Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi Đồng chủ biên, được nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 1999 có thể coi là một tron
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS Phong Lê
THÁI NGUYÊN-2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN!
Em xin cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn trường đại học sư phạm Thái Nguyên, cùng các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho lớp Cao học K17 - Văn học Việt Nam; Sở giáo dục
và đào tạo Thái Nguyên, Ban giám hiệu và tập thể giáo viên trường trung học phổ thông Bắc Sơn tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho em có cơ hội học tập và nghiên cứu khoa học
Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới GS Phong Lê - người thầy rất nghiêm khắc, tận tâm trong công việc đã truyền thụ nhiều kiến thức quý báu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Thái Nguyên, ngày 09 tháng 10 năm 2011
Tác giả
Phạm Lê Dung
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Trong luận văn này, toàn bộ tài liệu tham khảo được đưa ra hoàn toàn có cơ
sở xác thực Trước tôi chưa có công trình nghiên cứu nào cùng đề tài này được công bố Tôi xin đảm bảo luận văn này là kết quả nghiên cứu khoa học của riêng
cá nhân tôi
Thái Nguyên, ngày 09 tháng 10 năm 2011
Tác giả
Phạm Lê Dung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 1
1 Lý do chọn đề tài……… ……… 1
2 Lịch sử vấn đề……… 2
2.1 Về thể loại nhật ký………2
2.2 Về nhật ký chiến tranh Việt Nam……… 4
2.2.1 Những công trình nghiên cứu và những bài viết về nhật ký chiến tranh Việt Nam……… 6
2.2.2 Những bài viết đề cập đến một số phương diện của nhật ký chiến tranh…… 7
2.2.2.1 Giới thiệu về nhật ký chiến tranh……….…… 7
2.2.2.2 Tìm hiểu về giá trị của những cuốn nhật ký……… ………… 9
3 Phạm vi tư liệu khảo sát……… 11
4 Nhiệm vụ nghiên cứu……….……… 12
5 Phương pháp nghiên cứu……… ……… 12
6 Cấu trúc luận văn ……….………12
Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ THỂ KÝ VÀ NHẬT KÝ……….…… 13
1.1 Giới thuyết về lý thuyết………13
1.1.1 Khái niệm nhật ký……… 13
1.1.2 Về dạng thức tồn tại của nhật ký……….……… ….13
1.1.3 Đặc điểm nổi bật của thể loại nhật ký ……… 18
1.2 Ký và nhật ký trong văn học Việt Nam thế kỷ XX…… ……… 22
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của thể ký……… 22
1.2.2 Ký Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay……… ……… 24
1.2.2.1 Thể ký trong giai đoạn 1900 – 1930……….……… 24
1.2.2.2 Thể ký trong giai đoạn 1930 – 1945……… 25
1.2.2.3 Thể ký trong văn học giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945……… 28
1.2.3 Sự phân hoá thành nhiều thể loại…….……… 30
Trang 5Chương 2 NHẬT KÝ CHIẾN TRANH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM: TỪ NHẬT KÝ TRONG GIAI ĐOẠN VĂN HỌC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP ĐẾN NHẬT KÝ TRONG GIAI ĐOẠN VĂN HỌC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
MỸ……… ………… 38
2.1 Bối cảnh lịch sử xã hội từ năm 1945 đến năm 1975……… … 38
2.1.1 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954)……… … 38
2.1.2 Việt Nam trong thời kỳ xây dựng miền Bắc và đấu tranh để thống nhất đất nước (1954 – 1975)……… …40
2.2 Nhật ký viết trong kháng chiến chống Pháp……….…42
2.2.1 Nhật ký của các nhà văn chuyên nghiệp……… 42
2.2.2 Nhật ký của người viết không chuyên……… ……….… 53
2.3 Nhật ký viết trong kháng chiến chống Mỹ……… ……… 55
Chương 3 BA MƯƠI NĂM SAU KHI CHIẾN TRANH KẾT THÚC VÀ SỰ BÙNG PHÁT CỦA NHẬT KÝ QUA HAI SỰ KIỆN NGUYỄN VĂN THẠC, ĐẶNG THÙY TRÂM ……….…… 76
3.1 Chung quanh “Mãi mãi tuổi hai mươi”……….……… … …… 76
3.2 Chung quanh “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” ………….…… ……….78
3.3 Những giá trị mới được rút ra từ hai cuốn nhật ký gắn với thời điểm lịch sử 2005……… ……… 82
3.3.1 Nhận thức lịch sử trong tính trung thực tối ưu của nó……… ……… 86
3.3.1.1 “ Mãi mãi tuổi hai mươi” của Nguyễn Văn Thạc…… ….….……… 88
3.3.1.2 “ Nhật ký Đặng Thùy Trâm”……… ……… ……… 97
3.3.2 Giá trị nhân văn trong cả hai chiều - chiều rộng và chiều sâu……… 102
3.3.3 Giá trị kiểm chứng tính chân thực của đề tài chiến tranh trong văn học……… ……….…….125
KẾT LUẬN…… ……… ……… 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
1.1 Nói đến nhật ký, hầu như, người ta không mấy khi để ý đến, bởi đó là sản
phẩm mang tính chất riêng tư của một cá nhân Nhật ký thường là những lời tâm
sự, những suy ngẫm “sống để dạ, chết mang theo” của cá nhân người viết mà người khác dường như cũng nhận thức rõ về trách nhiệm không được xâm phạm đến của bản thân mình Nhưng, trên thực tế, vì những lý do đặc biệt khác nhau, nhiều cuốn nhật ký đã được công bố rộng rãi trước công chúng và được công chúng nồng nhiệt tiếp nhận với một thái độ trân trọng, thành tâm Trong những năm gần đây, nhật ký đã nhận được sự quan tâm của dư luận Và sự quan tâm ấy dường như có phần ưu đãi hơn đối với những cuốn nhật ký viết trong thời kỳ chiến tranh Từ những cuốn nhật ký chiến tranh, người đọc đã khám phá được nhiều điều còn tiềm ẩn, đã vén lên được nhiều bức màn bí mật về cuộc chiến tranh của nhân loại nói chung, cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam nói riêng
1.2 Nhật ký là một thể loại khá đặc biệt trong nền văn học Việt Nam So với
nhiều thể loại văn học khác, thể loại nhật ký xuất hiện muộn hơn, thành tựu đạt được của thể loại này cũng chưa thật sự đáng kể Hơn nữa, số lượng nhật ký được xuất bản ở nước ta hiện nay quá ít ỏi, nên chưa tạo ra được sự quan tâm của bạn đọc và giới nghiên cứu Vì vậy, lý thuyết thể loại về nhật ký trong văn học Việt Nam hiện nay còn rất nhiều khoảng trống cần được bù đắp kịp thời để góp phần làm phong phú thêm diện mạo nền văn học dân tộc Tuy nhiên, trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định hay một hoàn cảnh đời sống đặc biệt của một cá nhân nào
đó, nhật ký có một vai trò đặc hiệu, mà không một thể loại văn học nào có thể thay thế được Vì lẽ ấy, nên nhật ký được rất nhiều người, nhiều nhà văn sử dụng để bộc lộ chân tình những tâm sự riêng tư, để ký thác những suy nghĩ khó giãi bày
Trang 7được với người khác Đó chính là những góc khuất chân thực nhất của đời sống tâm hồn con người mà không một thể loại văn học nào hay không một loại hình nào khác có thể diễn tả được
1.3 Giá trị của nhật ký tưởng chừng như chỉ mang tính chất riêng tư đối với
mỗi cá nhân người viết, song đặt vào những hoàn cảnh cụ thể, nhiều cuốn nhật ký bỗng trở thành những kỷ vật vô giá không chỉ đối với đời sống tình cảm của con người mà là những hiện vật vô giá trong nhiều lĩnh vực khác nữa Trong những trường hợp như thế, nhật ký trở thành những chứng nhân đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc đời con người, đối với lịch sử của một quốc gia Có khi nhật ký còn vượt ra khỏi khuôn khổ của một quốc gia, xứng đáng là chứng nhân lịch sử quan trọng của nhân loại trong một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó Tâm hồn người viết, nhân cách người viết, những biến động của một thời đại lịch sử hiển hiện qua rất nhiều trang nhật ký, nhiều cuốn nhật ký mà trong quá trình ghi chép, người viết không hề nhận ra điều đó Dù vô tình hay có ý thức, nhìn chung người viết nhật ký đã mang đến cho thể loại nhật ký một phẩm chất thật đáng quý, thật đáng trân trọng Do đó, khi tiếp nhận nhật ký, chúng ta sẽ khám phá được nhiều góc khuất chân thực của đời sống và tâm tư con người mà dường như ở các thể loại văn học khác, ta không dễ gì bắt gặp
Chọn nghiên cứu về Nhật ký chiến tranh trong văn học Việt Nam hiện đại,
chúng tôi rất mong muốn được góp phần vào việc tìm hiểu một cách chuyên sâu hơn chặng đường phát triển của nhật ký chiến tranh Việt Nam, đặc trưng của thể loại nhật ký và vị trí của thể loại này trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Về thể loại nhật ký
Trang 8Trước năm 2005, số lượng tác phẩm nhật ký xuất hiện trong văn học Việt
Nam rất ít Năm 2005, sau sự kiện “trở về” từ nước Mỹ của cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, một loạt các cuốn nhật ký, thư từ thời chiến được xuất bản như là một
trào lưu, một “cơn sốt” trong văn học Tuy nhiên, cho đến nay, số lượng tác phẩm nhật ký vẫn là những con số rất khiêm tốn Đây cũng là một trong những nguyên nhân, vì sao nhật ký chưa thật sự thu hút được sự quan tâm của nguời đọc Và đó cũng là lý do vì sao, việc nghiên cứu nhật ký dưới góc độ đặc trưng thể loại cũng chưa được chú trọng Hiện nay, việc nghiên cứu nhật ký như là nghiên cứu một thể loại văn học mang tính quy mô như nhiều thể loại văn học khác cũng chưa có Thật ra, các nhà nghiên cứu văn học chưa có sự quan tâm nhiều đến vấn đề về thể loại của nhật ký Trong một số năm gần đây, khái niệm về nhật ký với tư cách như
là một thể loại văn học mới được đề cập đến trong các cuốn sách lý luận văn học, song dung lượng nội dung nói về nhật ký trong các sách cũng chưa phải là nhiều
Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên), được nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 1999 có thể coi là một trong những cuốn sách đầu tiên trong văn học
Việt Nam đã nhắc đến thể loại nhật ký với tư cách là: “Một thể loại thuộc loại hình ký” [10, tr.200] Trong Từ điển văn học (bộ mới), Lại Nguyên Ân cho rằng: Nhật ký là “Loại văn ghi chép sinh hoạt thường ngày Trong văn học, nhật ký là hình thức trần thuật ở ngôi thứ nhất số ít, dưới dạng những ghi chép có đánh số ngày tháng bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, những gì nếm trải, thể nghệm, nó ít hồi cố, được viết ra cho bản thân người ghi chứ không tính đến việc công chúng tiếp nhận” [13, tr.1257] Khi làm chủ biên cuốn Giáo trình thi pháp học, giáo sư Trần Đình Sử lại đưa ra những ý kiến cụ thể hơn: “Nhật ký là thể loại ghi chép sự việc, suy nghĩ cảm xúc hàng ngày của chính người viết, là những tư liệu có giá trị về tiểu sử và thời đại của người viết (…) Giá trị quan trọng nhất
Trang 9của nhật ký là tính chân thực do ghi chép sự việc đang xảy ra” [46, tr.261] Trong bài nghiên cứu khác, tác giả cho rằng: “Nhật ký là thể loại mang tính chất riêng
tư, đời thường nhiều nhất Nếu mục đích của bài viết là để giao lưu với người khác, thì nhật ký trái lại chỉ để giao lưu với chính mình, mình viết để cho mình, nói với mình Riêng tư chính là lý do tồn tại của nhật ký Tính riêng tư cũng là điều hấp dẫn của nhật ký, vì nó liên quan đến bí mật của người khác, nhất là của những nhân vật được xã hội quan tâm” [47, tr.379]
Bên cạnh đó, thể loại nhật ký còn được nhắc đến ở một số bài viết và các
công trình nghiên cứu khác Trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XX, giáo sư
Phan Cự Đệ có quan điểm đồng nhất với giáo sư Trần Đình Sử khi nhắc đến thể
loại nhật ký với tư cách là một tiểu loại của loại hình ký: “Nhật ký ghi chép những
sự việc và cảm nghĩ về bản thân, về cuộc đời diễn biến theo ngày tháng Nhật ký thiên về tâm tình hơn là sự kiện Một tập nhật ký có ý nghĩa văn học khi thể hiện được một thế giới tâm hồn, qua sự việc và tâm trạng cá nhân toát lên những vấn
đề xã hội rộng lớn” [6, tr.432]
Hiện nay, nhật ký đã nhận được sự quan tâm của khá nhiều độc giả, nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học Vì lẽ ấy, nên việc nghiên cứu để làm phong phú thêm những đặc điểm và đặc trưng về thể loại của nhật ký là điều vô cùng cần thiết
2.2 Về nhật ký chiến tranh trong văn học Việt Nam
Nhật ký chiến tranh ở Việt Nam xuất hiện trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954) Trong đó, có những cuốn đã được in thành sách hoàn chỉnh hoặc trích in trên sách, báo, kịp thời đến với độc giả ngay sau khi tác
giả mới hoàn thành như: Nhật ký Ở rừng của Nam Cao, nhật ký của Bùi Hiển, nhật ký Một tháng đi theo anh em pháo binh của Hoài Thanh, nhật ký của Thôi
Hữu, Cũng có những cuốn nhật ký, sau rất nhiều năm viết mới được in Đó là
Trang 10Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng (3 tập) được viết từ năm 1953 đến 2006 mới được in
(Tính đến mốc thời gian cuối cùng tác giả ghi trong nhật ký)
Bên cạnh những trang nhật ký, những cuốn nhật ký của các nhà văn chuyên nghiệp, ta còn thấy khá nhiều nhật ký của những người viết không chuyên Họ chỉ
là những người lính Cụ Hồ hay những người tân binh, công binh trong hai cuộc kháng chiến đó Họ lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc, nhiệm vụ của họ là cầm súng để chiến đấu với kẻ thù Nhưng trong những khoảnh khắc yên bình ngắn ngủi của cuộc chiến tranh, họ vẫn cố gắng trải lòng mình qua những trang nhật ký Những trang nhật ký này vốn được viết ra dưới chiến hào, trên đường hành quân, khoảng thời gian đợi chờ giữa hai trận đánh hay được viết ngay trong những giờ phút im lặng nhất của chiến trường đang trong những ngày “nổ lửa” Chắc chắn, khi đặt bút viết những dòng chữ này, người viết không bao giờ có ý định công bố nhật ký của mình cho người khác biết và cũng không bao giờ nghĩ rằng những trang nhật ký của cá nhân mình lại được in ra và đi vào đời sống của con người sau này Do đó, họ viết bằng cả tấm lòng chân thực nhất và nhiều cảm xúc cá nhân nhất
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng đã để lại dấu ấn trong nhiều
trang nhật ký của một số nhà văn như: Dương Thị Xuân Quý, Chu Cẩm Phong,
Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyễn Minh Châu,… và nhật ký của những người viết văn không chuyên - người chiến sĩ - mà có lẽ phải đến mấy chục năm sau mới đến
được với bạn đọc vì nhiều lý do khác nhau như cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi (Nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc), Nhật ký Vũ Xuân, Đường về (Nhật ký của liệt sĩ Phạm Thiết Kế), Tài hoa ra trận (Nhật ký của liệt sĩ Hoàng Thượng Lân), Những tấm ảnh trở về (Nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Văn Giá), Một điều rất đặc biệt là còn có cả cuốn Nhật ký bằng tranh của hoạ sĩ -
chiến sĩ Lê Đức Tuấn,…
Trang 112.2.1 Những công trình nghiên cứu và những bài viết về nhật ký chiến tranh
Xuất phát từ vấn đề nhật ký chưa được coi trọng như là một thể loại văn học thực sự nên những công trình nghiên cứu với quy mô lớn về nhật ký hầu như không có, việc đưa nhật ký vào chương trình học ở các cấp học, các bậc học cũng chưa thấy được đề cập đến Sau “cơn sốt” nhật ký chiến tranh năm 2005, trong đời sống văn học Việt Nam đương đại, một số cuốn nhật ký và tên tuổi tác giả gắn liền với nhật ký đó được nhiều trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông, trường Trung cấp, trường Cao đẳng, trường Đại học, nhiều cơ quan, nhiều đơn vị
bộ đội, v.v… phát động phong trào học tập các tấm gương liệt sĩ – tác giả của những cuốn nhật ký đã hy sinh
Sự xuất hiện của một loạt các cuốn nhật ký trong khoảng ba năm (2005 – 2008) đã thu hút được sự quan tâm của số đông bạn đọc ở mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề khác nhau Nhà thơ, nhà báo Đặng Vương Hưng, người sử dụng rất hiệu quả
tư liệu viết tay cá nhân cho những bài báo của mình cho biết: “Tôi nhận ra rằng mỗi bức thư, trang nhật ký của những con người bình thường là một kho tàng vô giá của cuộc sống, đặc biệt đối với người làm báo, viết văn” [14]
Nhà sử học Dương Trung Quốc khẳng định:“Hiện tượng nhật ký chiến tranh cũng cho thấy chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo tồn ký ức, lâu nay chúng ta rất quan tâm đến bảo tồn những di tích vật thể mà quên mất rằng ký
ức cũng là một di sản phi vật thể Nhất là với thực tiễn lịch sử đất nước ta, với cuộc chiến tranh hào hùng như vậy, thì mỗi một con người đi vào cuộc chiến tranh đó đều có thể là những pho sử liệu rất quý” [14]
Hiện nay, những công trình nghiên cứu và những bài viết về nhật ký chiến tranh ở Việt Nam còn mang tính chất lẻ tẻ, rải rác trên một số trang báo phát hành hoặc trên một số trang web ở báo điện tử,… Tuy vậy, tất cả các bài báo đó đều có
sự đánh giá cao về những đóng góp của nhật ký chiến tranh đối với tiến trình phát
Trang 12triển văn học của dân tộc, đối với đời sống tinh thần của con người vào thời điểm cuốn nhật ký đó được ra mắt công chúng Đóng góp lớn nhất mà những cuốn nhật
ký được viết trong thời kỳ đất nước có chiến tranh mang lại cho nền văn học Việt Nam - qua sự đánh giá của phần lớn các bài viết - chính là giá trị tư liệu nhiều mặt
về cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc Việt Nam liên tục trong suốt gần ba chục năm Nhưng nếu xét một cách toàn diện thì những bài viết này mới chỉ mang tính chất là những bài viết thể hiện suy nghĩ, đánh giá, nhận xét ở mức độ cơ bản về từng cuốn nhật ký; nếu là những đánh giá chung về nhật ký chiến tranh thì đó cũng mới chỉ là những đánh giá mang tính tổng thể về giá trị của thể loại này trên phương diện lịch sử hoặc trong lĩnh vực văn học Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu văn học nào nghiên cứu chuyên sâu về thể loại nhật ký nói chung, về nhật ký chiến tranh nói riêng trên cả hai phương diện: Hình thức nghệ thuật và giá trị nội dung Mặc dù giá trị nghệ thuật ở thể loại này thể hiện rất mờ nhạt song không phải là không có Thậm chí hình thức nghệ thuật của nhật ký biểu hiện rõ đến mức, người đọc, người nghe có thể nhận diện ngay được khi tiếp xúc với văn bản
2.2.2 Những bài viết đề cập đến một số phương diện của nhật ký chiến tranh 2.2.2.1 Giới thiệu về nhật ký chiến tranh
Thật ra, chúng ta cũng nhận thấy rằng, từ nhiều năm nay, trên báo chí đã đăng rất nhiều các bức thư tình hoặc những trang nhật ký thời chiến Đến năm
2005, hàng loạt cuốn nhật ký được xuất bản đã nhận được sự đồng tình ủng hộ và
sự đón nhận nhiệt thành của độc giả Có một điều rất đặc biệt là, giới trẻ hiện nay
tỏ ra rất quan tâm đến cái thời mà cha anh họ đã trải qua Các bạn trẻ đã tìm thấy
lý tưởng sống và lẽ sống chân thật của cha anh họ trong thời kỳ chiến tranh qua những cuốn nhật ký mà các tác phẩm văn học dù muốn cũng không sao thể hiện được Trên báo chí hoặc trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng khác nhau,
Trang 13các bài viết về nhật ký chủ yếu tập trung vào vấn đề giới thiệu các cuốn nhật ký khi mới được xuất bản, cách giới thiệu còn mang tính chất nhỏ lẻ, phần lớn là nhằm mục đích quảng cáo sách
Phó giáo sư - Tiến sĩ Xã hội học Mai Quỳnh Nam cho biết: “Nhật ký của anh
Thạc, chị Trâm và nhiều liệt sỹ trẻ vô danh khác đã nói lên tiếng nói của cả một thế hệ Việc xuất bản các cuốn hồi ký, nhật ký từ thời chiến tranh, cũng như việc đăng tải các tác phẩm đó trên báo chí là rất cần thiết Bởi nó làm cho người ta có điều kiện sống lại lịch sử, khẳng định lại giá trị cơ bản của dân tộc Việc làm đó nên tiến hành thường xuyên, có hệ thống, và đi vào thế tương đối ổn định, gắn với giáo dục truyền thống yêu nước, nhân sinh quan, quan niệm lý tưởng đối với người trẻ, đặc biệt là nghĩa vụ của họ đối với đời sống xã hội và quan hệ cá nhân của họ đối với cộng đồng Điều này cần đặc biệt nhấn mạnh trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường” [40]
Giới thiệu về Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, Tạp chí sông Hương (lời toà soạn) đã thể hiện rất rõ quan điểm của tạp chí: “Phát hành tới hàng trăm ngàn bản, “Nhật
ký Đặng Thuỳ Trâm” là cuốn sách duy nhất (có thể nói như vậy) gây được xúc động cho các thế hệ độc giả trong và sau chiến tranh, cho cả hai phía xâm lược và chống xâm lược nhờ tính chân thực của nó.” [33]
Trang giới thiệu sách của blogsach.com cũng đã khẳng định hiện tượng kỳ lạ
mà cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm đã mang đến cho văn hoá đọc hiện nay: “Giờ đây có thể nói gì thêm về Nhật Ký Đặng Thuỳ Trâm? Rằng đó là một cuốn sách kỳ
lạ, phá kỷ lục xuất bản của Việt Nam, đã khiến người nữ tác giả đã mất cách đây hơn ba mươi năm của nó trở thành anh hùng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng? Rằng đó là cuốn sách đã khuấy động cả một xã hội đang mỗi lúc mỗi trở nên nhạy cảm và dè chừng trước mọi hình thức khuấy động? Rằng đó là tác phẩm đánh dấu
cả một thời đại trong nghĩ và sống? Và chính vì lẽ ấy mà nó vẫn có nguyên giá trị
Trang 14trong khi dòng đời đã đổi và lòng người đã khác? Rằng mỗi thế hệ, mỗi cá nhân vẫn hoàn toàn có thể lật giở những ngày sống của Thuỳ với những nhìn nhận riêng và vô cùng khác biệt? Rằng đó là tác phẩm của một thời song lại như hướng đến một số phận toàn thể và vì thế phi thời?” [18]
Viết về nhật ký của Dương Thị Xuân Quý, tác giả Nguyễn Thị Việt Nga đã giới thiệu: “Nhật ký của nhà văn liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý không nằm trong tủ sách “nhật ký chiến trường” ấy mà được in gộp cùng những tác phẩm của nhà văn và những dòng kỷ niệm của người thân, bạn hữu, đồng đội về nhà văn - chiến
sĩ đã “nằm lại với đất lành Duy Xuyên” được Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành năm 2007” [37]
Trên khắp các phương tiện thông tin đại chúng trong ba năm 2005 – 2008, việc giới thiệu sự xuất hiện của các cuốn nhật ký đã trở thành tâm điểm của nhiều
tờ báo, nhiều chương trình phát thanh và truyền hình Điều này đã được công chúng đặc biệt quan tâm và đón nhận
2.2.2.2 Tìm hiểu về giá trị của những cuốn nhật ký
Từ năm 2005 trở lại đây, nhật ký chiến tranh đã tạo được ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bạn đọc, lý giải về điều này, nhà sử học Dương Trung Quốc cho
rằng:“Nhật ký chiến tranh đang gây cảm xúc mạnh mẽ với thế hệ @ Lý giải điều này như thế nào? Thời đại đã thay đổi rất nhiều, và cuộc sống hiện tại thì “cuốn” mọi người theo rất nhanh, sức “cuốn” đó tạo nên những khoảng trống làm cho các bạn trẻ thấy hẫng hụt Phải chăng các bạn trẻ đã tìm được trong những trang nhật ký chiến tranh những điều thực sự rất gần gũi với mình và đã chấp nhận ngay?” [40]
Trước hiện tượng nhật ký chiến tranh của Đặng Thuỳ Trâm và Nguyễn Văn Thạc, tác giả Lê Minh Tiến đã bộc lộ rất chân thành suy nghĩ của anh về hiện
tượng này: “Từ đây cũng làm nảy sinh một câu hỏi vì sao trong thời buổi bị phê
Trang 15phán là thực dụng này mà “nhật ký chiến tranh” vẫn có một sức thu hút lớn đến như vậy? Có thể là vì trong hai cuốn nhật ký ấy đều “có lửa”, chứa đựng những giá trị nhân văn cao đẹp làm lay động lòng người, những thông điệp “từ trái tim”… Nhưng nếu lý giải như thế thì hóa ra trước đây chúng ta chưa có, chưa đọc được những cuốn nhật ký chiến tranh như thế sao?” [53] Như vậy, nhật ký chiến
tranh, thực sự đã tạo được một sức hút đặc biệt trong giới trẻ hiện nay và đã được đông đảo bạn đọc đón nhận Tất nhiên, theo cách lý giải của tác giả Lê Minh Tiến
thì điều đó có cơ sở chứ không phải chỉ xuất phát từ những sở thích vu vơ của họ Tác giả Tôn Phương Lan trong bài viết Nguồn tư liệu đáng quý qua nhật ký chiến tranh nhận định: “Cuộc chiến tranh đã đi qua hơn ba mươi năm Nhiều bức màn bí mật đã được vén lên cho thấy chiều kích cuộc chiến đấu một thời cụ thể hơn Vẫn biết những sáng tác văn chương của ta chưa thật xứng tầm với những hy sinh của nhân dân ta và nhật ký chiến tranh của những người tham chiến, đặc biệt
là của các liệt sĩ là trí thức văn nghệ sĩ càng cho chúng ta thấy rõ hơn điều đó Đến bây giờ chắc chẳng ai còn ngủ trong hào quang chiến trận Nhưng hãy nhìn vào những gì dân tộc đã trải qua để đốt lên trong lòng mỗi người ngọn lửa yêu nước, để đưa dân tộc ta vượt qua đói nghèo là việc cần làm Trên ý nghĩa đó, nhật
ký chiến tranh sẽ là cơ sở để cho hậu thế viết lại lịch sử bằng văn Sâu xa hơn, có thể đó là một bài học kinh nghiệm trong cuộc hội nhập hôm nay” [25] Qua những
lời nhận định xác đáng, tác giả Phương Lan đồng thời cũng gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh mỗi chúng ta hiện nay: Hãy có cái nhìn đúng đắn về quá khứ của dân tộc ta bởi đó sẽ là nền tảng cho công cuộc phát triển đất nước trong hiện tại và
tương lai sau này
Giáo sư Phong Lê đã phát hiện ra “sau khoảng lặng ba mươi năm”, nhật ký chiến tranh của Đặng Thuỳ Trâm và Nguyễn Văn Thạc vẫn có một sức sống kỳ lạ
bởi hai cuốn nhật ký này có một giá trị đặc biệt: “Ba mươi năm đã qua, tính từ 30
Trang 16tháng Tư năm 1975, và trước đó là ba mươi năm trong chiến tranh, chúng ta đã
có một nền văn học viết về chiến tranh của một đội ngũ người viết - dẫu chuyên hoặc không chuyên, đều có chung một tâm nguyện là viết sao cho vừa chân thực, vừa có đóng góp tích cực cho cuộc chiến đấu đòi hỏi tận cùng những nỗ lực và hy sinh của toàn dân tộc Và với hai cuốn nhật ký này, chúng ta lại có dịp thử nghiệm lại tính chân thực của nền văn học ấy; một thử nghiệm cho thấy độ tin cậy cao nhất về những gì đã được viết; cả độ tin cậy về sự đón nhận, sự bàn luận và đánh giá của các thế hệ đến sau khi chiến tranh đã lùi vào lịch sử” [29]
Nhìn chung, đó mới chỉ là những ý kiến, những nhận định mang tính chất tản mạn, chưa được tập hợp lại thành một hệ thống về thể loại nhật ký chiến tranh, cũng chưa có bài viết nào nghiên cứu sâu về nhật ký chiến tranh Nhằm mục đích
kế thừa và phát huy những đánh giá về nhật ký chiến tranh qua những bài viết đã được tham khảo, chúng tôi mong muốn được góp phần vào việc làm rõ hơn những giá trị của nhật ký chiến tranh trong văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt là giá trị
của hai cuốn nhật ký được viết trong những năm kháng chiến chống Mỹ: Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm của nữ liệt sĩ – bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm và cuốn Mãi mãi tuổi hai mươi - nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc
3 Phạm vi tư liệu khảo sát
Một số tác phẩm nhật ký đã được xuất bản: Ở rừng (Nam Cao), Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký Chu Cẩm Phong, Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi (Nguyễn Văn Thạc), v.v… và nhiều trang nhật ký, cuốn nhật ký của
các tác giả khác được viết trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và
kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1 Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống sự phát triển của nhật ký
chiến tranh trong văn họcViệt Nam hiện đại
Trang 174.2 Bước đầu đưa ra được một số đặc điểm vể thể loại nhật ký và những
đóng góp của các tác phẩm nhật ký chiến tranh đối với nền văn học hiện đại Việt
Nam Đặc biệt là đóng góp của hai cuốn nhật ký: Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm của liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm và Mãi mãi tuổi hai mươi - nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Văn
Thạc
5 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn vận dụng nhiều phương pháp:
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp so sánh – đối chiếu
6 Cấu trúc luận văn:
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được triển khai trong ba chương
Chương I: Giới thuyết về thể ký và nhật ký
Chương II: Nhật ký chiến tranh trong văn học Việt Nam: Từ nhật ký trong
giai đoạn văn học kháng chiến chống Pháp đến nhật ký trong giai đoạn văn học kháng chiến chống Mỹ
Chương III: Ba mươi năm sau khi chiến tranh kết thúc và sự bùng phát của
nhật ký qua hai sự kiện Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thuỳ Trâm
Trang 18ở chỗ nhật ký văn học thường hướng về một tư tưởng chủ đề nhất định và có sự ưu tiên chú ý đến nội tâm của tác giả hoặc nhân vật trước những vấn đề, những sự kiện có ý nghĩa xã hội nhân bản rộng lớn Về mục đích sử dụng, các loại nhật ký ngoài văn học được viết ra không nhằm để công bố rộng rãi” [10, tr.200] Mặc
dù, hiện nay, nhật ký đã có được một chỗ đứng nhất định trong đời sống văn học với tư cách là một thể loại văn học nhưng so với các thể loại văn học khác, nhật ký vẫn chưa tìm được sự nhất quán trong quan niệm, quan điểm của các nhà nghiên cứu, các độc giả về đặc trưng, đặc điểm của thể loại này
1.1.2 Về dạng thức tồn tại của nhật ký:
Cũng giống như dạng thức tồn tại của một số thể loại văn học, dạng thức tồn tại của nhật ký rất đa dạng, giá trị của nhật ký đối với cá nhân và đối với đời sống
Trang 19văn học có sự khác nhau Sự khác biệt này rất dễ nhận biết do nội dung và mục
đích sử dụng của văn bản nhật ký quy định nên Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “Nhật ký vốn là thể loại độc thoại song lời độc thoại của tác giả hoặc nhân vật lại có thể là cuộc đối thoại ngầm với người khác về con người và cuộc đời nói chung và về chính bản thân mình nói riêng” [10, tr.200] Tuy nhiên, sự khác nhau
của các loại nhật ký, về cơ bản vẫn phân biệt được: Nhật ký công tác, nhật ký khoa học là những ghi chép của cá nhân về những sự việc, hiện tượng diễn ra hàng ngày, hàng giờ, là lịch trình công việc ở các công sở, các đơn vị hành chính hoặc trong nghiên cứu khoa học Còn nhật ký cá nhân cũng là những ghi chép của cá nhân nhưng đó lại là những ghi chép về các sự kiện đời tư, những suy nghĩ và trải nghiệm của cá nhân người ghi trong cuộc sống hàng ngày Nếu nhật ký công tác
và nhật ký khoa học có thể thông báo tức khắc, rộng rãi trước tập thể để mọi người cùng biết hay cùng công nhận thì nhật ký cá nhân lại là hình thức giao lưu của cá nhân đó đối với chính những suy nghĩ, chiêm nghiệm và tâm sự của họ, chứ không
hề có mục đích công bố cho người khác biết Chính điều này đã làm nên tính chất xác thực của nhật ký cá nhân Qua nhật ký cá nhân, người ta không chỉ đọc được những cảm xúc riêng tư bí mật của người viết về đời tư cá nhân mình, về cuộc sống đời thường mà còn thấy được những dấu ấn của một sự kiện, một thời kỳ lịch
sử, một vùng miền nào đó trên từng trang nhật ký Nhiều cuốn nhật ký cá nhân của những nhân vật nổi tiếng, khi được công bố rộng rãi đã thu hút được sự chú ý, tò
mò của người đọc Những cuốn nhật ký như thế đã có một sức hấp dẫn, lôi cuốn ghê gớm đối với người đọc cho dù nhân vật đó nổi tiếng trong bất cứ lĩnh vực nào
Dù sao cũng không thể phủ nhận được giá trị chân thực của nhiều cuốn nhật ký trong việc cung cấp những tư liệu quý giá, lưu giữ kí ức của con người một thời trong một giai đoạn lịch sử nhất định Và vì vậy, nên xét trên một phương diện nào đó kí ức của một dân tộc cũng có thể được lưu giữ qua kí ức của cá nhân trong
Trang 20nhật ký Bên cạnh đó, qua nhiều cuốn nhật ký cá nhân, người đọc còn nhận thấy
trong đó có những bài học xử thế đáng khâm phục, đáng phải học tập Cũng bởi vì
có những ưu điểm như vậy, nhật ký cá nhân đã được vận dụng vào lĩnh vực văn học, lĩnh vực lịch sử như những tư liệu quý giá mà nhiều khi khó có thể tìm thấy được trong kho tư liệu thuộc hai lĩnh vực này
Những dấu hiệu trên đây của nhật ký cá nhân đã khiến cho loại nhật ký này được vận dụng vào văn học và vô hình chung, nhật ký cá nhân đã trở thành một thể loại văn học với những đặc điểm và giá trị riêng mà nhiều thể loại văn học khác không thể nào có được Ở nhiều nước trên thế giới, thể loại nhật ký đã phổ biến từ rất lâu và thực sự nhật ký đã được coi là một thể loại văn học Trong bài
Về lối văn nhật ký đăng trên báo Phụ Nữ tân văn, số 150, ra ngày 23/6/1932, Phan
Khôi cho biết là ở Trung Hoa, từ mấy trăm năm nay, việc viết nhật ký đã khá phổ
biến; riêng ở Nhật, nhật ký xuất hiện sớm hơn nữa: “Vào thời trung cổ của họ, từ một ngàn năm nay, mà cũng đã có nhiều bản nhật ký truyền đạt đến bây giờ” [45]
Phan Khôi ước mong là người Việt Nam hãy tập thói quen ghi chép nhật ký Ông
còn khẳng định: “Nhật ký, không nói quá có lẽ nó là cái thước để đo trình độ văn minh của một dân tộc ” [45] Ở Nhật, nhật ký được gọi là Nikki Bungaku, thể loại
này xuất hiện rất sớm trong giai đoạn đầu đời sống văn học trung đại Hiện nay,
cuốn nhật ký cổ nhất còn được lưu giữ là cuốn Tosa Diary (Nhật ký Tosa) của
Kino Tsurayuki được viết vào khoảng năm 935; nhiều cuốn nhật ký nổi tiếng từ
thời trung cổ được dịch ra tiếng Anh: Sara Shina Nikki (Khi tôi băng qua chiếc cầu của những giấc mơ) - viết vào khoảng thế kỷ XI, cuốn Nhật ký thơ Nhật Bản, Nhật ký của người phụ nữ Nhật cao quý,… Nhật ký ở Nhật Bản ngày xưa được
chia thành hai loại Loại đầu, viết bằng chữ Hán, toàn là nhật ký công vụ, chuyên ghi chép những sự kiện xảy ra hàng ngày trong cung đình, chỉ có ý nghĩa sử liệu Loại thứ hai, viết bằng chữ Nhật, chú trọng vào tâm tình và đời sống riêng tư, rất
Trang 21có ý nghĩa văn học Ở đây, nội dung và giá trị của các cuốn nhật ký rõ ràng là có
quan hệ mật thiết đến vấn đề văn tự Ở phương Tây, thể tài nhật ký xuất hiện rất
sớm trong đời sống văn học và thực sự đã có nhiều đóng góp đáng kể cho văn học
Tác giả Nguyễn Hưng Quốc cho rằng người Việt Nam lười viết: “Trước hết là lười viết hồi ký, nhật ký và thư từ Hơn nữa, chúng ta lại không có thói quen bảo quản tư liệu tốt: cái có được vốn đã ít, lại càng ít ỏi hơn nữa vì bị mất mát, bị rơi rụng dần dần trong sự vô tâm hay cẩu thả của mọi người” và tác giả còn lý giải :
“Tinh thần thực dụng lên ngôi, trở thành một yếu tố thống trị trong ý thức thẩm
mỹ của người Việt Nam xưa nay Hậu quả đầu tiên và lâu dài là chúng ta thường không viết những gì quá riêng tư và không có lợi: nhật ký và thư từ là những thứ như thế” [45]
Ngoài những lý do chung cùng thói quen ít viết nhật ký và thư từ, việc ít viết hồi ký của các nhà văn Việt Nam chắc hẳn phải còn lý do khác nữa Trong bài
Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ đăng trên báo Văn
Nghệ (Hà Nội) số 49 - 50 (Ra ngày 5/12/1987), nhà văn Nguyễn Minh Châu viết:
“Có người cầm bút đến lúc sắp bước sang thế giới bên kia vẫn chưa dám thốt lên một câu nói thật tự đáy lòng, không dám viết hồi ký thực, vì sợ để liên luỵ đến đời con cái” [45] Trong lời phát biểu tại một buổi hội thảo kỷ niệm lần thứ 90 ngày
sinh của Hoài Thanh ở Hà Nội, sau đó lại được tường thuật trên Tạp chí Văn Học (Hà Nội), số tháng 9 năm 1999, Từ Sơn - con trai của nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã trích dẫn một lá thư của cha ông gửi cho ông vào năm 1979, trong
đó có đoạn: “Về đề nghị viết hồi ký văn học cha cũng chưa trả lời Cha muốn suy nghĩ thêm một tí rồi mới trả lời Nhưng hiện giờ, trong suy nghĩ của cha, nếu viết
để in thì cha không muốn viết Vì sẽ có nhiều chuyện không nói được Viết để không in thì cha rất muốn viết Với tư cách là một người viết báo, viết văn nhất là với tư cách một cán bộ Đảng tham gia lãnh đạo phong trào văn nghệ, văn học
Trang 22trong mấy chục năm nay, cha biết khá nhiều chuyện trong đó có những chuyện có thể nói là rất hay Song những chuyện ấy dễ đến giữa thế kỷ 21 chưa biết đã có thể in ra chưa…” [45] Tất nhiên, đó chỉ là những lý do được đưa ra dù để giải
thích hay là để biện hộ cho một sự thật nào đó thì vẫn có thể lý giải được nguyên nhân dẫn đến sự ra đời muộn mằn của thể loại nhật ký trong đời sống văn học Việt Nam Sự ra đời của thể loại nhật ký hiển nhiên là muộn so với các thể loại văn học khác nhưng là một thể loại thuộc loại hình ký, nhật ký có khả năng bám sát mọi vấn đề nóng hổi và cấp bách của hiện thực đời sống, phản ánh kịp thời những suy nghĩ, nhận xét, đánh giá, ý tưởng của người viết trước hiện thực ấy Thiết nghĩ, nhật ký mang đậm dấu ấn chủ quan của cá nhân người viết nhưng vẫn có thể mang
lại những giá trị văn học không ngờ: “Một tập nhật ký có phẩm chất văn học khi thể hiện được một thế giới tâm hồn, khi qua những sự việc và tâm tình của cá nhân, tác giả giúp người đọc nhìn thấy những vấn đề xã hội trọng đại Hình tượng tác giả trong nhật ký văn học là hình tượng mang tầm khái quát tư tưởng - thẩm
mĩ lớn lao.” [47, tr.379] Viết nhật ký, các nhà văn không chỉ gửi gắm vào đó những suy nghĩ và cảm xúc cá nhân mình mà hơn ai hết, với vai trò là “người thư
ký trung thành của thời đại”, họ còn thể hiện những suy nghĩ và trải nghiệm của
thế hệ mình lên các trang nhật ký Nhật ký, trong nhiều trường hợp còn là phương tiện để các nhà văn thử bút, luyện nghề một cách thành thực nhất Trong những trang nhật ký, họ sống với chính mình, với cuộc đời mà không hề bị ràng buộc bởi bất cứ thế lực nào Chính vì vậy, nhà văn Tô Đồng của Trung Quốc cho rằng:
không thể quá đề cao công việc của nhà văn, nhà văn chỉ là “người viết thư cho một người không quen biết”, “bạn nhận một bức thư, có thể không có ý nghĩa gì, cũng có thể sau khi mở ra và đọc, phát hiện đó chính là cuộc sống” [16] Do đó,
khi đọc nhật ký của nhà văn, người đọc cần có sự phân biệt rõ những trang nhật ký
mà nhà văn viết cho bạn đọc và những trang nhật ký mà nhà văn viết cho chính
Trang 23bản thân mình Nhưng cũng cần lưu ý rằng, dù những trang nhật ký đó có được công bố hay không công bố thì tính chân thực của nhật ký vẫn không hề bị mất đi
mà sự thể hiện tính trung thực ở mức độ nào mới là điều đáng quan tâm Bởi điều
đó có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định giá trị của nhật ký Một số nhà văn
đã thể hiện ý tưởng sáng tạo nghệ thuật của mình qua các trang nhật ký Có những
trang nhật ký viết một cách hồn nhiên (người viết không quan tâm đến mục đích viết nhật ký nào khác ngoài mục đích để “nói chuyện với chính mình”) càng đạt
được nhiều giá trị, đặc biệt là giá trị văn học: Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký Chu Cẩm Phong, Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi ,… Cũng có
tác phẩm văn học mượn hình thức của nhật ký để phản ánh đời sống nhưng lại
thuộc thể loại thơ, truyện ngắn hay tiểu thuyết: Nhật ký trong tù (Hồ Chí Minh), Nhật ký người điên (Lỗ Tấn), Chàng ngốc (Đôtxtôiepxki),… Trong một thể loại
khác của loại hình ký là du ký, người viết cũng khai thác thể loại nhật ký để ghi chép lại những hiện tượng, sự việc mà mình mắt thấy, tai nghe trên lộ trình du lịch
để ghi nhớ hoặc để kể lại cho người khác biết Chẳng hạn, tác phẩm Nhật ký chìm tàu của Nguyễn Ái Quốc (được viết vào khoảng nửa cuối năm 1930) ra đời sau
khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập nên có một giá trị lịch sử đặc
biệt: “Tác phẩm đã vẽ ra một viễn cảnh xã hội Việt Nam ngày mai huy hoàng, đã đốt lên trong lòng người đọc một ngọn lửa chiến đấu không bao giờ tắt” [43, tr.318]
1.1.3 Đặc điểm nổi bật của thể loại nhật ký:
Từ những dạng thức tồn tại nêu trên của nhật ký, xét một cách tổng thể, về đặc trưng của thể loại nhật ký nói chung, nhật ký văn học nói riêng có những đặc điểm cơ bản sau:
1.1.3.1 Đặc điểm đầu tiên và cũng là đặc điểm nổi bật nhất của nhật ký là
khả năng ghi chép một cách cụ thể, tỉ mỉ, trung thực diễn biến của những sự việc,
Trang 24hiện tượng xảy ra xung quanh người viết từ ngày này sang ngày khác Nhật ký thông thường khác nhật ký văn học ở chỗ: Trong nhật ký thông thường, người viết
có thể ghi chép tuỳ ý những điều mà mình muốn, mình thích; trong nhật ký văn học lại khác: Người viết có ý thức lựa chọn những gì tiêu biểu nhất, có ý nghĩa nhất đối với việc thể hiện tính nhiều mặt của hiện thực đời sống hoặc có tác động mạnh mẽ đến cảm xúc, đến suy nghĩ của người viết để đưa vào trang viết Những
gì được nhắc đến trong nhật ký văn học thường có tác động tức thì đến người viết, khiến người viết không thể kiềm chế được nếu không kịp thời bày tỏ cảm xúc của
cá nhân mình mà cảm xúc đó lại không được cho người khác biết nên chỉ còn cách nói cho chính mình nghe Và hình thức viết nhật ký đã được vận dụng phù hợp vào những trường hợp như thế
1.1.3.2 Đặc điểm thứ hai của nhật ký - đặc điểm đã góp phần khẳng định vai
trò là một trong các thể loại văn học của nhật ký – đó là hình tượng cái “Tôi” tác giả trong nhật ký Không gì có thể phủ nhận được yếu tố tâm tình, trò chuyện là yếu tố quan trọng nhất trong nhật ký Hơn nữa, đó lại là những lời tâm sự, trò chuyện của người viết với chính bản thân họ nên việc ai là đối tượng tiếp nhận nhật ký không phải là vấn đề đáng quan tâm Vì vậy, sức thu hút của một cuốn nhật ký phụ thuộc rất nhiều vào cảm xúc sâu sắc của cái “Tôi” tác giả trước đời sống, phụ thuộc vào khuynh hướng thẩm mỹ và phẩm chất đạo đức của người viết nhật ký Bởi vậy, độ dày giá trị của nhật ký do độ dày của đời sống nội tâm người viết quyết định nên Điều đó cũng tạo nên chiều sâu nhân văn của tác phẩm Cái
“Tôi” trong nhật ký không ghi chép hoặc phản ánh một cách thụ động, máy móc hiện thực về cuộc sống và con người mà phải tái tạo, biểu đạt một cách chủ động, sáng tạo trước hình thức đó Cái “Tôi” đó không chỉ đảm bảo tính xác thực của đối tượng miêu tả mà còn phải bằng tiếng nói của cảm xúc bồi đắp cho hình tượng nghệ thuật thêm phong phú, sống động Sự tinh nhạy của người viết trong việc
Trang 25chọn lựa chi tiết, sự việc, hiện tượng để đưa vào nhật ký sẽ quyết định thêm nhiều giá trị khác nữa của nhật ký Nhật ký là thể loại ký mang tính chất riêng tư, đời thường nhiều nhất Nếu mục đích của bài viết là để giao lưu với người khác thì mục đích của người viết nhật ký là để giao lưu với chính mình, mình viết để cho mình, nói với chính mình Riêng tư chính là lý do tồn tại của nhật ký Tính riêng
tư cũng là điều hấp dẫn của nhật ký, vì nó liên quan đến bí mật của người khác, nhất là của những nhân vật được xã hội quan tâm Vì mang đặc điểm này nên nhật
ký khó tránh khỏi việc có người làm giả nhật ký hoặc mượn hình thức nhật ký là
hình thức để viết tiểu thuyết, truyện ngắn, để sáng tác thơ ca: Tập thơ Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh, truyện ngắn Nhật ký người điên của Lỗ Tấn, tiểu thuyết Nhật ký son môi của tác giả trẻ Vũ Phương Thanh với bút danh là Gào, tiểu thuyết Nhật ký công chúa của tác giả người Anh – Meg Thậm chí, có những lúc, nhật ký
không còn giữ nguyên được đặc trưng của thể loại về mặt nội dung nữa khi người
ta đã tổ chức cả cuộc thi viết nhật ký: Trên trang http://forums.vinagames.org/showthread.php?t=23808, ngày 12/01/2010 có phát
động cuộc thi viết nhật ký với chủ đề Nhật ký đời tôi từ ngày 01/12/2010 đến hết
ngày 28/02/2011
Về hình thức của thể loại nhật ký, cho đến nay, chúng tôi chưa thấy có công
trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và khoa học Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Nhật ký là hình thức tự sự ở ngôi thứ nhất được thực hiện dưới dạng những ghi chép hàng ngày theo thứ tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tác giả hoặc nhân vật chính là người trực tiếp tham gia hay chứng kiến, khác với hồi
ký, nhật ký chỉ ghi lại những sự kiện, những cảm nghĩ “vừa mới xảy ra chưa lâu”” [10, tr.200] Giáo sư Trần Đình Sử cũng có ý kiến: “Nhật ký ghi chép sự việc, suy nghĩ, cảm xúc theo ngày tháng, có thể liên tục nhưng cũng có thể ngắt quãng Đặc điểm lời văn của nhật ký là sự ngắn gọn, tự nhiên bởi đó là lời nói bên
Trang 26trong, là tiếng nói nội tâm về những sự việc riêng tư, những tâm sự thầm kín, ý nghĩ thành thực nên thường kết hợp linh hoạt tự sự và trữ tình” [47, tr.379] Tác giả Đức Dũng lại cho rằng: “Nhật ký văn học có bút pháp sinh động, ngôn ngữ giàu hình ảnh và có tính biểu cảm cao Nó gắn với năng lực và cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn Nó không chỉ tái hiện một cách sinh động những điều ghi nhận được trong hoàn cảnh ấy mà còn thể hiện một cách sinh động và chân thành những riêng tư đặc biệt là sự chuyển biến tư tưởng và nhận thức của nhà văn”
Ngoài những đặc điểm trên, khi tìm hiểu thể loại nhật ký cần lưu ý thêm một
số vấn đề khác: Hình thức kết cấu của nhật ký theo thời gian tuyến tính, theo trình
tự về ngày tháng năm và bao giờ khoảng thời gian ghi chép giữa các ngày cũng được ghi rất rõ: Ngày… tháng… năm…(bằng số) Người viết nhật ký bao giờ cũng tôn trọng trật tự biên niên của việc ghi chép nhật ký Sự việc hay hiện tượng được ghi lại trong nhật ký được sắp xếp theo đúng trình tự về thời gian mà người viết lần lượt được chứng kiến hay tham gia Yếu tố này có vai trò rất quan trong trong việc thể hiện tính chân thực của nhật ký Người viết nhật ký đã biết vận dụng yếu tố này của nhật ký để ghi chép, phản ánh kịp thời những vấn đề thời sự nóng hổi, những vấn đề cấp bách của xã hội Do đó, nhật ký được coi là một trong những thể loại văn học bám sát hiện thực đời sống một cách nhanh nhạy, kịp thời
và chính xác nhất Khi tìm hiểu về thể loại nhật ký, điểm nhìn của người viết nhật
ký cũng cần được quan tâm và cần được xác định rõ điểm nhìn hướng nội hay điểm nhìn hướng ngoại Giọng điệu của tác giả trong các thời điểm viết nhật ký thể hiện như thế nào do thái độ khi đó của người viết quyết định Thông thường, trong một cuốn nhật ký, giọng điệu rất đa dạng bởi thái độ, tình cảm và cảm xúc của người viết trong chuỗi ngày viết nhật ký luôn có sự thay đổi Song yếu tố đặc biệt của cái tôi cá nhân vẫn giúp người đọc nhận ra đó là giọng điệu của một người
Trang 27Xuất phát từ những đặc trưng cơ bản của thể loại nhật ký, chúng ta cần căn cứ vào từng tác phẩm cụ thể để phát hiện ra nét độc đáo, nét đặc sắc của tác phẩm đó Đấy chính là những đóng góp của nhật ký cho nền văn học nói chung và cho nhiều lĩnh vực khác nói riêng
1.2 Ký và nhật ký trong văn học Việt Nam thế kỷ XX
Ngay từ thế kỷ thứ X, mầm mống của những tác phẩm ký đầu tiên đã xuất
hiện qua các văn bản viết bằng dao và đục trên trên chất liệu rắn như văn bia và chuông khánh hay còn gọi là văn khắc và tự bạt Vào thời Lý - Trần, thể loại này đang dần phát triển Nội dung chủ yếu của các tác phẩm ký trong thời kỳ này là phản ánh cuộc sống hiện tại và đời sống văn hoá tâm linh của người Việt lúc bấy
giờ: An Hoạch sơn Báo Ân tự bi của Chu Văn Thường, Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi của Lý Thừa Ân, Sùng Nghiêm Diên Khánh tự bi minh của Hải Chiếu đại sư, Viên Quang tự bi minh của Dĩnh Đạt, Đại Chu Ma Sơn áng Đại Quang Thánh nham bi
của Bồ Đề đại sư,… Đến thế kỷ XV, ký bắt đầu được thể hiện dưới dạng các văn bản viết bằng chữ Hán Song, ký vẫn chưa được coi là một thể loại văn học riêng
lẻ mà chỉ có mặt lẻ tẻ trong một số tập truyện ngắn như Nam Ông mộng lục của
Hồ Nguyên Trừng, Thánh Tông di thảo của Lê Thánh Tông, Truyền kỳ mạn lục
của Nguyễn Dữ,…Từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, khi đời sống xã hội ngày càng
có nhiều biến động, con người đã bắt đầu ý thức được giá trị của cái tôi cá nhân trước cuộc sống thường nhật thì loại hình ký mới thực sự ra đời Hàng loạt tác
phẩm ký xuất hiện: Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề, Trần Khiêm Đường niên
Trang 28phả lục của Trần Tiến, Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, Tây hành kiến văn kỷ lược của Lý Văn Phức, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái,… Trong số đó phải kể đến Thượng kinh ký sự của
Lê Hữu Trác Tác phẩm được các nhà nghiên cứu đánh giá là đỉnh cao của thể ký thời kỳ trung đại, là sự hoàn thiện của thể loại này trong văn học trung đại Thực
ra, đây là một tập ký sự được viết bằng chữ Hán của nhà y học lỗi lạc Lê Hữu Trác Ông đã ghi lại chuyện mình được lên kinh đô để chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm vào mùa xuân năm 1781 Qua tác phẩm, người đọc nhận thấy sự tài tình của tác giả khi kết hợp đồng thời nhiều loại hình ký như: Du ký,
nhật ký, hồi ký, ký phong cảnh, ký người, ký vật,… Hoàng Lê nhất thống chí
được viết bằng chữ Hán, ra đời vào đầu thế kỷ XIX Tác phẩm miêu tả bức tranh rộng lớn của xã hội phong kiến Việt Nam khoảng ba mươi năm cuối thế kỷ XVIII
và mấy năm đầu thế kỷ XIX Đây được coi là tác phẩm cuối cùng khép lại giai đoạn ký trong văn học Việt Nam trung đại Mang hình thức của một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi nhưng chất ký rất đậm đặc trong tác phẩm:
“Đến “Hoàng Lê nhất thống chí” chất lượng nghệ thuật ký trung đại đã có những bước nhảy vọt” [6, tr.375] Tuy nhiên, ở tác phẩm vẫn chưa có sự phân định rạch
ròi giữa tính lịch sử và tính văn học Cảm hứng lịch sử đã chi phối sâu sắc ngòi bút của các tác giả Mặc dù với số lượng tác phẩm không nhiều nhưng nhìn chung
ký trong văn học Việt Nam trung đại khá phong phú đa dạng về chủng loại, về nội dung và hình thức nghệ thuật Ít nhiều, ký đã có những đóng góp đáng kể cho thành tựu văn xuôi chữ Hán trong thời kỳ văn học này
Ký dần đi vào đời sống văn học một cách tự nhiên như là một loại hình văn học không thể nào thiếu được và ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong
văn đàn Giáo sư Phương Lựu rất coi trọng tác phẩm ký văn học: “Nó chỉ trần thuật người thật việc thật xảy ra, nếu không muốn nói thêm rằng là trần thuật một
Trang 29cách xác thực (…) Xét từ gốc gác và bản chất, thì ký không nhằm thông tin thẩm
mỹ, mà là thông tin sự thật” [35, tr.424] Như vậy, có thể khẳng định chắc chắn
vai trò và vị trí là một trong những loại hình văn học của ký Cùng với tiến trình phát triển của văn học, ký cũng có những giai đoạn phát triển nhất định và cũng đã
đạt được những thành tựu đáng tự hào
1.2.2 Ký Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay
1.2.2.1 Thể ký trong giai đoạn 1900 – 1930
Tác phẩm ký hiện đại đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ xuất hiện năm 1876 là
Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký Tác phẩm đã đánh dấu sự
khác biệt của thể ký hiện đại so với thể ký trung đại Tác giả đã kết hợp một cách linh hoạt, tự nhiên giữa việc quan sát, ghi chép tư liệu với việc thể hiện cảm xúc của mình về xã hội Bắc Kỳ những năm cuối thế kỷ XIX, nhân chuyến đi du ngoạn vòng quanh Bắc Kỳ của chính tác giả
Sự ra đời của nhiều tờ báo tiếng Việt đã tạo điều kiện cho thể loại ký phát
triển: Gia Định báo (1865), Nông cổ mín đàn (1901), Đại Việt công báo (1905), Đông cổ tùng báo (1907), Đông Dương tạp chí (1913), Nam Phong tạp chí
(1917),… Bước đầu đã có nhiều tác phẩm ký ra đời, thu hút được sự quan tâm của
độc giả thời đó: Như Tây nhật trình (1888) của Trương Minh Ký, Hương Sơn hành trình ký (1914) của Nguyễn Văn Vĩnh, Mười ngày ở Huế (1918) và Một tháng ở Nam Kỳ (1919) của Phạm Quỳnh Từ cuối năm 1920, khi Nam phong tạp chí khởi đăng Hạn mạn du ký (1920) của Nguyễn Bá Trác thì thể ký bắt đầu được
coi như một thể loại độc lập Sau đó một loạt các tác phẩm ký của nhiều tác giả khác được đăng trên báo Có nhiều tác phẩm ký còn mang hơi hướng tuỳ bút, có tác phẩm thiên về tính chất khảo cứu, biên khảo, ghi chép phong tục Thành tựu chủ yếu của thể ký giai đoạn này là cố gắng đẩy đến cùng khả năng cách tân thể loại truyền thống để xác lập một thể văn kết hợp mô tả, ghi chép sự thực với ký
Trang 30thác tâm sự Mặc dù, trong giai đoạn văn học này, thể ký chưa đạt được thành tựu nổi bật nhưng khả năng cách tân thể loại ký trong văn học truyền thống đã tạo cho
ký một bước đệm vững chắc để tiếp tục chuyển sang giai đoạn văn học tiếp theo - một giai đoạn ghi đậm dấu của thể ký trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX
1.2.2.2 Thể ký trong giai đoạn 1930 – 1945
Như ở trên đã nói, giai đoạn văn học này là giai đoạn thể ký phát triển với một tốc độ chưa từng thấy cả về số lượng tác giả lẫn chất lượng tác phẩm Không những thế, đây còn là giai đoạn phát triển rực rỡ và vô cùng quan trọng của thể ký
Ký được thể hiện dưới hai dạng: Phóng sự và tuỳ bút Trong đó phải kể đến sự nổi bật hơn cả của phóng sự Từ chỗ là một dạng thể hiện của ký, phóng sự đã thật sự trở thành một thể loại văn học chính Những biến động lớn của đời sống xã hội và văn học là động lực căn bản dẫn đến sự bứt phá của phóng sự ra khỏi thể ký và trở thành một thể loại có chỗ đứng trong nền văn học hiện đại Phóng sự là một thể loại phản ánh cuộc sống với yêu cầu hàng đầu là tính thời sự trực tiếp và đáp ứng
một vấn đề cấp bách nào đó mà xã hội đang quan tâm Phóng sự được coi là “con đầu của nghề viết báo” (Vũ Ngọc Phan) Bởi, phần lớn phóng sự đến được với
bạn đọc là qua con đường báo chí Con đường báo chí cũng là con đường nhanh nhất để phóng sự đến được với công chúng, đồng thời cũng tạo ra được môi trường dư luận xã hội rộng rãi và kịp thời mà không phải thể loại văn học nào cũng có được Phóng sự không chỉ dừng lại ở phạm vi là một chuyên mục trên báo
chí mà đã phát triển thành tác phẩm văn học có dung lượng tương đối lớn: Tôi kéo
xe của Tam Lang, Việc làng của Ngô Tất Tố, Cạm bẫy người của Vũ Trọng Phụng, Làm dân của Trọng Lang,… trước khi được các nhà xuất bản phát hành
thành sách riêng đã được in dài kỳ trên nhiều tờ báo Do đó, có thể khẳng định
được vai trò quan trọng của báo chí đối với phóng sự: “là một điều kiện khách quan thuận lợi để phóng sự nở rộ và khẳng định vị trí trên văn đàn” [6, tr.380]
Trang 31Nhiều thiên phóng sự đã thực sự trở thành những tác phẩm văn học chân chính Ra đời trong một thời kỳ lịch sử có nhiều biến động phức tạp, phóng sự phản ánh trung thành thực trạng nhiều mặt của xã hội đương thời Cho dù có viết về mảng
đề tài nào đi chăng nữa thì phần lớn các phóng sự đều tập trung mô tả một cách khách quan thực trạng đen tối của xã hội đương thời Vì thế, trong nội tại của các tác phẩm có hàm chứa giá trị tố cáo cao Bản thân mỗi phóng sự, để đạt được đến khả năng thuyết phục và hấp dẫn người đọc phải phản ánh chân thực đến từng chi tiết sự kiện, đối tượng miêu tả, đem đến cho người đọc cảm giác được sống “y như thật” Điều này đòi hỏi người viết phóng sự phải cùng một lúc thực hiện nhiều vai trò: Vừa quan sát, vừa ghi chép, vừa kể chuyện, đồng thời phải là người chứng kiến và tham gia vào các sự kiện Không những thế, để đảm bảo tính xác thực của các sự kiện, tác giả luôn luôn phải dùng các cứ liệu hoặc các con số cụ thể làm minh chứng Phóng sự là một thể loại văn học đặc biệt Ở thể loại này, chúng ta bắt gặp sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất báo chí và chất tiểu thuyết Nhiều thiên phóng sự mang dáng dấp của của cuốn tiểu thuyết từ dung lượng phản ánh, kết cấu tác phẩm đến nghệ thuật miêu tả và dựng chân dung nhân vật Có thể nói, phóng
sự là một trong những thể loại đã khẳng định được khả năng hấp dẫn, vị trí vững vàng của thể loại trong đời sống văn học giai đoạn văn học 1930 – 1945
Diện mạo của ký Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 còn được thể hiện qua tuỳ bút Tuỳ bút là một thể văn có lối viết tương đối phóng túng và tự do Người viết tuỳ bút có thể tuỳ theo ngòi bút mà đưa đẩy từ việc này sang việc khác, từ vấn đề này sang vấn đề khác Tuỳ bút có ưu điểm là giúp nhà văn có điều kiện bộc lộ những cảm xúc chủ quan của mình về đối tượng được phản ánh Song, không phải
vì tuỳ bút là một thể văn có lối viết phóng túng, tự do mà ai cũng có thể viết được Nếu so sánh với phóng sự thì số nhà văn Việt Nam viết tuỳ bút có chỗ đứng trên văn đàn không phải là nhiều Trong giai đoạn văn học 1930 – 1945, có lẽ chỉ
Trang 32có Nguyễn Tuân là nhà văn “chung thuỷ” với thể văn này nhất Bởi, tuỳ bút đã khiến cho ngòi bút của Nguyễn Tuân được thăng hoa và để lại dấu ấn cá tính trên từng trang viết Nguyễn Tuân đã có những đóng góp nổi bật cho thể loại này Chính nhu cầu giải phóng cái Tôi cá nhân trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam có nhiều biến động dữ dội đã làm thức dậy khát vọng được sống, được thể hiện hết mình của cá nhân con người trong xã hội ấy Tuỳ bút Nguyễn Tuân là sự bộc lộ đến cùng con người cá nhân của ông Nguyễn Tuân đã đưa thể tuỳ bút trở thành một thể văn xuôi có nhiều ưu thế: Vừa giàu chất hiện thực, vừa đậm đà chất trữ tình thơ mộng và chất trí tuệ sắc sảo Tuỳ bút của ông thể hiện rõ sự am hiểu kỹ lưỡng vốn văn hoá Đông Tây, kim cổ, bởi sự cảm nhận lịch lãm và tinh tế của nhà
văn trong việc cảm nhận cái Đẹp: Chiếc lư đồng mắt cua, Tóc chị Hoài, Những ngọn đèn xanh, Phong vị tỉnh xép, Đẹp lòng,… Ngoài tên tuổi Nguyễn Tuân, chúng ta còn phải kể đến Thạch Lam Qua Hà Nội băm sáu phố phường, Thạch
Lam đã bộc lộ rõ một tâm hồn tinh tế trước nét đẹp văn hoá truyền thống của dân tộc Việt: Từ vẻ đẹp cổ kính, rêu phong, thơ mộng của những con phố cổ, những khu di tích lịch sử đến văn hoá ẩm thực của người Hà Nội,… đều được ông cảm nhận bằng tấm lòng trân trọng, nâng niu của một tâm hồn nghệ sĩ
Trong giai đoạn văn học này, ngoài phóng sự và tuỳ bút, phải kể đến một số tiểu loại ký khác cũng bắt đầu phát triển như tạp văn, bút ký, tản văn,… Tuy nhiên, tiểu loại nhật ký lại chưa có đất phát triển Hiện tượng này, thật ra, cũng không phải là điều khó lý giải Giai đoạn 1930 – 1945 được đánh giá là giai đoạn văn học phát triển rực rỡ nhất của văn học Việt Nam hiện đại “một năm của ta bằng mấy mươi năm của người” (Vũ Ngọc Phan) Văn học trong giai đoạn này phát triển đồng đều ở mọi thể loại cả về số lượng, chất lượng và tốc độ phát triển Nghề viết văn trở thành nghề chuyên nghiệp biểu hiện rõ nhất trong giai đoạn này Đây cũng là giai đoạn văn học mà nhu cầu và thị hiếu của công chúng đòi hỏi một
Trang 33cách cấp bách tới mức chưa bao giờ thấy Do đó, với đặc trưng “riêng tư cá nhân” nên thể loại nhật ký thật sự không phù hợp với một thời đại văn chương như thế Bởi vậy cho nên, mặc dù cũng có nhà văn viết nhật ký nhưng nhật ký không thể được công bố và nếu có công bố thì chưa chắc đã nhận được sự quan tâm của độc giả Vì vậy, nhật ký tự mình “khiêm nhường” rút lui, chờ đợi thời cơ thích hợp để
“bùng phát” Phải đến hơn sáu mươi, bảy mươi năm sau đó, nhật ký mới có một vị
trí nhất định trong nền văn học Chẳng hạn, như trường hợp của tác phẩm Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng
Phóng sự và tuỳ bút là hai tiểu loại ký tiêu biểu tạo nên thành tựu của loại hình ký trong giai đoạn văn học 1930 – 1945 Bước sang giai đoạn lịch sử mới, từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chắc chắn ký sẽ có sự phát triển vượt bậc
cả về nội dung lẫn hình thức biểu hiện để có thể cùng với các thể loại văn học khác làm nên bức tranh sinh động, nhiều mặt của văn học Việt Nam thế kỷ XX
1.2.2.3 Thể ký trong văn học giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm
có nhiều biến động lớn lao Thể loại ký có khả năng tái tạo những hiện tượng mới xuất hiện trong đời sống xã hội và trong đời sống của con người một cách nhanh nhạy nhất, nóng hổi nhất
Đất nước ta bước vào thời kỳ ba mươi năm chiến tranh và cách mạng Nhà văn có mặt ở khắp các trận tuyến và ký cũng xuất hiện ở những trận tuyến nào có
Trang 34sự xuất hiện của nhà văn Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp đã tạo nên một bước phát triển mới của văn xuôi, trong đó có thể ký Ký đã kịp thời phản ánh
hiện thực của cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm trường kỳ: Một lần tới thủ
đô, Trận phố Ràng của Trần Đăng, Trên những con đường Việt Bắc, Ở rừng của Nam Cao, Đường vui của Nguyễn Tuân, Đường vô nam của Tô Hoài, Ký sự Cao - Lạng của Nguyễn Huy Tưởng,… Bước vào công cuộc chống Mỹ cứu nước và
xây dựng chủ nghĩa xã hội, ký luôn có mặt hàng đầu và trở thành vũ khí xung
kích: Những ngày nổi giận (Chế Lan Viên), Họ sống và chiến đấu (Nguyễn Khải), Đường lớn (Bùi Hiển), Dải đất hẹp (Trần Mai Nam), Người mẹ cầm súng (Nguyễn Đình Thi), Sống như anh (Trần Đình Vân), Bất khuất (Nguyễn Đức Thuận), Bức thư Cà Mau (Anh Đức), Ký sự miền đất lửa (Nguyễn Sinh và Vũ Kỳ Lân), Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (Nguyễn Trung Thành – Nguyên Ngọc), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (Nguyễn Tuân),…
Kết thúc giai đoạn chống Mỹ cứu nước là một loạt ký sự về mùa xuân năm
1975 đại thắng ghi lại thời điểm hào hùng và vẻ vang của dân tộc ta trong công
cuộc chống đế quốc Mỹ xâm lược: Tháng ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải), Bắc Hải Vân xuân 1975 (Xuân Thiều), Nhật ký chiến dịch (Nguyễn Thành Vân -
Nguyễn Trọng Oánh),…
Sau năm 1975, đặc biệt là khi đất nước ta bước vào thời kỳ Đổi mới, thể ký tiếp tục thể hiện vai trò trong việc tiếp cận hiện thực cuộc sống đầy bức xúc của thời kỳ hậu chiến một cách nhanh nhạy và sắc bén Công cuộc Đổi mới đất nước đòi hỏi con người phải có sự đổi mới về tư tưởng Vấn đề nhận thức lại thực tại là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong xã hội lúc đó Song song với vấn đề này là thái độ chống tiêu cực, nhìn thẳng vào sự thật, đề cao tự phê bình và phê bình Ký đã kịp thời ghi lại tất cả những thay đổi đó của cuộc sống xã hội và con người Ký mang hơi thở của cuộc sống và đã thu hút được sự chú ý của
Trang 35công chúng: Cái đêm hôm ấy đêm gì (Phùng Gia Lộc), Chuyện ông vua lốp (Nhật Linh), Người đàn bà quỳ (Trần Khắc), ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, tạp văn
của Nguyễn Khải,… Đặc biệt xuất hiện một loạt các tác phẩm ký mang đậm yếu
tố tự truỵên: Cát bụi chân ai của Tô Hoài, Một giọt nắng nhạt của Nguyễn Khải, Hồi ký Đặng Thai Mai,… Những tác phẩm hồi ký này mang đậm dấu ấn cá nhân
cái “Tôi” của nhà văn Những tác phẩm này thật sự có giá trị văn học, thu hút được sự chú ý của đông đảo độc giả Đây là một hiện tượng văn học nở rộ vào những thập niên cuối của thế kỷ XX đã chứng tỏ thế mạnh riêng của thể ký trong nền văn học dân tộc
Rõ ràng, ký là một thể loại văn học đã phát huy một cách tích cực sức mạnh đặc trưng của thể loại vào những giai đoạn lịch sử có nhiều vận động, nhiều bước
ngoặt, đáp ứng kịp thời nhu cầu của công chúng và của văn học “Ký đáp ứng được yêu cầu nào đó của nghệ thuật và tự khẳng định ký không phải là thừa so với truyện ngắn, cũng không phải là thiếu so với tiểu thuyết” [54, tr.166]
1.2.3 Sự phân hoá thành nhiều thể loại:
1.2.3.1 Du ký: Có thể nói du ký là thể loại xuất hiện sớm nhất của loại hình
ký Du ký là thể loại ghi chép về vẻ kỳ thú của cảnh vật thiên nhiên và cuộc đời, những cảm nhận, suy tưởng của con người trong những chuyến du ngoạn, du lịch
Du ký phản ánh, truyền đạt những nhận biết, những cảm tưởng, suy nghĩ mới mẻ của bản thân người du lịch về những điều mắt thấy tai nghe ở xứ sở xa lạ, những nơi mọi người ít có dịp đi đến, chứng kiến
Hình thức của du ký rất đa dạng: Ghi chép, ký sự, hồi ký, thư tín, hồi tưởng,
… Nhưng dù xuất hiện dưới hình thức nào thì yêu cầu của du ký vẫn là mang lại thông tin, trí thức và cảm xúc tươi mới về phong cảnh, phong tục, dân tình của xứ
sở còn ít người biết đến Qua nhiều tác phẩm, chúng ta còn nhận thấy rất rõ cảm
quan lịch sử và dấu ấn thời đại in đậm trong đó: Thượng Kinh ký sự của Lê Hữu
Trang 36Trác, Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du,… Các tác giả du ký bộc lộ cảm xúc rất
hồn nhiên, thông thường đó là những cảm xúc say mê, khát khao được tìm kiếm,
khám phá những điều mới lạ, thú vị Trong tác phẩm Thanh động ký sự, tác giả Ngô Thì Sĩ đã tâm sự: “Khi công việc rảnh rỗi tôi thân đi xem xét hỏi han dân tình, phong tục Nhân có được thung dung giữa chốn núi khe, tìm chỗ sâu, trèo chỗ hiểm, không nơi nào mới đến, mỏi mệt mới về” [47, tr.383]
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tình hình xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi lớn Văn học có sự chuyển đổi về diện mạo nhanh chóng theo mô hình phương Tây Báo chí đặc biệt phát triển Bối cảnh này là mảnh đất màu mỡ thuận lợi cho
thể du ký được gieo trồng: Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký
được coi là tác phẩm du ký mở đầu cho du ký trong văn học Việt Nam hiện đại
Kế tiếp theo đó là một loạt các tác phẩm khác ra đời: Như Tây nhật trình (1888) của Trương Minh Ký, Hương Sơn hành trình ký (1914) của Nguyễn Văn Vĩnh, Mười ngày ở Huế (1918) và Một tháng ở Nam Kỳ (1919) của Phạm Quỳnh,… Mỗi
tác phẩm du ký bao giờ cũng là sự hội đủ các tri thức về địa dư và lịch sử, cùng những cảm khái và suy ngẫm về thời thế Trong du ký, việc kể, tả thường được đan xen với những suy ngẫm về xưa và nay, về người và ta, qua đó gửi gắm khát vọng thay đổi đất nước sao cho thoát khỏi sự lạc hậu và tăm tối để được bằng người Do đó, ngoài giá trị văn chương, du ký còn có nhiều giá trị khác mang tính học thuật như giá trị sử học, xã hội học, dân tộc học, phong tục học, văn hoá học, địa phương học,… Từ sau năm 1930, du ký đột ngột chững lại và mang một gương mặt khác
1.2.3.2 Phóng sự: Ghi chép kịp thời, cụ thể những vụ việc nhằm làm sáng tỏ
trước công luận một sự kiện, một vấn đề có ý nghĩa thời sự có liên quan đến hoạt động và số phận của một hoặc nhiều người mà người viết muốn đề xuất và giải quyết đối với một địa phương hay toàn xã hội Đặc trưng cơ bản của phóng sự là
Trang 37phản ánh hiện thực một cách kịp thời, nhạy bén với cái nhìn trung thực vào bản chất của sự việc, hiện tượng nhằm phô bày, kiến nghị với dự luận về những vấn đề bức xúc, nhức nhối của xã hội Phóng sự đã đạt được những thành tựu nổi bật trong giai đoạn 1930 – 1945 và giai đoạn 1945 – 1975 của thế kỷ XX Đến những năm đất nước ta bước vào công cuộc Đổi mới, phóng sự lại xuất hiện trở lại trong văn học, tác động mạnh mẽ đến các thể loại văn học khác Trong giai đoạn này, hàng loạt tác phẩm phóng sự ra đời với yêu cầu và trình độ mới, biểu hiện một thái
độ, một cách nhìn thẳng vào sự thật với tinh thần dân chủ, đổi mới văn học, đổi
mới xã hội, thức tỉnh dự luận: Cái đêm hôm ấy đêm gì (Phùng Gia Lộc), Người đàn bà quỳ (Trần Khắc), Thủ tục làm người còn sống (Minh Chuyên), Đa thê
(Hoàng Minh Tường),…
1.2.3.3 Ký sự: Ghi chép lại một câu chuyện, một sự kiện tương đối hoàn
chỉnh Ký sự nặng về tái hiện những sự việc có thật Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945, hiện thực của cách mạng và kháng chiến, của công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc đã tạo nên chất liệu cho ký sự phát triển Từ những sự việc cụ thể và sinh động toát lên chủ đề tư tưởng của tác phẩm Ký sự có quy mô tương
ứng với truyện ngắn hoặc truyện vừa: Ký sự Cao - Lạng (Nguyễn Huy Tưởng), Họ sống và chiến đấu, Tháng ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải), Ký sự miền đất lửa
(Nguyễn Sinh và Vũ Kỳ Lân),… Qua các tác phẩm ký sự, những sự kiện của lịch
sử được sống dậy mang chất hiện thực tươi ròng, tạo được độ tin cậy cao từ phía người đọc
1.2.3.4 Truyện ký: Là một thể trung gian giữa truyện và ký Truyện ký khắc
hoạ tính cách qua một cốt truyện rõ rệt nhưng vẫn tôn trọng tính xác thực của sự
việc, con người: Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Sống như anh (Trần Đình
Vân) ,… Thể loại này ra đời do yêu cầu cấp bách của việc làm báo mà phải in những ghi chép khi cần thiết, phục vụ kịp thời cuộc sống và công chúng Mục đích
Trang 38của thể loại này chủ yếu là để nêu gương những nhân vật điển hình của thời đại một cách chân thực, sống động
1.2.3.5 Hồi ký: Còn gọi là hồi ức, ghi lại những sự việc, biến cố đã xảy ra
trong quá khứ Hồi ký đòi hỏi phải hết sức tôn trọng tính chân thật của câu chuyện; số liệu, sự việc, thời gian, địa điểm phải chính xác Hồi ký gần với truyện
và nếu viết về những sự việc tiêu biểu, những nhân vật tiêu biểu, hồi ký lại gần với
sử Hồi ký có thể là một câu chuyện mà tác giả là người tham dự và chứng kiến Người viết hồi ký có thể lấy chất liệu của mình làm đối tượng để khai thác và trở
thành nhân vật trung tâm: Bất khuất (Nguyễn Đức Thuận), Bốn mươi năm nói láo (Vũ Bằng), Một giọt nắng nhạt (Nguyễn Khải), Cát bụi chân ai (Tô Hoài),
Người viết hồi ký có thể lấy mình làm địa bàn chính, nhớ lại những sự việc đã
qua, kể lại cho người khác ghi: Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử do Đại tướng Võ
Nguyên Giáp kể, Hữu Mai ghi, hồi ký của các tướng lĩnh hoặc của các nhà văn, các nghệ sĩ,
Xuất phát từ nhu cầu thị hiếu của công chúng, hồi ký bỗng nở rộ trong đời sống văn học những năm cuối của thế kỷ XX Qua hồi ký, các tác giả không chỉ xây dựng được diện mạo người cùng thời mà qua câu chuyện của mình, phác hoạ được gương mặt của thời đại Người viết hồi ký thường nhằm mục đích tổng kết lại cuộc đời mình qua thời gian, qua các biến cố và sự kiện Vì vậy, nhà thơ Huy
Cận cho rằng: “Viết hồi ký là sống lại một lần nữa cuộc đời mình, mà cũng là san
sẻ cho người trong thiên hạ vui buồn của mình, thân phận của mình và phần nào những trải nghiệm dọc đời đã sống” [6, tr.428] Hồi ký cũng là một hình thức văn
học riêng tư, mình nói về mình, một dạng tự truyện của chính tác giả Hồi ký cung cấp những tư liệu của quá khứ mà đương thời chưa có điều kiện nói được Tuy nhiên, hồi ký cũng có những hạn chế nhất định: Do nhiều sự kiện đã bị lùi xa vào quá khứ nên có thể người viết nhớ nhầm hoặc tưởng tượng thêm chi tiết Bởi thế,
Trang 39hồi ký rất cần những người viết có trách nhiệm với xã hội, có thái độ trung thực Khi ấy, tác phẩm hồi ký mới thật sự trở thành tác phẩm có giá trị
1.2.3.6 Bút ký: Là một thể của ký, thuộc loại trung gian giữa ký sự và tuỳ
bút Bút ký ghi lại những con người và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu, nghiên
cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tư tưởng nào đó: Bức thư Cà Mau (Anh Đức), Cửu Long cuộn sóng (Trần Hiếu Minh), Trong gió cát (Bùi Hiển), Miếng ngon Hà Nội (Vũ Bằng), Bút ký có thể thiên về khái quát các
hiện tượng đời sống có vấn đề hoặc thiên về chính luận Sức hấp dẫn và thuyết phục của bút ký tuỳ thuộc vào tài năng, trình độ quan sát, nghiên cứu, khả năng biểu đạt của tác giả đối với các sự kiện được đề cập đến nhằm phát hiện ra những khía cạnh nổi bật, những ý tưởng mới mẻ và sâu sắc trong các mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh, cá nhân và môi trường Bởi vậy, giá trị hàng đầu của bút
ký là giá trị nhận thức
1.2.3.7 Bút ký chính luận: Là thể bút ký trong đó thành phần nghị luận là
quan trọng, có khi là chủ yếu Bút ký chính luận có thể luận bàn về nhiều lĩnh vực như: Kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá,… Bút ký chính luận mang tính chiến đấu rõ rệt, ứng chiến kịp thời, có tác dụng tuyên truyền, động viên trực tiếp Cho nên, giá trị của bút ký chính luận là ở tầm tư tưởng chủ đạo, ở lôgíc lập luận, ở sức thuyết phục của những dẫn chứng Bút ký chính luận là thể văn của báo chí, nó có giá trị văn học khi ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, có khả năng tác động
đến tâm hồn người đọc : Tìm về dân tộc (Lý Chánh Trung), Đường hay pháo đài
(Nguyễn Ngọc Lan),…
1.2.3.8 Tuỳ bút: Là một thể loại thuộc loại hình ký có lối viết phóng khoáng,
tự do và chủ quan nhất Nếu như phóng sự nghiêng hẳn về tự sự thì tuỳ bút lại nghiêng hẳn về trữ tình Qua ghi chép những con người và sự kiện cụ thể có thực, tác giả đặc biệt chủ ý đến việc bộc lộ cảm xúc, suy tư và đánh giá của mình về con
Trang 40người và cuộc sống Cái tôi của nhà văn, phẩm chất riêng của nhà văn được thể hiện gần như trong thơ trữ tình So với các tiểu loại khác, tuỳ bút là thể loại giàu chất trữ tình hơn cả Ngôn ngữ tuỳ bút giàu hình ảnh và chất thơ Yếu tố đóng vai trò thống nhất tổ chức của tác phẩm, chi phối ấn tượng và sức tác động của tuỳ bút
là chất trữ tình, là yếu tố suy tưởng, triết lý, chính luận cất lên từ những cảnh, những người, những việc được chọn lựa một cách điển hình Điều đặc sắc ở tuỳ bút là qua tác phẩm, người ta thấy hiện lên một nhân cách lớn, một hình tượng tác giả uyên bác, sắc sảo, tài hoa, tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, vốn trí tuệ phong phú, dồi dào Trong văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường được đánh giá là hai cây bút có sở trường về tuỳ bút Ngoài ra, còn phải kể đến những cây bút khác như: Nguyễn Trung Thành – Nguyên Ngọc với tác phẩm
Đường chúng ta đi, Băng Sơn với các tác phẩm Sức lửa mùa thu - Thấp thoáng hồn xưa, Thú ăn chơi người Hà Nội,…
1.2.3.9 Tạp văn: Là những áng văn tiểu phẩm, có nội dung chính trị, có tác
dụng chiến đấu mạnh mẽ Đây là một thể văn vừa có tính chính luận sâu sắc vừa
có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịp thời các hiện tượng xã hội
Nhà văn Lỗ Tấn cho rằng: “Bất kể thể văn gì, các thứ gộp lại với nhau, thế là thành tạp văn” Trong giai đoạn văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám,
nhiều nhà văn đồng thời cũng là nhà báo như: Ngô Tất Tố, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng,… đã viết tạp văn Từ sau năm 1975, tạp văn rất phát triển, có thể kể
đến một số tác phẩm sau: Cuộc tìm kiếm mãi mãi, Nghề văn cũng lắm công phu (Nguyễn Khải), Văn hoá thời mở cửa, Hội đền Đô (Hoàng Phủ Ngọc Tường),
1.2.3.10 Tản văn: Tản văn là văn xuôi đối lập với vận văn (văn vần) Hiểu
theo nghĩa khác, tản văn là tác phẩm văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, giàu khả năng khơi gợi Kết cấu của tản văn thường là sự kết hợp linh hoạt của tất cả các phương thức, phương tiện biểu hiện nghệ thuật Cũng có thể người viết dựa hẳn vào một