại trà, mà còn nâng cao hơn so với mặt bằng chung của sinh viên khác chuyên ngành Điều này, kèm với tăng cường học tiếng Anh kỳ vọng sẽ tạo ra một nền móng kiến thức vững chắc trong các môn cơ bản cũng như ngoại ngữ trước khi sinh viên đó bước vào năm ba được gửi về lại các khoa, một phần học chung với sinh viên đại trà Giảng viên đứng lớp thường là những nhà khoa học có chuyên môn tốt nhất từng Khoa hoặc được mời

từ các Viện nghiên cứu đến

Sau khi tốt nghiệp, sinh viên thường được lãnh đạo Ban điều hành và giảng viên giới thiệu trực tiếp hoặc hỗ trợ thông qua thư giới thiệu để chạm tới các học bổng Nhờ uy tín này cùng với năng lực, thành tích của sinh viên, cựu sinh viên Hệ đã dành được học bổng theo học tại hầu hết các trường danh tiếng trên thế giới Danh sách (chưa đầy đủ) các trường danh tiếng đã in dấu chân sinh viên bao gồm: Đại học Harvard, Đại học Stanford, Đại học Princeton, Học viện Công nghệ Massachusett, Học viện Công nghệ California, các Đại học California (Hoa Kỳ), Đại học Cambridge, Đại học Oxford (Anh), Đại học Bách khoa Paris, các Đại học Paris (Pháp), Đại học Bách khoa Zurich, Đại học Bách khoa Lausanne (Thụy Sỹ), Viện Công nghệ Đại học Tokyo, Đại học Kyoto, Đại học Osaka, Đại học Tohoku, Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến (Nhật Bản), Đại học Quốc gia Singapore, Đại học Công nghệ Nanyang (Singapore), Đại học Melbourne, Đại học New South Wales, Đại học Quốc gia Australia (Úc) Sinh viên của Hệ cũng dễ giành được các học bổng hơn so với sinh viên đại trà khi cạnh tranh các chương trình học bổng cấp chính phủ như: VEF (Hoa Kỳ), ADS (Úc), Monbusho (Nhật Bản) Về điều kiện hỗ trợ, vì có mức đầu tư cao hơn nên sinh viên Hệ ĐTCNKHTN được nhận học bổng nhiều hơn, đi kèm điều kiện cơ sở vật chất và giáo trình tốt hơn, chưa kể nhiều các ưu tiên khác

Về hiệu quả, hiện chưa có thống kê đầy đủ nào được tiến hành nhằm đánh giá xem sinh viên

Hệ ĐTCNKHTN sau 20 năm ở đâu làm gì, hoặc xa hơn là mức độ thành công của chương trình Một số thống kê có từ 2007 tổng kết 10 năm ra đời chương trình ĐTCNKHTN cũng

Trang 5

phản ánh một số thành công bước đầu (Bùi Duy Cam & Nguyễn Văn Nhân, 2007) , tuy rằng thời gian 5-6 năm kể từ khi lứa đầu tiên ra trường là quá ngắn để đánh giá hiệu quả chính xác Dẫu vậy, dưới quan sát cá nhân, cựu sinh viên Hệ ĐTCNKHTN có một tỷ lệ lớn (50%) tiếp tục theo đuổi và đạt được thành tựu trong khoa học và giáo dục Nhiều trong số đó hiện đang là giáo sư tại các đại học có tiếng trên thế giới tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nhật Bản, Singapore, Úc Một số khác hiện chuyển sang các lĩnh vực công nghiệp, kỹ thuật, kinh tế, xã hội, khu vực công và cũng đã gặt hái được nhiều thành công nhất định Nói chung, đơn vị đào tạo cần có những khảo sát bài bản nhằm đánh giá, so sánh kết quả của sinh viên ĐTCNKHTN so với sinh viên chương trình đại trà theo các chuẩn đầu ra của kỹ năng, kiến thức – thứ luôn được những người xây dựng chương trình Honour Program trên thế giới coi trọng trong thúc đẩy phát triển (Seifert et al., 2007)

So sánh giữa hai mô hình và dự báo phát triển

Tuy có rất nhiều điểm tương đồng và chung tên gọi (tiếng Anh), hai chương trình (ĐTCNKHTN tại trường ĐHKHTN và Honour Program tại Hoa Kỳ) có động lực ra đời, chương trình và rất nhiều đặc điểm khác nhau Đầu tiên phải kể đến chất lượng sinh viên Tại Việt Nam, chương trình ĐTCNKHTN được xây dựng nhằm vào một nhóm tương đối ít xuất sắc nhất trong bối cảnh cũng chỉ có một tỷ lệ thấp thanh niên Việt Nam được đi học đại học Hình 1 cho thấy Tỷ lệ GER (Gross Enrollment Ratio) tại Việt Nam vào năm 1997 (năm Hệ ra đời) chỉ khoảng 7%, tức là cứ 100 thanh niên thì mới có khoảng 7 thanh niên đi học đại học Trong khi đó, các chương trình Honour Program tại Hoa Kỳ ra đời từ rất sớm, những năm 1960-1970, giữa bối cảnh giáo dục đại học ở quốc gia đang ngày càng mở rộng Khi ấy, tỷ lệ GER tại nước này đã là 40-50% Các chương trình Honour Program khi ấy được mở ra nhắm tới đối tượng khá, giỏi tại các trường “phân khúc dưới” Nói cách khác, chương trình ĐTCNKHTN tại Trường ĐHKHTN (cũng như các chương trình tương tự như kỹ sư tài năng, cử nhân chất lượng cao và gần đây cả chương trình tiên tiến nói chung tại Việt Nam) hiện tại đang hướng tới đối tượng sinh viên “tinh hoa của tinh hoa” Trong khi đó, chương trình Honour Program tại Hoa Kỳ chỉ hướng đến đối tượng “tinh hoa của đại trà”, với mục đích cạnh tranh với các trường đại học top đầu (như Ivy League) trong việc thu hút sinh viên

4

Thông tin về số lượng cựu sinh viện CNKHTN đang công tác tại ĐHQGHN là quan trọng bởi đào tạo đội ngũ kế cận, nhằm khắc phục tình trạng hẫng hụt giảng viên, cán bộ nghiên cứu khoa học cơ bản là một trong những tiền

đề để chương trình này ra đời (xem Bùi Duy Cam & Nguyễn Văn Nhân, 2007)

Trang 6

Hình 2 Chỉ số GER tại Hoa Kỳ và Việt Nam giai đoạn 1970-2015 (Nguồn: World Bank, 2017)

Với bối cảnh khác nhau như vậy, cách thức tổ chức và vận hành của hai chương trình cũng vì thế mà trở nên khác nhau Trong khi chương trình ĐTCNKHTN nói riêng và các chương trình tương tự ở Việt Nam vẫn giữ ở quy mô nhỏ giới hạn phạm vi giữa chọn lọc một số trường về khoa học (tự nhiên, xã hội) và kỹ thuật, thì Honour Program phát triển khá mạnh tại Hoa Kỳ, hiện diện tại khoảng 1400 trường đại học 4 năm hoặc cao đẳng cộng đồng 2 năm Nguyên nhân của sự khác biệt này có lẽ xuất phát từ động lực tài chính Nếu như các chương trình đào tạo tài năng và chất lượng cao ở Việt Nam gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn đầu

tư nhà nước, thì các chương trình Honour Program tại Hoa Kỳ sinh ra một phần là để tạo dựng thương hiệu và thu hút giảng viên giỏi, điều khiến các trường đại học tại Hoa Kỳ sẵn sàng đầu tư một khoảng đáng kể cho các chương trình này

Nhìn lại hiện tại và hướng tới tương lai, 2017 là năm kỷ niệm tròn 20 năm ra đời chương trình ĐTCNKHTN Bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam của 2017 cũng đã khác xa so với thời điểm chương trình ra đời GER của Việt Nam hiện đã lên tới con số khoảng 30%, tiệm cận mức GER tương ứng tại Hoa Kỳ thời điểm những năm 1960-1970 khi các chương trình Honour Program tại nước này đồng loạt ra đời Môi trường giáo dục đại học Việt Nam hiện nay cũng trở đã nên đa dạng hơn, với nhiều thay đổi mạnh mẽ, chứ không thuần nhất như cách đây 20 năm Tại Việt Nam, cấu trúc hệ thống giáo dục đại học cũng đang dần sắp xếp theo 3 tầng, tương tự như giáo dục đại học tại Hoa Kỳ Theo đó, một số trường đại học top đầu ở đỉnh kim tự tháp bắt đầu hướng tới định hướng nghiên cứu, trong khi những trường đại học top giữa tập trung cho đào tạo, để tầng dưới cùng cho các cao đẳng và trung cấp nghề đóng vai trò phổ cập giáo dục Một yếu tố khác cũng tác động đến sự thay đổi trong tương lai, là mức đầu tư kinh phí của Nhà nước có xu thể ngày càng giảm dần, dẫn tới bức tranh giáo dục đại học có xu hướng “thị trường hoá” hơn nữa

Từ những động lực đó, chúng tôi dự đoán trong tương lai gần các chương trình tài năng và chất lượng cao sẽ tiếp tục phát triển mạnh về số lượng và chất lượng, theo hướng tiếp cận gần hơn với các chương trình tại các nước đã phát triển như Hoa Kỳ Có thể thấy khi ấy, các chương trình đào tạo tài năng-chất lượng cao sẽ không còn là độc quyền của các trường top trên, mà các trường đại học vốn được xem là top thấp hơn cũng sẽ chủ động triển khai các chương trình đào tạo tài năng, tiên tiến và chất lượng cao của riêng mình Điều này cũng sẽ

Trang 7

thúc đẩy xu hướng hợp tác, liên minh để hình thành nên các hiệp hội/câu lạc bộ/mạng lưới chuyên biệt về đào tạo tài năng, tương tự như mô hình của Hội đồng Đào tạo Danh dự Quốc gia tại Hoa Kỳ

Lời kết

Quay lại với chương trình ĐTCNKHTN, kỷ niệm 20 năm thành lập là cơ hội quý để các nhà lãnh đạo, quản lý, sinh viên và những người gắn bó với Hệ có dịp ngồi với nhau, điểm lại các thành tựu của một sáng kiến giáo dục được xem là rất thành công, mở ra một trào lưu đào tạo tinh hoa mới ở Việt Nam giai đoạn sau Đổi mới Những thành công ấy là công sức của 20 thế hệ thầy trò và các thế hệ lãnh đạo trường ĐHKHTN đã không ngừng, nỗ lực vun đắp cũng như sự ưu tiên đầu tư của Chính phủ Bên cạnh niềm hân hoan, đây cũng là dịp thích hợp để

rà soát những tồn tại và hình dung về tương lai, từ đó giúp định hình chiến lược phát triển các chương trình tài năng-chất lượng cao; trước hết ở bước “định vị” về chương trình ĐTCNKHTN trong một “vườn hoa” Honour Program dự kiến sẽ “nở rộ” trong toàn bộ hệ thống trong tương lai không xa

Lời cảm ơn: Tác giả xin chân thành cảm ơn anh Lưu Quang Hưng đã góp ý giúp hoàn thiện

bài viết

Tài liệu tham khảo

Austin, C (1985) Honors Teaching and Learning: An Overview Engineering Education, 76(2),

85-88

Bùi, D C., & Nguyễn, V N (2007) Công tác bồi dưỡng nhân tài ở bậc đại học tại Trường

ĐHKHTN – ĐHQGHN Kỷ yếu kỷ niệm 10 năm đào tạo cử nhân khoa học tài năng,

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội

Bulakowski, C., & Townsend, B K (1995) Evaluation of a community college honors

program: Problems and possibilities Community College Journal of Research and Practice, 19(6), 485-499

Đàm, T Đ (2007) Đôi điều nhớ lại nhân dịp kỷ niệm 10 năm đào tạo cử nhân khoa học tài

năng Kỷ yếu kỷ niệm 10 năm đào tạo cử nhân khoa học tài năng, Trường Đại học

Khoa học Tự nhiên Hà Nội

Mai, T N & Nguyễn, V N (2007) Đào tạo chất lượng cao, trình độ cao ở ĐHQGHN Kỷ yếu

kỷ niệm 10 năm đào tạo cử nhân khoa học tài năng, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội

Long, B (2002) Attracting the best: The use of honors programs to compete for students

Chicago, IL: Spencer Foundation (ERIC Reproduction Service No ED465355)

Sederberg, P (2005) Characteristics of the Contemporary Honors College* A Descriptive Analysis of a Survey of NCHC Member Colleges

Shushok, F (2003) Educating the best and the brightest: Collegiate honors programs and

the intellectual, social, and psychological development of students Dissertation

Abstracts International, 63(11-A)

Seifert, T A., Pascarella, E T., Colangelo, N., & Assouline, S G (2007) The effects of honors program participation on experiences of good practices and learning

outcomes Journal of College Student Development, 48(1), 57-74

Vuong, Q H., & Tran, T D (2009) The cultural dimensions of the Vietnamese private

entrepreneurship The IUP Journal of Entrepreneurship Development, 6(3/4), 54-78

World Bank (2017) Gross Enrollment Ratio, tertiary, both sex Retrieved from:

https://data.worldbank.org/indicator/SE.TER.ENRR?end=2014

Ngày đăng: 04/04/2020, 09:59

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w