ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC VŨ THỊ THANH HUYỀN DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG “MÙI CỦA KÍ ỨC” VÀ “TRONG NGÔI NHÀ CỦA MẸ” CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
VŨ THỊ THANH HUYỀN
DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG “MÙI CỦA KÍ ỨC”
VÀ “TRONG NGÔI NHÀ CỦA MẸ”
CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
VŨ THỊ THANH HUYỀN
DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG “MÙI CỦA KÍ ỨC”
VÀ “TRONG NGÔI NHÀ CỦA MẸ”
CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:TS NGUYỄN THỊ THANH NGÂN
Thái Nguyên – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thanh Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm
ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo
đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn Ts Nguyễn Thị Thanh Ngân đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thanh Huyền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 10
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 11
5 Phạm vi nghiên cứu 12
6 Đóng góp của luận văn 12
7 Cấu trúc của luận văn 12
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 14
1.1 Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hoá 14
1.1.1 Các khái niệm 14
1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa- văn học 18
1.1.3 Nghiên cứu văn học hiện đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa 21
1.2 Vùng văn hóa Bắc Bộ và quá trình sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Thiều 22
1.2.1 Vùng văn hóa Bắc Bộ 22
1.2.2 Quá trình sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Thiều 25
Tiểu kết chương 1 28
Chương 2: DẤU ẤN VĂN HÓA VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRONG “MÙI CỦA KÍ ỨC” VÀ “TRONG NGÔI NHÀ CỦA MẸ” CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU 29
2.1 Dấu ấn văn hóa vật thể 29
2.1.1 Kiến trúc nhà ở 29
Trang 62.1.2 Trang phục 34
2.1.3 Ẩm thực 36
2.2 Dấu ấn văn hóa phi vật thể 41
2.2.1 Phong tục, tập quán 42
2.2.2 Văn hóa ứng xử 56
2.2.3 Văn hóa tâm linh 66
Tiểu kết chương 2 72
Chương 3:NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG “MÙI CỦA KÍ ỨC” VÀ “TRONG NGÔI NHÀ CỦA MẸ” CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU 74
3.1 Không gian, thời gian nghệ thuật 74
3.1.1 Không gian nghệ thuật 74
3.1.2 Thời gian nghệ thuật 82
3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật 86
3.2.1 Ngôn ngữ giản dị đời thường 87
3.2.2 Ngôn ngữ biểu cảm, giàu tính tạo hình 88
3.3 Giọng điệu nghệ thuật 90
3.3.1 Giọng điệu trữ tình- hoài niệm 91
3.3.2 Giọng điệu triết lý 96
Tiểu kết chương 3 98
KẾT LUẬN……… 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa là hướng nghiên cứu, tiếp cận ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt trong thời đại hội nhập quốc tế như hiện nay Bởi lẽ văn học là một phận quan trọng của nền văn hóa đậm đà bản sắc mà mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia đều nỗ lực gìn giữ, phát huy với mong muốn được khẳng định trên bản đồ văn hóa của toàn thế giới Nghiên cứu văn học từ góc nhìn này giúp ích cho việc khai thác sâu giá trị nội tại của tác phẩm, khiến độc giả có cái nhìn bao quát, sâu sắc toàn diện đời sống văn hóa của cả một cộng đồng dân tộc Hơn nữa, hướng tiếp cận này cũng mang ý nghĩa giáo dục lớn lao, giúp người đọc trân quý hơn những giá trị truyền thống, từ đó góp phần bồi dưỡng lòng yêu nước
1.2 Nguyễn Quang Thiều là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học đương đại Việt Nam với những đóng góp không nhỏ trong sáng tạo nghệ thuật, thể hiện ở nhiều thể loại như thơ, tiểu thuyết, trường ca, truyện
ngắn, tản văn, tiểu luận…Trong văn xuôi, tác giả “Mùa hoa cải bên sông”
luôn để lại dấu ấn đậm nét về quê hương với những trầm tích văn hóa đặc trưng đã lắng đọng bao đời Đặc biệt, những tác phẩm mới ra mắt độc giả trong những năm gần đây được coi là những mảnh ghép ấn tượng, tạo nên bức tranh văn hóa của một vùng đồng bằng châu thổ
1.3 Ra đời trong những năm gần đây, “Mùi của ký ức” và “Trong ngôi
nhà của mẹ” được độc giả đón nhận nồng nhiệt “Mùi của kí ức” như một nén
hương được nhà văn thắp lên để tưởng nhớ ông bà, cha mẹ và những người làng Chùa đã khuất Nhà văn đưa người đọc du hành bằng tâm tưởng đi qua miền nhớ, miền thương để thưởng thức những món đặc sản của làng Chùa
quê hương tác giả “Trong ngôi nhà của mẹ” là dòng hồi ức chân thành cảm
Trang 8động về gia đình một người bạn trong nhóm nhân sĩ Hà Đông được tác giả ghi lại bằng cả trái tim Cả hai tác phẩm đều để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn độc giả bởi những rung cảm thiêng liêng về tình cảm gia đình và dấu ấn văn hóa của vùng đồng bằng châu thổ dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Quang Thiều Cho đến thời điểm hiện tại, đã có rất nhiều công trình lấy sáng tác của nhà văn, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều làm đối tượng nghiên cứu.Tuy nhiên, chưa có công trình nào xem xét văn xuôi của ông từ góc nhìn văn hóa một
cách toàn diện, sâu sắc Do vậy, chúng tôi cho rằng đề tài Dấu ấn văn hóa
trong “Mùi của ký ức” và “Trong ngôi nhà của mẹ” nằm trong số những
đề tài cấp thiết hiện nay
Chọn Dấu ấn văn hóa trong “Mùi của ký ức” và “Trong ngôi nhà của
mẹ” làm đề tài nghiên cứu chúng tôi mong muốn sẽ đem đến cách nhìn mới
giúp người đọc nhận ra những giá trị văn hóa- vẻ đẹp tiềm ẩn trong những trang viết tài hoa của Nguyễn Quang Thiều Đồng thời chúng tôi cũng muốn góp một phần nhỏ bé vào việc bồi đắp tình yêu trong tâm hồn mỗi người con đất Việt đối với văn hóa dân tộc qua những thông điệp giản dị, sâu lắng mà nhà văn muốn gửi đến bạn đọc
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
Vào những năm đầu thế kỉ XX, đã có nhiều nhà khoa học quan tâm tới mối quan hệ giữa văn hóa và văn học như Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh… Càng ngày, vấn đề này càng trở thành đề tài bàn luận sôi nổi của các học giả
Giáo sư Trần Đình Sử trong bài viết Vai trò của văn học trong sáng tạo
văn hoá khẳng định “Văn học là bộ phận quan trọng của văn hoá, sự giàu có của nó về nội dung và hình thức trực tiếp làm giàu cho văn hoá” [20, tr.3]
Trang 9Tác giả Trần Nho Thìn trong bài Xác lập phương pháp tiếp cận văn hóa cho
việc nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam trung cận đại [27] trên cơ sở
phân tích “Truyện Kiều” bàn luận về sự chi phối của văn hóa tới phong cách quan niệm về con người của đại thi hào Nguyễn Du Quan hệ văn hóa và văn
học từ cái nhìn hệ thống và Tiếp cận văn học từ hệ thống văn hóa là hai bài
viết của tác giả Đỗ Lai Thúy thể hiện những đánh giá thấu đáo sâu sắc về mối quan hệ tương hỗ giữa văn hóa và văn học và đề xuất cách tiếp cận mới phê
bình văn học từ góc nhìn văn hóa Bài viết Quan hệ giữa văn chương và văn
hóa Việt Nam của tác giả Phan Ngọc khẳng định “cái tư tưởng gần như bất biến làm nền tảng cho nền văn hoá ấy Tư tưởng ấy theo tôi là tinh thần yêu nước, đoàn kết của những đứa con trong cùng một gia đình, tuy thân phận có thể khác nhau, người sang kẻ hèn, người giàu kẻ nghèo, nhưng đều phải đoàn kết nhau, chia ngọt sẻ bùi để cùng sống cho độc lập dân tộc”[52] Theo tác
giả nền tảng của văn hóa chính là tinh thần yêu nước Đó chính là chiều sâu làm nên những giá trị vĩnh hằng của văn hóa trong dòng chảy lịch sử dân tộc Nhiều công trình mạnh dạn áp dụng phương pháp tiếp cận văn học từ
góc nhìn văn hóa đã có sự thành công đáng ghi nhận Công trình Văn học
trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (Trần Nho Thìn, NXBGD, 2003)
gồm ba phần: Phần một- Một số vấn đề lí luận của văn học trung đại Việt Nam nhìn từ góc độ văn hóa; Phần hai- Tiếp cận văn hóa với một số tác giả tác phẩm văn học trung đại; Phần ba- Văn học đầu thế kỉ XX nhìn từ văn
hóa trung đại [26] Các công trình Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa (
Lê Nguyên Cẩn) [2], Truyện ngắn Nam Cao từ góc nhìn văn hóa nông thôn (Cao Thị Thu Hằng), Truyện ngắn Kim Lân từ góc nhìn văn hóa ( Tăng Thị Xuân), Tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn từ góc nhìn văn hóa (Cao Thành Dũng), Truyện ngắn Trần Thùy Mai từ góc nhìn văn hóa ( Phạm Thị Thu Hương), Vấn đề ẩm thực dưới góc nhìn văn hóa trong sáng tác của
Trang 10Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng ( Đặng Thị Huy Phương), Văn xuôi Thạch Lam dưới góc nhìn văn hóa ( Nguyễn Thị Xuân Quỳnh)…cung cấp
những khía cạnh khác nhau thông qua việc khai thác tác phẩm của những tác giả cụ thể Các công trình này đều tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa đem đến một cái nhìn toàn diện cách đánh giá khoa học chân xác hơn đối với với những giá trị văn học truyền thống, mở ra một hướng nghiên cứu mới vừa phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới vừa giữ gìn được bản sắc truyền thống văn hóa
2.2 Những công trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Quang Thiều
Là gương mặt nổi bật trong nền văn học đương đại dân tộc, Nguyễn Quang Thiều được mệnh danh là cây bút đa năng và sung sức ghi dấu ấn với nhiều thể loại (thơ, văn xuôi, tiểu luận, ký, dịch thuật…) Tác phẩm của ông nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu Ông đã giành được nhiều giải thưởng danh giá như giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993
cho tập thơ Sự mất ngủ của lửa, giải thưởng Final danh giá của Mỹ cho tập thơ Những người đàn bà gánh nước sông (The Women Carry River Water)
của The National Literary Translators Association năm 1998, giải thưởng văn học quốc tế Changwon KC International Literary Prize - một giải văn học danh giá của Hàn Quốc nhằm tôn vinh những nhà văn, nhà thơ của Hàn Quốc
và người nước ngoài đã có những đóng góp cho văn học thế giới năm 2018 Một loạt bài viết, nhận định thể hiện những đánh giá đa chiều về gương
mặt thơ Nguyễn Quang Thiều: Bài viết Về tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều
[45] trên Tạp chí sông Hương tác giả Đông La đề cao sự tìm tòi, sáng tạo, vẻ đẹp tư duy thơ của thi sĩ làng Chùa, nhà phê bình Mai Văn Phấn trong bài
Hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều và lộ trình cách tân đã khẳng định giá
trị của thơ ca Nguyễn Quang Thiều “Bóng dáng thời đại và cách tân thi pháp
là hai vấn đề lớn và quan trọng trong suốt hành trình sáng tạo của Nguyễn
Trang 11Quang Thiều (…) Thơ ông, dù viết về đời thường dung dị vẫn ẩn chứa tài năng, tài hoa và sự tinh tế của một cây bút giàu nội lực” [53] Tác phẩm
Nguyễn Quang Thiều cũng khơi nguồn cảm hứng cho nhiều đề tài nghiên cứu
trong các trường đại học có chuyên ngành khoa học xã hội Luận văn Nguyễn
Quang Thiều trong tiến trình đổi mới thơ Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Thị
Hiền đã hướng tới những cách tân của thơ Nguyễn Quang Thiều trong tiến
trình thơ ca Việt Nam đương đại Luận văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn
Quang Thiều của Lý Thị Nhiên [16] khai thác vẻ đẹp cái tôi trữ tình và các
đặc sắc nghệ thuật thể hiện điều này trong thơ ông
Không chỉ trong lãnh địa của thơ, trên lĩnh vực truyện ngắn, những trang viết của Nguyễn Quang Thiều cũng thu hút sự chú ý của nhiều nhà phê bình
Tác giả Hoài Khánh trong bài Ra mắt tuyển thơ Nguyễn Quang Thiều in trong
Tác phẩm và dư luận ngày 26/1/2011 đã khẳng định:“Nguyễn Quang Thiều không chỉ là nhà thơ tiên phong với trào lưu hiện đại mà còn là cây bút văn xuôi giàu cảm xúc” PGS.TS Đinh Trí Dũng trong bài Mạch trữ tình trong truyện ngắn thế hệ nhà văn sau 1975, đã hướng tới ngòi bút Nguyễn Quang
Thiều và khẳng định đây là cây bút văn xuôi trữ tình tiêu biểu “Những cây
bút tiêu biểu đưa chất thơ vào truyện ngắn là Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, Nguyên Hương, Quế Hương, Đỗ Bích Thúy Chất thơ thấm đẫm trong các truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều ngay từ tiêu đề: Chiều hoa tầm xuân, Giấc mơ hoa cỏ trắng, Lời hứa của thời gian, Người nhìn thấy trăng thật, Khúc hát của dòng sông… Truyện ngắn của anh, dù viết
về làng quê, tình yêu hay số phận những người phụ nữ, đều hòa trộn tài tình cái ảo vào cái thực, thể hiện sâu đậm chất cổ tích giữa đời thường Dõi theo dòng chảy bất tận của cuộc đời, truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều luôn phản ánh những mâu thuẫn, nghịch lý của đời sống, nhưng luôn tràn đầy hy vọng
và niềm tin vào những điều tốt đẹp” [38] Nhận định trên đã thể hiện đánh giá
Trang 12rất sâu sắc về chất thơ điều làm nên chiều sâu, sự ngân vang và sức truyền
cảm của những trang văn trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Trong bài Những thành tựu truyện ngắn sau năm 1975 nhà nghiên cứu
Nguyễn Bích Thu cũng khẳng định vị trí của nhà văn trong dòng chảy văn
học hiện đại “Nguyễn Quang Thiều với nhiều nhà văn khác Tạ Duy Anh, Y
Ban, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Thị Thu Huệ… đã tạo nên một diện mạo mới cho văn học Việt Nam thời kì đổi mới” [29]
Tác giả Thiên Sơn trong bài Hộp đen- Nguyễn Quang Thiều in trên báo
văn nghệ số 17+18 ( năm 2012) có những lời đánh giá ý nghĩa về đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều đó là chất thơ, vẻ đẹp nhân văn
cùng những triết lí nhẹ nhàng sâu sắc: “Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
hấp dẫn bởi chất thơ, bởi những chi tiết độc đáo và màu sắc kì ảo, chiều sâu nhân văn và triết lí” [57]
Văn xuôi Nguyễn Quang Thiều đã được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu
trong các trường đại học có chuyên ngành khoa học xã hội: Luận văn Truyện
ngắn Nguyễn Quang Thiều nhìn từ góc độ thể loại của Tăng Thị Hoàn [11]
khảo sát toàn bộ những đặc điểm bút pháp nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn
Quang Thiều Luận văn Chất thơ trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều [
31] tìm hiểu về chất thơ- một vẻ đẹp làm nên sự quyến rũ của văn xuôi
Nguyễn Quang Thiều Luận văn Truyện ngắn, tản văn Nguyễn Quang Thiều
từ góc nhìn phê bình sinh thái, Nguyễn Thị Thu Hằng [9] Luận văn Sự giao thoa giữa thơ và văn xuôi trong truyện ngắn và tản văn Nguyễn Quang Thiều
[7] nghiên cứu về sự giao thoa giữa các thể loại văn học, điểm nhấn là vẻ đẹp chất thơ trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều Các công trình trên đều được khơi nguồn cảm hứng từ truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều đem đến cái nhìn toàn diện, sâu sắc về tác phẩm của ông trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại và tạo cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu luận văn này
Trang 13Đặc biệt, các tác phẩm văn xuôi Nguyễn Quang Thiều khi được dịch và xuất bản ở nước ngoài đã thu hút sự chú ý của độc giả và nhận được những
lời đánh giá sâu sắc từ báo chí Pháp: “Những truyện ngắn bình dị nhưng đẹp
và xót xa Mỗi trang viết ngừng lại trước một hình ảnh, hiện ra giữa vùng sáng một Việt Nam của hôm nay, một mảng ghép hài hòa một cách lạ lùng giữa truyền thống và hiện đại ( Alexia Lorca- Lire) [43] hay “ Với phong cách viết nhẹ nhàng, trong sáng chảy xuyên yên ả như sông Đáy chở ta đi giữa dòng yêu thương, tươi mát và tràn đầy xúc cảm, tác giả tìm kiếm một nơi
ẩn ngụ thanh bình…” ( Denis Billaboz), Asie Magazine lại cảm nhận trong
thế giới nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều “ Một mảng hiện thực dịu ngọt
chan chát của Việt Nam” [43] Qua đây, chúng ta có thể thấy văn xuôi
Nguyễn Quang Thiều không chỉ khơi nguồn cảm hứng cho những độc giả trong nước mà còn để lại ấn tượng sâu sắc với nhiều độc giả nước ngoài bởi
những dấu ấn văn hóa ẩn trong trang viết của ông
Như vậy trong hành trình sáng tác của mình, Nguyễn Quang Thiều đã
để lại dấu ấn tài năng, sự sáng tạo và khơi nguồn cảm hứng cho nhiều cây bút của các học giả, học viên, bạn đọc Tuy nhiên nghiên cứu tác phẩm của ông từ
góc nhìn văn hóa đặc biệt là hai tác phẩm “Mùi của kí ức” và “Trong ngôi
nhà của mẹ” thì chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu hệ thống, công
phu Vì lẽ đó, trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả mà nhiều người đi trước đã đạt được, chúng tôi mở rộng, khơi sâu và làm rõ những giá trị văn
hóa trong “Mùi của kí ức” và “Trong ngôi nhà của mẹ” của Nguyễn Quang
Thiều Nếu tiếp cận hai tác phẩm trên từ góc nhìn văn hóa, chúng tôi hi vọng
sẽ giúp người đọc có dịp khai thác sâu giá trị nội tại của tác phẩm, góp thêm tiếng nói khẳng định vị trí xứng đáng của Nguyễn Quang Thiều trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại
2.2 Những bài phê bình về Mùi của kí ức và Trong ngôi nhà của mẹ
2.2.1 Mùi của kí ức
Trang 14Mùi của kí ức đã khơi nguồn cảm hứng cho bài viết của tác giả Nguyễn
Thành Linh trong bài Những khắc khoải về làng quê trong “Mùi của kí ức”
[49].Với Nguyễn Thành Linh “Tập tản văn “Mùi của ký ức” của nhà thơ
Nguyễn Quang Thiều như một áng khói lam chiều bình yên nơi góc bếp, mà ai đọc cũng sẽ thấy nỗi buồn đọng nơi đáy mắt khi tiếc thương cho một thủa làng quê với bao bữa ăn quê nhà chỉ còn là một thời quá vãng” Bài viết đã
khơi dậy những nét đẹp văn hóa bình dị của một làng quê Bắc Bộ và tình yêu
quê hương thầm kín điều làm nên sự ngân vang kì diệu của Mùi của ký ức
trong tâm hồn độc giả
Tác giả Quỳnh Vân trong bài viết Mùi của những sợi khói lam chiều đã
khẳng định “Chẳng phải điều gì lạ lẫm đâu mà đó là sự thật, rằng bên trong
những ngôi làng cổ luôn ẩn chứa rất nhiều bí mật, những bí quyết đời này rỉ tai đời sau, các thế hệ cứ nối tiếp nhau mà trân trọng gìn giữ, trong đó cả công thức nấu những món ăn, mà chỉ cần bước qua cổng làng thôi, là vĩnh viễn chẳng bao giờ gặp lại ở trên đời này Làng Chùa cũng không phải là ngoại lệ ”[62] “Mùi của ký ức” gợi cho người đọc nhiều liên tưởng, đôi khi
là cả sự ám ảnh Từ cảm xúc về những món ăn dân dã mang đậm hồn quê, tác giả bày tỏ suy ngẫm sâu sắc của mình về những món ăn thời hiện đại, những
triết lí sâu sắc từ nghệ thuật ẩm thực“ Sự vô cảm sẽ giết chết tất cả những cái
gì thuộc về vẻ đẹp Bởi lẽ, để tìm lại ký ức và để cho ký ức đó sống lại thì con đường duy nhất chỉ có thể là… cảm xúc” [62]
Hoàng Thu Phố trong bài viết Trở về cùng “Mùi của ký ức” đã viết
những lời văn giàu cảm xúc “Món ăn trong kí ức, hẳn là món ngon nhớ lâu
nhất trong đời người, dù bây giờ cuộc sống cho chúng ta những trải nghiệm
ẩm thực phong phú hơn Vì thế đọc Mùi của ký ức là một hành trình trở về:
Về quê Về làng Về với mẹ với cha Về với bản thể chính mình…”[54] Theo
tác giả, Mùi của ký ức mở ra cuộc hành trình của tâm tưởng để con người trở
về quê hương cội nguồn qua văn hóa ẩm thực
Trang 15“Mùi của ký ức” là niềm thương nhớ, niềm tự hào của người con làng
Chùa về hương vị của những món ăn xưa cũ mang đậm dấu ấn một vùng đồng bằng châu thổ Cuộc hành trình của nhà văn về miền kí ức đã thu hút sự chú ý của nhiều độc giả, nhà phê bình với những lời văn giàu cảm xúc Sự hòa quyện giữa ẩm thực và tình quê làm nên sự sâu lắng của tản văn trong lòng người đọc Những bài viết trên cũng đem đến những cảm nhận sâu sắc về giá trị của tác phẩm dưới góc nhìn văn hóa tạo tiền đề cho việc nghiên cứu luận văn này
2.2.2 Trong ngôi nhà của mẹ
Tác giả Nguyễn Thành Linh người tự nhận mình bén duyên với văn
Nguyễn Quang Thiều từ cuốn “Mùi của ký ức” một lần nữa lại bị chinh phục
bởi nhà văn làng Chùa khi đến với “Trong ngôi nhà của mẹ” Trong bài Đọc
văn Nguyễn Quang Thiều ông viết “Trong ngôi nhà của mẹ là một trong
những tác phẩm hết sức cảm động của Nguyễn Quang Thiều Từ những câu chuyện được anh bạn thân kể lại, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã chắp bút viết nên câu chuyện về người mẹ sống âm thầm ở một ngôi nhà nhỏ ở một làng quê ít người biết đến Một câu chuyện vô cùng hấp dẫn mà cũng sống động lạ thường tái hiện hình ảnh một làng quê Bắc Bộ trong những năm tháng nghèo đói…” [48] Cuốn sách đã khiến tác giả nhiều lần rơi nước mắt
vì sự hi sinh tần tảo của người mẹ quê Và theo tác giả câu chuyện lay động tâm thức mỗi người con đất Việt bởi những nét đẹp văn hóa từ con người đến không gian quê hương, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của một gia đình một làng quê Bắc Bộ
Tác giả Nguyễn Quang Hưng trong bài viết “Trong ngôi nhà của mẹ
của Trịnh Văn Sĩ và Nguyễn Quang Thiều” đã thể hiện những cảm xúc sâu
lắng của mình về vẻ đẹp của tác phẩm “Trong ngôi nhà của mẹ là chuyện
đời một người phụ nữ, một người mẹ khổ đau nhiều hơn sướng vui cứ thế mở
ra nhiều câu chuyện khác ở làng quê Đa Sỹ còn lưu giữ nhiều nếp sinh hoạt
Trang 16cổ truyền, những tập quán được bảo lưu hàng trăm năm, hàng loạt điều kiêng
kỵ và những câu chuyện kỳ dị được truyền miệng qua nhiều thế hệ người làng (…) Và cuốn sách trở nên một ghi chép văn hóa, qua một gia đình để thấy nhiều hoàn cảnh khác, qua một hai không gian làng, để ngẫm tới nhiều không gian, vùng đất lớn hơn”[44]
“Trong ngôi nhà của mẹ- Câu chuyện cảm động về tình mẫu tử” của
tác giả Mai An thể hiện cảm nhận sâu sắc của tác giả về giá trị văn hóa –chiều
sâu của tác phẩm “Với Trong ngôi nhà của mẹ, tác giả đã tái hiện cả một
vùng văn hóa, qua đó tái hiện ra rất nhiều câu chuyện liên quan đến phong tục, tập quán, lối sống rất đáng đọc Đồng thời, nó cũng phản ánh những lề thói của một vùng quê, rất có ích để thông qua cuốn sách có thể nhìn thấy đời sống văn hóa của dân tộc Việt Đến với cuốn sách người đọc không chỉ mong muốn được quay trở về với những ký ức tuyệt vời về mẹ mà còn khiến cho mỗi người đều mong muốn được sống tốt hơn nữa với người thân yêu ”[36]
Mỗi bài viết trên cũng đem đến những cảm nhận sâu sắc về giá trị của tác phẩm dưới góc nhìn văn hóa Đây chính là tiền đề quan trọng giúp người
đọc trong quá trình nghiên cứu luận văn Dấu ấn văn hóa trong “Mùi của kí
ức” và “Trong ngôi nhà của mẹ” của Nguyễn Quang Thiều Tuy nhiên các
bài viết mới chỉ dừng lại ở một phương diện nào đó của tác phẩm Đến nay
vẫn chưa có những công trình nghiên cứu “Mùi của kí ức” và “Trong ngôi
nhà của mẹ” một cách hệ thống đặc biệt là tiếp cận tác phẩm dưới góc nhìn
văn hóa Trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều đây vẫn là miền đất mới khơi nguồn cảm hứng sáng tạo cho độc giả Đến với đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ cố gắng đưa ra những cách nhìn mới để giúp người đọc khám
phá vẻ đẹp tiềm ẩn trong tác phẩm Nguyễn Quang Thiều
3 Đối tƣợng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 17Luận văn tập trung vào việc tìm hiểu những dấu ấn văn hóa được thể
hiện trong tác phẩm “Mùi của kí ức” và “Trong ngôi nhà của mẹ” của
Nguyễn Quang Thiều
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn đặt mục tiêu chỉ ra những giá trị văn hóa được thể hiện trong
tác phẩm “Mùi của kí ức” và “Trong ngôi nhà của mẹ” của Nguyễn Quang
Thiều, từ đó góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật và đóng góp của Nguyễn Quang Thiều đối với nền văn học Việt Nam hiện đại Thông qua đó, luận văn ít nhiều đóng góp cho lý luận về văn học dưới góc nhìn văn hóa
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài: “Mùi của kí ức” và “Trong ngôi nhà của mẹ” của
Nguyễn Quang Thiều chúng tôi xác định những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
- Nêu bật ảnh hưởng của vùng văn hóa Bắc Bộ đến sáng tác Nguyễn Quang Thiều
- Làm rõ những giá trị văn hóa trong “Mùi của kí ức” và “Trong ngôi
nhà của mẹ” trên các phương diện tư tưởng, nội dung, nghệ thuật
- Khẳng định sáng tạo nghệ thuật của nhà văn
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê: Khảo sát, thống kê các ngữ liệu mang
dấu ấn văn hóa vật thể và phi vật thể trong hai tác phẩm “Mùi của kí ức” và
“Trong ngôi nhà của mẹ”
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích những biểu hiện cụ thể của giá trị văn hóa, những biểu hiện nghệ thuật từ đó tổng hợp, khái quát nâng
Trang 18lên thành giá trị văn hóa tiêu biểu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh những giá trị văn hóa được
phản ánh trong “Mùi của kí ức” và “Trong ngôi nhà của mẹ” với những tác
phẩm khác của Nguyễn Quang Thiều và của một số nhà văn khác
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: tìm hiểu hoàn cảnh văn hóa - lịch
sử ảnh hưởng đến nhà văn và tác phẩm
5 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khai thác các dấu ấn văn hóa văn hóa vật thể và phi vật thể
trong “Mùi của kí ức” và “Trong ngôi nhà của mẹ” của nhà văn Nguyễn
Quang Thiều
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Về lý luận
Luận văn có đóng góp vào lý luận văn học ở các khía cạnh
- Chỉ ra những giá trị văn hóa kết tinh và thể hiện trong tác phẩm từ đó góp phần nào đó giáo dục ý thức tự hào, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc trong bối cảnh giao lưu và hội nhập văn hóa hiện nay
- Khẳng định sáng tạo nghệ thuật và tài năng của Nguyễn Quang Thiều trong nền văn học Viêt Nam đương đại
6.2 Về thực tiễn
Kết quả luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy học tập cho giảng viên, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung học phổ thông
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển
Trang 19khai thành 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề chung
Chương 2 Dấu ấn văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ trong “Mùi của kí
ức” và “Trong ngôi nhà của mẹ” của Nguyễn Quang Thiều
Chương 3 Nghệ thuật thể hiện dấu ấn văn hóa trong “Mùi của kí ức” và
“Trong ngôi nhà của mẹ” của Nguyễn Quang Thiều
Trang 20Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hoá
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Văn hóa
Văn hóa (Culture) là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau Văn hóa liên quan đến mọi mặt trong đời sống vật chất và
tinh thần của con người Đó là “tổng thể nói chung những giá trị vật chất,
tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [32] Cụ thể hóa
định nghĩa được nêu trong từ điển, giáo sư Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở
văn hóa Việt Nam nhấn mạnh:“ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội” [21, tr.10] Theo đó, nội hàm khái niệm văn hóa bao gồm: Thứ nhất
đó là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và vì con người Thứ hai, theo quan niệm tác giả những giá trị mà con người sáng tạo ra phải mang giá trị nhân sinh Trong lịch
sử nhân loại có những sáng tạo không có giá trị văn hóa, không mang tính người bởi nó hủy hoại cuộc sống con người và không được chấp nhận bởi cộng đồng như bom nguyên tử, vũ khí giết người, chủ nghĩa khủng bố…Như vậy, theo tác giả Trần Ngọc Thêm, văn hóa phải có tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh, tính lịch sử
Theo quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, văn hóa vừa là sản phẩm sáng tạo của con người, vừa là môi trường nhân tạo để nuôi dưỡng đời sống vật chất và tinh thần của con người Cùng với thiên nhiên thứ nhất
do tạo hóa tạo nên, văn hóa trở thành môi trường sống của con người, được
Trang 21nhìn nhận là động lực của sự tiến bộ xã hội Cần phải khắc phục nhận thức phiến diện về văn hóa, đồng nhất văn hóa với một vài hoạt động thuộc lĩnh vực tinh thần và xem nhẹ vai trò, chức năng xã hội của nó
Đồng quan điểm nêu trên, UNESCO- Tổ chức khoa học và giáo dục Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa văn hóa trên cơ sở thống nhất từ hơn 200
định nghĩa khác nhau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi
là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống và giá trị, tập tục và tín ngưỡng” [ 33, tr 23-
24 ] Theo đó, văn hóa cũng được coi là tổng thể những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Và UNESCO đặc biệt nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong việc tác động đến tính cách của một xã hội Đó là những giá trị tinh thần trong kiến trúc thượng tầng của một xã hội Nó biểu trưng cho sự phát triển của loài người qua các thế hệ Một đất nước giàu truyền thống văn hóa là một đất nước giàu có về tinh thần
Trên cơ sở ấy, UNESCO đã có quan điểm khá thống nhất khi phân loại
di sản văn hóa Theo đó, văn hóa vật thể (hữu thể- tangible) gồm kiến trúc (như đình đền, chùa, miếu, lăng, mộ, nhà sàn…, trang phục (quần, áo, váy),
ẩm thực (món ăn, thức uống/ hút)….Văn hóa phi vật thể (vô hình- intangible)
“gồm các biểu hiện tượng trưng và “không sờ thấy được” của văn hóa được lưu truyền và biến đổi qua thời gian, với một số quá trình tái tạo, trùng tu của cộng đồng rộng rãi….” [33,tr.24] gồm âm nhạc, múa, truyền thống, văn
chương truyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, tư thế, nghi thức, phong tục tập quán, y dược, lễ hội, bí quyết - quy trình công nghệ của các nghề truyền thống…
Như vậy, văn hóa là sản phẩm của loài người được tạo ra và phát triển
Trang 22trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Văn hóa có một vai trò quan trọng trong việc tạo nên con người và duy trì sự bền vững của trật tự xã hội Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình con người hành động và
tương tác với xã hội Văn hóa cũng chính là thước đo cho trình độ phát triển
của con người và xã hội Nó được biểu hiện trong các kiểu hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất, tinh thần
do con người tạo ra Vì vai trò quan trọng như vậy nên Đảng và Nhà nước ta
luôn khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ phát triển của dân tộc và chủ trương xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc để tạo cơ sở cho sự phát triển của đất nước
1.1.1.2 Văn học
Văn học“là một hình thái ý thức xã hội bắt nguồn từ đời sống bày tỏ một
quan điểm, một cách nhìn, một tình cảm đối với đời sống Nhưng văn học nói riêng cũng như nghệ thuật nói chung, không giống các hình thái ý thức xã hội khác khi có những đặc thù riêng mang tính thẩm mĩ về đối tượng, nội dung và phương thức thể hiện” [5, tr.8] Nội dung văn học là toàn bộ đời sống đã được
ý thức, cảm xúc, đánh giá phù hợp với một tư tưởng về đời sống, một cảm hứng và lí tưởng thẩm mĩ trong một xã hội nhất định Văn học là một hoạt động tinh thần không chỉ của người sáng tạo mà cả người tiếp nhận, thưởng thức Văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt thuộc thượng tầng kiến trúc của xã hội Nó tác động đến đời sống xã hội theo con đường riêng của mình qua chức năng của mình như giải trí, nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ Trước tiên, có thể khẳng định văn học mang tới kho tri thức bách khoa
về hiện thực đời sống cho con người Đó là những tri thức phong phú về thế giới thiên nhiên, vũ trụ và đời sống xã hội Chức năng nhận thức của văn học không chỉ thể hiện ở việc khám phá bề rộng hiện thực đời sống mà còn giúp người đọc đi vào chiều sâu những khám phá thẩm mĩ về con người Bởi con
Trang 23người là trung tâm của văn học Đúng như Mắc- xim Gooc-ki đã từng nói “
Văn học là nhân học” Vai trò quan trọng nhất của văn học là giúp con người
nhận thức về chính mình, khám phá những giá trị năng lực vô tận của bản thân để hướng tới sự phát triển và hoàn thiện
Văn học không chỉ có giá trị nhận thức mà còn có chức năng giáo dục Đó
là chức năng cải tạo, tác động quan điểm tư tưởng, đạo đức của con người Văn học có một con đường giáo dục riêng của mình- con đường tình cảm Nghệ thuật lay động trái tim, cuốn người đọc vào thế giới kì diệu của tình người, tình đời trong tác phẩm Trong quá trình ấy văn học hiện ra như một người đồng hành giúp người đọc tự soi vào bản thân mình, tự đối thoại để nhận ra phần thiện và phần ác, cái cao cả và sự thấp hèn…trong chính bản thân mình Đó chính là sự chuyển hóa kì diệu từ giáo dục thành tự giáo dục của nghệ thuật Chính nghệ thuật đã khơi dậy những nguồn cảm xúc, đạo đức tích cực, làm phong phú hơn đời sống tình cảm và hướng con người tới sự hoàn thiện về nhân cách Đây cũng chính là sứ mệnh thiêng liêng của văn học
Chức năng quan trọng nhất của văn nghệ là sáng tạo cái đẹp Chức năng thẩm mĩ thể hiện trong việc văn chương làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ, phát triển năng lực, thị hiếu thẩm mĩ của con người Văn học đem đến cho con người sự hưởng thụ thẩm mĩ bằng cách miêu tả phản ánh cái đẹp trong đời sống hiện thực Văn học là nghệ thuật ngôn từ nên tác phẩm văn học không chỉ giúp con người cảm nhận vẻ đẹp của đời sống mà còn khơi dậy trong sâu thẳm tâm hồn người đọc những khoái cảm trước vẻ đẹp của các phương thức,
phương tiện nghệ thuật…Với những giá trị của mình, văn học góp phần bồi
đắp tâm hồn làm cho con người vươn tới thế giới của ước mơ, lí tưởng và hoàn thiện nhân cách
Văn học luôn song hành cùng lịch sử với sứ mệnh thiêng liêng của nghệ thuật ngôn từ Nó xứng đáng là vũ khí tinh thần của nhân loại Văn học nghệ
Trang 24thuật với tư cách là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, nó không chỉ phản ánh mà còn sáng tạo ra thế giới khách quan Bất kì tác phẩm văn học lành mạnh nào cũng có ý nghĩa nâng cao con người hướng con người tới chân, thiện, mĩ và chức năng giáo dục, xây dựng con người vẫn là thiên chức cao quý nhất của văn học nghệ thuật muôn đời
1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa- văn học
Văn học là một bộ phận của văn hóa Văn học cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, phong tục tập quán là các thành tố tạo nên văn hóa Bàn
về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học tác giả Đỗ Thị Minh Thúy đã cho
rằng “ Đặt văn học trong văn hóa tức là nhấn mạnh sự tác động tổng thể của
văn hóa tới văn học, như vậy các nhân tố xã hội, kinh tế, chính trị…tác động đến toàn bộ văn hóa nói chung, thông qua văn hóa tác động đến văn học, ở quan hệ đặc biệt này, văn học trở thành một trong những tiêu điểm của văn hóa, đóng vai trò nhân tố đại diện cho văn hóa” [30, tr.239] Theo định nghĩa
trên, văn học và văn hóa có mối quan hệ gắn bó khăng khít Văn học là tấm
gương phản chiếu đời sống xã hội và văn hóa của một dân tộc và “nhà văn là
người thư kí trung thành của thời đại”( Balzac) Mỗi tác phẩm văn học đều
soi bóng thời đại mà nó ra đời Nhà văn là người tiếp nhận những thành tố văn hóa và tạo nên dấu ấn văn hóa trong sáng tác của mình
Tác giả Đỗ Lai Thúy cho rằng “Nếu văn học chỉ là một bộ phận của
văn hóa, một yếu tố trong hệ thống văn hóa thì nó không thể và không có quyền "vượt mặt" hệ thống để tiếp xúc hoặc tác động trực tiếp đến hệ thống
xã hội, mà phải gián tiếp qua hệ thống văn hóa [60] Đồng quan điểm trên, tác
giả Trần Lê Bảo nhấn mạnh“ Văn học là sự tự ý thức văn hóa Văn học chẳng
những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa thời đại và truyền
Trang 25thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc” [37] Như vậy,
theo tác giả văn học là một phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa thời đại cũng như truyền thống độc đáo của một dân tộc Văn hóa là những gì còn lại sau khi thời gian đã sàng lọc tất cả Bản sắc văn hóa Việt Nam được hiện hình
rõ nét qua văn học Bằng sứ mệnh thiêng liêng của nghệ thuật ngôn từ, văn học tái hiện khá đầy đủ đời sống văn hóa dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử với những giá trị vật chất và tinh thần do con người Việt Nam sáng tạo nên Văn học luôn là lực lượng xung kích trên mặt trận văn hóa
Những ý kiến trên đều khẳng định văn học là tấm gương phản chiếu văn hóa dân tộc Trong văn học hiện đại Việt Nam, những nét văn hóa đặc trưng của mỗi vùng miền lại được tái hiện sinh động thông qua cách nhìn nhận và
phản ánh của tác giả Đó là vẻ đẹp phong tục đồng quê trong truyện ngắn Đôi
chim thành, Con mã mái, Đuổi tà… của nhà văn Kim Lân Đó còn là vẻ đẹp
những nhã thú văn hóa cổ truyền của một thời vang bóng dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân Người đọc cũng không thể quên văn hóa mảnh đất
kinh kì trong những sáng tác của Thạch Lam (Hà Nội băm sáu phố phường,
Nắng trong vườn) ,Vũ Bằng (Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ Miền Nam, Thương nhớ mười hai) Thế giới truyện ngắn Trần Thùy Mai lại đưa người
đọc đến với nét đẹp văn hóa đặc trưng của xứ Huế trầm mặc, cổ kính, mộng
mơ qua những lời văn nhẹ nhàng sâu lắng: Khói trên sông Hương, Gió thiên
đường, Thập tự hoa…
Văn học luôn là tấm gương phản chiếu hiện thực Lịch sử văn hóa dân tộc đã in dấu đậm nét trong những tác phẩm văn học Người nghệ sĩ chân chính như con ong cần mẫn chắt chiu những giọt mật cuộc đời và in bóng dáng thời đại, vốn sống, văn hóa trong sáng tác văn chương Có thể nói, văn hóa là yếu tố quan trọng làm nên sự thành công của tác phẩm, bởi những
Trang 26mạch ngầm văn hóa góp phần tạo nên chiều sâu để những tác phẩm nghệ thuật sống mãi với thời gian
Không chỉ là hiện thân, văn học còn kết tinh giá trị văn hóa Giáo sư
Trần Đình Sử đã khẳng định “Văn học là một bộ phận quan trọng của văn
hóa, sự giàu có của nó về nội dung và hình thức trực tiếp làm giàu cho văn hóa” [20, tr.1] Văn học phản ánh những giá trị, phong tục tập quán, tín
ngưỡng…của một dân tộc và từ đó đúc kết nên các giá trị đạo lí, nâng nó lên tầm tư tưởng triết lí để giáo dục các thế hệ mai sau Lịch sử văn học dân tộc
đã từng ghi dấu nhiều vẻ đẹp truyền thống của tâm hồn con người Việt Nam như những bài học nhân sinh sâu sắc Đó là những bài ca gợi nhắc con dân đất
Việt vẻ đẹp truyền thống đạo lí uống nước nhớ nguồn: Dù ai đi ngược về
xuôi/ Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba Tập truyện Vang bóng một thời
của Nguyễn Tuân, Thương nhớ mười hai (Vũ Bằng), Hà Nội băm mươi sáu
phố phường (Thạch Lam) người đọc sống trong bầu khí quyển của văn hóa
truyền thống để bồi đắp niềm tự hào, tinh thần dân tộc
Giá trị văn hóa còn gọi là giá trị xã hội, nó song hành với sự tồn tại và phát triển của mỗi xã hội Nếu văn hóa là toàn bộ những gì do con người tạo
ra thì văn hóa cũng chính là thước đo trình độ phát triển của một dân tộc Văn học Việt Nam có một năng lực đặc biệt trong việc sáng tạo văn hóa dân tộc
Đó là những sáng tạo về giá trị nghệ thuật trong ngôn ngữ dân tộc và những giá trị nhân văn trong phẩm chất con người Sự xuất hiện của chữ Nôm, thể thơ lục bát, khúc ngâm…chính là minh chứng cho năng lực sáng tạo văn hóa
của văn học dân tộc Đúng như giáo sư Trần Đình Sử đã từng khẳng định việc sáng tạo khúc ngâm, truyện Nôm, thơ mới, kịch nói “phải được xem là hiện
tượng sáng tạo văn hóa lớn lao của dân tộc Việt Nam”[20,tr.3]
“Văn học là nhân học” (Mắc-xim Gooc-ki) Vì vậy, văn học hướng tới
giá trị văn hóa hàng đầu đó là phẩm giá con người Khoa học đem đến sự hiểu
Trang 27biết về tự nhiên, xã hội, con người còn văn học có khả năng đi sâu khám phá thế giới tâm hồn con người Văn học không chỉ cung cấp tri thức bách khoa
về đời sống mà còn có thể khơi dậy khả năng tự ý thức của con người qua đó giúp con người hoàn thiện chính mình Đây chính là chiều sâu của văn học trong quá trình xây dựng, phát triển nhân cách văn hóa
1.1.3 Nghiên cứu văn học hiện đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học vào những năm đầu thế kỉ XX như Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh… Vấn đề này đã trở thành đề tài bàn luận sôi nổi của các học giả
Nghiên cứu văn học hiện đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa không đơn thuần là việc dùng văn hóa để giải thích văn học mà quan trọng hơn là việc
các nhà nghiên cứu văn học“ vận dụng tri thức và văn hóa để nhận diện và
giải mã các yếu tố thi pháp của tác phẩm” [1, tr.5] Có rất nhiều công trình
nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa thành công Năm 1995, giáo sư
Trần Đình Hượu cho ra đời công trình Nho giáo và văn học Việt Nam trung
cận đại nghiên cứu văn học Việt Nam từ Nho giáo và đã chỉ ra được đặc điểm
của giai đoạn văn học kể từ đầu Lê đến cuối Nguyễn Tác giả Trần Nho Thìn
trong Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (2003) thì nghiên
cứu văn học trung đại từ những phạm trù cơ bản của văn hóa trung đại Tác
giả đã đề ra một nhiệm vụ cụ thể cho công trình của mình: "Nhiệm vụ quan
trọng là cắt nghĩa nền tảng văn hóa của một hình tượng nghệ thuật, một thủ pháp nghệ thuật hay nói chung một khía cạnh nào đó của cấu trúc nghệ thuật tác phẩm” [26] Trần Nho Thìn đã tạo được sự thể nghiệm mang tính bước
đầu về việc tiếp cận văn học bằng phương pháp văn hóa học, giai đoạn văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX Tác giả đề xuất một phương pháp không dừng lại ở một sự thể nghiệm đơn nhất, mà tác giả muốn mở rộng hệ quy chiếu văn
Trang 28hóa học sang các lĩnh vực khác Phan Ngọc trong bài Tìm hiểu phong cách
Nguyễn Du trong Truyện Kiều là người chủ trương lấy yếu tố văn hóa xã hội
làm nền tảng để tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều Tác giả Trần Lê Bảo với bài viết Giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học thì lại đề
cao việc nhà phê bình cần nâng cao những kiến thức về văn hóa mới có thể nắm được những giá trị văn hóa, truyền thống văn hóa, kết cấu tâm lý văn hóa dân tộc Việc trau dồi những kiến thức này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tự phát huy biến đổi tâm thái văn hóa và thức tỉnh ý thức tự ngã dân tộc Đây chính là điều làm cho phê bình văn học có chiều sâu triết học Tìm hiểu văn học dưới góc nhìn văn hóa đang là một hướng đi có triển vọng bởi văn hóa và văn học có mối quan hệ rất mật thiết Cùng với những cách tiếp cận văn học bằng xã hội học, mỹ học, thi pháp học… con đường tiếp cận văn học bằng văn hóa học giúp người đọc có thể lí giải trọn vẹn hơn chiều sâu của tác phẩm nghệ thuật với hệ thống mã văn hóa ẩn tàng bên trong
nó Cách tiếp cận này đặt văn học trong không gian văn hóa với những đặc trưng của nó tạo ra một con đường riêng để người đọc đi vào thế giới sáng tạo nghệ thuật của nhà văn và làm nên những giá trị sức sống của tác phẩm trước thời gian
1.2 Vùng văn hóa Bắc Bộ và quá trình sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Thiều
1.2.1 Vùng văn hóa Bắc Bộ
Bắc Bộ là cái nôi hình thành dân tộc Việt và là nơi sinh ra các nền văn hóa lớn như văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đại Việt và văn hóa Việt Nam Văn hóa Bắc Bộ có những nét đặc trưng của văn hóa Việt với nền văn minh lúa nước nhưng lại có những nét riêng độc đáo của vùng
Một trong những đặc trưng cơ bản của văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ
Trang 29là văn hóa làng Làng vốn là đơn vị chỉ một cộng đồng dân cư được hình thành trên cơ sở liên hiệp tự nguyện giữa những cư dân trong quá trình lao động, đấu tranh sinh tồn Đúng như nhận định của nhà nghiên cứu Nguyễn Từ
Chi: “Làng là tế bào sống của xã hội Việt Nam”[3, tr.177] Văn hóa làng bao
gồm hệ thống những quan niệm, chuẩn mực đạo đức, hành vi được hình thành trong quá trình tổ chức, giữ gìn cuộc sống của cư dân Văn hóa làng là sự hòa quyện những yếu tố vật thể và phi vật thể được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Đối với vùng đồng bằng Bắc Bộ, văn hóa làng bộc lộ trong lối sống, phong tục, tín ngưỡng, hương ước và hiện hữu trong kiến trúc làng như đình, chùa, miếu, lũy tre, cây đa, bến nước với một số đặc trưng cơ bản như sau
Thứ nhất là tính cộng đồng Đó “là sự liên kết các thành viên trong làng
với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác – nó là đặc trưng dương tính, hướng ngoại” [21, tr.96] Biểu tượng truyền thống của tính cộng
đồng trong kiến trúc làng quê là sân đình, bến nước, cây đa Mối quan hệ chủ yếu trong làng là quan hệ huyết thống (gia đình- dòng họ) và láng giềng, theo
đó, cư dân sống đoàn kết, tương trợ lẫn nhau Tín ngưỡng cơ bản của làng là thờ Thành hoàng làng, và việc tổ chức lễ hội làng chính là biểu hiện rõ nét nhất của tính cộng đồng
Thứ hai là tính tự trị, tự quản, tức là “tự điều chỉnh - tự điều khiển của
làng trong quá trình vận động của kinh tế - xã hội, ít chịu sự can thiệp trực tiếp của các cấp chính quyền bên trên” [4, tr.87] Các làng ở đồng bằng Bắc
Bộ tồn tại khá biệt lập với nhau và phần nào độc lập với triều đình phong kiến Trong văn hóa làng Bắc Bộ, mỗi làng là một “vương quốc” nhỏ khép kín với luật pháp riêng Sự biệt lập, khép kín của làng tạo nên truyền thống
phép vua thua lệ làng Theo Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer: “mỗi làng xã là một nước cộng hoà nhỏ, độc lập trong giới hạn những quyền lợi
Trang 30địa phương Đó là một tập thể được tổ chức rất chặt chẽ, rất có kỷ luật và rất
có trách nhiệm đối với chính quyền cấp trên về cá nhân những thành viên của nó” [21, tr.97] Theo đó, mỗi làng là một đơn vị hành chính tương đối độc lập
được quản lý chặt chẽ Trong kiến trúc của làng quê Bắc Bộ xưa thường có lũy tre bao bọc tạo nên một thứ thành lũy kiên cố Cùng với lũy tre là cổng làng Đó là hình ảnh biểu tượng cho tính tự trị của làng Việt từ xa xưa
Cùng với tính cộng đồng, tính tự trị, người dân ở đồng bằng Bắc Bộ còn mang tính dung hòa, dung hợp trong tư duy Tính dung hòa, dung hợp trong tư duy được thể hiện trong việc người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ có
sự dung hợp trong tiếp nhận, mềm dẻo, hiếu hòa trong đối phó Họ rất linh hoạt trong từng hoàn cảnh cụ thể Trong ứng xử với tự nhiên, người dân quan
niệm “mùa nào thức nấy”, sống hài hòa với tự nhiên, thuận theo tự nhiên
Trong ứng xử xã hội, người dân đồng bằng Bắc bộ luôn đề cao lối sống tình nghĩa, hiếu hòa Trong các cuộc chiến tranh xâm lược, họ sẵn sàng tha thứ cho kẻ thù bại trận mở ra cho chúng con đường hiếu sinh Trong đời sống tinh thần, tính dung hòa thể hiện ở việc con người tiếp thu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo như Nho giáo, Phật giáo…, nhưng là sự tiếp thu có sàng lọc để tạo thành bản sắc riêng của dân tộc mình Người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ chủ yếu tiếp nhận tư tưởng từ bi, bác ái, ở hiền gặp lành của Phật giáo Vì vậy, đa
số các làng ở đồng bằng Bắc Bộ đều có chùa thờ Phật Con người gửi gắm niềm tin đặc biệt vào Phật giáo và đi lễ chùa để tìm thấy sự thanh thản của tâm hồn
Như vậy, trong lịch sử phát triển vùng đồng bằng Bắc Bộ đã hình thành nhiều đặc trưng văn hóa làng độc đáo Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của làng quê Bắc Bộ trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Quan trọng hơn, điều này thể hiện khá rõ trong nhiều tác phẩm văn học, đặc biệt là sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Thiều
Trang 311.2.2 Quá trình sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Thiều
Nhà văn Nguyễn Quang Thiều sinh ngày 13-2 -1957 tại làng Chùa, xã Sơn Công, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây, nay thuộc Hà Nội, hiện sống tại quận Hà Đông Ông sinh ra và lớn lên bên dòng sông Đáy hiền hòa, thơ mộng với nhiều trầm tích văn hóa Miền quê êm đềm và ấm áp tình đời, tình người ấy đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận trong nhiều sáng tác của nhà văn
Ông tốt nghiệp đại học ở Cuba, từng làm việc tại tuần báo Văn nghệ, tuần báo Việt Nam (thuộc báo điện tử Vietnamnet.vn), Ủy viên Hội đồng thơ, ngoài ra còn là Phó Chủ tịch Hội, Trưởng ban Sáng tác, Giám đốc Trung tâm Dịch thuật văn học Hội Nhà văn Việt Nam khoá 8, Phó Tổng thư ký thứ nhất Hội Nhà văn Á - Phi Thi sĩ làng Chùa bắt đầu viết từ năm 1983, ông tỏ ra là cây bút đa năng và sung sức Năm 1983-1984 ông đạt giải Ba cuộc thi thơ của
tạp chí Văn nghệ quân đội Tập thơ Ngôi nhà 17 tuổi xuất bản năm 1990, sau
đó một năm được bình chọn là tác phẩm hay nhất của năm Tập thơ Sự mất
ngủ của lửa ra đời năm 1992 đánh dấu tên tuổi của Nguyễn Quang Thiều
trong làng thơ đương đại với những cách tân nghệ thuật táo bạo
Bên cạnh thơ, Nguyễn Quang Thiều cũng ghi dấu ấn về văn xuôi, tiểu luận, dịch thuật và góp phần quan trọng quảng bá văn học Việt Nam ra thế
giới Những tập truyện ngắn như Người đàn bà tóc trắng (1996), Đứa con của
hai dòng họ (1997), Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều (1998), Ngọn núi bà già mù (2001), Người nhìn thấy trăng thật ( 2003) v.v để lại dấu ấn sâu sắc
trong tâm hồn người đọc Năm 2012, tác giả xuất bản 1 cuốn tiểu luận, tản
văn mang tên Có một kẻ rời bỏ thành phố Gần đây, các tác phẩm Trong ngôi
nhà của mẹ (2016), Mùi của kí ức (2017), Cô gái áo xanh- Những chuyện kỳ
bí của làng (2018) Tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều được các nhà xuất
bản ở Mỹ chọn dịch và đăng tải hầu hết các báo, tạp chí uy tín ở Mỹ Các tập
truyện ngắn của ông được dịch nhiều thứ tiếng, đặc biệt tác phẩm Bầy chim
Trang 32chìa vôi được chọn làm một chuyên đề trong một trường đại học ở Nhật Tập
thơ The Women Carry Water ( Bản Anh ngữ của cuốn Những người đàn bà
gánh nước sông) được University of Massachusetts Press xuất bản năm 1997,
được The National Translation Asociation of America trao giải thưởng vào
năm 1998 Ở Pháp, hai tập truyện ngắn Cô gái của dòng sông (La Fille Du
Fleuve) và Người đàn bà bán bún (Marchande De Vermaicelles) được dịch,
xuất bản rộng rãi Ngoài ra, nhiều tác phẩm cụ thể của Nguyễn Quang Thiều được xuất bản ở nhiều nước trên thế giới như: Hoa Kỳ, Pháp, Na Uy, Thụy Điển, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan…
Không chỉ thành công trong lĩnh vực văn chương ông còn để lại dấu ấn với sự nghiệp báo chí, điện ảnh, hội họa Tên tuổi của ông gắn liền với trên
300 bài ký, phóng sự, nghị luận, tản văn, nhiều kịch bản phim và nhiều tác phẩm hội họa Tên tuổi Nguyễn Quang Thiều còn gắn liền với mối duyên giữa nghệ thuật và điện ảnh Một số truyện ngắn của ông được chuyển thể thành phim và gây được tiếng vang trong dư luận và công chúng ngay khi công chiếu Đó là phim truyền hình từng đoạt giải Vàng Liên hoan phim
truyền hình Quốc tế tại Bỉ năm 1993 Lời nguyền của dòng sông- được chuyển thể từ truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông Đó là bộ phim Thời gian của dòng
sông được chuyển thể từ truyện ngắn Hai người đàn bà xóm Trại, là phim
truyền hình Chuyện làng Nhô được chuyển thể từ tiểu thuyết Kẻ ám sát cánh
đồng v.v
Có thể thấy, Nguyễn Quang Thiều là một cây bút đa năng với sức sáng tạo mãnh liệt, dồi dào Với một quá trình sáng tác không ngừng nghỉ, thể nghiệm tài năng trên nhiều thể loại từ thơ ca, báo chí, kịch bản, hội họa đến văn xuôi, Nguyễn Quang Thiều đã để lại nhiều ấn tượng khó quên trong lòng độc giả Đặc biệt là sự hòa quyện giữa tài năng và tình yêu quê hương, sự gắn
bó tha thiết với một miền quê của vùng châu thổ Bắc Bộ, đã làm nên dấu ấn
Trang 33văn hóa độc đáo trong sáng tác Nguyễn Quang Thiều Sự góp mặt của ông đã góp phần làm phong phú thêm mạch ngầm của văn xuôi Việt Nam đương đại trong dòng chảy của văn học dân tộc
1.2.3 Dấu ấn văn hóa Bắc Bộ trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Thiều
Dấu ấn văn hóa Bắc Bộ rất đậm nét trong sáng tác của nhà văn Nguyễn
Quang Thiều Trong một bài phỏng vấn, Nguyễn Quang Thiều đã nói: “Mỗi
người đều có một liên hệ vừa mơ hồ, vừa bí ẩn, vừa thiêng liêng và vừa uy quyền với nơi chôn rau cắt rốn của mình một không gian sống động và huyền ảo mà chúng ta không thể lớn lên nếu không có một không gian như thế
và không thể nào đi ra khỏi không gian đó nếu muốn làm một người có chút
gì lương thiện” Tác giả Đông La cũng đã từng nhận xét “Nguyễn Quang Thiều đã làm đúng như vậy, cả truyện thực lẫn truyện sáng tác, tác giả đều viết bằng một tình yêu quê hương thiêng liêng” [46]
Tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều luôn thấm đượm hương vị làng quê Làng Chùa là cái tên thân thương được ông nhắc đến nhiều lần trong thế giới nghệ thuật của mình Đó là một ngôi làng vừa độc đáo vừa đặc trưng cho miền quê đồng bằng Bắc bộ Ngay từ nhan đề của tác phẩm được Nguyễn
Quang Thiều lựa chọn cũng mang đậm hồn quê Bắc Bộ : Nhịp điệu châu thổ
mới (1997), Châu thổ (2010), Mùa hoa cải bên sông (1989)…
Đi vào những trang viết của Nguyễn Quang Thiều người đọc có thể bắt gặp một làng quê êm đềm đầy ắp tình đời, tình người Đó là hình ảnh quen thuộc của làng quê Bắc Bộ với cây đa, bến nước, những vạt ngô biếc xanh và những mùa hoa cải vàng rực bên bến sông như một thiên đường…Đó còn là hình ảnh những bụi tầm xuân, những ngọn rau khúc nếp, những cánh chim chìa vôi Tất cả đã trở thành không gian văn chương mà cũng là không gian tâm hồn của Nguyễn Quang Thiều với vẻ đẹp thơ mộng, bình yên của quê hương
Trang 34Vùng văn hóa Bắc Bộ không chỉ được tái hiện bằng điển hình không gian mà còn có điểm nhìn thời gian Nhà văn đứng từ hiện tại để nhìn về quá khứ và vùng văn hóa Bắc Bộ hiện lên qua lăng kính tuổi thơ, miền hoài niệm
về làng Chùa yêu dấu Đó là một miền quê của trầm tích văn hóa (văn hóa vật thể và phi vật thể) với những vẻ đẹp vừa giản dị, vừa huyền bí, thiêng liêng từ thiên nhiên, cuộc sống, con người…Vùng văn hóa Bắc Bộ là một không gian nghệ thuật thấm đẫm hồn quê, tình yêu quê hương trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, luận văn đã khai thác các vấn đề lý luận về tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa Theo đó, các vấn đề cơ bản nhất về văn hóa và văn học đã được đề cập như khái niệm, các loại hình di sản văn hóa, các chức năng cơ bản của văn học Mối quan hệ giữa văn hóa- văn học cũng được làm
rõ khi lý giải nhận định văn học là hiện thân và là kết tinh của văn hóa Đặc biệt, khi xem xét vấn đề nghiên cứu văn học hiện đại từ góc nhìn văn hóa, chúng tôi nhận thấy nhiều hướng đi và cách thức khai thác tác phẩm cụ thể- điều này thật sự có ích cho luận văn trong quá trình triển khai đề tài Ngoài
ra, luận văn còn xem xét quá trình sáng tác cũng như những thành công nhất định trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Quang Thiều, từ đó bước đầu khẳng định việc tiếp cận tác phẩm của ông dưới góc nhìn văn hóa là việc làm đúng đắn Dù dung lượng không nhiều, nhưng luận văn đã khái quát được những đặc trưng cơ bản của văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ và sự thể hiện của chúng trong tác phẩm của nhà văn làng Chùa Đây là những vấn đề có tính chất nền tảng, làm cơ sở để luận văn triển khai các chương tiếp theo
Trang 35Chương 2 DẤU ẤN VĂN HÓA VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
TRONG “MÙI CỦA KÍ ỨC”VÀ “TRONG NGÔI NHÀ CỦA MẸ”
CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU 2.1 Dấu ấn văn hóa vật thể
Văn hóa vật thể là khái niệm rộng Đó là những giá trị gắn liền với vật chất do con người tạo ra và lưu giữ trong quá trình phát triển xã hội Trong phạm vi có hạn, dựa trên kết quả khảo sát từ 2 tác phẩm, luận văn khai thác các khía cạnh sau:
2.1.1 Kiến trúc nhà ở
Chịu sự chi phối của khí hậu và đặc trưng địa lý, kiến trúc xây dựng nhà
ở và cách sắp xếp, bài trí không gian sống trong ngôi nhà nông thôn Bắc Bộ
có những nét độc đáo so với các vùng miền khác Điều này phản ánh một phần thói quen sinh sống hòa nhập với thiên nhiên của cư dân nơi đây Ngôi nhà từ xưa đến nay không chỉ là nơi che nắng che mưa, mà còn là mái ấm gìn giữ văn hóa truyền thống, nét đẹp của gia đình, nơi nuôi dưỡng tâm hồn Việt Dấu ấn văn hóa đầu tiên mà nhà văn để lại trong tâm hồn người đọc qua
Mùi của kí ức và Trong ngôi nhà của mẹ là kiến trúc đặc trưng của làng quê
đồng bằng Bắc Bộ Trong miền hoài niệm của tác giả về làng Chùa thân
thương có hình ảnh “cổng tam quan của làng” [ 25, tr 136] gắn với cây đa, bến nước “cây đa bên kia sông đối diện bến đò” [25, tr 136] Làng La Phù,
Hoài Đức, Hà Tây- quê ngoại của nhân vật tôi- Trịnh Văn Sỹ, người bạn
trong nhóm nhân Sỹ Hà Đông “Cũng như bao làng quê khác ở Bắc Bộ, một
hình ảnh quen thuộc hiện lên khi ta bước chân đến chốn này đó là cây đa, cổng làng Trên cổng làng miền Thượng có đề ba chữ Hán “ Thế Như Xuân”
[23, tr.10] Tác giả tái hiện một nét đặc trưng trong kiến trúc của làng quê Bắc
Trang 36Bộ xưa với hình ảnh quen thuộc là cổng làng Cổng được xây bằng gạch, đứng sừng sững, uy nghiêm như chứng tích thời gian Ba chữ Hán được đắp nổi ở cổng làng vừa thể hiện tâm tư, nguyện vọng của người dân, vừa khẳng định vị thế tri thức của làng Gắn với lũy tre xanh, cổng làng tạo nên lũy thành kiên cố ngăn cách làng với thế giới bên ngoài Đây là sản phẩm thể hiện tính
tự trị trong quan niệm văn hóa làng Bắc Bộ Cùng với cổng làng, cây đa cổ thụ đầu làng là nơi nghỉ chân gặp gỡ của những người đi làm đồng, nơi tập trung của những cụ già, con trẻ, những khách qua đường Bến đò đối với cư dân ven sông đóng vai trò vô cùng quan trọng: đó vừa là nơi thông thương buôn bán, vừa là nơi trao đổi, tiếp nhận các thông tin mới mẻ từ những khách qua sông Cây đa, bến đò trở thành nơi giao lưu của nội bộ cư dân trong làng, của dân làng với thế giới bên ngoài, do đó đây là biểu hiện của tính cộng đồng trong quan niệm của người dân Bắc Bộ Tất cả đã được tái hiện sinh động bằng nghệ thuật ngôn từ dưới ngòi bút Nguyễn Quang Thiều Chỉ qua một vài nét vẽ nhưng nhà văn đã mở ra không gian quen thuộc gắn với văn hóa làng và những quan niệm sống sâu sắc của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ
Bên cạnh những kiến trúc đặc trưng mang tính chất khái quát của cộng đồng, nhà văn còn tái hiện kiến trúc nhà ở vùng đồng bằng Bắc bộ qua cách
bố cục, xây dựng của mỗi gia đình Mỗi khuôn viên gia đình thường gồm các
bộ phận sau: nhà chính (nhà trên), nhà phụ (nhà dưới), nhà bếp (nhiều gia đình nhập khu vực này với nhà phụ), khu vệ sinh, chuồng nuôi gia súc, trâu
bò, vườn sau ao trước, hàng rào cây bao quanh, cổng nhà, tạo nên mô hình khép kín Theo tư duy của người Việt, mô hình này tạo dòng chảy đóng về năng lượng, về cách thức sản xuất, về dòng trao đổi vật chất Tuy nhiên, việc liên thông các không gian (không có sự ngăn cách độc lập giữa các khu vực) trong mỗi khuôn viên lại tạo thế mở, thuận lợi cho sự phát triển Ngoài ra, tuy mỗi gia đình có một khuôn viên riêng, nhưng mỗi khuôn viên này lại nằm
Trang 37trong một thế hòa hợp với các khuôn viên khác của những gia đình khác, tạo thành một chỉnh thể thống nhất của làng
Trong kí ức của nhân vật tôi – Trịnh Văn Sỹ “gia đình tôi sống trên
mảnh đất hơn 200 mét vuông hình thước thợ ở làng Đa Sỹ Trên mảnh đất có hai ngôi nhà Một ngôi nhà gọi là nhà trên”[23, tr.42] Những ngôi nhà ở
nông thôn Bắc Bộ xưa thường là những ngôi nhà một tầng, xây dựng trên nền đất đầm chặt hoặc được lát/ xếp gạch Bố cục nhà ở được tái hiện trong tác phẩm mang đậm dấu ấn đặc trưng của làng quê Bắc Bộ với nhà trên (còn gọi
là nhà chính) và nhà dưới (nhà phụ) trên mảnh đất có diện tích rộng Nhà
chính là “ngôi nhà có hè gạch chạy suốt năm gian Nhà quay về hướng Tây
Bắc”[23, tr.43] Cách miêu tả dung dị, nhưng thể hiện những quan niệm riêng
của người Việt trong quá trình xây dựng Trước tiên, nhà phải được hướng- nghĩa là hướng nhà phải hợp với tuổi của người trụ cột trong gia đình Hướng nhà sẽ quyết định sự thành công trong làm ăn, sinh hoạt, các mối quan hệ, công danh sự nghiệp và sự phát triển lâu dài Thứ hai, theo triết lý âm dương, ngôi nhà chính thường có số gian lẻ (tính dương) với kết cấu đăng đối Bên ngoài, phía trước ngôi nhà có hè/ mái hiên vừa có tác dụng che mưa nắng, vừa
là nơi cất trữ tạm thời các nông sản sau khi phơi phóng hay nghỉ ngơi tạm thời của các thành viên sau một ngày lao động vất vả Trong ngôi nhà chính, các không gian được sắp xếp hợp lý Gian giữa được coi là trung tâm, dùng làm nơi thờ cúng và tiếp khách Ngôi nhà được miêu tả trong tác phẩm cũng tuân
thủ theo mô hình này: “Gian giữa ngôi nhà là gian thờ gia tiên Bàn thờ được
làm theo ba cấp chiếm ở gian giữa” [23, tr.43] Điều đó cho thấy vị trí quan
trọng của gian nhà, đồng thời cũng tái hiện phong tục thờ cúng tổ tiên vốn là nét đẹp văn hóa riêng biệt của người Việt Nam Đặt bàn thờ gia tiên ở gian nhà giữa, người xưa thể hiện quan niệm tổ tiên là cội nguồn, có ý nghĩa quan trọng nhất trong đời sống tinh thần của một gia đình
Trang 38Trong tác phẩm, ngoài nhà chính ấn tượng kiến trúc ít nhiều thể hiện ở
nhà dưới (nhà phụ) “Đó là một ngôi nhà lợp rạ Tường xây gạch Xương nhà
làm bằng xoan và tre ngâm” [ 23, tr.45] So với nhà chính, ngôi nhà này được
xây dựng ít công phu hơn, nền thấp hơn, thường được dùng làm nơi cất trữ nông sản hoặc nông cụ Nhiều gia đình còn tận dụng không gian này để làm bếp nếu điều kiện không cho phép xây dựng một gian bếp riêng biệt Nhà của Trịnh Văn Sỹ là sự kết hợp nhiều chức năng như thế Chất liệu làm nên ngôi nhà là vật liệu có sẵn trong đời sống nông thôn: rơm rạ, xoan, tre ngâm Nhà phụ tuy đơn sơ nhưng là nơi lưu lại những bài học về sản xuất, về ứng xử, về bếp núc và là nơi chất chứa kỷ niệm đối với các thành viên gia đình
Trong khuôn viên ngôi nhà còn có một bộ phận quan trọng là cổng nhà Tùy theo điều kiện của gia chủ mà cổng nhà được xây kiên cố hay dựng tạm thời, song nó ít nhiều thể hiện thể diện của gia chủ Trong ký ức của Trịnh
Văn Sỹ, cổng ngôi nhà ở làng La Phù “đắp hình triện và lá lật có hai chữ thọ
kiểu chữ triện hình một cái đinh Ngoài ra còn có hai chữ nho to dịch là Như Kiến ( nghĩa là đang diễn ra) được đắp ở vị trí trang trọng trước mặt cổng”
[23, tr.47] Đặt trong hệ thống đối chiếu với những chữ nho của người dân
làng La Phù thể hiện nơi cổng làng, hai chữ“ Như Kiến” tạc ở cổng nhà như
sự cụ thể hóa ước mơ, nguyện vọng, đồng thời khẳng định tầm học thức của
gia chủ.“Hai chữ Như kiến chứa đựng thông điệp của thế hệ đi trước muốn
truyền lại cho thế hệ sau: Những gì ở trong ngôi nhà này, tổ tiên, những người đã khuất và cả những người đang sống vẫn cùng nhau tồn tại, để con cháu biết mà tu nhân tích đức và học hỏi lẽ làm người” [23, tr.47] Như vậy
cổng nhà là nơi thể hiện nhân sinh quan của chủ nhân ngôi nhà Kế thừa tính
tự trị của văn hóa làng, cổng nhà gắn với hàng rào ngăn cách địa phận nhà này với nhà kia, vừa thể hiện những quy tắc nội bộ (gia phong) vừa hướng ngoại để giao lưu với những gia đình khác Kiến trúc của làng quê xưa trong
Trang 39cái nhìn của thi Sỹ làng Chùa không chỉ là nghệ thuật từ bàn tay những nghệ nhân tài hoa mà còn là điệu hồn riêng của con người quê hương Mỗi một nét
vẽ ẩn chứa bao điều bí ẩn, kì diệu với những triết lí nhân sinh sâu sắc về con người trong dòng chảy của đạo lí dân tộc Tất cả đã tạo nên rung cảm chân thành của trái tim người đọc về hai tiếng quê hương
Cách bố trí vườn tược cũng là một phần trong thiết kế ngôi nhà của làng quê Bắc Bộ Ngôi nhà thường chiếm tỉ lệ khá nhỏ so với diện tích khuôn viên còn lại Vườn chủ yếu là nơi trồng rau, hoa màu, cây ăn quả…tạo nguồn rau tươi, bóng mát, vừa có tác động điều hòa môi trường, che nắng, gió, vừa che
chắn bớt tầm nhìn vào nhà Mảnh vườn trong “Trong ngôi nhà của mẹ” gắn
với kí ức của nhân vật tôi cũng mang những nét đặc trưng của làng quê Bắc
Bộ như một dấu ấn không quên trong những năm tháng tuổi thơ “Mảnh vườn
này rộng 10 thước ta (…) Mặt sau mảnh vườn là lối ngõ đi vào nhà anh Thiệp Ngưu có tường bao xây cao hơn 2 m Mặt trước mảnh vườn là ngõ vào nhà anh Mậu Tạch, không có tường mà chỉ có rào bằng cây xương rồng(…)Gần hàng rào xương rồng có những cây dâu cỏ thụ, thân cây mốc thếch [23,
tr.91] Trong tác phẩm, nhà văn không dành nhiều dung lượng miêu tả rõ các thành phần cây trồng hay khu vực trồng trọt, mà đặt nó trong mối quan hệ chặt chẽ với các gia đình láng giềng Theo đó, cận kề mảnh vườn là các ngõ nhà hàng xóm, được phân ranh giới rạch ròi (bằng tường xây hoặc bằng các loại cây lâu năm) Điều này vừa nhấn mạnh đặc tính tự trị trong nội bộ gia đình đặt trong tính hài hòa của cộng đồng của làng xóm
Trong “Mùi của ký ức”, khuôn viên mảnh vườn cũng được tái hiện với
các đặc điểm tương tự Những mảnh vườn quê trong miền hoài niệm của tác giả không chỉ là xứ sở của những cây rau dại làm nên những món ăn của đồng quê mà còn những vị thuốc kì diệu gắn với kinh nghiệm dân gian của người xưa Nó cho thấy cách ứng xử với của con người trước thiên nhiên, tận dụng
Trang 40thiên nhiên khi xây dựng không gian cư trú Đây cũng là kinh nghiệm đúc rút qua nhiều năm, nhiều thế hệ của cư dân nơi đây, tạo nên nét kiến trúc độc đáo trong việc xây dựng không gian đời sống văn hóa mà biểu trưng là khuôn viên ngôi nhà gắn với cảnh sắc và con người, tạo nên biểu tượng về văn hóa làng quê Việt
Có thể nói kiến trúc nhà ở hiện lên trong hai tác phẩm mang đậm bản sắc văn hóa đồng bằng Bắc Bộ Từ không gian của cộng đồng đến kiến trúc nhà ở trong mỗi gia đình đều thể hiện linh hồn làng quê và vẻ đẹp sự tài hoa, tình yêu của nhà văn dành cho quê hương
2.1.2 Trang phục
Trang phục là nhu cầu vật chất quan trọng trong đời sống con người, đồng thời cũng là một phần của giá trị văn hóa vật thể Trang phục thể hiện quan điểm thẩm mĩ, lối sống, trình độ của mỗi dân tộc, nhóm người, cá nhân đặc biệt Do vậy, nó thể hiện đặc trưng văn hóa của cộng đồng Trong tác phẩm của mình, nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã tái hiện bản sắc văn hóa Việt qua những trang phục thường ngày và trang phục lễ hội của con người vùng đồng bằng Bắc Bộ
Trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều, trang phục thường ngày được miêu tả chủ yếu là trang phục nữ Các bà, các mẹ hiện lên trong kí ức tuổi thơ
của tác giả với màu áo nâu đặc trưng “bà tôi thì mặc váy thâm và đi ngủ thì bà
chít khăn vuông thâm Những người đàn bà làng tôi những năm tháng ấy hầu như chỉ mặc quần áo nhuộm củ nâu màu thâm Cho dù mua được vải trắng
về cũng đem nhuộm mầu Vì công việc đồng áng và cuộc sống nhà quê luôn bùn đất, nên quần áo nâu là hợp nhất vì ít nhìn thấy vết bẩn” [25, tr.14] Màu
nâu của chiếc áo năm xưa gắn với cuộc sống thiếu thốn sự lam lũ, cơ cực, công việc đồng áng và đó cũng là màu của bùn đất mang theo quan niệm người dân đất Việt về sự thích nghi, hòa nhập với thiên nhiên, với ruộng đồng