1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THUYẾT MINH THI CÔNG ỨNG DỤNG VẬT LIỆU HỖN HỢP ASPHALT ĐỂ GIA CỐ ĐÊ BIỂN CHỊU ĐƯỢC SÓNG TRÀN QUA

27 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu thành công và sử dụng rất phổ biến vật liệu cát, đá và bitum bảo vệ mái đê biển. So với các vật liệu gia cố chúng ta thường dùng trước đây là bê tông hoặc bê tông cốt thép thì vật liệu hỗn hợp bitum, cát, đá có những tính năng ưu việt hơn hẳn, đó là: khả năng chống xâm thực trong môi trường nước biển tốt hơn nhiều, khả năng biến dạng, đàn hồi tốt, có thể thích ứng một cách mềm dẻo với những biến dạng, lún sụt của nền đê và thân đê, hạn chế được những lún sụt, xói lở cục bộ của đê biển, độ bền và tuổi thọ cao hơn nhiều, v.v… tuy nhiên để có thể chuyển giao ứng dụng rộng rãi vào thực tế của Việt Nam đòi hỏi phải có nghiên cứu bài bản, toàn diện để hoàn thiện các công đoạn từ thiết kế thành phần cấp phối vật liệu vữa bitum, nghiên cứu quy định yêu cầu kỹ thuật đối với các chỉ tiêu cơ lý của vật liệu hỗn hợp asphalt, quy trình công nghệ tính toán thiết kế, thi công, quản lý vận hành, duy tu, bảo dưỡng đến việc đánh giá tác động đến môi trường phù hợp với điều kiện tự nhiên, trình độ công nghệ của Việt Nam, nghiên cứu xây dựng định mức, dự toán xây dựng, tiến tới ban hành các tiêu chuẩn quốc gia, định mức kỹ thuật về các vấn đề nêu trên. Thuyết minh trình bày biện pháp thi công lớp gia cố mái đê phía biển bằng vật liệu hỗn hợp asphalt và xây dựng quy trình sản xuất vật liệu, tính toán thiết kế, thi công, kiểm tra chất lượng, quản lý bào trì đối với 3 đối tượng chính đó là bê tông asphalt (asphaltic concrete), vật liệu hỗn hợp asphalt chèn trong đá hộc (fully grouted stone asphalt), asphalt độn nhiều đá (open stone asphalt) để bảo vệ đê biển trong điều kiện Việt Nam. Mô hình ứng dụng thử nghiệm chỉ sử dụng dạng vật liệu hỗn hợp asphalt chèn trong đá hộc để thi công sửa chữa cho mái đê phía biển của một đoạn 50m đê biển Cồn Tròn – Hải Hậu – Nam Định để kiểm chứng và hoàn thiện các quy trình công nghệ đối với loại vật liệu này

Trang 1

PHẦN 1 THUYẾT MINH KỸ THUẬT

1 Giới thiệu chung

1.1 Tính cấp thiết

Nước ta có trên 3200km bờ biển trải dài từ Bắc vào Nam với hệ thống đê biển

đã được hình thành, củng cố qua nhiều thời kỳ Hệ thống đê biển là tài sản quý của Quốc Gia, là hạ tầng cơ sở quan trọng đối với sự phát triển ổn định kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh cho cả nước nói chung và nhân dân vùsng ven biển nói riêng Với đường bờ biển dài, đây là một thuận lợi lớn trong việc phát triển kinh tế khu vực ven biển, nơi được đánh giá là khu vực năng động, giàu tiềm năng, có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế xã hội và tập trung dân cư với mật độ cao Mục tiêu đến năm

2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53-55% GDP, 55-60% kim ngạch xuất khẩu của

cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển

Trong giai đoạn hiện này, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, nước ta được đánh giá là một trong 5 nước sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Chính vì thế hệ thống công trình ven biển của nước ta hiện có, trong đó có đê biển, khó ổn định

và cấp bách trong việc bảo vệ phần đất thấp của các tỉnh ven biển

Trong những năm qua chúng ta đã đầu tư xây dựng nhiều đoạn đê biển có gia

cố mái với nhiều hình thức khác nhau bằng vật liệu đá và bê tông Trong thực tế, bão lớn cùng với triều cường đã làm hư hỏng hoặc tràn qua nhiều đoạn đê, gây thiệt hại lớn (Hình 1)

Trang 2

Hình 1- Sạt lở đê biển Nam Định sau cơn bão số 7 năm 2005

Hiện nay đê biển Việt Nam chưa thể nói là đã ổn định vì những lý do sau:

- Đê biển hiện tại thiết kế chỉ giữ được với cơn bão từ cấp 10 trở xuống và mực nước triều tần xuất 5%, thực tế những năm gần đây bão xảy ra trên cấp 11, 12 vượt quá tần suất thiết kế gây thiệt hại về người và kinh tế xã hội

- Bão mạnh thường kèm theo nước dâng bão, đồng thời với triều cường làm cho sóng đánh trực tiếp vào đê biển và tràn qua đê gây xói lở và vỡ đê, làm ngập lụt trên diện rộng và thiệt hại rất lớn cho vùng ven biển

- Dưới tác động của sóng biển thường làm cho đê biển mất ổn định hoặc bị phá hoại với các nguyên nhânchính sau đây:

+ Sóng biển phá hoại lớp gia cố mái phía biển, ăn mòn lớp gia cố mái đê bằng

bê tông một cách nhanh chóng gây sạt lở mái và thân đê;

+ Sóng tràn qua đê làm phá hoại mái hạ lưu đê gây xói và làm trượt mái phía đồng, gây mất ổn định thân đê

Trên cơ sở nhận dạng, tìm hiểu nguyên nhân làm hư hỏng đê biển, đặc biệt khi

đê bị sóng tràn qua, một loạt các giải pháp công nghệ nghiên cứu khác nhau giải quyết những tồn tại đã nêu của hệ thống đê biển Viện Nam Đó là: nghiên cứu các dạng kết cấu mặt cặt đê hợp lý cho nước tràn qua áp dụng cho khu vực miền Trung; xử lý nền đất yếu bằng công nghệ cọc đất – xi măng tăng cao tính ổn định cho mái đê; các giải

Trang 3

các giải pháp lát mái, trồng cỏ; giải pháp công nghệ trồng cây chắn sóng tại những vùng đê biển có bãi có thể trồng được nhằm giảm tác động của sóng, gió lên đê biển; nghiên cứu bảo vệ các cồn cát ven biển để bảo vệ đê; xây dựng tiêu chuẩn thiết kế đê biển cho phụ hợp với công nghệ và điều kiện mới, v.v…

Nhiều nước trên thế giới, trong đó có Hà Lan, nghiên cứu thành công và sử dụng rất phổ biến vật liệu cát, đá và bitumen để bảo vệ mái đê biển từ năm 1960 và vẫn bền vững cho đến ngay nay So với các vật liệu gia cố mái đê biển thường dùng trước đây ở nước ta là bê tông hoặc bê tông cốt thép thì vật liệu hỗn hợp nhựa đường, cát, đá có những tính năng ưu việt hơn hẳn, đó là: khả năng chống thấm tốt hơn, khả năng chống xâm thực trong môi trường nước biển tốt hơn, khả năng biến dạng, đàn hồi tốt, có thể thích ứng một cách mềm dẻo với những biến dạng của nền đê và thân đê, hạn chế được những lún sụt, xói lở cục bộ của đê biển, độ bền và tuổi thọ cao hơn nhiều, v.v… Hiện nay, ở các nước này vẫn đang sử dụng công nghệ này để xây dựng những tuyến đê biển xung yếu (hình 2)

Hình 2 Ứng dụng vật liệu hỗn hợp asphalt chèn trong đá hộc thi công đê biển Hà Lan

năm 2013

Trang 4

Ở nước ta, vấn đề này hiện đang được Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam nghiên cứu và bước đầu đã có những kết quả tốt Việc nghiên cứu và triển khai ứng dụng thực tế là cần thiết để có luận cứ khoa học so sánh cả về ý nghĩa khoa học và thực tiễn về sử dụng loại vật liệu mới này với vật liệu truyền thống đang sử dụng, tiến tới ứng dụng những thành tựu khoa học đó vào điều kiện cụ thể của nước ta, nhằm đảm bảo ổn định và bền vững cho đê biển

Bitumen là sản phẩm của công nghiệp hóa dầu, là loại vật liệu tuy hiện tai đang còn nhập khẩu nhưng được sử dụng rất rộng rãi trong xây dựng công trình giao thông, trong thời gian sắp tới do các nhà máy lọc dầu ở nước ta đi vào hoạt động, sản lượng nhựa đường sẽ được cung cấp nhiều hơn nên sử dụng nó cùng với vật liệu địa phương như cát, đá để chế tạo, xây lắp các loại lớp gia cố cho hàng trăm km đê biển là có tính khả thi

1.2 Vị trí công trình

Huyện Hải Hậu gồm có 3 thị trấn và 32 xã

- Phía Đông giáp huyện Giao Thủy;

- Phía Tây giáp huyện Trực Ninh;

- Phía Nam giáp biển Đông;

- Phía Bắc giáp huyện Xuân Trường

Trên cơ sở tìm hiểu, đi thực địa các tuyến đê biển, đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, nhóm nghiên cứu cùng cán bộ địa phương quyết định chọn vị trí được chỉ ra trong bản vẽ dưới đây (Hình 3 )

Hình 3- Hiện trạng đoạn đê thử nghiệm công nghệ nghiên cứu

Trang 5

2 Sự cần thiết phải đầu tư

- Căn cứ thuyết minh đề cương và dự toán đề tài nghiên cứu được phê duyệt, trong đó được ứng dụng thử nghiệm vật liệu hỗn hợp dạng asphalt chèn trong đá hộc

để gia cố mái đê phía biển Được sự đồng ý của Sở NN& PTNT, Chi cục Đê điều và PCLB tỉnh Nam Định chọn một đoạn đê huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định để thử nghiệm công nghệ mới này

- Yêu cầu lớp gia cố mới thay thế phải không bị phá hoại do sóng, do dòng, không bị trượt, không bị đẩy nổi, có độ bền cao theo yêu cầu đã nêu trong tiêu chuẩn thiết kế hiện hành

- Căn cứ hiện trạng hư hỏng đoạn đê 50 m bị hư hỏng một số chỗ (hình 3); căn

cứ quy trình thiết kế là sản phẩm của đề tài nghiên cứu đã có, chọn vật liệu hỗn hợp asphalt chèn trong đá hộc để sửa chữa đoạn kè này Kinh phí xây dựng trong dự toán

đề tài NCKH được phê duyệt

Hình 4 Hư hỏng ở đê Cồn Tròn - Hải Hậu – Nam Định

2.2 Yêu cầu sửa chữa và phạm vi thay thế lớp gia cố mới

Trên cơ sở hiện trạng hư hỏng đoạn đê như trên, nhóm nghiên cứu đề xuất

phương án sửa chữa như sau:

Trang 6

- Thay thế lớp cấu kiện bê tông lục giác trên mái đê phía biển đã bị hư hỏng bằng lớp gia cố mới sử dụng vật liệu hỗn hợp asphalt chèn trong đá hộc Phạm vi từ

K21+003 – K21+058, và từ cao trình -0,5 đến +2,1m

- Phần mái đê phía trên cao trình +2,1m và mặt đê chất lượng còn tốt, không cần thay thế, sửa chữa

- Phần mái đê phía trong cần đắp đất gia cố lại chỗ hư hỏng và trồng lại cỏ bảo

vệ mái đê để đảm bảo không xói khi có sóng tràn qua với lưu lượng <10l/s/m

3 Căn cứ để thiết kế áp dụng công nghệ thử nghiệm

- Hồ sơ hoàn công đoạn đê hiện trạng 50m do Chi cục Chi cục Phòng chống lụt bão và đê điều tỉnh Nam Định cấp

- Thuyết minh và dự toán đề cương nghiên cứu được phê duyệt

- Quy trình thiết kế, thi công - sản phẩm nghiên cứu đề tài

- Văn bản của Ban quản lý công trình yêu cầu sửa chữa đoạn đê bị hư hỏng

- Các Nghị định: Số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005; Số 209/2004 NĐ-CP ngày 16/12/2004 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và quản lý chất lượng công trình xây dựng

- Quyết định số 58/2006/QĐ-TTg ngày 14/3/2006 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Chương trình đầu tư củng cố, bảo vệ và nâng cấp đê biển hiện có tại các tỉnh có đề từ Quảng Ninh đến Quảng Nam

- Tài liệu thủy, hải văn khu vực Hải Hậu thu thập từ các đề tài, dự án khu vực

4 Thông số thiết kế lớp gia cố mái phía biển thử nghiệm

4.1 Đoạn đê hiện trạng

4.1.1 Điều kiện biên cũ

Mực nước triều thiết kế lớn nhất (5%)= 2,29m ;

Mực nước triều thiết kế thấp nhất (95%) = -1,24m

Hm - Chiều cao sóng trung bình (m) =0,71m;

Tm - Chu kỳ sóng trung bình = 4,6 s

Trang 7

4.1.2 Mặt cắt ngang

- Cao trình đỉnh tường chắn sóng +5,2 ; cao trình mặt đê : +5,0

- Chiều rộng mặt đê = 5m

- Mái đê phía biển 1:4

- Mái đê phía đồng1: 2

- Cao trình đỉnh lớp gia cố cấu kiện lục lăng +4,7

- Độ dốc bãi chân đê = 20

4.1.3 Kết cấu lớp gia cố

- Kết cấu lớp gia cố phía biển: Hệ thống khung BTCT 250# kích thước BxH = (30x40) cm: dầm ngang tại đỉnh mái lớp gia cố (+4,70) và giữa mái lớp gia cố (+2,06); dầm dọc 2 đầu của nguyên đơn, dọc theo tuyến kè cứ 20m thành 1 nguyên đơn Trong khung lát cấu kiện lục lăng âm dương BT 200# KT(40x40x23)cm, dưới cấu kiện lót đá(1x2)cm dày 15 cm và lớp vải lọc tương đương TS40

- Kết cấu lớp gia cố phía đồng: Đỉnh mái đê phía đồng có gờ chắn bánh bằng BT 200# dài 1m, khoảng cách tâm 2 gờ chắn liên tiếp là 5m Mái đê tiếp xuống mặt cơ phía đồng là hệ thống khung đá xây vữa 100# có tiết diện khung (30x40)cm, lót đá (4x6) dày 10 cm, khung dọc mái cách nhau 5m (1 nguyên đơn), trong khung đổ đất trồng cỏ

4.2 Đoạn đê hiện trạng được sửa chữa và gia cố kết cấu mới

4.2.1 Xác định điều kiện biên mới

- Mực nước triều thiết kế lớn nhất = 3,178m

- Mực nước triều thiết kế thấp nhất (95%) = -1,24m

- Hm – Chiều cao sóng trung bình (m) =0,71m;

- Chiều cao sóng thiết kế: Hs=0,93mm;

- Chiều cao sóng leo Hsl =1,7m

- Tm Chu kỳ sóng trung bình = 3,6 s

4.2.2 Thông số thiết kế cho đoạn đê hiện trạng khi bị sóng tràn

Các chỉ tiêu thiết kế đã được xác định để đảm bảo an toàn cho đoạn đê khi thay thế lớp gia cố thử nghiệm, (xem Phụ lục 2):

- Chiều dày lớp lọc = 0,15m

4.2.3 Yêu cầu thiết kế lớp gia cố mới

- Chiều dày lớp gia cố mái phía biển không bị trượt, không bị đẩy nổi h= 0,3m (xem Phụ lục 3), phía trên và dưới bố trí chân khay

- Cấu tạo hệ thống thoát nước để chống áp lực đẩy nổi: Qua kết quả khảo sát địa chất tháng 3 năm 2014, thân đê là cát hạt mịn và cát hạt nhỏ, do vậy mực nước ngầm trong thân đê lên xuống nhanh chóng theo thủy triều, cân bằng với mức nước biển phía ngoài, do đó gần như không xuất hiện chênh lệch cột nước gây áp lực đẩy nổi Năm

Trang 8

2013 tại Hà Lan cũng xây dựng đê biển bằng công nghệ này với điều kiện địa chất thân đê và nền đê tương tự và không bố trí ống thoát nước ra ngoài mái đê, mà chỉ bố trí tầng dăm lọc để tập trung nước trong thân đê thoát xuống chân đê (hình 2) Tuy nhiên để đảm bảo an toàn tuyệt đối, dự án thiết kế hệ thống tiêu thoát nước như sau

+ Tầng lọc đá dăm dày = 0,15m, phía trên, dưới được phủ bởi vải địa kỹ thuật Lớp vải địa kỹ thuật phía trên là loại vải dệt, chịu nhiệt cao đảm bảo không cho hỗn hợp asphalt nóng xâm nhập tầng lọc (đã có thí nghiệm kiểm tra)

+ Hệ thống các ống thoát nước với đường kính 36mm, đặt so le và khoảng cách giữa các ống là 2,5m

5 Lựa chọn vật liệu hỗn hợp

- Sử dụng vật liệu hỗn hợp asphalt chèn trong đá hộc để thay thế lớp bảo vệ mái

đê cũ bằng tấm lát bê tông cốt thép từ cao trình +2,1 đến cao trình đỉnh chân ống buy

cũ -0,5m

- Hỗn hợp asphalt chèn trong đá hộc bao gồm bitumen, bột đá, cát vàng và đá dăm với tỷ lệ cấp phối hợp lý để đảm bảo ở nhiệt độ từ (130-1700C) độ nhớt của hỗn hợp đạt yêu cầu để hỗn hợp xâm nhập kín các khe kẽ của đá hộc Tỷ lệ phối hợp các thành phần vật liệu sẽ được thí nghiệm trực tiếp tại hiện trường trong quá trình thi công

6 Giải pháp kỹ thuật

6.1 Gia cố lại mái phía biển hư hỏng

Bóc dỡ cấu kiện hư hỏng, đầm kỹ nền đê, lắp chèn đúng kỹ thuật theo yêu cầu

- Rải đá hộc trên mái theo yêu cầu kỹ thuật;

- Thi công lớp gia cố mới theo quy trình công nghệ thi công

Đỉnh mái đê phía đồng có gờ chắn bánh bằng BT 200# dài 1m, khoảng cách tâm

2 gờ chắn liên tiếp là 5m Mái đê tiếp xuống mặt cơ phía đồng là hệ thống khung đá xây vữa 100# có tiết diện khung (30x40)cm lót đá (4x6) dày 10 cm, khung dọc mái

Trang 9

cách nhau 5m (1 nguyên đơn), trong khung đổ đất trồng cỏ

6.4.2 Giải pháp thay thế, sửa chữa

Do lưu lượng tràn tính toán (phụ lục 2) là 4,13l/s/m, vì vậy mái đê phía đồng với hệ thống khung đá xây, trồng cỏ hoàn toàn có thể chịu được, chỉ cần kiểm tra những vị trí hư hỏng cục bộ để sửa chữa lại và trồng bổ sung những khu vực cỏ bị chết

- Phá dỡ tường chắn sóng tạo đường để máy đào bánh lốp dung tích gầu 0,7m3

có thể đi xuống mái đê bốc dỡ các khối bê tông hư hỏng, rải đá dăm, đá hộc, rót vữa asphalt vào trong đá hộc

- Chia đoạn đê thi công thành 6 khối đổ từ 1 đến 6 Thi công cuốn chiếu từ 1 đến 6, từ dưới lên trên (hình 5)

Hình 5- Sơ đồ bố trí tổng thể mặt bằng thi công

Trang 10

7.1.2 Chuẩn bị trang thiết bị, nhân lực

Các trang thiết bị thi công chính trong bảng 1

Bảng 1- Danh mục thiết bị chính cần chuẩn bị

TT Tên thiết bị Số lượng Thông số kỹ thuật Ghi chú

1 Máy đào bánh lốp 01 cái Dung tích gầu 0,7m3 Đặc tính kỹ

thuật theo loại máy

5 Máy đầm cóc 01 cái Dùng động cơ xăng

6 Máy bơm nước 02 cái Dùng điện

7 Máy phát điện 01 cái 5KW

Vật tư được chứa vào các kho chứa riêng biệt, các dạng vật tư không chịu được nước như xi măng, bột đá, vải địa kỹ thuật, cốt thép, v,v cần được bảo quản trong kho kín đúng quy định hiện hành

Nhân lực: Để đảm bảo công tác thi công đạt yêu cầu về chất lượng, tiến độ và đảm bảo an toàn, nhân lực cần bố trí bao gồm: 01 kỹ sư công trình thuỷ lợi, 01 kỹ sư vật liệu xây dựng (có chuyên môn sâu về thí nghiệm vật liệu hỗn hợp asphalt), 01 trung cấp trắc địa, mỗi thiết bị có 01 công nhân vận hành, riêng máy trộn vật liệu hỗn hợp asphalt bố trí 02 công nhân, 15 công nhân xây dựng lành nghề Cán bộ thi công tại hiện trường cần được đào tạo về an toàn lao động, kỹ thuật thi công (vì đây là công nghệ mới) và được trang bị đầy đủ các dụng cụ bảo hộ lao động

7.2 Thi công công tác đất

Bóc bỏ mái đê cũ Dùng thủ công bóc bỏ đá hộc chân đê, tấm lát mái đê, lớp

Trang 11

đệm thoát nước mái đê cũ Các vật liệu bóc bỏ được đổ vào gầu máy đào đổ thải ra phía hạ lưu tại vị trí đã được chi cục Quản lý đê điều địa phương cho phép

Công tác đất: Chiều dày lớp bảo vệ mái đê thi công mới dày hơn lớp bảo vệ cũ nên công tác đất ở đây chủ yếu là đào bạt mái đất Chiều dày bạt mái < 15cm nên sử dụng nhân công bạt mái theo kích thước trong hồ sơ thiết kế Ở đây nền đất của đê đã

ổn định, quá trình thi công bằng thủ công nên không cần gia cố đầm nén Tại những vị trí có dấu hiệu sạt trượt, cần phải bóc đất lên để đầm nén lại Sau khi đầm nén lại cần thí nghiệm kiểm tra các chỉ tiêu cơ lý của đất đắp

7.3 Thi công tầng lọc ngược

Do đặc thù của công tác thi công vật liệu hỗn hợp asphalt chèn trong đá hộc là vật liệu asphalt ở dạng nóng có khả năng xâm nhập vào các khe kẽ của đá dăm, do vậy

để đảm bảo hỗn hợp asphalt không xâm nhập vào trong khe kẽ của đá dăm tầng lọc làm tắc tầng lọc, kết cấu tầng lọc ngược gồm ba lớp: lớp dưới cùng tiếp xúc với thân

đê là vải địa kỹ thuật dạng không dệt, lớp giữa là đá dăm dày 15cm, lớp trên cùng là vải địa kỹ thuật dạng dệt, để ngăn không cho hỗn hợp asphalt lỏng xâm nhập vào đá dăm tầng lọc Qua thí nghiệm, loại vải địa kỹ thuật dệt có thể chịu được nhiệt độ cao của asphalt và không bị asphalt lỏng thấm qua (Hình 7)

Hình 7- Thí nghiệm khả năng chịu nhiệt của vải địa kỹ thuật loại dệt

Trình tự thi công như sau:

+Trải lớp vải địa kỹ thuật loại không dệt trên mái nghiêng của đê đã được đầm chặt và làm phẳng bằng thủ công, khâu nối và neo giữ theo đúng quy trình

+ Dùng máy đào xúc và rải, san gạt tầng dăm lọc, để tầng đá dăm lọc được ổn định, trong quá trình thi công sử dụng gầu của máy đào vỗ để đầm chặt Kiểm tra chiều dày theo thiết kế

Trang 12

+ Trải lớp vải địa kỹ thuật loại dệt phía trên tầng dăm lọc bằng thủ công, khâu nối, neo giữ theo đúng quy trình

7.4 Rải đá hộc, bố trí các ống tiêu thoát nước

Tại những vị trí bố trí ống thoát nước, lớp vải địa kỹ thuật trên cùng được khoét thủng, kích thước lỗ khoét đảm bảo để ống thoát nước có thể xuyên qua, nhưng không được quá lớn để hỗn hợp asphalt có thể xâm nhập vào đá dăm tầng lọc Đầu ống thoát đặt sâu vào lớp đá dăm 5cm

Dùng máy đào kết hợp với nhân công rải đá hộc chân, mái đê Tại những vị trí

xa gầu máy đào không vươn tới được sẽ dùng thủ công trung chuyển hoàn thiện

7.5 Sản xuất hỗn hợp asphalt (grouting mortar)

Đây là một khâu quan trọng nhất của giai đoạn thi công, chất lượng vật liệu hỗn hợp asphalt quyết định đến chất lượng tổng thể công trình Để vật liệu hỗn hợp asphalt đảm bảo chất lượng trong điều kiện thực tế hiện trường, trên cơ sở cấp phối vật liệu thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, tại hiện trường cần được trộn thử và thí nghiệm kiểm tra các chỉ tiêu cơ lý cơ bản như độ nhớt, quan hệ giữa độ nhớt và nhiệt độ hỗn hợp, quá trình mất nhiệt của hỗn hợp theo thời gian, kiểm tra hiện tượng phân tầng, tách lớp, trên cơ sở đó hiệu chỉnh thành phần và điều chỉnh tiến độ thi công cho phù hợp

Các khâu cơ bản của quá trình sản xuất hỗn hợp asphalt bao gồm (hình 7):

1 Nấu nhựa bằng dụng cụ chuyên dụng

2 Cân đong cốt liệu, bột khoáng theo cấp phối thực tế (có tính đến độ ẩm của cốt liệu)

3 Sấy nóng cốt liệu, bột đá tại buồng đốt

4 Trộn cốt liệu, bột đá, bitumen theo tỷ lệ cấp phối thực tế

5 Xả vật liệu hỗn hợp asphalt ra thùng chứa

6 Kiểm tra nhiệt độ, độ nhớt của vật liệu hỗn hợp asphalt

Hình 8- Sơ đồ quy trình sản xuất vật liệu hỗn hợp

Trang 13

7.6.Thi công rót hỗn hợp asphalt vào trong đá hộc

Sử dụng máy đào vận chuyển vật liệu hỗn hợp asphalt từ thùng chứa trên mặt đê xuống khối đổ Dùng gầu máy đào rót hỗn hợp vào đá hộc đảm bảo yêu cầu hỗn hợp lấp đầy các khe rỗng giữa các viên đá hộc Dùng thủ công san rải hoàn thiện những vị trí cục bộ gầu máy đào rót chưa đều hoặc còn sót

7.7 Một số vấn đề khác

7.7.1 Vấn đề tiêu thoát nước trong quá trình thi công

Do đoạn đê thi công có khối lượng thi công nhỏ, thời gian thi công ngắn chủ yếu tận dụng thời gian chân triều nên ở đây không đặt ra vấn đề đắp đê quây ngăn nước mặt

Việc tiêu thoát nước thấm: Kết cấu chân đê cũ đã có bố trí dãy ống bi phía ngoài với cao trình đáy ống bi – 2.5 thấp hơn cao trình đáy chân đê hỗn hợp asphalt chèn đá hộc thi công mới Vì vậy ta có thể tạm dỡ đá hộc chèn trong một số ống bi, sử dụng những ống bi này như những hố ga thu nước để bơm nước ra ngoài bằng máy bơm Sau khi thi công xong sẽ xếp hoàn trả đá hộc vào các ống bi này như hiện trạng ban đầu

7.7.2 Hoàn trả, vệ sinh hiện trường

Sau khi thi công xong mái đê phía dưới sẽ tiến hành dọn dẹp vệ sinh phần mặt, mái đê cũ xung quanh bị ảnh hưởng trong quá trình thi công.Các vật tư thừa như cát, đá… sẽ được dọn dẹp thu gom vào nơi quy định Dùng máy bơm xịt nước rửa sạch mái đê, mặt đê còn đất cát vương vãi

7.7.2 An toàn lao động

Do là đoạn đê thi công thử nghiệm, quy mô công trình nhỏ nên không thể thi công cơ giới toàn bộ mà phải kết hợp giữa cơ giới và thủ công Mặt khác,ứng dụng công nghệ vật liệu hỗn hợp asphalt chèn trong đá hộc để thi công thí nghiệm một đoạn

đê lần đầu tiên được thực hiện ở nước ta Hỗn hợp asphalt là hỗn hợp có nhiệt độ cao 130-1700C, tính linh động cao lại thi công ở địa hình mái dốc rất nguy hiểm nên trong quá trình thi công cần phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về an toàn lao động Cụ thể, trước khi thi công phải họp toàn bộ cán bộ, công nhân tham gia thi công để mô tả chi tiết các bước công việc, phân công trách nhiệm từng cá nhân, phổ biến nội quy về an

Ngày đăng: 03/04/2020, 23:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm