1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình Tượng Nghệ Thuật Trong Thơ Nữ Thái Nguyên

99 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những nhà thơ nữ Thái Nguyên, chúng ta thấy nổi bật lên ba gương mặt tiêu biểu, đó là nhà thơ Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh và Lưu Thị Bạch Liễu.. Tuy nhiên, cho

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRỊNH VĂN QUỲNH

HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NỮ THÁI NGUYÊN (Qua thơ Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh,

Lưu Thị Bạch Liễu)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRỊNH VĂN QUỲNH

HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NỮ THÁI NGUYÊN (Qua thơ Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Hình tượng nghệ thuật trong thơ nữ Thái Nguyên” (Qua thơ Trần Thị Vân Trung, Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh) là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, hoàn toàn không sao chép

của bất cứ ai Các kết quả của đề tài là trung thực và chưa được công bố ở các công trình khác

Nội dung của luận văn có sử dụng tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, các trang website theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019

Tác giả luận văn

Trịnh Văn Quỳnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc cùng những tình cảm chân thành tới TS.Hoàng Điệp - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên về sự hướng dẫn tận tình, đầy đủ, chu đáo và đầy tinh thần trách nhiệm của cô trong toàn bộ quá trình em hoàn thành luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn sự tạo điều kiện giúp đỡ của Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn và các thầy cô giáo Phòng đào tạo Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ em thực hiện đề tài luận văn này

Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019

Tác giả luận văn

Trịnh Văn Quỳnh

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Đóng góp của luận văn 7

8 Cấu trúc luận văn 7

NỘI DUNG 8

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT VÀ THƠ NỮ THÁI NGUYÊN 8

1.1 Những vấn đề lí luận về hình tượng nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật trong thơ trữ tình 8

1.1.1 Khái niệm hình tượng, hình tượng nghệ thuật 8

1.1.2 Hình tượng nghệ thuật trong thơ trữ tình 10

1.2 Thơ nữ Thái Nguyên trong dòng chảy thơ ca quê hương 11

1.2.1 Giới thiệu về thơ Thái Nguyên đương đại và các nhà thơ nữ Thái Nguyên 11

1.2.2 Giới thiệu về ba nhà thơ Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu 12

Tiểu kết chương 1 16

Trang 6

Chương 2: HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NỮ THÁI NGUYÊN (QUA THƠ TRẦN THỊ VÂN TRUNG, NGUYỄN

THÚY QUỲNH, LƯU THỊ BẠCH LIỄU) 17

2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Trần Thị Vân Trung 17

2.1.1 Người tình đắm say, người vợ thủy chung 17

2.1.2 Người mẹ minh triết và vẻ đẹp mẫu tính 20

2.2 Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh 22

2.2.1 Người phụ nữ với những nỗi niềm thân phận 22

2.2.2 Người phụ nữ với trái tim yêu bình dị mà sâu sắc 28

2.3 Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Thị Bạch Liễu 35

2.3.1 Cái tôi cô đơn của người phụ nữ 35

2.3.2 Cái tôi bất an, không yên ổn 40

2.3.3 Tình yêu trong thơ Lưu Thị Bạch Liễu 43

Chương 3: KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NỮ THÁI NGUYÊN (QUA THƠ TRẦN THỊ VÂN TRUNG, NGUYỄN THÚY QUỲNH, LƯU THỊ BẠCH LIỄU) 55

3.1 Hình tượng thời gian trong thơ Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu 55

3.1.1 Thời gian hoài niệm trong thơ Trần Thị Vân Trung 55

3.1.2 Thời gian hiện tại với cảm nhận cá nhân trong thơ Lưu Thị Bạch Liễu 60

3.1.3 Thời gian đêm tối trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh 64

3.2 Hình tượng không gian trong thơ Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu 69

3.2.1 Hình tượng không gian quê hương gần gũi, thân thiết trong các sáng tác của ba nhà thơ 69

3.2.2 Những không gian riêng 74

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thái Nguyên là một tỉnh nằm ở khu vực Trung du miền núi phía Bắc với nhiều phong cảnh đẹp, nhiều di tích lịch sử, là vùng đất cách mạng và là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị lớn nhất cả nước Thêm vào đó, Thái Nguyên còn là một trong ba tỉnh có số lượng các trường Đại học, Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp lớn nhất cả nước Chính những điều này đã là nguồn cảm hứng cũng như nguồn đề tài phong phú để cho các nhà văn, nhà thơ Thái Nguyên sáng tác

Cũng hòa cùng với sự phát triển của thơ ca Việt Nam đương đại, các tác phẩm thơ của các nhà thơ Thái Nguyên vừa mang nét chung của các nhà thơ cùng thời vừa mang những đặc điểm riêng của thơ Thái Nguyên Góp phần tạo nên sự lớn mạnh của thơ Thái Nguyên không thể không kể đến sự đóng góp của các nhà thơ nữ Nếu như các nhà thơ nam mang đến cho thơ sự mạnh mẽ, phóng khoáng thì thơ của các nhà thơ nữ chúng ta bắt gặp sự nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng cũng chứa đầy những tình cảm đằm thắm, mãnh liệt Trong những nhà thơ nữ Thái Nguyên, chúng ta thấy nổi bật lên ba gương mặt tiêu biểu, đó là nhà thơ Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh và Lưu Thị Bạch Liễu

Ba nhà thơ với ba thế hệ khác nhau ngoài những nét giống nhau thì chúng ta thấy họ còn để lại dấu ấn trong lòng độc giả bởi những nét riêng có của mình Việc lựa chọn ba nhà thơ ở ba thế hệ để nghiên cứu là một sự nỗ lực nhằm kiến giải sự khác biệt được biểu hiện trong thơ Thái Nguyên nói chung và ba nhà thơ nói trên Đó sẽ là nguồn tư liệu tài liệu tham khảo cho rất nhiều người nghiên cứu, giảng dạy, học tập về văn học Thái Nguyên

Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, các bài viết, các công trình nghiên cứ về những đặc điểm nội dung, phong cách nghệ thuật của các nhà thơ Thái Nguyên nói chung, của ba nhà thơ Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu nói riêng vẫn còn hạn chế Chúng tôi muốn dành

Trang 8

công trình nghiên cứu đầu tiên của mình để nghiên cứu về ba nhà thơ nữ Thái Nguyên mà bản thân đã từng gặp gỡ và quen biết, kính trọng và cũng là tư liệu cho các bạn giáo viên dạy văn trong tỉnh Thái Nguyên có thêm hướng tiếp cận

với văn học địa phương Vì những lí do nói trên, chúng tôi chọn đề tài: “Hình tượng nghệ thuật trong thơ nữ Thái Nguyên”(Qua thơ Trần Thị Vân Trung, Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh) làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn của mình

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu về thơ Thái Nguyên

Thái Nguyên là mảnh đất có truyền thống văn hóa, văn học, có những điều kiện thuận lợi để nuôi dưỡng và phát triển truyền thống văn học nói chung và thơ ca nói riêng Thơ Thái Nguyên đã có một chặng đường lịch sử lâu dài với những tên tuổi như Ma Trường Nguyên, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Việt Trung, Hồ Thủy Giang, Nguyễn Đức Hạnh… Với những nhà thơ thuộc thế hệ những nhà thơ trước, với những sáng tác được khẳng định, những nghiên cứu về thơ của các tác giả này cũng được quan tâm trong nhiều bài báo khoa học, là đối tượng nghiên cứu của nhiều chuyên luận, luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên sư phạm… Trong các công trình nghiên cứu ấy có thể kể đến các bài viết của Nguyễn Kiến Thọ Trong các bài nghiên cứu của mình anh đã khẳng định vai trò, đóng góp của các nhà thơ Thái Nguyên với chặng đường hơn 30 năm phát triển Anh viết về các nhà thơ trẻ trong bài “30 năm thơ Thái Nguyên” trên báo điện tử Văn nghệ Thái Nguyên:

Những đóng góp của thơ Thái Nguyên thời kì đầu còn phải kể đến những nhà thơ trẻ Họ cũng là thế hệ đầu tiên cùng với các bậc tiền bối góp phần tạo dựng nền móng cho thơ Thái Nguyên Đó là Trần Thị Vân Trung, một giảng viên đại học, một chuyên gia giáo dục tại nước bạn Campuchia, thơ của chị duyên dáng một cách hồn hậu thể hiện một tâm hồn nữ sĩ khao khát mà kín đáo, mãnh liệt

mà dịu dàng, khổ đau mà lạc quan… ” [27]

Trang 9

Có thể nói, với những nghiên cứu đó, sáng tác của các nhà thơ Thái Nguyên tiêu biểu đã được tìm hiểu trên nhiều phương diện, từ nội dung đến hình thức nghệ thuật, từ ngôn ngữ, hình ảnh đến cấu trúc, nhịp điệu hay những sáng tạo mới mẻ và những nỗ lực cách tân nghệ thuật trong thơ Nói đến thơ nữ Thái Nguyên, Nguyễn Kiến Thọ cũng dành những lời ngợi ca cho những đóng góp của các nhà thơ nữ trong sự phát triển của thơ ca đương đại Việt Nam nói

chung và thơ Thái Nguyên nói riêng: “T hơ nữ Thái Nguyên trong thời điểm hiện tại, ít nhiều đã có được vị thế nhất định trong thơ nữ Việt Nam đương đại

Những tác giả nữ Thái Nguyên là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam như Trần Thị

Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Cao Hồng, và bên cạnh đó là Minh Thắng, Lưu Thị Bạch Liễu… là những đại diện xứng đáng của thơ nữ Thái Nguyên, cũng là những gương mặt khá quen thuộc của thơ nữ Việt Nam hiện đại Tác phẩm của họ đã là đối tượng nghiên cứu của các luận văn, luận án, những công trình nghiên cứu về thơ Thái Nguyên cũng như thơ các dân tộc thiểu số

Việt Nam thời kì hiện đại ”[27] (Ba mươi năm thơ Thái Nguyên) Hay trong

một số luận văn tốt nghiệp Đại học, Luận văn ThS cũng đã đền cập đến những đóng góp của các nhà Thái Nguyên đối với sự phát triển thơ ca cũng như văn học nghệ thuật của tỉnh nhà Có thể kể đến luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị

Tuyến với đề tài “Thế giới nghệ thuật trong thơ trẻ Thái Nguyên” [29] , Luận văn ThS của Trần Thị Lan “Thơ Thái Nguyên dưới góc nhìn sinh thái” [52]

hay dưới dạng những bài viết, những dòng cảm nhận trên các trang báo mạng

Hành trình nghiên cứu về thơ Thái Nguyên đã và đang diễn ra không ngừng, đó vẫn là mảnh đất màu mỡ cho những ai quan tâm và yêu mến thơ của các nhà thơ Thái Nguyên có thể tìm hiểu, khai thác để tìm ra những cái hay, cái mới, cái thú vị trong những sáng tác đầy tâm huyết của các nhà thơ trên mảnh đất này

Trang 10

2.2 Lịch sử nghiên cứu về thơ của ba nhà thơ Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh và Lưu Thị Bạch Liễu

Trong những năm gần đây, dưới sự hướng dẫn của các giảng viên thuộc Đại học Thái Nguyên, đã có những luận văn đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu về thơ của các nhà thơ Thái Nguyên nói chung cũng như thơ của ba nhà thơ Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh và Lưu Thị Bạch Liễu nói riêng, tuy nhiên những nghiên cứu này còn rất khiêm tốn

Việc nghiên cứu thơ nữ Thái Nguyên hiện đại được nhiều người quan tâm Ngày 20/10/2009, tại Thái Nguyên đã tổ chức Hội thảo thơ nữ Thái Nguyên đương đại Tham gia hội thảo có nhiều nhà phê bình, nhiều nhà thơ như: Vũ Đình Toàn, Nguyễn Kiến Thọ, Phạm Văn Vũ, Ma Trường Nguyên…, tại Hội thảo đã giới thiệu một số tập thơ, bài thơ đánh giá trên phương diện nội dung tư tưởng Tại Hội thảo, chúng ta thấy những nhận xét, đánh giá hữu ích như thơ của các chị làm cho người đọc thấy yêu đời hơn, bởi họ quá đẹp, đepj trong tình yêu, hạnh phúc và trong cả nỗi đau Qua thơ của các nhà thơ nữ, người đọc thấy mình muốn sống tốt đẹp hơn

Đánh giá về nhà thơ Lưu Thị Bạch Liễu, Tạ Văn Sỹ viết trên trang wedsite Lưu tộc Việt Nam (ngày 19/9/2014): “Thơ Lưu Thị Bạch Liễu giàu nữ tính mà cũng đầy cá tính, nhạy cảm và tinh tế trong quan sát và trong liên tưởng và cách biểu đạt hàm xúc, sắc nét Đây là thơ của một cây bút chắc tay

và có ý thức sáng tạo Người đọc tin rằng nhà thơ nữ trẻ này còn tiếp tục những bước thong dong rộng dài và ngày càng đằm thắm”[60]

Khi nói về nữ sĩ Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Kiến Thọ viết “Ẩn ức trong đêm thơ Nguyễn Thúy Quỳnh” trên trang mạng Văn học Việt: “Không gian tinh thần trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh như bị nêm cứng bởi những lịch

lí, không dễ gì tháo gỡ hay vứt bỏ Cảm giác tù túng châm ngòi cho sự sụp đổ Thơ Nguyễn Thúy Quỳnh là những mảnh vỡ của trạng thái tinh thần ấy” [28]

Trang 11

Hay nhận xét thơ Vân Trung, tác giả Nguyễn Kiến Thọ trong bài viết 30 năm thơ Thái Nguyên nhân dịp Kỷ niệm 30 năm thành lập Hội Văn học nghệ

thuật tỉnh Thái Nguyên (1987 - 2017): “Đó là Trần Thị Vân Trung thơ của chị duyên dáng một cách hồn hậu thể hiện một tâm hồn nữ sĩ khao khát mà kín đáo, mãnh liệt mà dịu dàng, khổ đau mà lạc quan”[27]

Đặc điểm thơ nữ Thái Nguyên cũng không ngoài đặc điểm chung của thơ

nữ nói chung đó là rất giàu nữ tính: dịu dàng, đằm thắm mà mãnh liệt, ý thức sâu sắc về giá trị nhân phẩm và nỗi bất hạnh của cá nhân nhưng vẫn giàu nghị lực, khát vọng và tình yêu Các nhà thơ nữ Thái Nguyên không chỉ tạo nên vẻ đẹp riêng của mình mà còn thể hiện tầm nhìn và bóng dáng rất rõ của họ qua thế giới nghệ thuật trong thơ Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thơ của họ chưa thành hệ thống và chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về các đặc điểm thế

giới nghệ thuật trong thơ của họ Thực hiện đề tài “Hình tượng nghệ thuật trong thơ nữ Thái Nguyên qua thơ: Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu”, chúng tôi hi vọng sẽ có những đóng góp mới, bù đắp vào

khoảng trống đó Trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu và trình bày để làm rõ được nét riêng về thế giới nghệ thuật qua thơ của các tác giả nữ Thái Nguyên và bản sắc văn hóa thể hiện trong thơ của họ

Tuy nhiên, để đi sâu vào hiểu hết thơ của họ, con người họ qua thơ thì vẫn còn nhiều đất trống Chúng tôi hiểu rằng, điều đó vừa là thuận lợi nhưng đồng thời cũng là thách thức không nhỏ trong quá trình thực hiện luận văn Với tinh thần làm việc nghiêm túc và sự cố gắng trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi hi vọng luận văn sẽ góp thêm cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn trong công tác nghiên cứu, đánh giá và phê bình các nhà thơ nữ trên Đồng thời chúng tôi cũng mong muốn, khi hoàn thành luận văn sẽ là một trong những công trình tham khảo trong quá trình giảng dạy tại trường chuyên nghiệp cũng như trong chương trình văn học địa phương ở các nhà trường phổ thông

Trang 12

3 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích :

Nhằm lí giải, cắt nghĩa những nét đặc trưng mang tính bản sắc riêng của

ba nhà thơ thuộc ba thế hệ khác nhau

Đề tài chỉ đi sâu tập trung nghiên cứu vào các tập thơ tiêu biểu của ba nhà thơ từ góc nhìn nội dung biểu hiện cái tôi cá nhân và thế giới nghệ thuật không gian và thời gian mang tính đặc trưng của vùng miền

Đánh giá những thành công và đóng góp của ba nhà thơ trong nền văn học thơ Thái Nguyên

Đề tài cũng giúp người viết hiểu thêm về con người và phong cách sáng tác của các nhà thơ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu như đã nêu ở trên,chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:

Vận dụng lí thuyết về lí luận văn học để đi sâu tìm hiểu

Tìm hiểu khái quát về ba nhà thơ và đi sâu vào các tập thơ có giá trị của các nhà thơ

Tìm hiểu về cuộc đời và những yếu tố đã tạo nên những nét đặc sắc cho

ba nhà thơ

Tìm hiểu đặc điểm thơ của ba nhà thơ trên một số phương diện nội dung

và nghệ thuật thơ

Xác định những đóng góp của ba nhà thơ cho thơ Thái Nguyên

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: những đặc sắc trong hình tượng nghệ thuật thơ nữ Thái

Nguyên: Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu

Phạm vi nghiên cứu : Đi sâu vào nghiên cứu các tập thơ của các nhà thơ

và chỉ ra được sự khác biệt của ba thế hệ nhà thơ

Trang 13

Nguyễn Thúy Quỳnh thể hiện qua ba tập thơ: “Giá mà em từ chối ”,

“Mưa mùa đông”, “Những tích tắc quanh tôi”

Lưu Thị Bạch Liễu với các tập thơ: “Sông Cầu đang chảy đâu đây”,

“Cõi tôi”, “Trường Sa ơi Trường Sa”

Trần Thị Vân Trung với các tập thơ: “Hoa bất tử”, “Xin đừng té nước

vào em”

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích tổng hợp: Làm rõ những đặc điểm chính về nội dung và hình thức của các tập thơ tiêu biểu của ba nhà thơ làm cơ sở để đưa ra các nhận định, kết luận thuyết phục và có ý nghĩa khoa học

Phương pháp đối chiếu so sánh: So sánh, đối chiếu giữa các sáng tác của từng nhà thơ; giữa các tác giả, tác phẩm khác nhau, giữa các giai đoạn văn học khác nhau để có những kết luận cần thiết

Phương pháp hệ thống: hệ thống hóa các nét riêng, những điểm chung trong thế giới nghệ thuật trong thơ của ba nhà thơ

Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: sử dụng những kiến thức lý luận văn học chung để làm nền tảng cho những kết luận khoa học

7 Đóng góp của luận văn

Khẳng định được những thành tựu và đóng góp của Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu trong thơ Thái Nguyên

Luận văn thể hiện rõ sự khác biệt trong phong cách sáng tác của ba thế hệ khác nhau khi viết về thơ Thái Nguyên

Đồng thời ở mức độ nào đó, luận văn cũng đóng góp làm tài liệu tham khảo cho công tác học tập, nghiên cứu và giảng dạy về văn học Thái Nguyên

8 Cấu trúc luận văn

Mở đầu

Nội dung:

Chương 1: Giới thuyết chung

Chương 2: Hình tượng cái tôi trư tình trong thơ nữ Thái Nguyên (Qua thơ Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu)

Chương 3: Hình tượng không gian, thời gian nghệ thuật trong thơ nữ Thái Nguyên (Qua thơ Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu)

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT

VÀ THƠ NỮ THÁI NGUYÊN 1.1 Những vấn đề lí luận về hình tượng nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật trong thơ trữ tình

1.1.1 Khái niệm hình tượng, hình tượng nghệ thuật

Hình tượng là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảm tính

Khái niệm hình tượng nghệ thuật: Mỗi một loại hình nghệ thuật sử dụng chất liệu riêng biệt để xây dựng hình tượng Chất liệu của hội họa là đường nét, màu sắc, của kiến trúc là mảng khối, của âm nhạc là giai điệu, âm thanh Ngôn

từ là chất liệu của văn học cho nên hình tượng nghệ thuật là hình tượng của ngôn từ

Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong

cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học, NXB Giáo dục Việt Nam năm 2010 thì Hình tượng nghệ thuật là “Sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh và tái tạo

hiện thực theo quy luật của tưởng tượng, của hư cấu nghệ thuật, người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng

và tình cảm của mình, giúp con người thể hiện ý vị của cuộc đời và lĩnh hội mọi quan hệ có ý nghĩa muôn màu, muôn vẻ của bản thân và thế giới xung quanh Nhưng khác với những nhà khoa học, nghệ sĩ không diễn đạt trực tiếp ý nghĩa

và tình cảm bằng khái niệm trừu tượng, bằng định lý, công thức mà bằng hình tượng, nghĩa là bằng cách làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảm những sự việc, những hiện tượng đáng làm ta suy nghĩ về tính cách và số phận, về tình đời, tình người qua một chất liệu cụ thể” [15, tr 147]

Trang 15

Như vậy, hình tượng nghệ thuật chính là khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Khi nói đến hình tượng nghệ thuật, người ta thường nghĩ tới hình tượng con người như:

hình tượng tập thể như hình tượng nhân dân, hình tượng Tổ quốc, hình tượng

cá nhân nhân vật như hình tượng chị Dậu, hình tượng Chí Phèo… với những

chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú

Nhưng cũng cần lưu ý rằng: hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống nhưng tái hiện một cách có chọn lọc thông qua trí tưởng tượng và tài năng của tác giả (chứ không sao chép y nguyên những hiện tượng có thật) Qua đó, các hình tượng tạo ra được những ấn tượng sâu sắc, những day dứt, trăn trở không nguôi đối với bạn đọc Mặt khác, hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, vừa có khả năng khái quát, bộc lộ được bản chất của con người hoặc sự vật theo quan niệm của tác giả

Tóm lại, theo Từ điển thuật ngữ văn học, qua hình tượng nghệ thuật,

“Người đọc không chỉ thưởng thức “bức tranh” hiện thực, mà còn thưởng thức cả nét vẽ, màu sắc, nụ cười, sự suy tư ẩn trong bức tranh ấy Hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung các giá trị nhân học và thẩm mĩ của nghệ thuật” [15, tr 148]

Một trong những nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu hình tượng nghệ thuật trong thơ của ba nhà thơ Nữ Thái Nguyên: tác giả Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu - nên người viết muốn

làm rõ hơn khái niệm lý thuyết lý luận có liên quan nữa đó là khái niệm về hình tượng tác giả trong sáng tác nghệ thuật

* Hình tượng tác giả:

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi (2010) thì Hình tượng tác giả là “Phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm, một vai trò được người đọc chờ đợi … hình tượng tác giả trong tác phẩm văn học gắn với ý thức của tác giả về vai trò xã hội, tư thế văn học rất đa dạng của

Trang 16

mình”[15, tr 149] Theo đó, cơ sở tâm lý hình tượng tác giả là hình tượng “cái

tôi” trong nhân cách mỗi người thể hiện trong giao tiếp, mang đậm cá tính sáng tạo của tác giả Cũng theo quan niệm của các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn

học, thì “ phạm trù hình tượng tác giả chẳng những cho phép nhận ra phong cách

cá nhân, mà còn giúp tìm hiểu hệ thống của văn bản tác phẩm, mối quan hệ của

nó với ý thức về vai trò xã hội và văn học của bản thân văn học” [15,tr 150]

1.1.2 Hình tượng nghệ thuật và hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ

Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi,

(2010) Thơ trữ tình là một “thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó những cảm xúc, những suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thực hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học” [15,tr 317]

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trữ tình thường được biểu hiện qua cái

“ tôi” trữ tình Tuy nhiên, hình tượng nghệ thuật là sáng tạo của người nghệ sĩ Hình tượng nghệ thuật là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái tạo bằng tưởng tượng Bởi vậy mà thế giới nghệ thuật thường sẽ vô cùng phong phú

Cái tôi trữ tình là một sản phẩm độc đáo trong thế giới hình tượng do người nghệ sĩ sáng tạo nên Trong quá trình sáng tác, cái tôi nghệ sĩ bước vào thế giới nghệ thuật và trở thành một hình tượng trọn vẹn

Cái “tôi” trữ tình là một trong những yếu tố quan trọng bộc lộ tư tưởng

và phong cách của mỗi nhà thơ Đó chính là tâm trạng, là cảm xúc, là thế giới nội tâm của nhà thơ trước hiện thực khách quan Do vậy, tìm hiểu hình tượng nghệ thuật trong thơ trữ tình không thể không tìm hiểu về cái “tôi” trữ tình trong thơ, nhờ đó người đọc có được cái nhìn thấu đáo và toàn diện về thế giới

cảm xúc và tư duy nghệ thuật của nhà thơ

Trang 17

1.2 Thơ nữ Thái Nguyên trong dòng chảy thơ ca quê hương

1.2.1 Giới thiệu về thơ Thái Nguyên đương đại và các nhà thơ nữ Thái Nguyên

Thái Nguyên có đầy đủ các điều kiện thuận lợi về truyền thống văn hóa, thắng cảnh cũng như nhân lực để có một nền văn học phát triển mạnh Cũng như tiến trình phát triển của văn học cả nước, văn học nói chung và thơ ca Thái Nguyên nói riêng cũng được phát triển bắt đầu từ văn học dân gian, thơ ca dân gian Ngoài số lượng người Kinh chiếm đa số thì Thái Nguyên còn là nơi tập trung của các dân tộc anh em như Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, H'Mông và người Hoa cho nên có một nền văn hóa rất phong phú, đa dạng Văn học Thái Nguyên chính là tổng hòa của tất cả những giá trị văn học dân gian và đương đại của các dân tộc anh em đang sinh sống trên địa bàn Thái Nguyên Nó vừa chứa đựng những nguồn sống trong mạch chảy chung của văn hóa cộng đồng người Việt Nam nói chung vừa tích tụ những nét bản sắc mang

tính đặc trưng riêng của cộng động dân cư Thái Nguyên

Bước sang thế kỉ XXI, cùng với sự chuyển mình về mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, Thái Nguyên đang từng ngày thay da đổi thịt Theo đó nền văn học Thái Nguyên trong đó có thơ ca có bước tiến mới, đạt được nhiều thành tựu mới cả về số lượng, giá trị tác phẩm cũng như đội ngũ sáng tác Thơ ca Thái Nguyên đã kịp thời phản ánh sự lớn mạnh của quê hương cũng như phản ánh những tâm tư của con người trước những đổi thay của cuộc sống Hòa vào dòng chảy văn chương của thời đại, sự xuất hiện của hàng loạt các nhà thơ mới bên cạnh những nhà thơ cũ với nhiều lứa tuổi, nhiều thể loại, nhiều bút pháp khác nhau đã làm cho kho tàng thơ ca nói riêng, văn chương Thái Nguyên nói chung ngày càng thêm phong phú, tiêu biểu là: Trần Thị Vân Trung, Võ Sa Hà, Ma Trường Nguyên, Minh Thắng, Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Hoàng Tố Nga, Cao Hồng Trong thơ của mình, các nhà thơ đều ít nhiều tự tạo cho mình một hướng đi riêng, không hòa lẫn với nhau: có nhà thơ thì nhẹ nhàng, có nhà thơ lại mạnh mẽ, thách thức hoặc khiêm nhường, gai góc hoặc

Trang 18

dịu êm Tuy có những nét rất riêng như vậy nhưng giữa các nhà thơ vẫn có sự gặp ngỡ nhau trong nỗi buồn, sự cô đơn và đều có sự bứt phá về thi pháp thơ

Đóng góp không nhỏ cho sự lớn mạnh của thơ ca Thái Nguyên đó là các cây bút nữ Trong số các cây bút này có những người không chỉ đóng góp vai trò của mình trong dòng thơ ca Thái Nguyên mà còn có những đóng góp cho thơ nữ Việt Nam đương đại như Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Cao Hồng, Lưu Thị Bạch Liễu … Các nhà thơ nữ Thái Nguyên mỗi người một

vẻ đã điểm tô những nét duyên dáng, mềm mại bên cạnh những góc cạnh, mạnh

mẽ của các cây bút nam Chính các chị đã góp phần làm cho thơ ca Thái Nguyên thêm nhiều màu sắc và có sự hấp dẫn riêng

1.2.2 Giới thiệu về ba nhà thơ Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu

1.2.2.1 Nhà thơ Trần Thị Vân Trung

* Tiểu sử

Trần Thị Vân Trung tên thật là Trần Thị Việt Trung, sinh năm 1956 tại Thái Nguyên Chị là ham học, say mê nghiên cứu khoa học và là một trong những nhà thơ nữ có đóng góp không nhỏ cho thơ Thái Nguyên

Sinh ra và lớn lên khi đất nước còn khó khăn, gia đình túng thiếu nhưng với một ý chí nỗ lực và phấn đấu mạnh mẽ, chị đã đạt được rất nhiều thành tựu trong lĩnh vực khoa học, giáo dục và thơ văn

Ngay từ năm thứ 2 Đại học Vân Trung đã được Khoa Ngữ văn - ĐH Sư phạm Việt Bắc cử đi tham dự Hội thảo Khoa học Toàn quốc Tốt nghiệp ĐH khi còn rất trẻ (21 tuổi), chị đã được Trường ĐH Sư phạm giữ lại giảng dạy Năm 1977, chị được cử đi học Cao học Từ đây chị được tiếp sức trên con đường làm nghiên cứu khoa học, tích lũy kiến thức để giúp chị tiếp tục giảng dạy và nghiên cứu của mình

Tháng 12/1979, Vân Trung là một trong 10 người đầu tiên có trình độ Cao học của trường Đại học Sư phạm Việt Bắc lúc bấy giờ Trong giai đoạn

Trang 19

khó khăn của đất nước, nhiều người đã phải bỏ nghề giáo để tìm đường mưu sinh Nhưng với niềm say mê với nghề, chị đã bám trụ với trường, lớp

Chị cùng với một số nhà giáo được cử sang công tác giúp nước bạn Campuchia một thời gian Trong thời gian xa nhà, nỗi nhớ chồng, nhớ con đã được chị thể hiện trong những dòng thơ thấm đẫm tâm sự Tập thơ đầu tay

“Xin đừng té nước vào em” ra đời đã được sự đón nhận của đông đảo bạn đọc

và là nguồn động viên, khích lệ để chị sáng tác và tiếp tục cho ra mắt bạn đọc những tập thơ tiếp theo, trong đó có 2 tập thơ được trao tặng giải thưởng Quốc gia và Giải thưởng Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên

Ngoài làm thơ, Trần Thị Vân Trung còn là một nhà khoa học với tinh thần làm việc không biết mệt mỏi Chị đã có nhiều công trình khoa học cấp nhà nước được đánh giá rất cao Ngoài ra chị còn là cán bộ quản lí đầy kinh nghiệm

Năm 1995: Phó trưởng ban Đào tạo và Nghiên cứu khoa học

- Năm 1997: Phó trưởng ban Đào tạo và Nghiên cứu khoa học & Hợp tác quốc tế

- Năm 2003: Trưởng ban Đào tạo và Nghiên cứu khoa học & Hợp tác quốc tế

- Năm 2004: Được phong Phó giáo sư

- Năm 2005: Trưởng Ban Khoa học và Công nghệ

- Năm 2008: Giám đốc - Tổng Biên tập NXB Đại học Thái Nguyên Hiện nay chị là UV BCH hội nữ trí thức VN tại Thái Nguyên, UV hội đồng lí luận phê bình Văn học Nghệ thuật TW, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và tham gia một số tổ chức chính trị khác

* Các tác phẩm thơ

- Xin đừng té nước vào em (Hội Văn học Nghệ thuật Bắc Thái, 1989)

- Sao đôi xa xăm (NXB Thanh niên, 1991)

- Khoảng cách cuối cùng (NXB Thanh niên, 1999)

- Hoa bất tử (NXB Thanh niên, 2011)

Trang 20

1.2.2.2 Nguyễn Thúy Quỳnh

* Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh

Nguyễn Thúy Quỳnh sinh ngày 09/10/1968 Quê gốc nhà thơ ở Nghĩa Hưng - Nam Định nhưng nhà thơ lại sinh sống nhiều năm ở xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Hiện nay, nhà thơ đang có hộ khẩu thường trú tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên

Năm 1989, Nguyễn Thúy Quỳnh tốt nghiệp khoa Ngữ Văn - trường đại học Sư phạm Việt Bắc Chị từng có thời gian làm giáo viên của trường Phổ thông Trung học Đại Từ sau đó được chuyển công tác sang làm ở Tỉnh đoàn Thái Nguyên Nguyễn Thúy Quỳnh là hội viên Hội nhà báo Việt Nam và hội viên Hội nhà văn Việt Nam Hiện nay, Nguyễn Thúy Quỳnh là thạc sĩ văn học, giữ chức vụ Phó chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên, Tổng biên tập báo Văn nghệ tỉnh Thái Nguyên

* Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thúy Quỳnh

Ngay từ thời còn rất nhỏ tuổi, Nguyễn Thúy Quỳnh đã có một niềm đam

mê sáng tác văn chương Đến năm 1982, khi mới 14 tuổi, nhà thơ đã cho ra đời tác phẩm đầu tay, in trên Tạp chí Văn nghệ Bắc Thái

Năm 2003, Nguyễn Thúy Quỳnh bắt đầu công tác tại Hội Văn học Nghệ thuật của tỉnh Cũng bắt đầu từ đây, sự nghiệp sáng tác của nhà thơ thật sự bước sang một trang mới với tư cách là một nhà thơ, một nhà báo chuyên nghiệp

Nguyễn Thúy Quỳnh đã cho cho xuất bản hai tập thơ là: "Giá mà em từ chối" (Nxb Văn hóa dân tộc, H.2002), "Mưa mùa đông" (Nxb Hội nhà văn,

H.2004) và mới đây nhất, vào tháng 11/2011 nhà thơ đã cho ra mắt tập thơ thứ

ba với tên gọi "Những tích tắc quanh tôi" viết về sự trải nghiệm mới của nhà

thơ về cuộc đời

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Thúy Quỳnh cũng đạt được một số giải thưởng cao về văn học của trung ương như: Giải nhì về thơ của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho tập thơ

Trang 21

"Mưa mùa đông", Giải thưởng của tạp chí Văn nghệ Quân đội, của Tạp chí Văn

hóa các dân tộc Việt Nam Với những giải thưởng đã đạt được, thơ Nguyễn Thúy Quỳnh đã bước đầu khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn thi ca Việt Nam

Nguyễn Thúy Quỳnh là một nhà thơ có ý thức sâu sắc về trách nhiệm của người làm thơ, đó chính là ý thức của một con người có trách nhiệm với cộng

đồng Nhà thơ từng đưa ra quan niệm: "Mình không giúp được gì cho những thân phận nhỏ bé và bất hạnh thì mình chia sẻ bằng trang viết" Cũng chính vì

ý thức đó mà nhà thơ đã có sự chuyển biến lớn về xu hướng sáng tác, từ việc chủ yếu viết về cuộc đời chính mình, về gia đình, tình yêu nhà thơ đã chuyển hướng sự quan tâm, lo lắng, trăn trở đến những điều rộng lớn hơn, vượt hẳn ra ngoài phạm vi bản thể để hướng tới cộng đồng xã hội

Nhà thơ quan niệm: "Mình không giúp được gì cho những thân phận nhỏ

bé và bất hạnh thì mình chia sẻ bằng trang viết" Đó chính là ý thức của một

nhà thơ có trách nhiệm, điều này đã trở thành một tư tưởng chi phối xuyên suốt quá trình sáng tác về sau này của Nguyễn Thúy Quỳnh

1.2.2.3 Nhà thơ Lưu Thị Bạch Liễu

* Tiểu sử

Lưu Thị Bạch Liễu sinh 25/12/1973 tại Thành phố Thái Nguyên Với Lưu Thị Bạch Liễu chúng ta thấy chị là con người ham học hỏi, đa tài Chị đã học rất nhiều chuyên ngành khác nhau nhưng lại không có ngành nào liên quan đến nghệ thuật Chị tốt nghiệp chuyên ngành Toán của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên năm 1994 Một năm sau chị tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Anh, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội Năm 1995, chị nhận bằng ĐH tiếng Trung của trường ĐH Thái Nguyên Năm 2017, chị tốt nghiệp lớp Cao cấp chính trị - Học viện Chính trị Quốc gia Khu vực 1

Sau khi tốt nghiệp ĐH Sư phạm, Bạch Liễu không đi dạy mà chuyển sang làm một cán bộ công an tại Công an tỉnh Thái Nguyên (Từ 1994 đến

Trang 22

2004) Với tính cách ưa khám phám, thích “rong chơi” nên tháng 12/2004 chị chuyển sang làm phóng viên báo Sài Gòn giải phóng và đến năm 2013 chị chuyển hẳn về công tác tại Hội nhà báo tỉnh Thái Nguyên

* Các tác phẩm

- Cõi tôi - Tập thơ 2007

- Sông Cầu đang chảy đâu đây - Tập thơ 2009

- Nửa đêm gió lùa - Tập truyện ngắn 2011

- Nở muộn - Tập thơ 2013

- Trường Sa! Ơi, Trường Sa! - Tập thơ 2014

Tiểu kết chương 1

Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu là những nhà thơ nữ tiêu biểu của nền thơ Thái Nguyên Cả ba nhà thơ đều có một quá trình hoạt động sáng tác lâu dài cho đến tận ngày nay, trong sáng tạo nghệ thuật mỗi người lại có một quan niệm riêng, không giống nhau Chính điều này đã góp phần tạo nên phong cách riêng cho mỗi nhà thơ Đây cũng là những nhà thơ đạt được nhiều giải thưởng ấn tượng của cả Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên cũng như giải thưởng của Nhà nước về Văn học Nghệ thuật

Trang 23

Chương 2 HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NỮ THÁI NGUYÊN

(QUA THƠ TRẦN THỊ VÂN TRUNG, NGUYỄN THÚY QUỲNH,

LƯU THỊ BẠCH LIỄU) 2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Trần Thị Vân Trung

2.1.1 Người tình đắm say, người vợ thủy chung

Đọc thơ Vân Trung, ta thấy đây chính là câu chuyện tình yêu được chị viết bằng thơ Với giọng thơ trẻ trung, yêu đời và say đắm trong tình yêu, chúng ta được chứng kiến những cung bậc cảm xúc của tình yêu Những ngày

đi công tác xa nhà, những dòng thơ gửi cho người chồng yêu dấu với những nét tinh nghịch được chị gửi về cho người chồng ở nhà:

Không Trung - anh có nhớ Chơi vơi - một cánh diều?

Mây trắng - xin dệt áo Choàng bọc trái tim yêu!

(Mây trắng -Phnôm Pênh, 1986)

Lối chơi chữ hóm hỉnh nhưng ẩn chứ sâu trong từng câu chữ là nỗi nhớ người chồng Xa anh, em như cánh diều chơi vơi, liệu anh có giống như em không?

Nhà thơ cũng không giấu giếm nỗi lòng khi nhớ đến những nồng ấm, nhớ đến những cái ôm của chồng Mạnh bạo thể hiện nỗi lòng, thể hiện khao khát mãnh liệt yêu đương của người đàn bà trỗi dậy trong thơ chị Chị đã dám nói thật nỗi lòng mình, dám thể hiện khát khao được yêu thương của mình qua những dòng thơ gửi về người chồng yêu dấu

Em cứ run lên - trong nỗi nhớ cồn cào

Cứ muốn nép mình dưới vòm ngực nở,

Cứ lả mềm đi như lá úa Trong cánh tay Anh - khỏe, ấm, nồng nàn!

(Có nỡ xa)

Trang 24

Ta bắt gặp một Vân Trung hóm hỉnh, có duyên khi dùng lối chơi chữ để mà trao yêu thương, nhung nhớ cho người chồng của mình, một Vân Trung đầy sức sống khao khát yêu đương, không ngần ngại dâng hiến Đối với Vân Trung, chị luôn mong ước và cũng luôn cố gắng để xây đắp một tình yêu bất tử:

Em đi tìm hoa bất tử Chẳng tin - trẻ mãi không già!

Nhưng lòng em hằng khao khát Tình yêu Bất tử như hoa!

(Hoa bất tử)

Tin tưởng vào tình yêu, thơ Vân Trung là những dòng tâm sự nhẹ nhàng với người bạn đời của mình Chị tự thu mình lại, hóa mình thành nhỏ bé trước mặt người đàn ông của mình, để được che chở, yêu thương Ta bắt gặp hình ảnh chị giống như bao người phụ nữ Việt khác, dù ngoài xã hội có làm những công việc lớn lao gì đi chăng nữa thì khi về với tổ ấm của mình, chị lại trở thành người phụ nữ của gia đình, cũng yếu đuối và cần được chở che:

Trước anh - em nhỏ bé Niềm kiêu hãnh xưa như cháy lụi đi rồi Chút nhan sắc, tài hoa và tuổi trẻ Cũng trở thành … vô nghĩa lắm…

(Không đề)

Với Vân Trung, chị luôn hết mình trong tình yêu, chị giống như một cô gái dại khờ, ngây thơ, không giữ lại chút gì cho mình Chị yêu say đắm, yêu bằng cả trái tim Có tình yêu, cuộc đời trở nên tươi đẹp biết bao Chị ngợi ca tình yêu, chị thấy tình yêu giống như một cơn mưa xuân tưới đẫm tâm hồn mình, chảy trôi đi những muộn phiền của cuộc sống:

Anh như cơn mưa chợt đến Thấm dần … ướt đẫm hồn em Trôi đi bao nhiêu bụi bặm, Tan đi bao nỗi ưu phiền …

(Mưa xuân)

Trang 25

Đang say đắm trong tình yêu, đang được tận hưởng những cảm xúc ngọt ngào của trái yêu đương thì lại phải chia xa, thơ Vân Trung bật lên nỗi nhớ nhung, khắc khoải “Có xa ngàn vạn dặm/ Mới hiểu thấu “trăng thề”/ Mới biết còn khắc khoải/ Mới biết còn đam mê” để rồi tâm hồn trở nên lạnh giá, mọi thứ đều trở nên vô nghĩa ngày xa anh, đến nỗi “Môi nhạt màu son thắm/ Má phai sắc hồng đào…” và trái tim thì “Trái tim dường tan nát/ Lại cháy lên nỗi niềm… / Tâm hồn dường nguội lạnh/ Lại nhớ thương triền miên…” (Ngày xa anh)

Tình yêu nồng cháy thế nhưng không phải không có những lúc giận hờn

Đã có lúc chị tự hỏi, tự dằn vặt bởi những lỗi lầm của người yêu, chị âm thầm khóc cho sự rạn nứt vô hình trong tình yêu đôi lứa, nhưng những kỉ niệm xưa cứ ùa về, để chị không dám nghĩ tiếp:

Đã bao lần em định viết về anh

Về sụ thật giữ lòng ta - hai đứa Nhưng kỉ niệm xưa, khiến em chẳng nỡ Viết cái điều - emm nghĩ về anh!

(Điều không muốn viết)

Chị sợ rằng khi sự thật được phơi bày ra thì sẽ không còn gì có thể níu kéo lại được Chị tiếc, chị buồn cho những kỉ niệm đã qua Chính vì không thể nói ra được nên:

Đã bao lần anh biết trong đêm Nước mắt đã hoen vàng gối trắng?

Chuyện chúng mình … trong tận cùng sâu thẳm

Đã bao lần tiếng nấc nuốt vào trong

(Điều không muốn viết)

Khổ đau là vậy, nhưng với bản chất hiền lành nên chị đành một mình nuốt những nỗi đau ấy vào trong, để cố gắng xây dựng lại một tình yêu đẹp Sự vị tha, trái tim nhân hậu của chị đã được đáp đền, để đến bây giờ, chị cười, chị vui trong niềm vui của tình yêu gia đình, vui với tiếng cười của con cháu:

Trang 26

Tiếng cháu cười trong vắt Múa, hát và đọc thơ Ông đệm đàn mê mải

Bà vui đến … sững sờ

(Linh Đan) 2.1.2 Người mẹ minh triết và vẻ đẹp mẫu tính

Không chỉ là một người tình say đắm, một người vợ thủy chung, trong thơ Trần Thị Vân Trung ta còn thấy hình ảnh đầy mẫu tính của một người mẹ đảm đang Ta có thể thấy trong thơ Vân Trung, chị không viết về những điều lớn lao to tát mà chị đi sâu vào những điều bình dị nhất của cuộc sống Đó chính là tình yêu dành cho chồng, cho con, cho gia đình nhỏ bé của mình Đó là những giây phút đa sầu đa cảm, những lúc trái tim yếu mềm bởi một ánh mắt, một nụ cười của ai đó…

Âm hưởng nữ tính xuất hiện trong phần lớn các sáng tác của Trần Thị Vân Trung Nữ tính trong cách thể hiện tình yêu, nữ tính trong tình cảm gia đình, với người mẹ của mình, với những đứa con, đứa cháu…

Người mẹ nào cung lo lắng cho con của mình, kể cả khi những đứa con ấy đã trưởng thành, vui cùng với niềm vui của con, buồn cùng với nỗi buồn của con Vân Trung cũng đã từng trăn trở, day dứt khi thấy cậu con trai bé bỏng ngày nào của mình giờ đang dần rời xa vòng tay mẹ, dời xa tổ ấm mà bao năm cha mẹ đã xây dựng, bồi đắp cho con Chị lo ngoài đời kia nhiều bão giông cám

dỗ, đứa con của mình không đủ bản lĩnh để mà vượt qua:

Cuộc sống ngoài kia - chứa đầy cạm bẫy

Và sục sôi như thác, lũ đầu nguồn

Đi đứng, học hành, yêu, chơi… đều hiện đại

Mẹ quặn lòng, day dứt - nghĩ về con!

(Lời trăn trở tháng Ba)

Trang 27

Sau những trăn trở, day dứt ấy, bằng tình thương vĩ đại của người mẹ, Vân Trung đã tâm sự với con, đã dạy bảo con sống phải biết yêu thương cha

mẹ, yêu những người ruột thịt thì con mới cảm nhận được hạnh phúc là gì:

Nếu con biết yêu mẹ - bằng tình yêu máu thịt Con mới biết yêu người yêu - bằng tình yêu máu thịt của mình Nếu con biết quý từng phút giây hạnh phúc

Thì đời con - hạnh phúc mới hồi sinh

(Lời trăn trở tháng Ba)

Lời dạy bảo của người mẹ thật nhẹ nhàng nhưng chứa đầy tình cảm Được làm con của một người mẹ như vậy, tôi nghĩ rằng cậu con trai của chị phải rất hạnh phúc Không có những triết lí cao siêu, chỉ là những điều rất bình dị thôi nhưng đọng lại rất sâu, rất lâu trong lòng người đọc Phải biết yêu như chính máu thịt của mình, phải biết quý trong từng giây phút hạnh phúc thì cuộc đời chúng ta mới có được niểm vui

Không chỉ lo cho con, Vân Trung còn niềm vui bên những đứa cháu của mình Tuổi trẻ qua đi nhưng chị lại bất ngờ thấy một mùa xuân trong hình ảnh đứa cháu bé nhỏ:

Nhưng bất ngờ - lại thấy Một Mùa Xuân

Nở bừng lên trong tiếng cười của cháu

Mắt đen láy, má đào đôi môi sáo…

Lai thấy LÒNG MÌNH TƯƠI TRẺ - thủa xa xưa!

(Lại thấy một mùa xuân)

Quên đi những điều không vui, những điều chưa hài lòng trong cuộc sống, Vân Trung thấy lòng mình có niềm tin hơn khi có niềm vui gia đình, niềm vui của những đứa cháu ngoan:

Mặc cuộc đời dâu bể

Đen - trắng và vàng - thau Giả dối cùng chân thật Hạnh phúc lẫn khổ đau…

- Bà tin yêu nhìn cháu

Hy vọng vào MAI, SAU…!

(Linh Đan)

Trang 28

Vẻ đẹp trong thơ Trần Thị Vân Trung còn là những dòng thơ đầy xúc động khi chị viết về mẹ Chị dành hẳn một phần trong tập thơ “Hoa bất tử” để viết về mẹ Trong tâm trí chị, mẹ và quê hương là hai thực thể không thể tách rời Mẹ là quê hương và quê hương là mẹ Những kí ức về mẹ luôn hiện hữu trong thơ Vân Trung Một chiều trở gió, vô tình bắt gặp bóng lưng còng của

một bà cụ nào đó, nhà thơ lại hoài niệm về bóng dáng mẹ “Chợt thấy bóng ai

như dáng mẹ/ Tất tả chiều Thu - sương đẫm vai…” (Mẹ và quê hương)

Nhớ đến mẹ, Vân Trung nhớ đến những tảo tần của mẹ, nhớ lại hình ảnh mẹ:

Thắt lại chiếc khăn hình mỏ quạ Nồng miếng trầu cay thắm miệng Người Dáng vội vã - “chân đi không đi bén gót”

Suốt cuộc đời - chưa một phút thảnh thơi!

(Mẹ ơi!)

Cho dù cuộc đời có bao chông gai cạm bẫy, con có mẹ giống như có chỗ dựa lớn lao Là một người mẹ nên Vân Trung càng hiểu nỗi khổ của mẹ, càng thương mẹ hơn Đó là một vẻ đẹp trong thơ Vân Trung nói riêng và trong thơ của các nhà thơ nữ nói chung

2.2 Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh

2.2.1 Người phụ nữ với những nỗi niềm thân phận

Đọc những trang thơ của Nguyễn Thúy Quỳnh, ta bắt gặp những bộn bề, những suy nghĩ trăn trở của cuộc sống Tác giả luôn day dứt, trăn trở, lo âu về thân phận như tình yêu, về ý thức cá nhân, sự hư hao mỏng manh của kiếp người Có thể qua bất cứ hình ảnh nào tác giả cũng có thể nhận ra trong đó những ý nghĩa nhân sinh của cuộc sống “Thơ về lạc đà” không chỉ là hình ảnh của con lạc đà chầm chậm đi trên sa mạc với trên lưng mang nặng hàng hóa,

mà qua hình ảnh cái bướu nó mang trên mình, tác giả thể hiện chiều sâu suy ngẫm của mình:

Trang 29

Trời hoang hoang nắng Cát mênh mang trắng Lạc đà thầm lặng

đi Không chỉ sinh ra để mang trên mình những gì người ta chất lên

còn mang cả chính mình những chiếc bướu như tiền kiếp úp xuống lưng

Tập thơ “Hai phía phù sinh” là những day dứt, trăn trở của tác giả về lẽ sống chết của con người, của vạn vật Người đàn ông trụ cột trong ngôi nhà ấy chết đi để lại nhớ thương và sự trống vắng cho người vợ và những đứa con Chỉ khi con người chết đi thì mới nhận ra được cái lẽ sống ở đời chỉ là phù du, thì

có lẽ người chồng vẫn còn ở lại Đấy chỉ là “giá mà” mà thôi

Khi nghe tin một cô bé vì đói quá, trên đường đi học về ngã xuống

mương nước và qua đời, tác giả viết bài thơ “Tặng linh hồn bé Nhung” như là

thắp một nén tâm nhang dành cho người xấu số An ủi cho linh hồn bé nhỏ, mong con được về với nơi chỉ có ánh sáng chan hòa, nơi có bình yên và ấm no Tấm thân bé nhỏ của con không còn

“Trái tim bé bỏng của con

Sẽ không còn triền miên nhức nhối cơn đau Thân thể gày gò của con

Không còn cơn đói vật vã cào xé suốt đêm ngày”

Trang 30

Cái chết của bé Nhung là tiếng chuông cảnh báo cho những trái tim vô

cảm Tác giả biết “Không một lời biện minh nào đủ lấp đầy sự ra đi tức tưởi của con,/không một sự sám hối nào đủ xóa tội cho những người ở lại” Bởi vì

những người lớn chúng ta đang sống trong no đủ, thừa thãi mà lại có một sinh mệnh bé nhỏ phải lìa đời chỉ vì đói

Chúng ta những kẻ thản nhiên sống và ca ngợi sự giàu sang giữa trùng trùng áp phích, pa nô quảng cáo sáng choang không ai đủ tư cách cầu xin con,

một em bé chết đói giữa ban ngày, tha thứ

(Tặng linh hồn bé Nhung)

Với tác giả, mọi ánh sáng hào nhoáng của cuộc sống kia chỉ là vẻ bề ngoài, chỉ là sự giả tạo Những con người đang ca tụng cuộc sống kia nợ em một lời xin lỗi, không ai có đủ tư cách để xin được tha thứ Lỗi lầm của chúng

ta là đã quá vô tâm đối với những cuộc sống xung quanh chúng ta

Hay tác giả thấy mình yêu hèn và bất lực khi nghe tin trên đài báo về vụ thảm họa sóng thần ở Ishinomaki, sau trận sóng thần này thì có 30 đứa trẻ vẫn hướng đôi mắt ngây thơ ra phía của trường học để ngóng chờ cha mẹ tới đón Những đôi mắt ngây thơ ấy, những tâm hồn non nớt ấy không biết rằng cha mẹ chúng đã mãi mãi không thể trở về để đón chúng về trong ngôi nhà êm ấm của

chúng nữa Và với hình ảnh ấy, tác giả - một người mẹ Việt Nam biết rằng “mẹ biết tim mình suốt đời sẽ còn dư chấn”, tác giả thấy “nhưng lúc này mẹ thấy mình yếu hèn và bất lực/ nước mắt chẳng giúp gì được các con trong khoảnh khắc khủng khiếp này.”

Giống như nhan đề tập thơ, cõi người chỉ là kiếp phù sinh nên trong thơ của Nguyễn Thúy Quỳnh, cái chết được tác giả nhắc đến rất nhiều Những cái chết ở trong thơ của chị không chỉ là cái chết của con người, của sinh vật mà

Trang 31

còn đáng sợ hơn là cái chết của tâm hồn, nhân cách con người Những người có

chức có quyền đã nhẹ tay kí vào những văn bản để “Đâu phải chiến tranh/ mà mấy chục cuộc đời nát vụn một ngày mìn nổ đá rơi,/phút chốc chạm đường ray,

đồng làng bời bời khăn trắng” (Những tích tắc quanh tôi) Những kẻ có chức

quyền kia vì sao lại có thể đặt bút kí Chẳng hề kiêng dè, tác giả đã nói hộ tiếng

nói của những người vợ mất chồng những người con mất cha kia “một chữ kí nhẹ tênh/ kéo chập trùng sông suối núi đồi chui vào két nhỏ” và rồi con người không chỉ chết về thể xác mà còn là cái chết về tâm hồn “những tuổi teen/ tóc

đỏ dắt nhau vào nhà nghỉ bình dân còn quên tháo khăn quàng.”

Cái tôi trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh là những trăn trở, suy tư trước vạn vật trong cuộc sống Một con mèo bị xe cán, một cái cây vừa bị chặt hạ đã trở thành nỗi niềm ám ảnh về số phận của con người, về một kiếp nhân sinh

Đọc thơ của Nguyễn Thúy Quỳnh ta bắt gặp một tâm hồn mẫn cảm, một trái tim nhân hậu, giàu tình yêu thương Dù không nhiều bài nhưng những vần thơ của chị đã gợi cho người đọc bao suy nghĩ Những hình ảnh thơ của chị khiến người đọc day dứt, đau đớn cho kiếp người - số kiếp ngắn ngủi với những vật lộn, lo toan, với những khổ đau cả về thể xác lẫn tinh thần Và từ những góc nhìn đa chiều về thân phận con người, tác giả đặt ra cho chúng ta một câu hỏi lớn để suy ngẫm, đó là trong cuộc đời này ta nên sống thế nào?

Đời con người so với nhân gian chỉ là cõi tạm vậy mà chúng ta đang sống một cách phung phí thời gian ngắn ngủi bằng những ham muốn tầm thường

Con người ta không còn hình bóng của con người mà chỉ còn gỗ đá, bởi

lẽ khi con người không biết đến tình yêu thương, không biết trân trọng cái đẹp, không còn biết sẻ chia thì đâu gọi là sống nữa Đó không chỉ là câu hỏi dành riêng cho một thời mà cho mọi thời, cho những con người đánh mất mình, đánh mất tình người Con người rơi vào bi kịch vì chính sự vô tâm của mình Đằng sau những nghịch lý là một niềm tiếc nuối của tác giả Tiếc nuối vì đời người ngắn ngủi đến là vậy mà ta không biết nâng niu quý trọng nó Bởi vì, tự thân

Trang 32

mỗi con người sống trong đời sống này không thoát khỏi đau khổ Đọc chùm thơ của chị, ta cảm nhận nỗi đau làm người thấm thía và sâu sắc Mỗi bài thơ là một góc cạnh mà nhà thơ xuyên thấu vào từng mảnh đời, số phận và trạng huống con người phải trải qua

Có đôi khi, tác giả muốn mang những nỗi nhọc nhằn trong cuộc sống gửi lên chùa, nhưng rồi nghê đa, Đức Phật, Quan Âm cũng chẳng thể nào cứu giúp được nên con người ta lại phải quay trở về với cái bản thể của mình, trở về với kiếp nhân sinh nhọc nhằn của mình:

Gánh chuân chuyên gửi vào chùa Gặp con nghê đá thẫn thờ đợi chuông Trên tòa, Đức Phật ngồi suông

Quan Âm phất áo, chỉ đường sắc không Niết Bàn đành ngửa cổ trông

Diệt sao hết khổ mà mong vô thường

Chắp tay đợi một tuần hương Còi người dằng dặc, lần đường lại đi

(Đi chùa)

Một trái tim mẫn cảm trước cuộc đời nên khi vô tình nghe được lời ca của bài hát “Gửi em ở cuối sông Hồng” của người bán hàng rong, tác giả đã nghĩ đến sự chia cắt của tình yêu đôi lứa Nhưng sự chia cắt này không phải trong chiến tranh mà là trong cuộc đời đầy thanh bình này Tình yêu trong chiến tranh lãng mạn và bay bổng, con người ta có thể gửi trao cho nhau nỗi nhớ nhung, những tình cảm nồng thắm, còn trong thời bình, cuộc sống mưu sinh nên chẳng có đủ thời gian để mà nhớ, mà thương Câu hát gửi trao nhau theo những chiếc xe đẩy, gánh hàng rong len vào các con phố

Trang 33

Từ hình ảnh những con cá chết trên dòng sông Duệ nước đen nhánh, những con còn lại cố gắng trồi lên để hít lấy, lọc lấy từng phân tử ô xy còn sót lại, tác giả đã quay về liên tưởng đến số phận của con người:

Bỏ lại một dòng sông đen và một dòng sông đen khác Chảy âm thầm trên những gương mặt

Sạm đen

(Về những con cá chết ở sông Duệ)

Những con cá cố gắng kiếm tìm cơ hội sống, con người bon chen nhau cũng để kiếm tìm sự sống Con người cũng giống như những con cá đang ngụp lặn ở dòng sông đen của cuộc đời

Rồi những suy ngẫm của nhà thơ lại quay trở về những sự vật xung quanh cuộc sống, từ những cây lim, cây sưa trong phố bị đốn hạ để ngẫm nghĩ về câu tục ngữ “cây ngay không sợ chết đứng”, nhưng sống giữa nhân gian con

người lại bị dìm chết bởi những lời đồn thổi “Ở đâu đó/ lời đồn như gió độc/ luồn vào từng mảnh hồn nhân gian/ lấm lét mắt lươn cao giọng đa ngôn/ đong đưa mắt nai lem lẻm mỹ từ/ có thể vặn thừng sự thật/ dìm những đời sen xuống

bùn/ ngoi lên được cũng đã xong một kiếp” (Nghĩ chơi) Hay sự đời vốn không

là công bằng để cho những kẻ tiểu nhân ngoi lên vũ đài chính trị, những người

tài giỏi đành ngậm ngùi vì không gặp “thời thế”: “Cá chép mắc lưới ngày hăm

ba tháng chạp/ ngẩng nhìn cua ếch hùng hục qua nhan nhản vũ môn”; “bậc đại trí đại nhân/ nhìn theo mây trắng nhởn nhơ cùng các linh hồn/ không được không thua không còn không mất” và tự an ủi mình rằng “thượng đế lại đùa dai”

Tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh cũng nặng lòng với những bài học nhân sinh, về cuộc đời củ những người thầy, về giá trị đạo đức thay đổi Người thầy một đời tích nghĩa nhân, gieo mầm đức, đóng đò chở người qua sông Chữ, vậy

mà khi qua đò rồi thì những người được thầy chở qua, kẻ thất học “sau một năm/ cầm rìu chặt đò làm đôi”, những kẻ tiểu nhân “sau mười năm/ vung búa

Trang 34

chặt đò làm ba” Thật là đau xót Thế nhưng đớn đau hơn đó là cái trở mình của kẻ tâm phúc Chẳng ai lường trước được thế sự Con đò của thầy “Người tâm phúc đi qua/ sau ba mươi năm/ trở bút một lần mà đò tan vạn mảnh”, để

rồi khi tìm về thầy chỉ còn biết lên sông Ngân để hỏi Những mảnh vỡ của con

đò đã găm vào trái tim thầy, để “Sông Chữ ngầu ngầu khóc/ - Thầy ơi…” (Thầy

tôi) Quả đúng là con người ta có thể lường hết được Kẻ thất học, kẻ tiểu nhân

thôi thì còn có thể tránh được nhưng nỗi đau lớn nhất lại là không đề phòng được người ngay bên cạnh ta, người ta tin tưởng, kẻ tâm phúc, để rồi mang vết thương chí mạng

Ta cũng bắt gặp lời kết án cho những sự giả dối xung quanh chúng ta Người ta xúm vào để mà bàn luận, để mà lên giọng rao giảng những điều cao siêu về một nhà thơ bằng những lời hoa mỹ mà ở đó, người ta nhân danh thơ, nhân danh sự tử tế để mà phán xét Thế nhưng đằng sau đó có ai quan tâm đến

đối tượng mà mình đang bàn luận đến đang lúc nào cũng “toan rụng về đất/

vẫn trĩu niềm xót thương dâng tất thảy nhân gian” (Về một nhà)

Bỏ ra khỏi những bài báo cáo, những lời tổng kết đầy hoa mỹ với những điều làm được vô cùng lớn lao, những thu nhập ngàn đô, tác giả nhìn thấy được

những “chợ lao động dài thêm những đứng ngồi chờ việc”, rồi những người phụ nữ bỏ lại chồng, con để “giờ phiêu dạt xứ người/ lo giấc ngủ bữa ăn cho chồng con thiên hạ” Bỏ qua những cây cầu nghìn tỉ, những cung đường được coi là đẹp nhất nước, Nguyễn Thúy Quỳnh nhìn thấy “bầy em nhỏ ngày ngày

đu dây vào tương lai/ vùi giấc mơ đến trường nơi hầm than, bãi quặng”, và

những nhà chính trị thì đang trên bục diễn đàn nói về những thay đổi vĩ đại

nhưng “giá thị trường tăng, giá niềm tin giảm” Nhà thơ cảm thấy hoang mang cho cuộc sống Và rồi “xác chữ cũng ngổn ngang” giống như nỗi lòng ngổn

ngang với thế sự của tác giả

2.2.2 Người phụ nữ với trái tim yêu bình dị mà sâu sắc

Tình yêu trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh không có những điều cao siêu

vĩ đại mà là tình yêu dành cho chồng Những vất vả của cuộc sống hàng ngày,

Trang 35

những điều bình dị của cuộc sống vợ chồng đều được chị tâm sự vào những dòng thơ Tình yêu đó là sự chăm lo cho chồng khi anh đau ốm Chị đếm từng ngày anh đau đớn, nín thở nghe từng tiếng trở mình cùng tiếng thở dài nặng nhọc của anh

Năm ngàn đêm dấu bao nhiêu cơn vật vã trở mình Trong tiếng tích tắc đóng đinh chịu nạn

Nghe tiếng em và con thở đều từ cõi nào xa lắm Nghe sự sống thóp thoi trong từng mạch máu âm thầm

Phải có sức chịu đựng lớn lao đến nhường nào thì mới có thể chống chọi bệnh tật hơn năm ngàn ngày cùng với người chồng của mình Tình yêu khiến cho người đàn bà nhỏ bé, yếu ớt trở nên kiên cường đến như vậy Năm ngàn ngày đêm anh ốm là:

Năm ngàn đêm Giấc ngủ em xoe tròn Bọc trái tim đá gỗ

Để đêm nay

Em, con bò già kéo cày số phận

Lê trên cánh đồng mờ mịt Cắt xuống mặt đêm vô vàn rãnh sâu

Rỉ những giọt bầm đen

Chị cũng như những người phụ nữ khác, khát khao được yêu thương, khát khao được bảo vệ, chở che nhưng số phận không chiều chị Nhiều lúc mệt mỏi, chị thấy mình giống như “con bò già” sinh ra để kéo cày, trả nợ cho số phận Tuy nhiên mệt mỏi, chán chường không làm chị gục ngã, bởi với chị, người đàn ông, người chồng là trụ cột trong gia đình Cho dù anh có ốm đau đi chăng nữa thì anh vẫn là cây trụ về tinh thần cho chị và các con dựa vào Chẳng thế cho nên chị đã viết về người đàn ông trong nhà:

Trang 36

Đàn ông, hẳn phụ nữ nào cũng muốn

Vì đàn ông mạnh mẽ làm sao

Có đàn ông trong nhà, yên tâm như cây non mọc cao Được đàn ông yêu, là củi khô cũng đam chồi nảy lộc

Chị vui vì những đêm anh ngon giấc, không khó nhọc trong cơn đau với

những viên thuốc ngủ, các con mơ giấc mơ đẹp với nụ cười trong giấc ngủ “đêm nay anh ngon giấc hơn/ cầu cho những giấc mơ dịu dàng đưa anh về nơi xa/

Cầu cho những giấc mơ vạm vỡ đưa anh về xưa” (Trong ngôi nhà nhỏ của tôi)

Chính bởi vì tình yêu lớn lao với chồng nên khi anh buông tay chị để ra

đi về cõi vĩnh hằng, chị đã có biết bao đau đớn, dằn vặt Bản thân chị cũng là người giác ngộ Phật giáo, chị biết “sinh kí tử quy” nhưng rồi nỗi đau ấy vẫn không thể nào nguôi ngoai Chị vẫn hằng tưởng bóng đáng anh đâu đây, vẫn dõi theo nhìn cuộc sống của mẹ con chị:

Có thể ở nơi khó hương bay lên Đêm đêm anh về

Sau cánh cửa kia Lắng nghe các con ríu ran Nhìn theo những ngón tay em gõ trên bàn phím Đợi em tắt đèn

Im lặng Sáng lại đi

Mặc dù đã làm hết sức mình để chăm lo khi anh còn sống nhưng trong thâm tâm mình, nhà thơ vẫn còn nhiều điều nuối tiếc Chị ước ao giá như có thể đổi cho anh một nửa thời gian của mình để anh ở lại cùng chị và các con thì chị cũng sẵn sàng đánh đổi:

Nếu có thể gửi những ngày dương gian của mình Nối thêm kiếp sau của anh dài hơn

Xin anh nhận cho em một nửa

Trang 37

Còn nửa này

Em chăm cho các con dài rộng thêm chút nữa Thế cũng là nhiều

(Có thể ở nơi ngọn khói hương bay lên)

Vắng anh nên chị hay mơ về anh, nhiều lúc chi tự hỏi hay tại chị nên anh

giận dỗi, nên anh rời xa mẹ con chị Những đêm không ngủ, chị tự hỏi “có phải những gánh nặng cuộc đời em đã làm anh mệt mỏi?/ có phải cuộc đua giữa sự bướng bỉnh của em với sự khắc kỉ của anh đã không còn nước vãn hồi?/ có

phải cửa địa đàng đóng lối này để mở về lối khác?” (Nghĩ lúc 23 giờ 15) Và

rồi theo thói quen khi anh chưa đi xa, khi quờ tay sang bên cạnh, không thấy anh nằm ở bên, không còn hơi ấm của anh

Trong bóng tối kinh hãi của im lặng

Em quờ tay không chạm anh Bàn chân run rẩy chạm vào hành trình ngược về ngày cũ Ngày mà những giấc mơ của chúng mình cuộn chặt vào nhau Dựng ngời ngời một ngôi nhà ấm

Phòng ngủ treo đầy các con

(Nghĩ lúc 23 giờ 15)

Vượt qua nỗi đau của sự mất mát chia lìa, chị mạnh mẽ chèo chống con thuyền gia đình, mà lúc này, tình yêu thương chồng chuyển sang thành tình yêu thương con Nỗi đau được cất dấu ẩn sâu trong lòng, thời gian dần nguôi ngoai Tình yêu thương của các con, của bạn bè đã trả lại cho chúng ta một Nguyễn Thúy Quỳnh yêu đời, yêu thơ

Khi vượt qua được nỗi đau, chúng ta lại thấy trong thơ chị lấp lánh tình yêu với con người Với người đến sau, chị cũng dành sự yêu thương trọn vẹn Mặc dù còn thiếu thốn bộn bề trong cuộc sống nhưng chúng ta vẫn gặp ánh mắt

và nụ cười ấm áp của chị:

Trang 38

Nhà mình chỗ nào cũng chật Mùa đông giá rét đỡ lo Nhà mình thứ gì cũng nhỏ Chỉ những tiếng cười là to

…………

Nhà mình cái gì cũng khuyết Chỉ niềm hy vọng tròn đầy

Mẹ cha dù là khuất núi Con không bao giờ trắng tay

(Thơ về nhà mình)

Rồi những mỏi mệt trong cuộc sống, những vất vả trong công việc thì cũng tạm rời xa khi chị về đến nhà, về đến tổ ấm bé nhỏ của mình, với tiếng của con trẻ và sự quan tâm chăm sóc của người chồng:

“Chợt nhận ra mình đã về đến nhà,

Nghe bi bô con đánh vần tiếng mẹ

Anh lo lắng “Sao em về muộn thế?”

Chuông đồng hồ thong thả báo bình yên”

(Thơ trên đường về nhà)

Trái tim người phụ nữ lại đập lên những nhịp đập của tình yêu, của những bồi hồi xao xuyến Phải nói rằng tình yêu thật kì diệu, không có giới hạn của tuổi tác Nó làm cho người ta trở nên yêu đời hơn, làm cho người già trở nên trẻ lại, làm cho người ta mong ngóng, đợi chờ

Người đàn ông đi qua con đường của tôi Mái tóc mềm trẻ thơ

Bờ vai biết chắn giông che gió

Trang 39

Rồi cũng có những lúc trái tim đi lơ đãng, xao lòng bởi một ánh mắt, một nụ cười hay đôi khi chỉ là sự nhớ nhung vơ vẩn

“Em chờ đợi mà không kịp về

Cô đơn em, ta nợ một đời Dáng kiêu hãnh sáng cùng trời đất Hương nồng nàn riêng chỉ ta thôi”

(Hoa hồng)

Hay

Ta vùi thương nhớ bên bờ cát Chiều hóa thành ta, đã ngẩn ngơ Thuyền neo bến lặng xa mùa bão

Ta neo vào đâu, mùa - tương - tư

(Chiều Đồ Sơn)

Người đàn bà dịu dàng, trầm mặc Nguyễn Thúy Quỳnh cũng đầy mãnh liệt trong tình yêu Chị khát khao yêu thương, khi nghe câu hát của Trịnh Công

Sơn thì chị nghĩ đến mình, thấy sao mà Trịnh lại hiểu mình đến như vậy: “Từ

ấy, tôi mang theo bên mình giấc mơ viên sỏi nhỏ/ ngày qua ngày, đêm thay đêm, ủ nó bằng hơi thở/ rồi sống, rồi yêu, chờ một ngày mặt trời không đến nữa/ Để nghe lời sỏi hát/ rằng, làm sao mà Trịnh biết, bia đá cũng đau…”

(Nhớ Trịnh)

Trong tình yêu, chị cũng có những giận hờn, ghen tuông cũng có những day dứt, trăn trở khi mình là người đến sau trên sân ga vắng người:

Này thương nhớ mỗi ngày anh xa vắng

Này nồng nàn yêu dấu hằng đêm

Này hờn giận, ghen tuông … chia hai nửa

Em và không- phải - em

Để rồi hạnh phúc đôi khi chị nghĩ cũng thật mong manh, khó hiểu: Hạnh phúc như con tàu, em thành kẻ đến sau

Trang 40

Phận trốn vé, làm sao về ga cuối

Toa hạng nhất bên người, anh lặng thầm sám hối

Với cả em và không - phải - em

(Thơ viết trên tàu)

Một lần tuột mất hạnh phúc nên phải ngay cả trong lúc hạnh phúc, “có

anh”, nhà thơ vẫn luôn lo sợ hạnh phúc sẽ bay đi mất, sẽ biến đi “em lo sợ một ngày chẳng biết ai có lỗi/ khi hạnh phúc ngả nghiêng dưới mái ấm nhà mình”

(Viết cho người say)

Nhưng dù có lo lắng cũng chẳng thay đổi được số phận nên chị mỉm cười chấp nhận Sống ngày hôm nay để yêu thương và để cống hiến hết mình Thế nên tác giả đã ngộ ra rằng

Thôi đừng ước những gì xa xỉ Chỉ mong mỗi ngày thức dậy Còn nhìn thấy mặt trời

Còn nhìn thấy mọi người Còn hơi ấm người ta yêu nhất Vẫn được vẹn nguyen giữa bao nhiêu bất trắc Thế đã là hạnh phúc

Ước gì hơn?

(Nghĩ cùng năm mới)

Tình yêu trong thơ chị không ồn ào, mãnh liệt, mà lặng lẽ, lắng sâu Có chăng thỉnh thoảng ta mới bắt gặp được đôi dòng “nổi loạn” trong tình yêu ở thơ chị Và chúng ta nhớ đến Thúy Quỳnh với anh mắt buồn, sự suy ngẫm về cuộc đời, thế sự và kiếp nhân sinh cùng với tình yêu dành cho chồng con, cho gia đình Chị đã tự phác họa lại chân dung thơ của mình qua lời “Tự bạch”:

Có một chút em mang niềm Mầu Thị Thả phận - duyên - tình theo tiếng mõ khua Lửa tình yêu đốt nhầm nơi cửa Phật

Để luận hồi lăn theo trái tào chua

Ngày đăng: 03/04/2020, 18:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1995), Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam từ 1945 đến nay, Luận án Phó tiến sĩ KH Ngữ văn, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam từ 1945 đến nay
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
2. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945 - 1975, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945 - 1975
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 Thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
4. Lại Nguyên Ân (1998), Văn học và phê binh, Nhà xuất bản TP mới, Hội Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê binh
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1998
5. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Năm: 1996
6. Hoàng Điệp (2008), “Hữu Thỉnh với thể loại trường ca”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh với thể loại trường ca”
Tác giả: Hoàng Điệp
Năm: 2008
7. Hoàng Điệp (2010), “Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh”, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh”
Tác giả: Hoàng Điệp
Năm: 2010
8. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
9. Nguyễn Đăng Điệp (2003), “Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ”, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ”
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2003
10. Hà Minh Đức (chủ biên) (2003), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
11. Hà Minh Đức (1977), Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thơ ca, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thơ ca
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1977
12. Hà Minh Đức (1984), Thơ ca chống Mỹ cứu nước, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
13. Hà Minh Đức (1997), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
14. Hà Minh Đức (2004), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
15. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2009
16. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1995), Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Năm: 1995
17. Cao Thị Hồng (2010), “Nỗi đau trần thế”, Báo Văn nghệ, số 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi đau trần thế”, "Báo Văn nghệ
Tác giả: Cao Thị Hồng
Năm: 2010
18. Mã Giang Lân (2001), Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2001
19. Mã Giang Lân (2004), Thơ hình thành và tiếp nhận, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ hình thành và tiếp nhận
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2004
60. Tạ Văn Sỹ (2014), Lưu Thị Bạch Liễu-Nữ sĩ thơ tình, Nguồn: http://luutoc.vn/vi/?go=detail/19/9/2014/LBiHg/News/luu-thi-bach-lieu-_-nu-si-tho-tinh.dhtml (19/9/2014) Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w