Trong quá trình phát triển của đất nước, ta thấy rõ trước năm 1986 Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội như: sự tụt hậu về kinh tế, nghèo nàn về các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
DƯƠNG THỊ OANH THANH
VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN VỀ ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
DƯƠNG THỊ OANH THANH
VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN VỀ ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình
từ phía các thầy cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè cả về tinh thần cũng như kiến thức khoa học
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Ngô Đình Xây- người đã hướng dẫn tôi tận tình, tạo cho học viên động lực mạnh mẽ, say mê nghiên cứu với ý thức làm việc nghiêm túc trong thời gian qua
Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm, các thầy giáo, cô giáo trong khoa Triết học- trường Đại Học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình tôi đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi vượt qua những quãng thời gian khó khăn nhất
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Dương Thị Oanh Thanh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Đổi mới tư duy lý luận về đối
ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.” là một công trình nghiên
cứu độc lập của cá nhân tôi Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác Các kết luận khoa học chưa được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Dương Thị Oanh Thanh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Ý nghĩa của luận văn 6
8 Kết cấu luận văn 6
Chương 1 TÍNH TẤT YẾU VÀ NỘI DUNG ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN VỀ ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY 7
1.1 Tư duy lý luận và đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại 7
1.1.1 Tư duy lý luận và đổi mới tư duy lý luận 7
1.1.1.1 Tư duy lý luận 7
1.1.1.2 Đổi mới tư duy lý luận 15
1.1.2 Đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại 19
1.2 Đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu 22
1.2.1 Những tác động của nhân tố khách quan 22
1.2.2 Những tác động của nhân tố chủ quan 27
1.3 Nội dung cơ bản của việc đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1986 đến nay 29
1.3.1 Nhận thức lại thời đại 30
1.3.2 Nhận thức về các chủ thể của thế giới 36
1.3.3 Nhận thức lại những mâu thuẫn trong giai đoạn hiện nay của thời đại 42
1.3.4 Những kết quả và bài học kinh nghiệm 45
1.3.4.1 Những kết quả 45
1.3.4.2 Bài học kinh nghiệm 48
Trang 6Chương 2 VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN VỀ ĐỐI NGOẠI CỦA
ĐẢNG TRONG THỜI GIAN TỚI 51
2.1 Dự báo bối cảnh mới tác động đến việc đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại của Đảng 51
2.1.1 Bối cảnh chung và khu vực 51
2.1.1.1 Về bối cảnh chung 51
2.1.1.2 Về bối cảnh khu vực 58
2.1.2 Sự hội nhập sâu, rộng vào đời sống quốc tế và yêu cầu phát triển nội lực 60
2.2 Những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại của Đảng ta 63
2.2.1 Mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế 63
2.2.1.1 Cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế 63
2.2.1.2 Thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế 64
2.2.1.3 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế 71
2.2.2 Nhận thức về đối tượng, đối tác trong ngoại giao 78
2.2.2.1 Khái niệm về đối tượng và đối tác trong công tác ngoại giao 78 2.2.2.2 Sự phân định đối tác và đối tượng trong tư duy đối ngoại 78
2.2.3 Mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia, dân tộc và lợi ích nhân loại trong quan hệ hợp tác ngoại giao 81
2.2.3.1 Quan niệm về lợi ích quốc gia, dân tộc và lợi ích nhân loại 81
2.2.3.2 Lợi ích quốc gia dân tộc là bất biến 84
2.2.4 Thái độ đối với các nước láng giềng 84
2.3 Phương hướng và giải pháp để tiếp tục đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại của Đảng trong thời gian tới 85
2.3.1 Phương hướng 85
2.3.2 Giải pháp 90
KẾT LUẬN 98
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 ADB The Asian Development Bank
Ngân hàng phát triển châu Á
2 APEC Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương
3 AFTA ASEAN Free Trade Area
Khu vực thương mại tự do ASEAN
4 ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
5 ASEM The Asia-Europe Meeting
Diễn đàn Hợp tác Á- Âu
6 ARF ASEAN Regional Forum
Diễn đàn khu vực ASEAN
7 COC Code of conduct
Bộ quy tắc ứng xử trên Biển đông
8 EC European Economic Community,
Cộng đồng Kinh tế châu Âu
9 EU European Union
Liên minh châu Âu
10 FDI Foreign Direct Investment
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài
11 FTA Free trade agreement
Hiệp định Thương mại Tự do song phương Việt Nam-
Trang 8Hệ thống thông tin di động toàn cầu
14 IMF International Monetary Fund
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
15 NAFTA North America Free Trade Agreement
Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ
16 NMD National Missile Defense
Phòng thủ tên lửa quốc gia của Hoa Kỳ
17 TPP Tran-Pacific Strategic Economic Pảnership Agreement
Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương
18 ODA Official Development Assistance
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
Ngân hàng thế giới
20 WTO Worrld Trade Organnization
Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước bắt đầu từ năm 1986, trong đó
có lĩnh vực đối ngoại Đường lối đối ngoại và hoạt động ngoại giao đã đóng góp những thành tựu quan trọng vào những thành tựu chung của sự nghiệp đổi mới đất nước Ngoại giao Việt Nam đã chuyển mình đưa đất nước ta từ chỗ bị bao vây, cô lập trên trường quốc tế đến nay Việt Nam đã hoà nhập mạnh mẽ vào khu vực và thế giới Việt Nam chủ động, tích cực hơn trong các mối quan hệ bang giao Hiện tại Việt Nam đang là thành viên của nhiều tổ chức lớn trên thế giới và có quan hệ đầy đủ và bình thường với tất cả các nước lớn, các trung tâm kinh tế- chính trị, các tổ chức tài chính tiền tệ lớn trên thế giới, vị thế của nước ta dần được khẳng định trên trường quốc tế
Trong quá trình phát triển của đất nước, ta thấy rõ trước năm 1986 Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội như: sự tụt hậu về kinh tế, nghèo nàn về các sản phẩm tiêu dùng, lạc hậu về khoa học-
kỹ thuật và công nghệ… Nguyên nhân của tình trạng đó là do chúng ta “bế quan tỏa cảng” không giao lưu buôn bán, “khép mình” trong các mối quan hệ đối ngoại, với quan điểm chỉ quan hệ với các nước trong hệ thống Chủ nghĩa
xã hội, các nước được coi là anh em mà bỏ qua các mối quan hệ ngoại giao với các nước tư bản trên thế giới Nguyên nhân sâu xa của thực tế trên đó là
do xuất phát từ tư duy, từ nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về quá trình vận động phát triển thực tiễn như: tình hình xu hướng vận động của thời đại, quốc
tế cũng như nhu cầu đổi mới của đất nước Do vậy, trong lĩnh vực đối ngoại đòi hỏi phải đổi mới tư duy, đây là vấn đề cấp bách trong sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, đồng thời là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự tồn tại
và phát triển của đất nước Chính vì vậy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI (1986) đã đánh dấu bước ngoặt trong đổi mới tư duy lý luận của Đảng,
đó là sự điều chỉnh chính sách đối ngoại, là sự xác định lại mục tiêu phát
Trang 10triển của đất nước phù hợp với sự vận động liên tục trong quan hệ quốc
tế, từ đó xây dựng môi trường bên ngoài ổn định phục vụ cho sự phát triển Từ năm 1986 đến nay, nội dung đổi mới tư duy trong lĩnh vực đối ngoại càng được Đảng ta làm rõ hơn
Để nghiên cứu việc đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta về lĩnh vực đối ngoại, thông qua đó, thấy được ý nghĩa của tư duy lý luận trong nhận thức xã hội, trong hoạt động thực tiễn và đặc biệt trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tôi chọn đề tài “Vấn đề đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn
2 Tình hình nghiên cứu
Sự kết thúc của cục diện thế giới hai cực thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng đa phương, đa dạng hoá quan hệ quốc tế Kinh tế trở thành nhân tố quyết định sức mạnh tổng hợp từng quốc gia và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh Tuy nhiên, không có nghĩa đã hết khả năng xảy ra căng thẳng mới, rối loạn hoặc xung đột cục bộ Thêm vào đó là những vấn đề toàn cầu trở nên gay gắt
Từ năm 1986, trước yêu cầu bức bách của tình hình trong nước (khủng hoảng kinh tế trầm trọng, mục tiêu tổng thể của kế hoạch 5 năm 1981 - 1985 thất bại; lòng tin của nhân dân giảm sút; những khó khăn bên trong do vấn đề Campuchia và hậu quả của cuộc chiến tranh biên giới năm 1979) và sự phát triển mới của tình hình quốc tế (thuận lợi: xu thế hoà hoãn Đông - Tây; xu thế toàn cầu hoá và cạnh tranh kinh tế trong quan hệ quốc tế; khu vực châu Á – Thái Bình Dương phát triển năng động nhất thế giới; vấn đề Campuchia đang từng bước được giải quyết bằng thương lượng chính trị; và khó khăn: Mỹ và phương Tây tiếp tục duy trì bao vây, cấm vận đối với Việt Nam; cải tổ và sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô), Đảng ta với
Trang 11tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật thì vấn đề đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại được đặt ra cấp thiết cho sự phát triển đất nước
Đã có nhiều tác giả và tập thể tác giả, nhiều công trình và bài viết như: Tác giả Lại Văn Toàn "Đổi mới tư duy lý luận- tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới" tạp chí Triết học, số 1- 1998, trong công trình tác giả đề cập tới việc đổi mới tư duy lý luận có vai trò quan trọng trong sự phát triển đất nước, trong công cuộc đổi mới; "Vai trò của đối ngoại tổng hợp trong xây dựng thương hiệu quốc gia" của tác giả Nguyễn Anh Tuấn, trong tạp chí Châu Âu
Số 4- 2008, trong công trình tác giả đã làm rõ đối ngoại tổng hợp là ngoại giao trên tất cả các lĩnh vực một cách đồng bộ, nhờ đó làm nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường Quôc tế; "Đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta" của
TS Nguyễn Đức Tài, Nxb chính trị quốc gia, 2005, trong tác phẩm tác giả cho bạn đọc thấy được tính cấp thiết của việc đổi mới tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới; Và đó cũng là vấn đề được đề cấp trong tác phẩm "Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới" của giáo sư Trần Nhâm, Nxb chính trị quốc gia,
2004 nhưng dưới cách tiếp cận mới của tác giả; “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đường lối đối ngoại (1986-2000)” do tác giả Vũ Quang Vinh chủ biên, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2001; “Đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta từ
1986 đến nay” do PGS.TS Tô Huy Rứa chủ biên, Nxb CTQG, HN, 2005; mới nhất là “Đối ngoại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (1945- 2012)” của PGS.TS Đinh Xuân Lý chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội,
2013 Trong ba tác phẩm trên các tác giả đi khảo cứu quá trình đổi mới tư duy
lý luận của Đảng ta thông qua các thời kỳ lịch sử trước và sau đổi mới toàn diện đất nước, và đã nhấn mạnh đổi mới tư duy lý luận là một quá trình, là sự vận động của tư duy, nhận thức của Đảng trước sự biến động mạnh mẽ của các mối quan hệ quốc tế, tình hình thế giới và khu vực, và các tác giả đều nhấn mạnh có đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại thì nước ta mới hội nhập
Trang 12sâu, rộng vào môi trường quốc tế năng động hiện nay, mới đáp ứng được công cuộc đổi mới đất nước
Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đều cho rằng cách tư duy máy móc, siêu hình, chủ quan duy ý chí chính là nguyên nhân của tình trạng cô lập trong các mối quan hệ của nước ta với các nước khác Và trong các tác phẩm đều đặt ra vấn đề phải đổi mới tư duy lý luận khắc phục lối tư duy kinh nghiệm Các tác giả đã chỉ ra trong quá trình đổi mới cần bám sát vào thực tiễn, tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, đó là yêu cầu to lớn mà thực tiễn đề ra cho hoạt động lý luận của Đảng ta
Vì vậy vấn đề đổi mới tư duy lý luận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, trong đó có đổi mới tư duy lý luận trong lĩnh vực đối ngoại mang tính cấp thiết hiện nay
Tuy nhiên, nghiên cứu những vấn đề đang đặt ra trong việc đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta hiện nay thể hiện như là nhận thức mới của Đảng cộng sản Việt Nam trong lĩnh vực đầy biến động và nhạy cảm này thì còn ít được đề cập đến Chính vì vậy, với đề tài "Vấn đề đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay" luận văn muốn tiếp cận và làm rõ tính cấp thiết và vấn đề đang đặt ra trong quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta về lĩnh vực đối ngoại hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Từ lý luận và thực tiễn của quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của nước
ta từ năm 1986 đến nay, luận văn làm rõ các vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng, đề ra phương hướng và giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta về lĩnh vực đối ngoại
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, luận văn hệ thống hóa một số khái niệm: tư duy, tư duy lý
luận, đối ngoại và đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại
Trang 13Thứ hai, Làm rõ các vấn đề nảy sinh trong quá trình đổi mới tư duy lý
luận trong lĩnh vực đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam
Thứ ba, Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới tư duy
lý luận của Đảng ta về lĩnh vực đối ngoại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu việc đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại
- Phạm vi nghiên cứu:
Đánh giá những nội dung cơ bản của việc đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1986 đến nay và nhận dạng các vấn đề đang đặt ra trong quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại hiện nay thông qua việc nghiên cứu các văn kiện Đảng và các công trình khoa học
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nhận thức và tư duy
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích- tổng hợp, lôgíc- lịch sử, phương pháp so sánh Các phương pháp được sử dụng đan xcacsnhau để làm rõ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 147 Ý nghĩa của luận văn
Trên cơ sở phân tích các vấn đề nảy sinh trong quá trình đổi mới tư duy
lý luận về đối ngoại, luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp mang tính đồng bộ và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quá trình đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại ngoại của Đảng
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo về các vấn đề liên quan tới chuyên đề tư duy, tư duy lý luận, nhận thức xã hội, và chuyên đề đổi mới nhận thức của Đảng trong lĩnh vực đối ngoại
8 Kết cấu luận văn
Luận văn được chia làm 3 phần: Mở đầu, Nội dung, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo Trong đó phần nội dung bao gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 15Chương 1 TÍNH TẤT YẾU VÀ NỘI DUNG ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN
VỀ ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TỪ 1986 ĐẾN NAY
1.1 Tư duy lý luận và đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại
1.1.1 Tư duy lý luận và đổi mới tư duy lý luận
1.1.1.1 Tư duy lý luận
Ph Ăngnghen khẳng định: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại” [8, tr 403] Như vậy, tư duy là một vấn đề được quan tâm trong triết học dù dưới hình thức này hay hình thức khác Các triết gia từ thời kỳ cổ đại, đã đi nghiên cứu nguồn gốc, sự phát triển của tư duy, các quy luật vận động và vai trò của
nó đối với đời sống con người Hiện nay, tư duy được xem xét dưới nhiều góc độ: Triết học nghiên cứu tư duy dưới góc độ lý luận nhận thức; lôgíc học nghiên cứu tư duy ở các quy tắc tư duy đúng; xã hội học nghiên cứu tư duy ở
sự phát triển của quá trình nhận thức trong các chế độ xã hội khác nhau; sinh
lý học nghiên cứu cơ chế hoạt động thần kinh cao cấp với tư cách là nền tảng vật chất của các quá trình tư duy ở con người; điều khiển học nghiên cứu tư duy để có thể tạo ra "trí tuệ nhân tạo"; tâm lý học nghiên cứu diễn biến của quá trình tư duy, mối quan hệ qua lại cụ thể của tư duy với các khía cạnh khác
của nhận thức
Song, dù là loại tư duy nào thì nó cũng có sự khác biệt căn bản với tư duy con người, ở chỗ: Tư duy của con người mang bản chất xã hội - lịch sử,
có tính sáng tạo, có khả năng khái quát và sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện
Tư duy con người được quy định bởi các nguyên nhân, các yêu cầu của quá trình phát triển lịch sử - xã hội, chứ không đừng lại ở mức độ tư duy bằng các thao tác chân tay hay bằng một chương trình đã được lập sẵn Có thể nói một
Trang 16cách khái quát, các nhà tâm lý học mácxít, trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chúng, đã khẳng định: Tư duy là sản phẩm cao cấp của một dạng vật chất hữu cơ có tổ chức cao, đó là bộ não của con người Trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan bằng những khái niệm, phán đoán tư duy bao giờ cũng có mối liên hệ nhất định với một hình thức hoạt động của vật chất, với
sự hoạt động của não người Trong khi xác định sự giống nhau giữa tâm lý người và động vật, các nhà tâm lý học mácxít cũng chỉ ra sự khác nhau căn bản giữa tư duy của con người và hoạt động tâm lý động vật Một trong những khác nhau ấy là tư duy con người sử dụng khái niệm để ghi lại những kết quả trừu tượng hoá, tư duy được ra đời do lao động và trên cơ sở của sự phát triển xã hội Thông qua hoạt động thực tiễn, thế giới tự nhiên tác động vào các giác quan tạo ra cảm giác, tri giác và biểu tượng là cơ sở ban đầu của
tư duy Tư duy khái quát những thông tin thu nhận được của cảm giác hinhf thành nên những khái niệm và những phạm trù khoa học, mang lại cho chúng
ta những hiểu biết rộng hơn, sâu hơn những cảm giác trực tiếp Nhờ trừu tượng hoá mà tư duy đã rut ra, hay nhận thức được những mối liên hệ, quan
hệ của rất nhiều sự vật, hiện tượng, nêu ra được những khái niệm, những phạm trù, những quy luật phản ánh các mối liên hệ, quan hệ của rất nhiều sự vật, hiện tượng, nêu ra được những khái niệm, những phạm trù, những quy luật phản ánh các mối liên hệ, quan hệ nội tại của các sự vật, hiện tượng đó
Và chỉ có khái quát về lý luận mới cho phép tư duy của con người tìm ra bản chất của các sự vật, hiện tượng và các quy luật phát triển của chúng
Như vậy, tư duy là chức năng riêng biệt vốn có của não người, đó là quá trình con người tiếp cận và nắm bắt hiện thực, là hình thức cao cho sự phản ánh hiện thực, là hình thức cao cho sự phản ánh tích cực, chủ động, có mục đích về thế giới hiện thực khách quan, và được thể hiện ra như là sự nhận thức có tính gián tiếp, khái quát về các mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển bách khoa Hà Nội 2005), tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ
Trang 17chức một cách đặc biệt gắn với chức năng của bộ não con người Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận Theo một định nghĩa khác, "tư duy" là danh từ triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của con người để sửa đổi
và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho con người có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó
Cơ chế hoạt động của tư duy dựa trên hoạt động sinh lý của bộ não với
tư cách là hoạt động thần kinh cao cấp Mặc dù không thể tách rời não nhưng
tư duy không hoàn toàn gắn liền với một bộ não nhất định Trong quá trình sống, con người giao tiếp với nhau, do đó, tư duy của từng người vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân vừa chịu sự tác động biến đổi từ xã hội thông qua hoạt động có tính vật chất Do đó, tư duy không chỉ gắn với bộ não của từng cá thể người mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì được tính cá thể của một con người nhất định
Theo quan điểm của Triết học duy vật biện chứng, lao động là một trong các yếu tố quyết định để chuyển hóa vượn có dạng người thành con người Từ chỗ là một loài động vật thích ứng với tự nhiên bằng bản năng tự nhiên, con người đã phát triển sự thích ứng đó bằng bản năng thứ hai là tư duy với năng lực trừu tượng hóa ngày càng sâu sắc đến mức nhận thức đuợc bản chất của hiện tượng, quy luật của tự nhiên và nhận thức được chính bản thân mình
Theo quan điểm tâm lý học, tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết
Như vậy, chúng ta có thể hiểu được rằng tư duy là một quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện không ngừng Quá trình đó chứa đựng một số thuộc tính cơ bản sau đây:
Trang 18Một là, tính có vấn đề của tư duy
Vấn đề là những tình huống, hoàn cảnh chứa đựng một mục đích, một vấn đề mới mà những hiểu biết cũ, những phương pháp hành động cũ tuy còn cần thiết song không đủ sức giải quyết Tư duy chỉ xuất hiện khi gặp những hoàn cảnh, tình huống có vấn đề Muốn giải quyết vấn đề đó con người phải tìm cách thức giải quyết mới Tức là con người phải tư duy
Hai là, tính gián tiếp của tư duy
Tư duy con người không nhận thức thế giới một cách trực tiếp mà có khả năng nhận thức nó một cách gián tiếp Tính gián tiếp của tư duy được thể hiện trước hết ở việc con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy Nhờ có ngôn ngữ mà con người sử dụng các kết quả nhận thức (quy tắc, khái niệm, công thức, quy luật…) và kinh nghiệm của bản thân vào quá trình tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát…) để nhận thức được cái bên trong, bản chất của sự vật hiện tượng
Tính gián tiếp của tư duy còn được thể hiện ở chỗ, trong quá trình tư duy con người sử dụng những công cụ, phương tiện (như đồng hồ, nhiệt kế, máy móc…) để nhận thức đối tượng mà không thể trực tiếp tri giác chúng
Ví dụ: Để biết được nhiệt độ sôi của nước ta dùng nhiệt kế để đo
Để đo người ta dùng các thiết bị đo đặc biệt để đo chứ không thể qua cảm nhận giác quan thông thường mà biết được
Ba là, tính trừu tượng và khái quát của tư duy
Khác với nhận thức cảm tính, tư duy không phản ánh sự vật, hiện tượng một cách cụ thể và riêng lẻ Tư duy có khả năng trừu xuất khỏi sự vật, hiện tượng những thuộc tính, những dấu hiệu cá biệt, cụ thể, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất chung cho nhiều sự vật hiện tượng, trên cơ sở đó mà khái quát những sự vật hiện tượng riêng lẻ, nhưng có những thuộc tính chung thành một nhóm, một loại, một phạm trù Nói cách khác tư duy mang tính trừu tượng và khái quát
Trang 19Trừu tượng và khái quát có mối liên hệ mật thiết với nhau ở mức độ cao Không có trừu tượng thì không thể tiến hành khái quát, nhưng trừu tượng
mà không khái quát thì hạn chế quá trình nhận thức Phân tích ví dụ :
Nói về khái niệm “cái cốc”, con người trừu xuất những thuộc tính không quan trọng như chất liệu, màu sắc, kiểu dáng mà chỉ giữ lại những thuộc tính cần thiết như hình trụ,dùng để đựng nước uống Đó là trừu tượng
Khái quát gộp tất cả những đồ vật có những thuộc tính cơ bản nói trên
dù làm bằng nhôm, sứ, thủy tinh…có màu xanh hay vàng…tất cả đều xếp vào một nhóm “cái cốc”
Nhờ có đặc điểm này mà con người không chỉ giải quyết được những nhiệm vụ hiện tại mà còn có thể giải quyết được những nhiệm vụ của tương lai, trong khi giải quyết nhiệm vụ cụ thể vẫn có thể sắp xếp nó vào một nhóm, một loại, một phạm trù để có những quy tắc, những phương pháp giải quyết tương tự
Bốn là, tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ
Tư duy mang tính có vấn đề, tính gián tiếp, tính trừu tượng và khái quát
là do nó gắn chặt với ngôn ngữ Tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người không thể diễn ra được, đồng thời các sản phẩm của tư duy (khái niệm, phán đoán…) cũng không được chủ thể và người khác tiếp nhận
Ngôn ngữ cố định lại kết quả của tư duy, là phương tiện biểu đạt kết quả tư duy, do đó có thể khách quan hóa kết quả tư duy cho người khác và cho bản thân chủ thể tư duy Ngược lại, nếu không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ
là những chuỗi âm thanh vô nghĩa Tuy nhiên, ngôn ngữ không phải là tư duy
mà chỉ là phương tiện của tư duy
Ngôn ngữ của chúng ta ngày nay là kết quả của quá trình phát triển tư duy lâu dài trong lịch sử phát triển của nhân loại, do đó ngôn ngữ luôn thể hiện kết quả tư duy của con người
Trang 20Năm là, tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính
Tư duy phải dựa vào nhận thức cảm tính, dựa trên những tài liệu cảm tính, trên kinh nghiệm, trên cơ sở trực quan sinh động Tư duy thường bắt đầu
từ nhận thức cảm tính, trên cơ sở nhận thức cảm tính mà nảy sinh tình huống
có vấn đề Nhận thức cảm tính là một khâu của mối liên hệ trực tiếp giữa tư duy với hiện thực, là cơ sở của những khái quát kinh nghiệm dưới dạng những khái niệm, quy luật…, là chất liệu của những khái quát hiện thực theo một nhóm, một lớp, một phạm trù mang tính quy luật trong quá trình tư duy
Ngược lại, tư duy và những kết quả của nó ảnh hưởng mạnh mẽ, chi phối khả năng phản ánh của nhận thức cảm tính: làm cho khả năng cảm giác của con người tinh vi, nhạy bén hơn, làm cho tri giác của con người mang tính lựa chọn, tính ý nghĩa
Quá trình tư duy là một quá trình phức tạp, nó không tiến hành phản ánh một lần mà phải thực hiện cả một chuỗi phản ánh để đi đến nhận thức sâu sắc về đối tượng, Tư duy có khả năng linh hoạt cao, nó có thể tiên đoán trước vấn đề, vượt trước thực tiễn, đi trước thực tiễn, nhưng nếu như trong qúa trình phản ánh tư duy không gắn với thực tiễn, thoát ly với hiện thực thì nó dễ mắc phải những sai lầm như: chủ quan và duy ý chí Lĩnh vực phản ánh của tư duy rất đa dạng bao gồm: tư duy về kinh tế, tư duy về chính trị, tư duy về văn hoá,
tư duy về đối ngoại… nhưng mọi hình thức phản ánh, lĩnh vực phản ánh của
tư duy đều có mục đích cuối cùng là nhằm tạo ra sản phẩm được chứng nhận với tên gọi là chân lý Phương pháp của tư duy cũng rất đa dạng có thể là: tư duy hình thức, tư duy biện chứng, tư duy siêu hình, tư duy kinh viện,… và thông qua cách thức mà chủ thể tư duy phản ánh về đối tượng, sẽ cho phép chúng ta đánh giá được chủ thể tư duy đang ở trình độ nào trong tư duy
Tư duy lý luận là hình thức cao nhất của tư duy, nó chính là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao bằng các khái niệm, phạm trù, quy luật Ở đó, chủ thể nhận
Trang 21thức sử dụng ngôn ngữ và các thao tác tư duy để nắm bắt các mối liên hệ mang tính bản chất, tìm ra các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn trong khách thể nhận thức
So với tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận đóng một vai trò hết sức to lớn trong nhận thức và cải tạo thế giới Nhờ có tư duy lý luận mà con người mới phát hiện ra được các quy luật vận động và phát triển của hiện thực khách quan Hướng sự vận động đó vào phục vụ lợi ích của con người Ph.Ăngghen từng nói rằng: “một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” [9, tr 489] Bởi vì, tư duy lý luận cho phép nhà nghiên cứu vạch mở được bản chất phát triển của khách thể nghiên cứu, tạo bước chuyển về chất của đối tượng từ trạng thái này sang trạng thái khác phát hiện và phản ánh vào khoa học các luận điểm, lý thuyết, quy luật tồn tại và phát triển của nó mà nhận thức cảm tính không thể tiếp cận được Bằng tư duy lý luận con người khám phá bản chất, khoan sâu đến bản chất của hiện tượng Tư duy lý luận đóng vai trò là chất keo dính các sự kiện, hiện tượng, các mối liên hệ, quan hệ của sự vật, hiện tượng “Dù người ta tỏ ý khinh thường tư duy lý luận như thế nào đi nữa, nhưng không có tư duy lý luận thì người ta không thể liên kết hai sự kiện trong giới tự nhiên được với nhau, hay không thể hiểu được mối liên hệ giữa hai sự liên kết đó” [9, tr.508]
Tư duy lý luận gắn kết các hình ảnh hoạt động, vận hành bộ máy công cụ của mình để giúp cho nhận thức đi vào bản chất của sự vật
Nhận thức xã hội là quá trình phản ánh đời sống xã hội vào trong ý thức của con người, là một bộ phận của hình thái ý thức xã hội, nó bao gồm nhiều thành tố, hình thái xã hội khác nhau của đời sống tinh thần Mối quan
hệ giữa tư duy lý luận và nhận thức xã hội là mối quan hệ bản chất, vì vậy tư duy lý luận có vai trò rất quan trọng trong nhận thức xã hội:
Thứ nhất, Tư duy lý luận với sản phẩm là tri thức lý luận, nó đóng vai
trò điều kiện, tiền đề cho nhận thức xã hội, trên cơ sở vận dụng vào quá trình
Trang 22nhận thức xã hội, phản ánh hiện thực xã hội và cũng như việc áp dụng những học thuyết, lý thuyết xã hội vào trong quá trình hoạt động thực tiễn, giải thích thế giới Trong vai trò là “bà đỡ lý luận” này, các học thuyết xã hội còn là tiền
đề để xây dựng các học thuyết, lý thuyết xã hội mới trên cơ sở kế thừa, bổ sung để ngày càng hoàn thiện hệ thống lý thuyết xã hội, phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan và tạo ra những chân lý, nhưng “lý luận về các quy luật của tư duy không phải là một chân lý vĩnh viễn” [9; tr 487] Do đó, trong mỗi một giai đoạn, trong mỗi thời kỳ nhất định, điều kiện xã hội nhất định thì chủ thể tư duy lý luận, phải có sự phản ánh sáng tạo chủ động dựa trên những đặc điểm riêng biệt của hoàn cảnh lịch sử để có nhận thức đúng đắn
Chính thế giới hiện thực khách quan là chất liệu không thể thiếu trong kết cấu của sự phản ánh Không có thế giới hiện thực, không có đối tượng phản ánh thì tư duy không có cơ sở vật chất để tồn tại Vì vậy, không có một
hệ thống tri thức lý luận nào được hình thành mà không có điều kiện, tiền đề
ra đời của nó là thực tiễn
Thứ hai, Với vai trò là phương pháp, tư duy lý luận dựa trên bộ công
cụ là các thao tác tư duy giúp cho nhận thức xã hội đi sâu vào bản chất của hiện tượng xã hội, tìm ra tính quy luật, tính lôgic trong sự phát triển của hiện tượng xã hội, loại bỏ những cái ngẫu nhiên, bề ngoài, riêng lẻ, tiểu tiết Tư duy lý luận giúp cho chủ thể nhận thức phân biệt được đâu là nội dung, đâu là hình thức; đâu là nguyên nhân; đâu là kết quả; đâu là tất yếu; đâu là ngẫu nhiên… Từ đó, nhận thức xã hội có thể phản ánh được hiện thực xã hội không phải ở cái ngẫu nhiên, ở cái cảm tính trực quan, ở cái bề ngoài, phản ánh những mảnh vụn của hiện thực xã hội, những mảnh vỡ của hoạt động nhận thức mà là ở tính hệ thống, tính bản chất và có quy luật của nó
Thứ ba, Với tư cách là phương pháp luận cho nhận thức xã hội, tư
duy lý luận còn được xem như là cơ sở lý luận, là cương lĩnh lý luận cho hoạt động nhận thức xã hội Nó điều khiển hoạt động nhận thức của con người
Trang 23cũng như tính có hiệu quả của hoạt động V.I Lênin từng nói: không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng và chỉ có một Đảng nào
có được lý luận tiên phong dẫn đường thì mới có đóng vai trò tiên phong trong sự phát triển xã hội Vai trò phương pháp luận góp phần định hướng, chỉ đạo, tìm phương hướng tiếp cận vấn đề lý luận một cách có hiệu quả nhất Mà
ở đây phương pháp tư duy biện chứng được xem là phương pháp tối ưu, với
sự góp mặt của ba quy luật và sáu cặp phạm trù cơ bản
Thứ tư, Tư duy lý luận cung cấp các lý thuyết cụ thể, cách nhìn cụ thể
cho nhận thức xã hội, ở đây tư duy lý luận cung cấp các lát cắt về nhận thức
xã hội có thể nhìn nhận, đánh giá về hiện thực khách quan dưới nhiều hình lăng kính khác nhau, những góc nhìn khác nhau
Kết quả của tư duy lý luận là các lý thuyết, các học thuyết và tư duy lý luận ở đây được hiện ra thông qua các lý thuyết cụ thể, các học thuyết cụ thể
về xã hội, về con người, và từ các lý thuyết cụ thể này làm cơ sở lý luận trực tiếp để hình thành lên các đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của xã hội
1.1.1.2 Đổi mới tư duy lý luận
Các quy luật khách quan tác động trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và trong tư duy cũng vậy nó diễn ra gắn liền, đồng thời với quá trình hoạt động thực tiễn Tư duy cũng như thực tiễn không phát triển đơn giản như một đường thẳng liên tục đi lên, mà nó cũng có những “bước thụt lùi tạn thời”, nó không diễn ra đều đặn mà lúc nhanh, lúc chậm, tĩnh lại, lúc thì nhảy vọt và có
cả những thay đổi lạ thường Tư duy với tư cách là sự phản ánh thế giới khách quan và nó mang tính thời đại, tính lịch sử Không có một tư duy chung cho mọi thời đại, mà ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định nó lại được đặc trưng bởi một hình thức tư duy riêng của nó phản ánh trình độ nhận thức của thời đại
ấy Ở những giai đoạn mà tư duy bộc lộ sự thụt lùi, tư duy kinh viện, kinh nghiệm, hình thức… thì buộc chủ thể tư duy phải có sự thay đổi Sự thay đổi không phải đơn thuần là sự thay thế giữa cái hình thức với cái kinh nghiệm,
Trang 24hay giữa thực dụng với kinh nghiệm mà phải theo hướng tốt hơn, tiến bộ hơn Phải khắc phục được những hạn chế của tư duy hiện thời và phải đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển Do vậy, “Đổi mới là thay đổi hoặc làm cho sự vật tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước” [3, tr 657] Đổi mới tư duy là sự phản ánh bản chất, xác thực về đối tượng Muốn vậy, tư duy phải bám sát đối tượng, và quá trình vận động phát triển của nó, ngay cả khi có những bước tiến, bước lùi tạm thời trong sự phát triển đó
Đổi mới trên cơ sở kế thừa, kế thừa trên cơ sở đổi mới Đó là biện chứng của sự phát triển nói chung, của tư duy lý luận nói riêng Với ý nghĩa
đó, đổi mới tư duy không có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt được, phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ nhận đường lối đúng đắn đã được Đảng ta xác định và dân tộc ta, nhân dân ta lựa chọn Trái lại, đổi mới tư duy chính là bổ sung và phát triển những thành tựu lý luận đã đạt được, làm cho lý luận đó thâm nhập vào hoạt động thực tiễn của quần chúng, dấy lên phong trào cách mạng to lớn, rộng khắp trong nhân dân Về nguyên tắc, đổi mới không làm thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả hơn
Muốn đổi mới tư duy, đòi hỏi Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản tinh thần quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếp thu những thành tựu lý luận, những kinh nghiệm mà các đảng cộng sản anh em đạt được Trong đó việc vận dụng sáng tạo phép biện chứng duy vật mácxít có
ý nghĩa quan trọng đặc biệt vì đó là cơ sở lý luận, là nền tảng cho đổi mới tư duy lý luận Bởi lẽ - như C.Mác nhận xét: “trong quan niệm tích cực về cái hiện đang tồn tại, phép biện chứng đồng thời cũng bao hàm cả quan niệm về
sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó; vì mỗi hình thái để hình thành đều được phép biện chứng xét ở trong sự vận động, tức là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó; vì phép biện chứng không khuất
Trang 25phục trước một cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính chất phê phán và cách mạng.” [11, tr35-36]
Tính “phê phán” và “cách mạng” trong phép biện chứng duy vật mácxít đòi hỏi chúng ta không được tự bằng lòng với tất cả những gì đã có Nó đòi hỏi tư duy của chúng ta phải biến đổi, phản ánh sự vận động thường xuyên của thế giới hiện thực Nghĩa là nó đòi hỏi tư duy của chúng ta phải linh hoạt, mềm dẻo, luôn luôn được mài sắc Mọi giáo điều, xơ cứng trong tư duy lý luận đều trái với bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin thường nhắc nhở những người cộng sản rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống.” [37, tr 232]
Mà tư duy lý luận là quá trình vận dụng hệ thống các khái niệm, phạm trù theo những nguyên tắc lôgic chặt chẽ, nhằm đạt đến chân lý, là quá trình tái hiện hiện thực, có khả năng phản ánh hiện thực một cách đúng đắn, sâu sắc Sức mạnh của sự sáng tạo phải gắn liền với thực tiễn chứ không được thoát ly khỏi thực tiễn
Vì vậy, quá trình đổi mới tư duy lý luận là:
- Đổi mới sự nhận thức của con người về đối tượng; khi thực tiễn thay đổi, những vấn đề mới nảy sinh từ những vấn đề cũ, lý luận của sự phản ánh những hiện thực cũ có thể phù hợp nhưng cũng có thể không còn phù hợp nữa, không thể tiếp tục góp phần thúc đẩy sự phát triển và có thể kìm hãm sự phát triển cả trong nhận thức và trong cải tạo thực tiễn Hệ thống lý luận với các khái niệm, phạm trù không phải là những chân lý vĩnh viễn mà có thể thay đổi khi hoàn cảnh thay đổi Khi thực tiễn nảy sinh vấn đề mới buộc chủ thể tư duy phải có sự nhận thức mới, đổi mới trong nhận thức để có thể tiếp cận hiện thực khách quan một cách chính xác và hiệu quả hơn Nếu không đổi
Trang 26mới thì không có sự phát triển trong tư duy, và không thể có bước chuyển trong hiện thực
- Đổi mới tư duy lý luận là phải đổi mới cách thức, thao tác tư duy Tức
là đổi mới phải sử dụng các thao tác tư duy như phân tích- tổng hợp, phân loại- so sánh, lịch sử- lôgic… các thao tác này phải được sử dụng một cách linh hoạt, tích cực, chủ động, sáng tạo Quá trình đổi mới các thao tác tư duy này không phải là sự thay đổi các quy luật tư duy mà làm cho sự vận dụng các thao tác tư duy có hiệu quả cao nhất Phải có sự liên kết, kết hợp giữa các thao tác để nhằm phản ánh nhanh nhất và chính xác nhất về đối tượng Việc vận dụng linh hoạt và sáng tạo các thao tác tư duy sẽ giúp chúng ta có thể vượt bỏ qua những cái ngẫu nhiên, bề ngoài trong quá trình xử lý các dữ kiện Đồng thời giúp cho quá trình tư duy có thể “rút ngắn” những thao tác nhất định trong quá trình phản ánh mà không nhất thiết phải trải qua những bước tuần
tự vẫn có thể tìm ra được lôgic vận động của đối tượng một cách chính xác Việc thực hiện các thao tác một cách hiệu quả sẽ giúp cho quá trình tư duy không nhất thiết phải bám sát tất cả mọi dữ kiện, tư liệu mà vẫn tìm ra được
xu hướng vận động và phát triển của đối tượng Việc đổi mới thao tác tư duy giúp chủ thể tư duy có thể loại bỏ những tiểu tiết mà đi vào cái bản chất của đối tượng Sự kết hợp các thao tác và sử dụng các thao tác có hiệu quả thì sẽ tạo ra những tri thức càng có tính chính xác ngày càng cao, càng tiến gần đến chân lý hơn, và góp phần cải tạo thực tiễn
- Đổi mới tư duy lý luận là đổi mới phương pháp tư duy, đổi mới phương pháp phản ánh đối tượng Đối tượng phản ánh không nằm trong sự khu biệt, riêng lẻ mà thường xuyên nằm trong mối liên hệ phổ biến, phong phú, đa dạng Bản thân các thuộc tính của đối tượng cũng luôn liên hệ và tác động qua lại với nhau Nếu chỉ dùng phương pháp kinh nghiệm, kinh viện…
để tiếp cận đối tượng thì nó sẽ bó hẹp đối tượng trong phạm vi nhỏ lẻ, trong
sự tĩnh tại, cô lập mà không thấy được sự rộng lớn và phong phú của sự vật,
Trang 27hiện tượng được phản ánh Do đó, phương pháp tư duy biện chứng được xem như là phương pháp tối ưu nhất trong quá trình phản ánh sự vật, hiện tượng
Tư duy biện chứng luôn xem xét sự vật, hiện tượng trong sự vận động, phát triển, trong sự biến đổi không ngừng, và luôn xem xét sự vật, hiện tượng trong các mối liên hệ, trong sự tác động qua lại với nhau và giữa các thuộc tính trong cùng một sự vật Chính tư duy biện chứng là sự phản ánh cô đọng, nhanh nhạy, kịp thời với sự biến đổi của thực tiễn
Như vậy, sự đổi mới tư duy là sự đổi mới căn bản, sâu sắc, toàn diện,
hệ thống cách nhìn nhận, phản ánh sự vật, hiện tượng Đổi mới tư duy lý luận
là việc thay đổi cách tiếp cận, phương pháp tiếp cận trong sự nghiên cứu, tìm hiểu đối tượng Quá trình đổi mới tư duy lý luận chính là quá trình làm cho tư duy phản ánh kịp thời đúng đắn, khách quan về sự vật, hiện tượng Đồng thời
có khả năng đưa ra các dự báo được các xu hướng, khả năng của sự phát triển của sự vật, hiện tượng Nâng cao tính khoa học, tính cách mạng và khả năng cải tạo thế giới của nó Đổi mới tư duy lý luận góp phần tạo ra tri thức lý luận
mới để có thể định hướng, chỉ đạo sự phát triển cho sự vận động của thực tiễn
1.1.2 Đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại
Nhận thức một cách sâu sắc ý nghĩa và tầm quan trọng của tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta lấy đổi mới tư duy lý luận làm khâu “đột phá” cho toàn bộ sự nghiệp đổi mới của mình
Xuất phát từ tình hình thực tế xã hội của đất nước vào thập niên 80 của thế kỷ trước; xuất phát từ những khuyết điểm, sai lầm trong lãnh đạo kinh tế -
xã hội của Đảng, xuất phát từ bản chất cách mạng và khoa học của lý luận Mác - Lênin, đứng trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới cũng như tác động của “cải cách, mở cửa” hay “cải tổ” đang diễn ra ở một số nước
xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi chúng ta “phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy”
Đó là đòi hỏi bức thiết của đất nước và cũng là đặc tính của cách mạng, là bản chất sâu xa của chủ nghĩa Mác - Lênin, là xu thế tất yếu của thời đại Chính vì
Trang 28vậy, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đổi mới tư duy lý luận về lĩnh vực đối ngoại được đặt ra cấp thiết Đổi mới để nhìn nhận đúng hơn về thực trạng của đất nước: “phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết có
hệ thống sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, rút ra những kết luận đúng đắn, khắc phục những quan điểm sai lầm, lỗi thời Đổi mới tư duy lý luận không có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt được, phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ nhận đường lối đúng đắn đã xác định, trái lại, chính là sự bổ sung và phát triển những thành tựu ấy” [12, tr.125]
Trước tiên muốn hiểu được đổi mới tư duy lý luận trong lĩnh vực đối ngoại thì ta cần phải làm rõ đối ngoại là gì?
“Đối ngoại là sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền lợi quốc gia mình và để góp phần giải quyết các vấn đề quốc tế chung” (Theo từ điển Tiếng Việt do Viện ngôn ngữ phát hành)
Còn theo từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Văn Đàm biên soạn, do Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin xuất bản năm 2000 thì “Đối ngoại có nghĩa là công việc giao thiệp giữa các quốc gia nước ngoài và giải quyết các vấn đề quốc tế”
Trên đây là hiểu theo nghĩa danh từ, còn hiểu theo nghĩa động từ đơn giản là sự giao thiệp với bên ngoài
Như vậy, đối ngoại có thể hiểu ở nghĩa hẹp là quan hệ giao tiếp, trao đổi giữa một quốc gia với quốc gia khác hay quan hệ giao tiếp trao đổi giữa nhân dân một quốc gia với nhân dân quốc gia khác Ở nghĩa rộng và khái quát thì đối ngoại là giao tiếp của một chủ thể với chủ thể khác
Đổi mới tư duy lý luận trong lĩnh vực đối ngoại là sự tìm kiếm một đường lối, chủ trương đúng đắn trong quan hệ với quốc tế trong xu hướng toàn cầu hoá ngày nay, từ đó tạo ra phương hướng và con đường phát triển đất nước tiến tới chủ nghĩa xã hội phù hợp với quy luật khách quan Đổi mới tư
Trang 29duy lý luận trong lĩnh vực đối ngoại không phải là đóng cửa không có quan hệ nào trong quốc tế nữa mà là đổi mới phương pháp tư duy, thay thế tư duy hình thức, siêu hình, giáo điều, thiển cận, kinh nghiệm,… bằng lối tư duy biện chứng trong cách phân tích tình hình, xu hướng thời đại
Theo tiến sỹ Vũ Dương Huân, trong bài viết “Về vấn đề đổi tư duy đối
ngoại của Việt Nam” đã đưa ra một định nghĩa như sau: “Đổi mới tư duy đối
ngoại là đổi mới nhận thức, quan niệm, cách tiếp cận, cách đánh giá về tình hình thế giới và Quan hệ quốc tế, trước hết là các vấn đề thời đại như nội dung, tính chất, đặc điểm, vấn đề chiến tranh và hòa bình, lực lượng cách mạng, chủ nghĩa tư bản và hiện đại và các xu thế phát triển của thế giới hiện nay”
Đổi mới tư duy lý luận về lĩnh vực đối ngoại không phải là phủ định toàn bộ những tư tưởng ngoại giao tiến bộ trước đó, mà là sự nhận thức sâu sắc hơn, đúng đắn hơn về thời cuộc, và nhu cầu cho sự tồn tại và phát triển của đất nước, để thúc đẩy quá trình tiến nhanh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa
xã hội, và dựa trên cơ sở nền tảng là chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng Đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại là sự yêu cầu cấp bách, nó đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại thực tiễn bởi lẽ thực tiễn đã thay đổi thì những lý luận, những đường lối đối ngoại trước
đó cần phải thay đổi cho phù hợp; đổi mới trong cả cách phân tích tình hình khu vực và quốc tế tìm ra bản chất vấn đề trong mối liên hệ với nhau và trong mối liên hệ với nước ta để có những cách thức và bước đi thích hợp trong việc hợp tác ngoại giao quốc tế Đổi mới tư duy lý luận về lĩnh vực đối ngoại sẽ giúp cho nước ta có thêm ngoại lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, đồng thời chúng ta tranh thủ sự ủng hộ của nhiều nước yêu chuộng hoà bình trên thế giới làm bạn với chúng ta, từ đó ta sẽ củng cố địa vị trên trường quốc tế
Con đường của cải cách, đổi mới sẽ phải mất nhiều thời gian, sẽ rất lâu dài, có nhiều khó khăn, thách thức, kể cả những cản trở, kìm hãm bởi sự cạnh
Trang 30tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường Do vậy, chúng ta phải dũng cảm đương đầu với những thách thức, vì mục tiêu: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ vững nền độc lập tự do của Tổ quốc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ chủ nghĩa xã hội Chúng ta phải phát huy hết tiềm năng nội lực và ngoại lực mà chúng ta đã có Vì vậy chúng ta phải luôn luôn đổi mới để có con đường phát triển rút ngắn nhanh nhất và hiệu quả nhất
1.2 Đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu
1.2.1 Những tác động của nhân tố khách quan
Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ thứ XX, thế giới có sự biến động to lớn
đó là Liên Xô và Đông Âu tan rã diễn biến nhanh chóng tác động mạnh mẽ đến sự thay đổi cục diện thế giới và các mối quan hệ quốc tế Thế giới nổi lên những đặc điểm chính sau đây:
Một là, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại có bước tiến
nhảy vọt đạt được những kỳ tích tác động đến tất cả các quốc gia, các dân tộc Các khu vực đòi hỏi để tồn tại, phát triển bền vững phải bằng mọi chủ trương, biện pháp để tiếp cận, để tranh thủ thời cơ hội nhập quốc tế
Đặc điểm nổi bật nhất của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại là ở chỗ: phát minh khoa học ra đời chuyển hoá thành công nghệ và đưa công nghệ vào sản xuất không tách rời nhau về không gian và thời gian, ngày càng thống nhất trong một quá trình Trong lịch sử khoa học- kỹ thuật từ trước tới nay, chưa một lĩnh vực khoa học, phát minh công nghệ nào làm đảo lộn quá trình sản xuất, tác động nhanh chóng đến đời sống xã hội như công nghệ thông tin- công nghệ cho phép thu thập, xử lý, lưu giữ, truyền tải, truy cập phân phối thông tin bằng các phương tiện máy móc có độ tự động hoá tinh vi và thông minh ngày càng cao Người ta đã có thể chế tạo loại máy tính mấy chục nghìn tỷ phép tính trong một giây
Trang 31Với công nghệ cao như công nghệ NANO và công nghệ thông tin, nền kinh tế của các nước phát triển biến đổi nhanh chóng thành nền kinh tế tri thức, tức là nền kinh tế dựa chủ yếu vào khoa học và tri thức, sản phẩm làm ra
có hàm lượng trí tuệ rất cao
Hai là, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế tất yếu tác động đến tất cả
các quốc gia cả thời cơ và nguy cơ, tích cực và tiêu cực Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, thế giới không còn hai phe trong quan hệ quốc tế Quan hệ quốc tế đương đại đã chuyển sang: hợp tác và đấu tranh vì hòa bình, ổn định
và phát triển là một xu thế phải hết sức chú trọng Toàn cầu hóa khiến cho các nước có mối quan hệ hữu cơ với nhau: tác động, phụ thuộc lẫn nhau ở tất cả các khu vực; sự phân công lao động quốc tế, sự chuyên môn hóa, kích thích
sự phát triển của mỗi quốc gia Như vậy, toàn cầu hóa khiến các nước xích lại gần nhau hơn, các vấn đề lớn của nhân loại đòi hỏi các nước cùng hợp tác giải quyết như: ô nhiễm môi trường, tội phạm quốc tế, dịch bệnh hẻm nghèo… Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực, toàn cầu hoá cũng đặt ra cho các chủ thể quốc gia chú trọng xem xét trong quá trình phát triển của mình như: chống lại sự áp bức, bành trướng, thâm nhập vào các nước, các khu vực của
Mỹ và các công ty xuyên quốc gia trên tất cả các lĩnh vực, xem xét khả năng phá vỡ trật tự thế giới do Liên hợp quốc điều hành và làm phân hoá quan hệ các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển vì những lợi ích dân tộc khác nhau Đây là vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia xem xét điều chỉnh đường lối đối ngoại theo điều kiện rất cụ thể của đất nước trong quan hệ đa dạng hoá, đa phương hoá
Ba là, cuộc đấu tranh giai cấp trên bình diện quốc tế, đấu tranh giai cấp
trong nhiều quốc gia ngày càng quyết liệt Phân công lao động ngày càng sâu sắc, xã hội hóa ngày càng cao làm cho các cuộc đấu tranh giai cấp không chỉ dừng lại ở một hay một vài quốc gia, mà hiện nay nó đã mang tính chất toàn cầu và ngày càng trở nên phức tạp hơn, các lực lượng tiến bộ vì hòa bình thế
Trang 32giới tiếp tục con đường đấu tranh đưa nhân lại thoát khỏi cảnh áp bức, bóc lột Xung đột giữa các dân tộc, sắc tộc tiếp tục diễn biến khó lường tạo ra nhiều vấn đề mà cả thế giới, mỗi khu vực và mỗi quốc gia phải quan tâm trong hoạch định đường lối đối ngoại Các thế lực đế quốc hang ngày vẫn đe dọa an ninh thế giới Tuy nguy cơ bùng nổ chiến tranh thế giới hiện tại bị đẩy lùi nhưng các cuộc chạy đua vũ tranh, chiến tranh cục bộ, xung đột vẫn còn Mỹ
và các thế lực cực đoan đã trực tiếp hay gián tiếp, bằng nhiều cách thức khác nhau lợi dụng cái gọi là “tự do, dân chủ, nhân quyền” can thiệp khắp nơi trên thế giới Bạo loạn lật đổ vẫn là mối đe dọa của các quốc gia Tuy nhiên xu thế chung là hoà bình, hợp tác, phát triển vẩn là dòng chính
Bốn là, quan hệ giữa các nước lớn là nhân tố quan trọng tác động đến
sự phát triển của quan hệ quốc tế đương đại
Kinh tế và chính trị luôn luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau, nước nào mạnh về kinh tế thì có lợi thế về chính trị và một số lĩnh vực khác Chính
vì vậy, ta rất dễ lý giải vì sao ủy viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc là các cường quốc về kinh tế, khoa học công nghệ, quân sự như: Hoa Kỳ, Canada, Nga, Anh, Đức, Pháp, Italia, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ
vì các nước này chiếm 1/3 lãnh thổ, hơn ½ dân số, hơn 70% GDP của thế giới Mối quan hệ giữa các nước lớn này ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển,
an ninh của thế giới Hiện nay, trong xu thế toàn cầu các nước lớn có chung quan điểm là chống khủng bố, chống sản xuất vũ khí hủy diệt, chống đói nghèo và suy thoái kinh tế
Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, các nước đều ưu tiên cho
sự phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của mỗi nước; đồng thời tạo sự ổn định chính trị và mở rộng hợp tác quốc tế Muốn phát triển kinh tế nhanh, mạnh, vững chắc đòi hỏi chính sách phát triển kinh tế phải gắn với chính sách đối ngoại,
mở rộng hợp tác quốc tế, khai thác nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự phát
Trang 33triển của đất nước Chính vì vậy, hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới
Quá trình liên kết, hợp tác giữa các quốc gia hiện nay đòi hỏi các dân tộc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đấu tranh chống sự can thiệp và áp đặt của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và nền văn hoá dân tộc Các nước đang phát triển, do sự phụ thuộc vào các nước tư bản phát triển
về trình độ công nghê, vốn, chất xám, nên họ đang đứng trước những thách thức lơn Trước đây, các nước đế quốc sử dụng quân sự để bành trướng lãnh thổ nhưng hiện nay trong xu thế hòa bình các nước đế quốc đã sử dụng chiêu bài khác để thực hiện mục đích của mình đó là “xuất khẩu tư bản” sử dụng đồng tiền để mở rộng sự ảnh hưởng của mình, cho các nước kém phát triển, đang phát triển vay tiền dưới nhiều hình thức và đến một mức độ giới hạn nhất định các nước vay tiền hay nhận viện trợ không có khả năng trả sẽ phải phụ thuộc vào các nước đế quốc về chính trị Vì vậy, việc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đấu tranh chống sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài là một xu thế tất yếu trong bối cảnh quốc tế hiện nay Cùng với việc khắc phục những khó khăn để phát triển kinh tế- xã hội, nhiều nước đang
cố gắng giữ ổn định về chính trị, tạo môi trường hoà bình, thực hiện chính sách hoà giải, hoà hợp dân tộc nhằm xây dựng một trật tự kinh tế quốc tế công bằng, bình đẳng và hợp lý
Các quốc gia lớn, nhỏ đều tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế và kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực khác Hợp tác ngày càng tăng, nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt Xu hướng này trở thành đòi hỏi khách quan và bức bách với các nước trong cộng đồng quốc tế, được tác động bởi xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay trên thế giới Trong điều kiện cách mạng khoa học- công nghệ phát triển, mỗi nước không thể sống biệt lập, mà cần phải có chính sách liên kết, hợp tác để phát triển Cùng với việc mở rộng mối quan hệ chính trị
Trang 34đối ngoại với các nước trên thế giới và khu vực, nhằm duy trì và củng cố hoà bình, ổn định, các nước còn thực hiện liên kết kinh tế, giao lưu văn hoá, giáo dục, y tế, thông tin… tạo điều kiện đẩy mạnh hợp tác Hoà nhập thế giới tạo điều kiện liên kết tốt hơn, giúp các nước đứng vững trong cạnh tranh và phát triển
Sau sự sụp đổ của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng cộng sản, các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới kiên trì đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, kiên trì đấu tranh, giữ vững bản chất và vị trí của mình Để tạo thế và lực cho nhu cầu phát triển, đòi hỏi các quốc gia dân tộc phải chủ trương mở rộng quan hệ quốc tế, nhằm khai thác các điểm tương đồng, khắc phục các điểm bất đồng để tập hợp lực lượng Dấu hiệu phục hồi của phong trào cộng sản và công nhân hiện nay là biểu hiện có
ý nghĩa tích cực của phong trào cộng sản quốc tế sau Liên Xô
Các nước có chế độ chính trị- xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu tranh là hai mặt trong quan hệ quốc tế và chi phối phương thức và quan hệ giữa các nước trong quá trình hội nhập và giao lưu quốc tế Đấu tranh và hợp tác cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị- xã hội khác nhau
là nguyên tắc, là phương thức xử lý trong quan hệ quốc tế hiện nay Khi nhu cầu hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng đặt ra đối với các dân tộc thì môi trường hoà bình, ổn định và phát triển của các dân tộc là điều kiện để hội nhập tốt hơn
Những đặc điểm và xu thế trên đây đã quy định tính đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế và đường lối đối ngoại của nước ta Nước ta đã mở cửa, hội nhập quốc tế vì mục tiêu hoà bình, ổn định và phát triển, nhưng đòi hỏi chúng ta phải hết sức tỉnh táo, vừa đảm bảo những vấn đề có tính nguyên tắc, có tính chiến lược song lại phải hết sức mền dẻo, uyển chuyển trong sách lược khi xây dựng đường lối đối ngoại đổi mới vì một thế giới hoà bình vì sự
ổn định và phát triển bền vững
Trang 351.2.2 Những tác động của nhân tố chủ quan
Chiến thắng của Việt Nam sau 30/4/1975 là niềm vui thống nhất cả giang sơn về một mối Nhưng hậu quả của cuộc chiến tranh kéo dài để lại những khó khăn không nhỏ cho nhân dân Việt Nam: 1,1 triệu liệt sĩ, 60 vạn thương binh, 30 vạn người mất tích, gần 2 triệu người dân bị thiệt mạng, hơn
2 triệu người dân bị tàn tật và nhiễm chất độc hoá học
Hai cuộc chiến tranh biến giới phía Bắc (1979) và biên giới phía Tây Nam (1978) lấy đi thêm nhiều tài lực, vật lực của đất nước khiến cho nền kinh
tế của Việt Nam đã khó khăn lại càng thêm khó khăn Mà hậu quả của nó là nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện, lạm phát tăng phi mã (774,7%) năm 1986, nền công nghiệp lạc hậu, nông nghiệp đình đốn
Bên cạnh đó, do những khuyết điểm chủ quan trên các lĩnh vực nhất là việc chỉ đạo và thực hiện xây dựng kinh tế xã hội Mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ nhiều khuyết điểm yếu kém Nền kinh tế đất nước rơi vào tình trạng trì trệ, lạc hậu, khủng hoảng: Công nghiệp yếu kém, manh mún thiếu rất nhiều ngành công nghiệp tiêu dùng Nền nông nghiệp không
đủ chi dùng trong nước, phải nhập khẩu lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thường xuyên khiến cho cán cân xuất nhập khẩu luôn thâm hụt mất cân đối, thu không đủ chi, dẫn đến phải đi vay từ nước ngoài Tính chung trong năm 5 năm 1981 - 1985, nguồn vay từ nước ngoài chiếm 22,4% thu ngân sách quốc gia Số nợ nhiều như vậy nhưng bội chi ngân sách vẫn lớn và tăng dần: Năm 1980 là 1,8%, năm 1985 là 36,6% Do bội chi nhiều như vậy nên Chính phủ buộc phải phát hành thêm tiền mặt để bù đắp Cùng với việc không cân đối được từ thu và chi, do nguồn thu không có vì không có sản phẩm công nghiệp xuất khẩu Cộng vào đó là sai lầm về chính sách cải cách giá, lương, tiền đã làm cho nền kinh tế rơi tự do không kiểm soát được dẫn đến xuất hiện siêu lạm phát ở mức 774,7% (1986), kéo theo giá cả leo thang vô phương kiểm soát
Trang 36Đời sống nhân dân nhất là công nhân viên chức và lực lượng vũ trang gặp nhiều khó khăn Tiêu cực xã hội phát triển, công bằng bị vi phạm, pháp luật kỳ cương xã hội không nghiêm minh, cán bộ tham nhũng lộng quyền, bọn làm ăn phi pháp không bị trừng trị kịp thời và nghiêm khăc Quần chúng giảm lòng tin với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước
Cuối những năm 80, tình hình kinh tế - xã hội ở Liên Xô và các nước
xã hội chủ nghĩa Đông Âu anh em cũng hết sức khó khăn và diễn ra ngày càng phức tạp Tình hình thế giới có nhiều thay đổi, cuộc chạy đua phát triển kinh tế đã lôi kéo các nước vào cuộc Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước
ta nhận biết được xu thế của thế giới và nhìn thấy nguy cơ tụt hậu ngày càng
xa về kinh tế so với thế giới nếu không phát triển đất nước
Thực tiễn tình hình trong nước và quốc tế đặt ra một yêu cầu khách quan, bức xúc có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp các mạng nước ta, là để làm xoay chuyển được tình thế, tạo ra một sự chuyển biến có ý nghĩa quyết định trên bước đường đi lên Đảng phải đổi mới sự lãnh đạo và chỉ đạo một cách mạnh mẽ Đại hội VI của Đảng (tháng 12 - 1986) được chuẩn bị và đáp ứng những yêu cầu đó
Tư tưởng cốt lõi của Đại hội VI là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi tiềm năng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp
đỡ quốc tế để phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Với ý nghĩa đó, chính sách đối ngoại đổi mới phải phá thế bao vây cấm vận, cô lập của các thế lực thù địch từ đó lấy lại vị thế của ta trên trường quốc
tế, tạo điều kiện thuận lợi cho đất nước phát triển, góp sức mình vào sự nghiệp chung của đất nước
Đồng thời phát huy truyền thống hoà hiếu, nhân ái, hữu nghị hợp tác văn minh của nền ngoại giao Việt Nam và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện trong tuyên bố của Người: “chính sách đối ngoại là thân thiện với tất
Trang 37cả các nước mà không thù gì với nước nào” (HCM toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, H.1995, t.5, tr.169) Trong thời kỳ mới, Đảng ta chủ trương đề ra đường lối đối ngoại đổi mới mở cửa, hội nhập vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Để làm được những điều đó thì trước hết chúng ta phải đổi mới tư duy
lý luận trên lĩnh vực đối ngoại, thực chất là nhằm nâng cao năng lực tư duy của chủ thể nhận thức, nâng cao khả năng đánh giá, phân tích, tổng hợp tình hình trong nước và quốc tế để khái quát nó lên trình độ lý luận, góp phần vào phát triển khả năng dự báo khoa học của chủ thể tư duy mà chủ thể đó là những nhà lãnh đạo, người hoạch định chính sách, sách lược của Đảng và nhà nước ta Đổi mới tư duy lý luận trên lĩnh vực đối ngoại sẽ trang bị vũ khí lý luận ngày càng tinh tế, sắc bén có khả năng phản ánh được quy luật vận động của thực tiễn đang biến đổi không ngừng, cũng như đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn trong bối cảnh toàn cầu hoá với những cơ hội và thách thức vì vậy đòi hỏi những chủ thể tư duy hay những nhà lãnh đạo phải xuất phát từ hiện thực, xu thế chung của toàn cầu để tự trang bị, bổ sung ngày càng phong phú kiến thức cho mình, tự hoàn bị tri thức lý luận của mình để có đủ khả năng chỉ đạo hoạt động thực tiễn
Như vậy đổi mới tư duy lý luận trên lĩnh vực đối ngoại là yêu cầu tất yếu, sống còn của đất nước ta trong thời kỳ hội nhập, hợp tác của ta với các nước Đó chính là quá trình tranh thủ, lôi kéo sức mạnh của ngoại lực để thúc đẩy, phát triển nội lực nhằm tạo sức mạnh tổng hợp đẩy nhanh sự phát triển đất nước
1.3 Nội dung cơ bản của việc đổi mới tư duy lý luận về đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1986 đến nay
Có thể khẳng định, những nội dung trong việc đổi mới tư duy lý luận
về đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1986 đến nay là rất lớn và với một phạm vi rất rộng Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, chúng tôi
xin đề cập đến những vấn đề cơ bản sau đây:
Trang 381.3.1 Nhận thức lại thời đại
Thời đại ngày nay là khái niệm khoa học dùng để phân kỳ lịch sử xã
hội, phân biệt những bậc thang phát triển xã hội loài người Nội dung của thời đại ngày nay được khẳng định qua Hội Nghị đại biểu của Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế tại Matxcơva năm 1957 nêu ra Hội Nghị khẳng định: nội dung căn bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga vĩ đại Quan niệm về thời đại ngày nay còn mang tính chủ quan duy ý chí nhưng đến nay nó vẫn còn nguyên giá trị
Nội dung của thời đại ngày nay là một điểm nóng của những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX Khi cuộc cách mạng tháng Mười Nga thành công đã khẳng định Chủ nghĩa xã hội là hiện thực thì khái niệm về thời đại được gắn liền với sự kiện này, nhưng trước sự khủng hoảng và sự sụp
đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu làm cho thế giới diễn
ra vô cùng phức tạp, xuất hiện một quan điểm cho rằng vì chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới còn là một điều còn xa vời nên không cần xác định thời đại ngày nay để tránh sự ảo tưởng, phi thực tế trong hành động và trở nên không
có ích gì, còn nếu vẫn xác định nội dung của thời đại ngày nay sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga là không thích hợp vì trên thực tế chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ tại chính Liên Xô
Trên thực tế, cuộc Cách mạng tháng Mười Nga nổ ra và thắng lợi năm
1917 đã làm cho bức tranh toàn thế giới biến đổi sâu sắc về mặt chính trị thế giới đương đại, nó còn đặt nền móng cho xu thế đi lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan, là con đường đi lên của lịch sử nhân loại, dẫn đường cho các cuộc đấu tranh của phong trào cộng sản quốc tế, của dân tộc vì mục tiêu cao
cả mang tính thời đại là hòa bình, độc lập dâ tộc, dân chủ vì tiến bộ xã hội Như vậy, dựa trên quan điểm mácxit về thời đại, Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng
Trang 39định, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga nổ ra và thắng lợi năm
1917 đã đánh dấu thời đại mới- thời đại sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Chính cuộc Cách mạng tháng Mười Nga đã dẫn đường cho phong trào vì hòa bình, dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội cũng được đẩy mạng trên toàn thế giới, nó đã phá tan mắt khâu yếu nhất của hệ thống đế quốc thế giới, xác lập chế độ chính trị- xã hội chủ nghĩa khai sinh một thực thể quốc tế mới với hơn một trăm quốc gia dành được độc lập Nội dung của thời đại ngày nay đã được kiểm chứng về mặt lịch sử bằng những bước vận động hiện thực
Không chỉ chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng mà chủ nghĩa tư bản cũng đã chịu sự khủng hoảng sâu sắc, dù đã có sự điều chỉnh nhất định về cơ cấu sản xuất, cơ chế bóc lột và cộng nghệ, song chủ nghĩa tư bản không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn gay gắt vốn có trong long nó, đó là: mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, giữa tính xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu Chính vì vậy, sự trường tồn của chủ nghĩa tư bản cũng
bị bác bỏ bởi nhiều học giả Lịch sử luôn vận động theo quy luật khách quan vốn có của nó nên chủ nghĩa tư bản sẽ được thay thế bằng một xã hội mới tiến
bộ hơn, nhân đạo hơn
Sự phát triển không phải lúc nào cũng là một con đường thẳng, lịch sử cũng vậy nó là một chặng đường trải qua muôn vàn khó khăn, trắc trở, kể cả thoái trào và thất bại tạm thời Chủ nghĩa xã hội không nằm ngoài sự vận động đó nên chúng ta không thể ảo tưởng giản đơn, nóng vội, chủ quan, đồng thời cũng không đươc hoài nghi, dao động, bi quan trước những biến động xấu, đổ vỡ và bước thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội hiện nay Văn kiện Đại hội IX của Đảng ta đã khẳng định: Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ nhũng bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội
Trang 40Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, gắn với bối cảnh cụ thể của từng nước, nên không đồng nghĩa với sự thất bại của toàn bộ chủ nghĩa xã hội Trên thực
tế, vẫn còn nhiều nước xã hội chủ nghĩa khắc phục được những khủng hoảng, từng bước cải cách, đổi mới và phát triển
Thế giới hiện nay, vận động trong những điều kiện mới, với những đặc điểm khác so với trước năm 1991 nhưng tính chất và nội dung của thời đại ngày nay không hề thay đổi Nhiệm vụ của các nước là tạo tiền đề vật chất-
kỹ thuật ngày càng đầy đủ cho việc chuyển lên chủ nghĩa xã hội
Giai đoạn hiện nay của thời đại kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX chứa đựng nhiều bước vận động quanh co, phức tạp của lịch sử Nhìn từ nền tảng vật chất- kỹ thuật của xã hội loài người, giai đoạn này được đặc trưng bằng sự phát triển mang tính bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại, từng bước hình thành nền kinh tế tri thức; toàn cầu hoá nổi lên trong tư cách một xu thế chủ đạo tác động nhiều chiều đến đời sống quốc tế
Từ góc độ chính trị quốc tế, giai đoạn hiện nay của thời đại là giai đoạn đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc hết sức gay gắt, phức tạp Lợi dụng ưu thế
về so sánh lực lượng, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc ráo riết chống phá phong trào cách mạng thế giới nhằm tái lập sự thống trị toàn cầu của tư bản độc quyền quốc tế Các quốc gia dân tộc trên thế giới đang triển khai hàng loạt cuộc đấu tranh chống cường quyền đế quốc, chống tự do hoá tư bản chủ nghĩa về sự lũng đoạn của tư bản tài chính, chống độc quyền tư bản toàn cầu, chống toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa… với nhiều hình thức khác nhau Phong trào cộng sản quốc tế đã có bước phục hồi, củng cố và phát triển Tuy vậy, phong trào vẫn chưa hoàn toàn vượt ra khỏi khủng hoảng và hiện còn đang đứng trước nhiều khó khăn và thử thách lớn Nói chung, trong giai đoạn lịch
sử hiện nay, thế giới đã và đang bộc lộ thêm nhiều đặc điểm mới, thể hiện qua
sự vận động của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội, phong trào cộng sản và