Tài liệu này được biên soạn nhằm đáp ứng nguyện vọng các bạn học sinh muốn tìm hiểu chuyên sâu và nâng cao khả năng tư duy lí luận văn học của mình và phản ứng trước các câu nhận định hay và khó; thầy cô làm nguồn tài liệu tham khảo. Trong quá trình biên soạn không khỏi những sai sót, kính mong thầy cô và các bạn học sinh chân thành đóng góp ý kiến để tài liệu hoàn thiện hơn.
Trang 1Tuyển Tập
Tài liệu tham khảo dành cho Giáo Viên ; học sinh tham gia các kì thi học sinh giỏi cấp huyện (thị
xã),cấp tỉnh và cấp quốc gia môn Ngữ Văn
THCS,THPT
Biên soạn và sưu tầm: Hạ Văn
“Học tập là hạt giống của kiến thức, kiến thức là hạt giống của hạnh phúc.”
Ngạn ngữ Gruzia
Trang 22 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
I, Văn học
1, Văn học là gì ?
Văn học là một bộ phận quan trọng của văn nghệ Văn học theo nghĩa rộng là thuật ngữ chung gọi mọi hành vi ngôn ngữ nói – viết và các tác phẩm thuộc về ngôn ngữ Nó bao gồm các tác phẩm mà ngày nay
có thể xếp vào loại chính trị, triết học, tôn giáo Với nghĩa rộng, văn học đồng nghĩa với văn hóa
Văn học theo nghĩa hẹp chỉ khái niệm văn hóa – nghệ thuật mà ta quen dùng hiện nay Nó bao gồm các tác phẩm ngôn từ có tính chất được sáng tác bằng hư cấu, tưởng tượng Như vậy, khi hiểu văn học theo nghĩa hẹp chúng ta đã loại trừ các tác phẩm chính trị, triết học, tôn giáo Văn học theo nghĩa hẹp chính là văn chương
Văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ, bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ một quan điểm, lập trường đối với đời sống Nhưng văn học không phản ánh hiện thực trong ý nghĩa khách quan, phổ quát của chủng loại, của sự vật như cái giếng, con đường, cái áo… mà điều nó quan tâm là một hệ người kết tinh trong sự vật Qua bức tranh đó, người viết luôn muốn gửi gắm những tình cảm, tư tưởng và thể hiện thái độ của mình trước cuộc sống
Tác phẩm văn học là sự kết hợp giữa yếu tố khách quan ( hiện thực cuộc sống ) và chủ quan ( ý thức, tình cảm của người viết ) Nhà văn
A – KIẾN THỨC TỔNG QUÁT
Trang 33 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
không chỉ tái hiện lại những chi tiết đời sống mà mắt thấy, tai nghe mà qua đó, họ còn muốn nói một điều gì mới mẻ, lớn lao hơn “ Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những chất liệu mượn ở thực tại Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói lên một điều gì mới mẻ Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung
quanh.” ( Nguyễn Đình Thi) và “ Văn học thực chất là chuyện đời Văn học sẽ chẳng là gì cả nếu không vì cuộc đời mà có Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là đích đi tới của văn học.” ( Tố Hữu)
Dù văn học phản ánh hiện thực nhưng nó không phải là bản sao chép
nô lệ của hiện thực Nhà văn không phải là mật thám cuộc đời hay là tên hề lóc cóc chạy theo đuôi đời sống Qua những điều mình mắt thấy tai nghe, người nghệ sĩ còn thâm nhập, cắt nghĩa hiện thực theo cách riêng, từ đó nâng lên thành những giá trị có tính chất phổ quát Điều này đã được Thạch Lam xác nhận : “ Một nhà văn không thành thực không bao giờ là nhà văn có giá trị Nhưng không phải cứ thành thực
là trở nên nghệ sĩ Nhưng nghệ sĩ không thành thực chỉ là người thợ khéo tay thôi.” Thế giới bổ nứt làm đôi, vết nứt xuyên qua trái tim người cầm bút Nỗi đau ấy khi đến với độc giả đã bị “nhuốm máu” của những người nghệ sĩ Cái độc giả cần không phải là hiện thực được phản ánh một cách xuôi chiều, khách quan vì thực hư trong đời sống thật độc giả đã tỏ rõ cả rồi, mà từ “đứa con tinh thần” của nhà văn, họ muốn hiểu thêm về lẽ đời, về con người, về xã hội mà ta đang sống Những tác phẩm ấy khiến độc giả phải nghiền, ngẫm, suy nghĩ
để thấu hiểu, giải mã được những điều mà nhà văn, nhà thơ viết trong
đó, từ đó mới có dấu ấn của tác phẩm neo lại trong lòng người đọc
2, Đặc trưng của văn học
Trang 44 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
• a, Nguồn gốc của văn học
Văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung đều bắt nguồn từ cuộc sống muôn màu muôn vẻ, nhất là cuộc sống của con người Bởi cuộc sống là cái có trước, văn học nghệ thuật là cái có sau Hiện thực cuộc sống là mảnh đất màu mỡ cho văn học nghệ thuật sinh sôi nảy nở và phát triển, là nguồn sữa vô tận nuôi dưỡng văn học nghệ thuật lớn lên, vươn cành, trĩu quả Nếu tách rời mảnh đất của cuộc sống,văn học nghệ thuật sẽ khô héo và bật rễ Goethe - một nhà văn, nhà tương tưởng người Anh từng nói: “ Đời sống xanh tươi là cội nguồn sâu xa của văn học.” Câu nói đó đã phản ánh đầy
đủ và rõ ràng nguồn gốc hình thành văn học
• b, Đối tượng nhận thức và phản ánh của văn học
Văn học nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống Chính vì vậy, đối
tượng nhận thức và phản ánh của nó cũng chính là cuộc sống muôn màu muôn vẻ Bê-i-ê-lin-xki đã viết: “ Tất cả thế giới, tất cả những bông hoa, màu sắc và âm thanh, tất cả những hình thức tự nhiên của đời sống đều có thể là hiện tượng của thi ca.”
Thế giới tự nhiên là vô cùng, vô thủy, vô chung Vì vậy thế giới nghệ thuật cũng vô cùng phong phú Nhưng mãi mãi, con người luôn là trung tâm của hiện thực vì thế nghệ thuật luôn hướng đến con người “ Dù viết về gì, văn chương chân chính cũng hướng về con người.Viết về cái đẹp để cảnh tỉnh con người, để báo động giúp con người sống tốt với bản lĩnh tốt đẹp của mình Viết cái tốt để con người tự tin ở mình và đó chính là hành trang cần có của con người trong cuộc hành trình vươn tới tương lai.” ( Nguyễn Bích Thảo)
Trang 55 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
Nếu các nhà khoa học quan tâm đến tự nhiên chủ yếu về bản chất, quy luật vận động thì nhà văn, nhà thơ lại chú trọng đến ý thức, tư tưởng, tình cảm,… liên quan đến đời sống tinh thần của con người
Trang 66 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
Chẳng hạn đối với mặt trời, nhà hóa học chú ý đến phản ứng hóa học, nhà vật lí quan tâm đến nhiệt năng, nhà sinh học quan tâm đến nguồn sáng… còn nhà thơ thì chú ý đến khả năng gây hứng thú, cảm xúc của nó với con người:
“ Thấy anh như thấy mặt trời Chói chang khó ngó, trao lời khó trao.”
Hay: “ Mặt trời là trái tim anh
Mặt trăng vành vạnh là tình của em.”
Còn với mưa thì sao ? Nhà khoa học chỉ để ý và giải thích quá trình ngưng tụ cua hơi nước Nhưng với nhà thơ, mưa bao giờ cũng mang hồn người:
“ Nặng lòng xưa hạt mưa đau Mát lòng nay trận mưa mau quê nhà.”
( Tố Hữu)
Với Lê Anh Xuân, cơn mưa là nỗi niềm ấu thơ:
Ơi cơn mưa quê hương
Đã ru hồn ta thuở bé
Đã tắm nặng lòng tình ta tình yêu chớm hé Nghe tiếng mưa rơi trên tàu chuối bẹ dừa Thấy mặt trời lên khi tạnh những cơn mưa
Ta yêu quá những lần chưa biết
Ta yêu mưa như yêu gì tha thiết
Trang 77 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà M.Gorki lại khẳng định: “ VĂN HỌC LÀ NHÂN HỌC.” Bởi văn học chính là môn học làm người Đọc những tác phẩm văn học, ta sẽ thấy những quan niệm về cuộc sống nhân sinh, những tư tưởng tình cảm, hiểu thêm về con
người Nhờ đặc trưng này mà văn học có tính NHÂN BẢN
• c, Văn học biểu hiện thái độ chủ quan của tác giả
Trong văn chương, người nghệ sĩ không chỉ phản ánh, tái hiện cuộc sống mà còn bày tỏ quan điểm, thái độ của mình đối với cuộc sống Qua hình tượng nghệ thuật được xây dựng, nhà văn bày tỏ thái độ căm phẫn trước biểu hiện vô nhân đạo, ca ngợi vẻ đẹp của cuộc sống, tình thương, lòng nhân đạo, … Người nghệ sĩ chân chính luôn hướng tới Chân – Thiện – Mỹ của cuộc sống Vì vậy, khi độc giả tiếp nhận tác phẩm văn chương bao giờ lí trí cũng được mở rộng, nâng cao
Trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, chúng ta cảm
nhận được sự đồng cảm sâu sắc của tác giả trước số phận bất
hạnh, nỗi đau bạc mệnh của người con gái tài hoa là Thúy Kiều -
người phụ nữ đại diện cho những kiếp người hồng nhan bạc phận
sống trong xã hội phong kiến xưa Cũng qua tác phẩm, độc giả
cảm nhận được thái độ đả kích, phê phán mạnh mẽ của thi nhân
trước những thế lực xấu xa chà đạp quyền và lẽ sống của con
người Đó chính là thế lực đồng tiền,thế lực nhà chứa, giai cấp
quan lại,…
Còn ở Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, Lão Hạc và Chí Phéo của Nam
Cao, độc giả cảm nhận được thái độ châm biếm, đả kích và sự
phê phán gay gắt sâu cay của tác giả trước xã hội phong kiến
Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám, đã vùi dập, chà đạp lên
nhân phẩm của con người, tước đoạt cả nhân tính, nhân hình,
biến con người trở thành con thú dữ, thậm chỉ tước đoạt cả quyền
được sống của họ
Trang 88 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
bằng hình tượng, tức làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảm
những sự việc, hiện tượng của đời sống, làm cho ta suy nghĩ về
tính cách, só phận, tình đời, tình người.
Nếu nhà văn không xây dựng được hình tượng nghệ thuật thì tác phẩm của anh sẽ rơi vào lí thuyết khô khan, trừu tượng Do đó
Trường Chinh từng có một sự so sánh đầy thú vị:
“Không long lanh hình tượng Chắp cánh ước mơ
Thì thơ đó chỉ thua vè một chút.”
( Vè là loại văn vần dùng để minh họa chủ trương, đường lối.)
Vậy, hình tượng là gì? Tất cả đối tượng của đời sống được tái hiện một cách sáng tạo trong tác phẩm văn học đều được xem là hình tượng Đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên, cảnh lao động chiến đấu,…
Anhxtanh từng nói: “Chân lý khoa học đạt được bằng cách giải
phóng nó khỏi cái tôi của nhà khoa học” Còn hình tượng trong nghệ thuật biểu hiện rõ nét những cảm xúc của nghệ sĩ
Nghệ sĩ bao giờ cũng tái hiện đời sống dưới ánh sáng của các lợi ích
và lý tưởng của một giai cấp, của một thời đại nhất định Khi xây dựng hình tượng, họ biểu hiện trong đó một thái độ, một cảm xúc riêng, nghĩa là họ hiện thân vào hình tượng
Hình tượng nghệ thuật là phương tiện đặc thù của nghệ thuật để phản ánh hiện thực khách quan Nó phản ánh tính khái quát, tính quy luật của hiện thực qua hình thức cá thể, độc đáo, là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ, là đứa con tinh thần của người nghệ sĩ trong quá trình nhận thức và tái hiện cuộc sống
Trang 99 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
Người nghệ sĩ có quyền hư cấu, tưởng tượng nhưng không được bịa đặt một cách tùy tiện, chủ quan Nghệ sĩ phải là thư ký trung thành của thời đại mình Nếu nghệ sĩ không đếm xỉa đến chân lý đời sống thì tác phẩm sẽ rơi vào tình trạng tô hồng hoặc bôi đen, tức là xuyên tạc hiện thực khách quan
Dấu ấn chủ quan của người nghệ sĩ xuyên thấm từ cách tiếp cận hiện thực, cách phát hiện vấn đề và phương thức chuyển tải tư
tưởng, tình cảm qua hình tượng Hình tượng nghệ thuật là vũ khí của người nghệ sĩ trong cuộc đấu tranh cho lý tưởng Người cầm bút phải dùng hình tượng để bảo vệ cái đẹp, lên án cái xấu, tác động đến xúc cảm người đọc, giáo dục người đọc về mặt thẩm mỹ
Sở dĩ, hình tượng nghệ thuật có sức thuyết phục cao vì trong cái cụ thể trực tiếp đã chứa đựng tính quy luật của đời sống Trong quá trình sáng tạo, nghệ sĩ khám phá thế giới một cách riêng biệt, họ có thể nắm bắt được bản chất trong muôn vàn sự vật, hiện tượng đồng loại để rồi từ đó làm nổi bật những nét bản chất ấy qua một hình tượng cụ thể, độc đáo
Theo Từ điển Văn học Việt Nam, hình tượng là “phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo đời sống theo quy luật của nghệ thuật.”
Ví dụ: Câu ca dao tái hiện khung cảnh của người dân lao động:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Hay những câu thơ của Nguyễn Du đã vẽ nên một bức tranh thien nhiên tràn đầy sức sống:
Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa Tuy nhiên, trong những hình tượng mà văn học – nghệ thuật phản ánh thì hình tượng
quan trọng nhất là hình tượng con người Đó là nàng Tấm, chàng Thạch Sanh,… trong truyện cổ tích; Thúy Kiều, Từ Hải, Tú Bà,… trong thơ Trung Đại; còn là Tnú, chị Sứ,…
trong tác phẩm văn học hiện đại
Hình tượng văn học có thể là những con vật mang tính tâm linh, tập thể con người,
hình tượng thiên nhiên, đất nước,… mà thông qua đó, con người có xúc cảm mạnh mẽ hơn Chính hình tượng nghệ thuật đó đã tạo cho người đọc sự tưởng tượng phong phú Như đọc Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, trong đầu óc độc giả hiện lên cảnh quan làng Đông
Xá của Chị Dậu thúc thuế, anh Dậu bị trói, Chị Dậu đánh tên cai lệ, cái Tí ở đợ cho nhà Nghị Quế,… Đọc Rừng Xà nu của Nguyễn Trung Thành, người đọc liên tưởng tới
khung cảnh dân làng Xô-man quây quần bên bếp lửa nhà rông để nghe cụ Mết kể
chuyện Tnu bị đốt cháy bừng bừng bằng nhựa xà nu nhưng vẫn không kêu than, thấy những lần Tnu đưa thư liên lạc phải lội qua những con suối nước chảy cuồn cuộn để tránh sự phục kích của địch, …
Trang 1010 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
Hình tượng nghệ thuật, chính là phương thức giao tiếp đặc biệt giữa nhà văn và độc giả Hình tượng là thế giới sống do nhà văn tạo ra qua
“sức gợi ngôn từ” Gọi là hình tượng vì một mặt, nó cũng sống động y
và hấp dẫn như thật, nhưng mặc khác nó chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng con người, nó không phải là sự thật trăm phần trăm Nhưng, thật sai lầm nếu chỉ quan niệm hình tượng nghệ thuật chỉ là phản quang đơn thuần của đời sống Hình tượng, một mặt nó vừa mang tính khách quan, mặt khác vừa mang tính chủ quan của nghệ sĩ Hình tượng không chỉ là thế giới đời sống, mà còn là “thế giới biết nói” Thông qua các chi tiết, nhân vật trong tác phẩm, nhà văn muốn đối
thoại với độc giả về quan niệm nhân sinh nào đó Hình tượng là kết
tinh của những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời làm nhà văn day dứt Anh viết ra để nói to, để chia sẻ với mọi người Hình tượng, như thế
nó gắn liền với quan điểm, lí tưởng và khát vọng của nhà văn Cuộc
sống và con người được miêu tả trong văn học, vừa giống cái đã có và hiện có, vừa là cái có thể và cần có
e, Văn học nghệ thuật mang tính biểu cảm, tính xúc động
Tóm lại, hình tượng là những bức vẽ về cuộc đời và con người cụ thể, được nhà văn sáng tạo qua trí liên tưởng, tưởng tượng cụ thể, thể hiện
tư tưởng, tình cảm và khái quát hiện thực
Đặc điểm cơ bản của hình tượng:
- Gắn liền với đời sống
- Có sự thống nhất giữa hai mặt: Khách quan và chủ quan, lí trí và tình cảm
- Vừa khái quát, vừa cụ thể
Trang 1111 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
Nhà văn, nhà thơ sáng tạo tác phẩm văn học bằng các giác quan của mình vì họ nhận thức thế giới bằng cảm xúc Và khi người đọc tiếp nhận tác phẩm văn chương cũng phải vận dụng các giác quan của mình để thưởng thức
Những câu thơ sau đây bắt chúng ta phải dùng thị giác để tiếp nhận màu sắc, hình khối của thiên nhiên:
Xập xè én liệng tầng không
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày Hay:
Sè sè nấm đất bên đàng Rầu rầu ngọn cỏ, nửa vàng nửa xanh
Còn đây là những câu thơ buộc chúng ta phải dùng vị giác để thưởng thức:
Em ạ! Cu-ba ngọt lịm đường Mía xanh đồng bãi, biếc đồi nương Cam ngon, xoài ngọt vàng nông trại Ong lạc đường bay rộn bốn phương
( Cu-ba – Tố Hữu) Hay:
Tháng Giêng ngon như một cặp môn gần ( Xuân Diệu)
Và những câu thơ phải cảm nhận bằng thính giác:
Đùng đùng gió giục mây vần Một xe trong cõi hồng trần như bay
Trang 1212 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
Từ tác phẩm nghệ thuật, người đọc lại thấy được cảm xúc riêng cho mình ở nhiều góc độ Vì vậy, cái gốc rễ của văn học chính là
mọi thành đạt trong sáng tạo Ngô Thế Vinh cho rằng: “Lời là tiếng nói của con tim, văn chương là cái làm cho lời dài thêm vậy” Nên theo Bùi Ngọc Qui, “tình ấy gốc văn, tình chật hẹp thì văn kia cứng xác” Vun đắp cái tình trong văn trở thành đòi hỏi bên trong của việc
làm văn
Tuy nhiên, văn có nhiều loại Ngay cả “văn” theo nghĩa hẹp để chỉ văn chương nghệ thuật thì không ở đâu cảm xúc lại được bộc lộ sâu đậm, tập trung như trong thơ Không phải vô cớ khi một tác giả vô
danh hạ bút viết: “Căn cứ vào sự rung cảm của tình người, mà thơ
có thể quán triệt” Còn Hồng Nhậm thì phát hiện ra quy luật phổ biến này của thơ: “Nó đi theo tình, theo cảm xúc” Dường như các
học giả thi nhân xưa đều chung một ý nghĩ tương tự Thậm chí còn
chung cả cách diễn đạt Lê Qui Đôn viết: “Thơ khởi phát từ lòng người ta”.Vũ Duy Thanh thì viết: “Thơ xuất phát từ tình” Có thể
có ảnh hưởng qua lại Cũng có thể do chung một nguồn học hỏi từ Trung Quốc Chữ “thi” ở Bắc quốc ban đầu hàm nhiều nghĩa Một trong những nghĩa của thơ theo nhà ngữ văn học nổi tiếng Dương Thụ Đạt “là cái gốc và là cái mầm mọc từ trái tim” Đọc thơ cổ Trung Hoa, Phan Phụ Tiên nhận ra: “Tuy dấu vết thịnh, loạn khác nhau, song cảm xúc phát ra từ lòng chỉ là một” Bởi tình cảm nồng nàn là dấu hiệu loại biệt phân tách thơ với các thể tài khác, chẳng hạn với phú Theo Nguyễn Đức Đạt: “Thơ là tình cảm, phú là sự
Trang 1313 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
việc” Nói vậy, không phải trong thơ không có sự việc Có điều “thơ dùng sự việc để phụ trợ cho tình cảm” Trên cơ sở ấy, tác giả “Nam Sơn tùng thoại” chê thơ đương thời chưa hay vì đi ngược lại “dùng tình cảm để phụ trợ cho sự việc” Thế rồi ông đi đến kết luận thành qui luật muôn đời của thi ca: “Chú trọng vào tình cảm thì gọn, chú trọng ở sự việc thì rườm” Ngô Thì Nhậm không chỉ dừng lại ở sự đối chiếu giữa thơ và phú Ông thấy sự tương đồng giữa thơ, phú,
ca, vịnh, biện, luận, kí ở chỗ; “Uẩn khuất ở trong tâm thuật, phát
lộ ra lời văn” Song bên cạnh “đại đồng” có “tiểu dị” Với thơ
không gì khác hơn là cảm xúc Ông viết: “Nhưng trong đó, loại có khả năng gây hứng thú và cảm xúc cho người ta thì không gì bằng thơ” Thơ càng hay thì càng gây chấn động lòng người Đó là những vần thơ vừa “làm kinh động con người”; vừa “làm khóc được qui thần” (Hồng Nhậm) Nói như Bùi Dương Lịch thơ là “sự biểu hiện của tình”, nhưng do “không ai không có tình”, nên đây là cái tình
“cùng tột”
Lí luận văn chương hiện đại, khi tìm hiểu bản chất của văn chương, luôn nhấn mạnh đến đặc thù tình cảm Điều này được thực tế sáng tạo phong phú của dân tộc và nhân loại xác nhận L.Tôlxtôi khi trả lời câu hỏi “Nghệ thuật là gì?” đã viết: “Khi người xem, người nghe cùng được truyền lan một thứ tình cảm mà người viết đã cảm thấy,
thù của nghệ thuật, văn hào Nga khẳng định sức truyền cảm của hình tượng Không đúng vậy sao? Khi hướng tới Truyện Kiều - kiệt tác của văn chương dân tộc, Tố Hữu chẳng đã viết:
Tố như ơi! Lệ chảy quanh thân Kiều
Chính Tố Hữu khi cần đưa ra quan niệm của mình về văn chương, nhất là về thơ, đã luôn nhấn mạnh đây là tiếng nói “đồng tình”,
“đồng ý”, tiếng nói “đồng cảm”, giao cảm giữa nhà văn, nhà thơ với bạn đọc Từ đó nảy sinh ra khái niệm “tri âm” Trong văn chương cổ điển Trung Quốc và Việt Nam, “tri âm” (nghĩa là hiểu tiếng đàn)
Trang 1414 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
xuất phát từ điển cố quen thuộc về mối quan hệ giữa Bá Nha và
Chung Tử Kì Theo “Liệt tử”, Bá Nha là người sành nghe đàn Khi
chơi đàn, Bá Nha nghĩ đến núi cao thì Chung Tử Kì liền khen: “Cao vời vợi như núi Thái Sơn”; Bá Nha nghĩ đến sông nước, thì Chung
Tử Kì khen: “Mênh mông như Trường Giang, Hoàng Hà” Chung Tử
Kì thấu hiểu được mọi tình ý Bá Nha bày tỏ qua tiếng đàn Sau khi Chung Tử Kì chết Bá Nha treo đàn không đánh nữa, vì cho rằng trên đời không còn ai hiểu nổi tiếng đàn của mình Tuy nhiên, ý nghĩa của
từ “tri âm” sau này được mở rộng, không chỉ để thể hiện mối giao cảm giữa người biểu diễn và người nghe trong âm nhạc, mà còn biểu hiện mối giao hòa giữa người sáng tác và người thưởng thức trong nghệ thuật nói chung
Mang sức bao quát hơn là ý kiến quen thuộc của Lê Duẩn: Nói đến nghệ thuật là nói đến qui luật riêng của tình cảm, nghệ thuật vận
dụng qui luật riêng của tình cảm Điều này góp phần lí giải vì sao đến với văn chương người đọc không thể dửng dưng Ấy là vì nhà văn đã
để trái tim mình đập dưới từng trang viết, từng con chữ Nhà thơ Nguyễn Tùng Linh thổ lộ:
Tôi đặt tình yêu của tôi ở đây
Tôi đặt trái tim mình ở đây
Đầy vất vả với cuộc đời rộng mở
Và điều này tôi phải nói bằng thơ (3)
Có thể xem quá trình sáng tạo là quá trình luyện ngọc Tác phẩm được hình thành, hình tượng được tạo ra lung linh ánh sáng của ngọc qui Nhưng nếu tinh ý, ta có thể “nhìn thấy máu, thấy nước mắt, thấy niềm vui và nỗi đau của người thợ kì tài” (Nguyễn Khải)
Đã rõ tình cảm chính là một trong những biểu hiện của đặc trưng văn chương dễ thấy nhất Tuy nhiên trước nay đã có người không thấy hoặc không thừa nhận Họ lập luận rằng: Tình cảm đâu chỉ nhận ra ở hoạt động nghệ thuật, ở tác phẩm nghệ thuật, một số hoạt động và
Trang 1515 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
sản phẩm tinh thần khác như đạo đức, tôn giáo và ngay cả khoa học nữa, tình cảm cũng phát lộ ra và không ít trường hợp giữ vai trò thật quan trọng Ở đây, liên quan với cách hiểu khái niệm “đặc thù” Theo quan niệm thông thường thì nét riêng, nét đặc trưng được gọi là “đặc thù” Những nét gọi là “đặc thù” của một sự vật, một đối tượng, một con người không hẳn không thấy ở sự vật, hiện tượng và con người khác, nhưng bao giờ cũng nổi trội, tạo nên sự phân biệt dễ thấy có tính riêng biệt Cũng như vậy, cá nhân nhà văn không hoàn toàn khác con người bình thường; hoạt động sáng tạo văn chương cũng không thật khác với các hoạt động sáng tạo của con người Tuy nhiên, do đòi hỏi tự bên trong của hoạt động nào đó, một hoặc một số tính chất hay yếu tố đặc biệt nổi bật, có vai trò quyết định đến quá trình sáng tạo và thành phần sáng tạo Tình cảm khi được xem là đặc thù của văn chương là theo ý nghĩa này
Đáng nói nhất là không ít người xem nhẹ đặc thù của văn chương Chẳng hạn, có nhà nghiên cứu dùng câu nói của Lỗ Tấn để khẳng định ý mình Lỗ Tấn viết: ”Nếu là người Cách mạng thì bất cứ viết chuyện gì, dùng tài liệu gì đều là văn học Cách mạng cả Từ suối
phải đặt trong hoàn cảnh cụ thể mới hiểu được đúng ý của Lỗ Tấn Trước câu nói này, Lỗ Tấn có nhắc tới một số nhà văn mà ông không coi là “những nhà văn Cách mạng” Đó là Êxênhin (1895 - 1925) - nhà thơ và Sabôli (1888 - 1826) - nhà văn Cả hai đều sống và sáng tạo dưới thời Xô viết và vì những lí do khác nhau đã thất vọng đi
đến tự sát Thế rồi Lỗ Tấn viết: “Tôi cho vấn đề căn bản là ở chỗ tác giả phải là người Cách mạng - PQT lưu ý” Vậy văn hào Lỗ Tấn đâu
có xem nhẹ vai trò riêng biệt của văn chương
Như vậy, trong thế giới tinh thần của nhà văn, cảm xúc luôn có ý nghĩa nổi trội trong sự giao hòa hữu cơ với lí trí và nhận thức Thực
tế, không nên và không thể tách biệt cảm xúc với lí trí, tình cảm với nhận thức, quan điểm với niềm tin trong một con người Những mặt
đó thống nhất với nhau Lê Duẩn viết: “Lí trí giúp con người có tình
Trang 1616 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
cảm đúng, ngược lại tình cảm có dồi dào thì lí trí mới vững Có những lúc lí trí đúng mà tình cảm sai đi thì cuối cùng lí trí cũng sai đi” (5) Những mặt trên còn chuyển hóa qua lại rất tinh tế Đúng như nhà thơ Tố Hữu từng nói: “Khi tình cảm sôi động lên, nó thành trí tuệ, không có người mẹ nào không thông minh với người con cả, biết
thuật, yếu tố tình cảm nổi lên trong sự thống nhất hữu cơ với lí trí Điều này đã được thực tiễn lao động nghệ thuật xưa nay xác nhận Chẳng hạn cảm xúc liên quan đến cảm hứng sáng tác
Ta biết rằng nói đến sáng tác văn chương là nói đến cảm hứng Chính cảm hứng tạo ra năng sản của sáng tạo Công đầu trong việc khám phá ra vai trò của cảm hứng đối với người nghệ sĩ thuộc về Đêmôkrit (460 - 370 TCN) “Bộ óc bách khoa cổ Hy Lạp đầu tiên” (Marx) Nhà triết học vĩ đại này viết: “Không ai có thể trở thành nhà thơ giỏi nếu không có ngọn lửa nào đó, một thứ bệnh điên rồ nào đó” Vì vậy trước sau ông loại bỏ những kẻ “chỉ biết suy nghĩ một cách phải
chăng” ra khỏi vương quốc nghệ thuật Không phải vô cớ mà ở
phương Tây thơ được ví với con ngựa có cánh Thiếu bay bổng sẽ không thể “tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm” (Kiều) Mà chẳng
cứ gì thơ, viết văn xuôi cũng vậy Một tài năng lớn như Nguyễn Tuân
mà khi “đầu bút không thấy động gió” thì cũng cảm thấy “tờ giấy trắng như hất ngang ngòi bút của mình đi, cứ lặng lờ khước từ bất cứ
ý định câu cú nào định ươm ướm thả xuống” Các ý kiến của các học giả và các nghệ sĩ lớn xưa nay, vậy là, không chỉ thừa nhận vai trò của cảm hứng mà còn lí giải bản chất của cảm hứng chính là sự thăng hoa của lí trí và cảm xúc
Nói riêng về chất liệu sáng tác của nhà văn cũng vậy Nhà văn viết bằng gì? Hiển nhiên là bằng những gì mình nghe được, mình trông thấy, và nói chung là những gì mình trải nghiệm - có người đã trả lời như thế Quả không sai, nhưng nghĩ ki thì chưa thật thấu đáo, thuyết phục cho lắm Bởi vì tại sao có không ít những gì nhà văn từng
chứng kiến, từng sống qua mà vẫn chưa đi hoặc không đi vào tác
Trang 1717 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
phẩm? Ý kiến của Nguyễn Đình Thi góp phần soi tỏ vấn đề này:
“Sâu hơn cái vốn sống ấy là những điều chúng ta đã suy nghĩ và hiểu biết được, những tình cảm đã nảy nở trong chúng ta Đây là linh hồn
thể sử dụng những chất liệu vốn là kết quả của sự quan sát - cảm xúc, mọi thứ muốn đi vào tác phẩm phải lên men, phải thành ấn
tượng khó phai mờ trong tâm tưởng nhà sáng tạo Về điều này ít ai nói thuyết phục bằng văn hào M.Gorky Khi nhớ lại bản thân đã viết văn như thế nào, ông viết: “Nếu cứ “rèn nguội” con người thì sẽ
không thành cái gì hết, chỉ làm cho nó hỏng đi thôi, cho nên nhà văn phải yêu mến tài liệu của mình - con người thật - chút ít, hoặc tối
không phải là kinh nghiệm sáng tạo của riêng M.Gorky mà có tính phổ biến rộng rãi Trong nghệ thuật, nói như Tố Hữu, nhận thức phải chuyển thành tình cảm, mà tình cảm phải ở mức sâu hơn, nồng hơn người bình thường, nghĩa là:
Mặt trời chân lí chói qua tim
(Từ ấy)
Do đó, với người nghệ sĩ, nhiệt tâm và niềm tin luôn được đòi hỏi rất cao không thua gì sự đòi hỏi về cách nhìn và chỗ đứng Chưa có hoặc chưa đủ nhiệt huyết sẽ chưa thể có sức thôi thúc từ bên trong, và vì thế sẽ chưa thể có bất cứ sự thành đạt nào trong sáng tạo Đấy là
chưa nói, nhận thức sẽ trở nên lệch lạc nếu thiếu tình cảm ở một mức
độ cần thiết Một lần, nhà thơ Nông Quốc Chấn kể rằng, khi ra biển Hòn Gai có cây bút đã tả như thế này:
Trông xa một đống đen xì Đến gần mới biết ấy thì là than
Thế rồi ông đưa ra nhận xét: “Câu này có gì sai không? Không sai Đúng là than ở xa thấy một đống đen xì thật Nhưng đọc lên người
ta không thấy nó hay mà thấy nó có cái gì ngớ ngẩn, thiếu tâm hồn,
Trang 1818 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
hơn thế thiếu một cái gì trân trọng, trọng thiên nhiên giàu đẹp, trọng con người lao động cần cù” Từ đó nhà thơ đi đến một kết luận mang
Ở đây, còn có một khía cạnh nghề nghiệp khác cần được lưu tâm Theo M.Gorki, sống nhiệt huyết đã hẳn là cần, nhà văn còn phải biết
đưa cảm xúc của mình vào văn chương nữa Ông khẳng định: “Trong những tác phẩm văn học của chúng ta, mặc dầu bản thân chúng ta đang sống với những cảm xúc mãnh liệt, những cảm xúc của kẻ sáng tạo, chúng ta vẫn chưa đưa được những cảm xúc ấy vào văn học; không hiểu tại sao chúng ta vẫn chưa làm được việc đó” (10) Dầu sao, suy đến cùng, nhân tố quyết định bao giờ cũng thuộc về sự rung động của trái tim người nghệ sĩ
Văn chương còn có khả năng lây lan cảm xúc từ nhà văn, nhà thơ đến người đọc, người nghe Nó khiến cho độc giả cũng có cảm giác vui, buồn, yêu, ghét, tự hào, căm phẫn,… giống như tác giả đối với vấn đề được nói tới
Những câu thơ của Hoàng Cầm trong bài thơ Bên kia sông Đuống hay những câu thơ trong bài Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiều, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trai khiến ta có cảm giác căm thù giặc xâm lăng đến tột độ:
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn Ruộng ta khô, nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn lưỡi dài lê sắt màu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lựn âm dương chia lìa đôi ngã Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu
(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm) Và:
Bên Nghé của tiền tan bọt nước Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây
Trang 1919 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
( Chạy giặc – Nguyễn Đình Chiểu )
Quê hương là chùm khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày Quê hương là đường đi học Con về rợp bướm vàng bay
Những câu thơ trong bài Vội vàng như thúc giục chúng ta cũng vội vàng,
cuống quýt, muốn tận hưởng trọn vẹn hương sắc của cuộc đời giống như Xuân Diệu:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết Mây đưa và gió lượn
Ta muốn say Cánh bướm với tình yêu …
f, Văn học nghệ thuật phải mang tính độc đáo, mới mẻ
Nam Cao đã từng khẳng định: “Văn chương không cần đến những người thợ
khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có” Shê- khốp cũng cho rằng: “Nếu nhà văn không có một lối đi riêng của mình thì người đó chẳng bao giờ là nhà văn”
Trang 2020 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
“Khi ta gọi là một bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ ta không hề thấy ngại miệng, một nhà văn độc đáo vô song mà mỗi dòng, mỗi chữ tuôn ra đầu ngọn bút đều
như có đóng một dấu triện riêng” (Anh Đức) Người nghệ sĩ trong hành trình
sáng tạo phải là người trinh sát, với chiếc cần ăng ten nhanh nhạy để nhận mọi tín hiệu, mọi làn sóng; phải biết tổng hợp, đánh giá, phân tích để phát đi một tiếng nói duy nhất, đúng đắn, sâu sắc Mỗi bài thơ, câu văn đều là kết quả quá trình sáng tạo độc đáo của người nghệ sĩ sau khi đã công phu chọn lựa và nhào nặn chất liệu hiện thực Do vậy, khi một nhà văn mới xuất hiện, câu hỏi của chúng ta về anh ta là: Anh ta là thế nào? Liệu anh ta có thể đem lại cho chúng ta điều gì mới mẻ trong cách nhìn cuộc sống?
Văn học phải là một hành động sáng tạo không ngừng nghỉ, không lặp lại những cái người khác đã nói, đã làm.Mỗi nhà văn là một bông hoa mang hương sắc riêng biêt, mỗi nhà văn phải có ý thức làm mới mình , tạo cho mình một nét riêng, nét mới đó khiến họ không dễ nhầm lẫn với người khác Điều đó làm cho văn học nghệ thuật luôn mới mẻ, độc đáo
Nhà văn Nguyễn Tuân đã tạo được ấn tượng riêng cho mình nhờ phong cách ngôn, cái ngông đó là cơ sở để ông không ngừng tìm kiếm cái mới mẻ, độc đáo, thay đổi khẩu vị liên tục cho độc giả
Tóm lại, sự độc đáo mới mẻ vốn có ở văn học nghệ thuật là do sự sáng tao, khả năng sáng tạo và niềm đam mê tìm tòi của tất cả những người lao động nghệ thuật Sự độc đáo, mới mẻ này đã làm nên phong cách riêng của mỗi tác giả
Bởi đặc trưng của văn học là hoạt động sáng tạo có tính chât cá thê Nếu cá tính nhà văn mờ nhạt, không tạo được tiếng nói riêng, giọng điệu riêng thì đó là sự tự sát trong văn chương
Phong cách chính là nhà văn phải đem lại một tiếng nói mới cho văn học, đó là
sự độc đáo mà đa dạng, bền vững mà luôn đổi mới Đặc biệt, nó phải có tính chất thẩm mĩ, nghĩa là đem lại cho người đọc sự hưởng thụ thẩm mĩ dồi dào Phong cách không chỉ là dấu hiệu trưởng thành của một nhà văn mà khi đã nở rộ thì nó còn là bằng chứng của một nền văn học đã trưởng thành
Nhà văn Tuocghenhev khắng định: “Cái quan trọng trong tài năng văn học là
tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy
Trang 2121 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
trong cổ họng của bất kì một người nào khác” Nguyễn Tuân cũng từng nhấn
mạnh: “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo Vì vậy, nó đòi hỏi phải có
phong cách, tức là phải có nét gì đó rất mới, rất riêng thể hiện trong tác phẩm cửa mình.” Cũng cùng quan điểm ấy, nhà văn Lê-ô-nốp viết: “Không có tiếng nói riêng, không mang lại những điều mới mẻ cho văn chương mà chỉ biết dẫm theo đường mòn thì tác phẩm nghệ thuật sẽ chết ”
Phong cách nghệ thuật có cội nguồn từ cá tính sáng tạo của nhà văn Cá tính sáng tạo là sự hợp thành của những yếu tố như thế giới quan, tâm lí, khí chất, cá tính sinh hoạt… Phong cách của nhà văn cũng mang dấu ấn của dân tộc và thời đại
Có thể nhận ra phong cách của nhà văn trong tác phẩm Có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩm thì có bấy nhiêu chỗ cho phong cách nhà văn thể hiện
+ Qua cái nhìn, cách cảm thụ giàu tính khám phá nghệ thuật, đối với cuộcđời
+ Qua giọng điệu riêng, gắn liền với cảm hứng sáng tác
+ Nét riêng trong sự lựa chọn, xử lý đề tài, xác định chủ đề, xác định đối tượng miêu tả…
+ Tính thống nhất, ổn định trong cách sử dụng các phương thức và phương tiện nghệ thuật
Các biểu hiện của phong cách văn học không tồn tại tách rời mà bao hàm lẫn nhau hay tồn tại thông qua nhau Tất cả tạo thành một nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho hiện tượng văn học một tính chỉnh thể toàn vẹn
Thời gian cứ trôi đi lặng lẽ mà vô tình nhưng thời gian cũng chính là thứ nước
rửa ảnh làm nổi bật lên những tác phẩm hay, độc đáo Có một nữ văn sĩ từng nói đại ý rằng: “Sẽ không bao giờ chúng ta gặp lại mình như chiều nay” Nguyễn Tuân cũng từng nói: “Tôi quan niệm đã viết văn phải cố viết cho hay và viết đúng cái tạng riêng của mình Văn chương cần có sự độc đáo hơn trong bất kì lĩnh vực nào khác” “Không ai tám hai lần trên cùng một dòng sông” Mỗi khoảnh khắc trôi đi không bao giờ trở lại Sẽ chẳng bao giờ ta
gặp lại một Nam Cao, một Nguyễn Tuân, Xuân Diệu hay Thạch Lam,… thứ hai trên cõi đời này nữa Bởi lẽ văn chương không bao giờ là sự lặp lại và mỗi nhà
Trang 2222 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
văn có một tạng riêng, một phong, cách riêng “Mỗi công dân có một dạng vân tay Mỗi nghệ sĩ thứ thiệt đều có một dạng vân chữ không trộn lẫn” (Lê Đạt)
Vấn đề phong cách còn được biểu hiện qua “cái nhìn” của mỗi người nghệ sĩ
trước cuộc đời “Đừng cho tôi đề tài, hãy cho tôi đôi mắt” Đôi mắt nhìn đời
khác nhau sẽ đem lại những trang văn khác nhau và mang đậm cá tính sáng tạo Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề về cái nhìn, mà rộng hơn là vấn đề về phong cách nghệ thuật nhà văn
“Phong cách nghệ thuật nhà văn là sự độc đáo, giàu tính khám phá, phát hiện về con người và cuộc đời thể hiện qua hình nghệ thuật độc đáo và những phương thức, phương tiện nghệ thuật mang đậm dấu ấn sáng tạo của cá nhân người nghệ
sĩ được thể hiện trong tác phẩm.”
Phong cách chính là vấn đề cái nhìn Mỗi nhà văn phải có cách nhìn mới mẻ, độc đáo, cách cảm thụ giàu tính khám phá và phát hiện đối với cuộc đời Cuộc sống này có gì khác biệt đâu? Từ xưa đến nay, vẫn bốn mùa không thay đổi, vẫn
là những vấn đề bức thiết mang tính quy luật về cuộc sống và con người Thế nhưng, mỗi nhà văn lại tìm thấy trong cái cũ kĩ, quen thuộc ấy những khía cạnh, những góc khuất chưa ai nhìn thấy, hoặc có thấy nhưng không để ý và giả lơ đi
Cuộc đời qua con mắt của nhà văn lúc nào cũng chứa nhiều điều bí ẩn mãi mãi không khám phá hết Đó chính là ý thức nghệ thuật của nhà văn chân chính Họ không bao giờ cho phép bản thân sống lặp lại, sống nhạt nhòa, viết hời hợt và nhìn đời thờ ơ, hờ hững Những người cầm bút chân chính mang đến cho người đọc mỗi lần đọc tác phẩm của họ là mỗi lần mở ra trước mẳt thêm những điề Thế nhưng, không phải ai cũng có con mắt nhìn đời mới mẻ và không phải đôi mắt mới nào cũng tạo nên phong cách nghệ thuật Bất cứ điều gì, việc gì cũng phải đạt đến một độ “chín”, một độ “trưởng thành” nhất định Giai đoạn 1930-
1945, chúng ta chứng kiến sự xuất hiện của hàng loạt những tên tuổi với những tác phẩm thực sự có giá trị Với thơ, nói như Hoài Thanh đó là “một thời đại trong thi ca”, một thời mà mỗi vần thơ vang lên chứa đựng những nỗi niềm khắc
khoải riêng, những thanh âm không thể nào xóa nhòa “Chưa bao giờ ta thấy
xuất hiện cũng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết
Trang 2323 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
tha, rạọ rực, băn khoăn như Xuân Diệu ” (Hoài Thanh).u khác lạ hơn, mới mẻ
hơn
Mỗi nhà thơ góp một phần “rất riêng dù rất nhỏ” vào nền văn học dân tộc, tạo nên những thi phẩm thăng hoa về cảm xúc và in dấu ấn sâu đậm vào lòng người Điều đặc biệt chính là mỗi người mang trong mình một cái nhìn mới mẻ về con người và cuộc đời Không còn nhiều khuôn phép hay ước lệ, thơ Mới đạt đến đỉnh cao trong việc phá vỡ mọi nguyên tác lâu đời của thơ xưa Họ nhìn và cảm nhận mọi thứ khác hẳn với người xưa, họ mang đôi mắt đầy khám nhá quan sát xung quanh
Lưu Trọng Lư đã từng nhận xét: “Các cụ ta ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa
những màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như
đã làm một điểu tội lỗi, ta thì ta cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ thì chỉ là là sự hôn nhân nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu”
Đó không phải là thay đổi cách nhìn sẽ thay đổi cách viết, cách sử dụng ngôn ngữ và biểu lộ cảm xúc hay sao? Mà tất cả những điều đó góp phần tạo nên phong cách, tạo nên sự khác biệt trong sáng tạo nghệ thuật
Trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao đều là những gương mặt nhà văn xuất sắc khi hướng ngòi bút về phía cuộc sống của những người dân nghèo Nhưng nếu như Nguyễn Công Hoan xem đời là những mảnh ghép của những nghịch cảnh, Thạch Lam xem đời là miếng vải có lỗ thủng, những vết ố, nhưng vẫn nguyên vẹn thì với Nam Cao, cuộc đời là tấm áo cũ bị xé rách tả tơi
Những cách nhìn ấy trong mắt mỗi nhà văn đã tạo nên sự khác biệt trong phong cách Một người trào phúng, một người hơi hướng lãng mạn, một người tả thực với ngôn ngữ trần thuật không thể lẫn lộn; cuộc đời của cả ba nhà văn tạo nên một cuộc đời lớn của văn học: dài rộng và phong phú khôn cùng
Cuộc đời và phong cách nhà văn đặt ra vấn đề muôn thuở cho người cầm bút Rằng anh phải làm như thế nào để khác biệt, để người đời sau nhớ tới mình Văn chương kị nhất sự lặp lại Anh không được phép lặp lại người khác hay lặp lại
Trang 2424 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
chính mình Mỗi lần anh viết là mỗi lần anh mở ra cho người đọc một cách nhìn mới mẻ, mang tính khám phá về cuộc đời và con người Đó là thiên sứ, là trách nhiệm của người cầm bút trong việc sáng tạo nghệ thuật
• g, Văn học nghệ thuật mang đậm tính dân tộc
Trong kho tàng văn chương nhân loại, ta thấy, mỗi dân tộc có một nền văn
chương riêng, một truyền thống văn chương khác nhau, dễ dàng phân biệt văn chương dân tộc này với dân tộc khác Cái làm nên sự phân biệt ấy chính là bản sắc dân tộc của văn chương Nhưng đồng thời từ mỗi gương mặt đặc sắc, độc đáo của mình, văn chương các dân tộc đã tụ họp lại dưới mái nhà chung thế giới
đã tạo ra khuôn mặt chung vừa đa dạng, vừa phong phú nhưng thống nhất của văn chương thế giới Cái làm nên sự liên kết ấy lại là đặc tính quốc tế của văn chương
Tính dân tộc của văn nghệ là tổng hóa những đặc sắc về nội dung
và hình thức của sáng tác tạo nên gương mặt văn nghệ của dân tộc
Thực ra, tính dân tộc của văn nghệ, phải được nhìn nhận như một phạm trù thẩm mĩ, phạm trù đó hòa quyện và xuyên thắm vào trong mọi yếu tố của văn chương từ nguồn gốc, đối tượng, nhiệm vụ, chức năng đến nội dung (cả ngôn ngữ, loại thể, thủ pháp, nghệ thuật …) Trong một tác phẩm tính dân tộc là tổng hòa những đặc điểm và nội dung và hình thức chứ không phải nằm ở một yếu tố nào
Lâu nay, vẫn có tình trạng lấn cấn, lẫn lộn, nhập nhằng: hoặc cho rằng đại
Trang 2525 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
phàm, văn chương là dân tộc Do đó, đã không lí giải nổi tính dân tộc của tác phẩm xấu và tác phẩm tốt Hoặc, lại có ý kiến cho rằng những tác phẩm tốt mới là có tính dân tộc Sự lẫn lộn, nhập nhằng đó là do không xem tính dân tộc như là một phạm trù thẩm mĩ Thực ra, tính dân tộc là một phạm trù thẩm mĩ Nó không chỉ là thuộc tính tất yếu của văn
chương mà quan trọng là tiêu chuẩn đánh giá tư tưởng và nghệ thuật trong nội dung và hình thức của tác phẩm văn chương Do đó, tính dân tộc chủ yếu được nhìn nhận như một phạm trù giá trị Nghĩa là khi nói đến tính dân tộc là nói đến phẩm chất, nói đến sự kết tinh những bản sắc độc đáo của một dân tộc
Do đó, cần minh định hai bình diện sau đây của tính dân tộc :
- Bình diện thuộc tính: Ðứng ở góc độ tổng quát thì tính dân tộc là thuộc
tính tất yếu của văn chương Nghĩa là "Văn chương nghệ thuật là dân tộc" (Phạm Văn Ðồng) Ðứng ở bình diện này thì bất kỳ tác phẩm văn chương nào cũng có tính dân tộc Dù muốn hay không tác phẩm của bất kỳ nhà văn nào cũng mang đặc điểm dân tộc ở một mức độ nhất định Bởi vì: văn chương phản ánh hiện thực, mà hiện thực nào cũng nằm trong một dạng thái dân tộc nhất định Vì vì, tác phẩm văn chương là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Chủ thể nhận thức nào cũng sinh ra và lớn lên trong một môi trường dân tộc nhất định Chẳng hạn, tác phẩm của những nhà văn hiện thực phê phán Việt Nam và các nhà văn tự lực văn đoàn đều có thuộc tính dân tộc Mặc dù khác nhau về khuynh hướng tư tưởng nhưng họ cũng viết về một hiện thực, cũng dùng ngôn ngữ Việt Nam, cũng là người Việt Nam Thuộc tính dân tộc của các hiện tượng đời sống của đối tượng, của ngôn ngữ, của tác giả … đã tạo nên thuộc tính dân tộc của sáng tác
- Bình diện phẩm chất: Tác phẩm văn chương nào cũng có thuộc tính
dân tộc Nhưng không phải tác phẩm nào chất lượng tính dân tộc cũng giống nhau Thường khi, chúng ta nói đến tác phẩm này đậm đà tính đấu tranh, tác phẩm nọ rất dân tộc, có nghĩa chúng ta đã đánh giá tác phẩm Tức là chúng ta xác định giá trị của văn chương Khái niệm tính dân tộc lúc này có nghĩa là tính dân tộc chân chính Tác phẩm mang tính dân tộc chân chính là tác phẩm phản ánh sâu sắc, sinh động cuộc sống của nhân dân, dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng giai cấp tiến bộ, cách mạng của thời đại trong những hình thức và thủ pháp nghệ thuật độc đáo đặc sắc thấm nhuần đặc trưng văn hóa dân tộc, tính cách dân tộc, tâm hồn dân tộc
Trang 2626 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
❖ Tính dân tộc của văn nghệ là một phạm trù thẩm mĩ mang tính lịch sử
Nó gắn liền với những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định Do đó, mà nó biến đổi không ngừng Tính dân tộc không phải là một hệ thống khép kín những yếu tố nhất thành bất biến nào đó Mà ngược lại, nó gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể và biến đổi, phát triển không ngừng Do những điều kiện lịch sử - xã hội mà qua từng thời kỳ lịch sử tính dân tộc mang một nội dung không giống nhau
"Mọi vật đều thay đổi … Ðời sống thay đổi và cùng với nó "vấn đề dân tộc" cũng thay đổi theo Trong các thời kỳ khác nhau thì có những giai cấp khác nhau xuất hiện trên vũ đài đấu tranh, và mỗi giai cấp đều hiểu
"vấn đề dân tộc" theo quan điểm riêng của mình Do đó, trong những thời
kỳ khác nhau, "vấn đề dân tộc" phục vụ cho những lợi ích khác nhau, mang những sắc thái khác nhau tùy theo từng thời kỳ và tùy theo giai cấp
đề xuất ra nó" (Stalin) Ta có thể thấy sự thay đổi đó qua một vì dụ sau đây Lòng thủy chung là một truyền thống đạo lí của dân tộc Việt Nam Lòng thủy chung trước hết là thủy chung với Tổ quốc, với dân tộc Tuy vậy, lòng thủy chung đó được các thời đại lịch sử hiểu qua chữ "trung" một cách khác nhau Giai cấp phong kiến thống trị hiểu Trung là "trung quân, ái quốc" Nhưng Trung được hiểu theo nội dung trung một cách mù quán: "Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung" Ðối với thời đại chúng ta
"Trung" là "trung với nước, hiếu với dân"
Một tác phẩm vượt trên bờ cõi, vượt qua biên giới, là tác phẩm chung cho cả loài người – nói như nhân vật Hộ trong Đời thừa của Nam Cao Tuy nhiên, tác phẩm đó lại không thể không mang dấu ấn của xã hội, lịch sử, thời đại của họ
Ví dụ: Tác phẩm Truyện Kiều mang đậm dấu ấn của
xã hội phong kiến Việt Nam thời suy tàn; Tắt Đèn, Lão Hạc,Chí Phèo,… mang dấu ấn của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám,…
Trang 2727 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
• h, Văn học – một loại hình nghệ thuật ngôn từ
Nói đến văn học là nói đến quy luật của tỉnh cảm Ở những tác phẩm thơ,
tư tưởng và tình cảm được biểu hiện trực tiếp trong tác phảm Đối với các tác phẩm truyện thì điều đó được ẩn giấu dưới các hình thức ngôn ngữ, tức biểu hiện gián tiếp
Ngôn từ tồn tại ở hai dạng: NÓI và VIẾT Văn học vì thế cũng tồn tại dưới hai dạng: VĂN HỌC DÂN GIAN và VĂN HỌC VIẾT
❖ Vì sao văn học là nghệ thuật của ngôn từ ?
Mỗi bộ môn nghệ thuật đều có một chất liệu riêng tạo nên đặc trưng của hình tượng Nếu âm nhạc dùng âm thanh, hội họa dùng đường nét và màu sắc, điêu khắc dùng mảng khối thì văn học chọn ngôn từ làm chất liệu Ngôn từ văn học vốn không như ngôn từ ta hay dùng trong sinh hoạt hằng ngày Ngôn từ văn học vốn bắt nguồn từ ngôn ngữ của quần chúng lao động nhưng nó lại không dùng một cách đơn giản như lời nói thông
thường Từ lời nói thô mộc, chỉ có ý nghĩa thông báo nhất thời, nhà văn, nhà thơ đã nhào nặn và tái tạo lại nó, khoác cho nó một tấm áo mới Bay giờ, lời nói bình thường trở thành ngôn ngữ nghệ thuật có tác dụng thể hiện cái vô cùng, vô tận của cuộc đời tâm hồn con người một cách hình tượng hóa Nó gợi dậy những cảm xúc nơi độc giả, cho ta cảm giác mới mẻ và trong ngần Mỗi từ, mỗi câu như kêu gợi một cái gì đó lớn hơn, tràn ra ngoài nó, tạo dựng ý noài lời, hình thành một chỉnh thể hình tượng mới mẻ
Ngôn ngữ đời sống là
ngôn ngữ của quần chúng,
dùng trong sinh hoạt để
nhận và phát thông tin
Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ quần chúng nhưng được cách điệu hóa nhằm tạo ra ý nghĩa thẩm mỹ
Ta có thể lấy ví dụ sau:
Người lên ngựa, kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san Hai chữ “lên ngựa”, “chia bào” vốn là những từ ngữ gợi những hành động thường nhật khi hai người gắn bó thân thiết mà phải xa nhau Nhưng trong thơ của Nguyễn Du, những chữ ấy đảm nhận một nhiệm vụ mới Nó không chỉ gợi hành động đơn thuần mà
nó còn gợi cả sự lưu luyến, bịn rịn, muốn níu kéo cho khoảnh khắc bên nhau thêm dài chút nữa, tức nỗi lòng đầy tâm sự của nhân vật trong phút chia tay
Trang 2828 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
Mặt khác, sở dĩ nói văn học là nghệ thuật của ngôn từ là ví đó là cách dùng
từ ngữ đầy nghệ thuật của nhà văn Ngôn từ văn học mang tính tổ chức cao
để khi đọc lên, độc giả có thể cảm nhận được cuộc sống và nỗi lòng của người viết, từ đó tác phẩm nằm lại ở trong tim độc giả Ngôn ngữ là tài sản chung của xã hội nhưng việc dùng nó thế nào cho phù hợp tài tình là
chuyện của cá nhân nhà văn :
Phải tốn phí ngàn cân quặng chữ Chỉ thu về một chữ mà thôi Những chữ ấy làm cho rụng động Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài
Từ hàng vạn ngôn từ, nhà văn không phải ai khác, sẽ ngồi gạn lọc lại nó Vì không phải ngôn từ nào cũng phù hợp với văn cảnh, đúng người, đúng việc
mà nhà văn định miêu tả Do đó, nó buộc nhà văn lựa chọn từ ngữ để phục
vụ ý đồ của mình Trong lao đọng nghệ thuật, nhà văn thực sự là phu chữ Nhà văn Tô Hoài kể chuyện có lần ông muốn mô tả sự mệt nhọc của con người khi làm việc dưới trời nóng bức Đã có nhiều cách diễn đạt về
chuyện đổ mồ hôi : “mồ hôi nhễ nhại, mồ hôi ướt đầm, mồ hôi như tắm.” Thế rồi một hôm, nhà văn nghe một bà nông dân thốt lên: “Nóng gì mà nóng khiếp! Mồ hôi mẹ mồ hôi con ở đâu mà tuôn ra lắm thế này!” Ông mừng như bắt được vàng vì vừa tìm ra một hình ảnh mới thật hay và ý nghĩa Dẫn chứng này cho thấy rằng mỗi từ, mỗi chữ trong tác phẩm đều được nhà văn chọn lừa và cân nhắc hết sức kĩ càng để nó phát huy hiệu quả cao nhất Nhà văn lao tâm khổ trí hàng năm trời chỉ để chọn ra một chữ cho phù hợp với tác phẩm của mình Người viết phải tinh ý và dùng chữ một cách nghệ thuật, thần tình, tác phẩm mới có thể đạt đến cảnh giới cao nhất
Đặc điểm của ngôn
từ trong văn học
Tính hàm súc đa nghĩa
Tính hình tượng Tính biểu cảm
Tính
chính xác
và tinh
luyện
Trang 2929 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
II – CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC
Là một hình thái xã hội thuộc thượng tầng kiến trúc, cũng như bất kỳ một hình thái ý thức nào khác văn chương nghệ thuật có tác dụng tích cực trở lại đối với toàn bộ đời sống xã hội Nhưng văn chương lại là một hình thái
ý thức xã hội đặc thù vì vậy nó tác động tới xã hội theo phương thức riêng của mình, mà không một hình thái ý thức nào có thể thay thế được Phần việc đặc thù mà văn chương đảm nhiệm đối với đời sống tinh thần của con người, cái suy đến cùng quyết định giá trị xã hội không thể thay thế được của văn chương, đó là chức năng của nó Chỉ có thông qua chức năng của mình, văn chương mới phát huy được tác dụng tích cực của mình
Khái niệm chức năng của văn chương là khái niệm dùng để xác định ý nghĩa và giá trị của văn chương đối với đời sống xã hội Muốn thấu hiểu chức năng của văn chương, hay nói cách khác là, muốn thấy rõ ý nghĩa, giá trị tác dụng của văn chương thì chỉ có đặt nó trong mối liên hệ mật thiết với toàn bộ cơ cấu đời sống xã hội, với đối tượng phản ánh, với đời sống tinh thần phong phú của con người Có như thế mới tránh được thái độ hạ thấp văn chương, xem văn chương là trò chơi chữ, là công việc nhàn rỗi, là trò mua vui giải trí tầm thường
1 Chức năng nhận thức cuộc sống của văn chương.
Văn chương là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội Luận điểm đó của mĩ học Mác - Lênin có một ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giá trị của văn chương nghệ thuật Trước hết là giá trị nhận thức Văn chương phát sinh và phát triển từ lâu trong đời sống xã hội loài người, nhưng không phải ai cũng thấy được giá trị nhận thức của nó
Trang 3030 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
Maritain nhà triết học người Pháp đã viết: "Nếu nghệ thuật là một
phương tiện để nhận thức, thì rõ ràng rằng nó thấp hơn nhiều so với hình
học"
Kayser, nhà lí luận văn học theo chủ nghĩa cấu trúc viết: "Tác phẩm
văn học sống và phát sinh không phải là hồi quang của một cái gì khác mà
là một cấu trúc ngôn ngữ khép kín" Hoặc quan điểm "nghệ thuật vị nghệ thuật" của mĩ học duy tâm phương Ðông, Tây cũng là thứ không thừa nhận
giá trị nhận thức của văn chương
Ngược hẳn với những quan điểm duy tâm đó, mĩ học Marx - Lénine cho nghệ thuật là phương tiện Mácnh liệt mà con người dùng để nhận thức thế giới
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác luôn thấy rõ và nhấn mạnh ý nghĩa nhận thức cả văn học nghệ thuật Mác và Ăngghen đã nhiều lần nêu
rõ ý nghĩa nhận thức của văn chương Về bộ tiểu thuyết Tấn trò đời của Balzac, bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống của xã hội Pháp trong nửa đầu
thế kỷ XIX, Ăngghen viết: "Balzac mô tả toàn bộ lịch sử xã hội Pháp,
trong đó ngay cả những chi tiết kinh tế (thí dụ như việc phân phối lại quyền
tư hữu thực tế về quyền tư hữu cá nhân sau cách mạng) tôi đã học tập được nhiều hơn là tất cả các sách của các nhà sử học, các nhà kinh tế học, các nhà thống kê chuyên nghiệp thì ấy cộng chung lại."[1]
Cũng như C Mác và F Aêng ghen, Lênin đánh giá cao khả năng hiểu biết, khám phá, sáng tạo của văn học Một ví dụ tiêu biểu là người đã đánh giá rất cao L Tolstoi ở khả năng nhận thức và phản ánh đời sống xã hội qua tác phẩm của ông Người xem "Tolstoi là tấm gương phản chiếu cách mạng Nga."[1] Phạm Văn Ðồng cũng đã từng phát biểu rất chí lí rằng:
"Văn học nghệ thuật là công cụ để hiểu biết Khám phá, sáng tạo lại thực
tại xã hội" Văn chương nghệ thuật có chức năngnhận thức cuộc sống
Nhưng vì sao văn chương nghệ thuật khác các hình thức nhận thức khác?
C Mác nói: "Ý thức con người chẳng qua là tồn tại được ý thức" Ý thức xã hội là phản ánh tồn tại xã hội Sự phản ánh đó có thể đúng hay méo
mó lệch lạc nhưng muốn hay không thì những ý niệm, khái niệm, quan niệm có được trong đầu óc con người là bắt nguồn từ hiện thực Văn
Trang 3131 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
chương là một hình thái ý thức, cho nên bất kỳ một hình thái ý thức nào khác nó có khả năng phản ánh tồn tại xã hội Nhận thức con người chẳng qua là sự phản ánh thực tại vào đầu óc con người mà thôi Vì vậy văn học
có chức năng nhận thức hiện thực
Sáng tạo văn chương nghệ thuật trước hết là một hành động nhận thức (tức là sự hiểu biết) nhận thức về sự vật, về con người, về đời sống xã hội và về cả chính bản thân mình nữa Muốn sáng tạo trước hết phải nhận thức, phải hiểu biết Bản thân sự nhận thức không phải là một cái gì bẩm sinh hay huyền bí, nó có nguồn gốc từ thực tiễn, từ trong lao động sản xuất,
từ trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên, xã hội của con người Không hiểu biết cuộc sống thì cũng có nghĩa là không thể nhận thức và do đó không thể có văn chương nghệ thuật Nhưng nhận thức không phải chỉ đơn thuần là hiểu biết theo nghĩa sát sạt của từ này, mà nó phải tiến lên cấp độ cao hơn là "khám phá" tức là phát hiện ra những mặt nào, yếu tố nào bản chất, là quy luật trong sự phức tạp, muôn màu muôn vẻ của hiện thực Hiện thực là muôn màu, muôn vẻ, đa tạp, cái ngẫu nhiên và cái tất nhiên tồn tại lẫn lộn, nhiều khi cái bản chất, cái quy luật lại biểu hiện ra dưới hình thức cái ngẫu nhiên cái tạm thời, cái không bản chất Văn chương nhận thức cuộc sống là phải luôn luôn tìm ra được cái quy luật của đời sống Nếu không làm được điều đó thì ý nghĩa nhận thức của văn chương chỉ dừng lại
ở hiểu biết đơn giản, máy móc và bên ngoài của hiện thực mà thôi Lại nữa, văn chương không chỉ nhận thức để mà nhận thức, hiểu biết để mà hiểu biết
mà là để sáng tạo ra một công cụ nhận thức mới cho con người Ðó là tác phẩm văn chương Cho nên, ngoài việc hiểu biết sâu sắc, rộng rãi về thế giới, văn chương còn phải khám phá ra phát hiện ra bản chất quy luật của thế giới "Sáng tạo" là một yêu cầu cực kỳ quan trọng của chức năng nhận thức của văn chương Lênin nói: "Ý thức con người không chỉ phản ánh
thế giới khách quan mà còn sáng tạo ra thế giới khách quan nữa" Sáng tạo
là yêu cầu của mọi hình thức nhận thức của con người Nhận thức của con
người không phải là sự phản ánh thế giới một cách thụ động, máy móc mà
là một sự sáng tạo lại một hiện thực mới cao hơn, hiện thực mà nhà văn đã nhận thức được Và tác phẩm văn chương thực sự là một công cụ nhận thức khi nhà văn có sự sáng tạo đó Tác phẩm văn chương sẽ hoàn thành sứ mạng là công cụ nhận thức khi người đọc tiếp xúc với nó không phải là tiếp xúc với cái thế giới mà mình đã nhận thấy ở ngoài đời mà tiếp xúc với thế giới mới hợp lí hơn, đáng sống hơn, nên có hơn
Trang 3232 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
Nói văn chương nghệ thuật là một hình thái ý thức cũng có nghĩa là nói tới chức năng nhận thức đặc thù - văn chương nghệ thuật trong toàn bộ
hệ thống ý thức của con người Và cũng có nghĩa là khẳng định tính chất khoa học của văn chương "Văn học là một khoa học" , tính khoa học của
nó là ở chỗ nó đưa lại những nhận thức, những hiểu biết đúng đắn và sinh động về tự nhiên xã hội (cuộc sống, con người) trên những mặt thuộc bản chất quy luật, sự vận động, phát triển Với ý nghĩa đó mà Phạm Văn Ðồng
đã viết: "Văn học, nghệ thuật là công cụ để hiểu biết, để khám phá, để sáng
tạo lại thực tại xã hội Nó là khoa học (…) Nghệ thuật là một sự hiểu biết, văn học là một sự hiểu biết, khoa học là một sự hiểu biết, hiểu biết cao sâu lắm"
Nói "văn học là một khoa học" chính là để nhấn mạnh ý nghĩa tầm quan trọng, tính chính xác của khả năng nhận thức, biểu hiện, khám phá thế giới của nó Nhưng sẽ rất sai lầm nếu đem đánh đồng nhận thức khoa học
và nhận thức nghệ thuật Nhận thức của văn chương nghệ thuật không phải như nhận thức của khoa học Sự khác nhau đó được phân biệt trên 2 bình diện sau :
Một mặt, tri thức và văn chương nghệ thuật đem lại cho con người
về bản chất và quy luật của thế giới không phải bằng những khái niệm, công thức, định lí… mà là bằng phương thức thể hiện riêng, phương tiện đặc thù Ðó là những hình tượng nghệ thuật Nghệ thuật nhận thức các hiện tượng tự nhiên và xã hội không phải là tái hiện trực tiếp Mặt khác, sự nhận thức ấy không bao giờ là trực tiếp mà thông qua con đường thẩm mĩ, bằng con đường tình cảm thẩm mĩ
Tóm lại: Văn chương có khả năng nhận thức vô cùng to lớn trên nhiều bình diện của hiện thực đời sống về tự nhiên cũng như về xã hội Nhưng đó là sự nhận thức về phương diện triết học, chính trị, xã hội, tâm lí
và thẩm mĩ… "Nó là cuốn sách giáo khoa về đời sống" Chức năng đó diễn
ra trong quá trình nhà văn nhận thức hiện thực bằng tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật, đến lượt mình, trở thành một công cụ thẩm mĩ giúp người đọc nhận thức cuộc sống và hiện thực qua những khám phá và sáng tạo của nhà văn
2 Chức năng giáo dục của văn chương
Trang 3333 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
Trong Luận cương về Phơ - bách Marx viết : "Triết học không những
chỉ nhằm giải thích đúng đắn thế giới khách quan mà quan trọng hơn là cải
tạo thế giới"
Lénine nói: "Nghĩa là thế giới không thỏa Mácn con người và con
người quyết định biến đổi thế giới bằng hành động của mình" Những tư
tưởng vĩ đại đó không chỉ có ý nghĩa trên địa hạt triết học đơn thuần, hay ở
một lĩnh vực nhận thức nào mà có ý nghĩa cho mọi lĩnh vực nhận thức chân chính của con người
Văn chương một nghệ thuật là một hình thái ý thức đặc thù, nhưng tựu trung vẫn là một hình thái ý thức xã hội, nó nằm trong quy luật nhận thức chung trên của con người Vì vậy, văn chương không chỉ có chức năng nhận thức thế giới mà còn có chức năng cải tạo thế giới Tác dụng cải tạo của văn chương, vì vậy là một thuộc tính tất yếu, là một đặc điểm mang tính quy luật, tính bản chất
Giáo dục của văn chương là làm thay đổi hoặc nâng cao tư tưởng, quan điểm, nhận thức của con người theo chiều hướng tiến bộ hoặc cách mạng, giúp cho con người từ chỗ tán thành đến hành động theo lí tưởng nhân vật hoặc lí tưởng tác giả Hoặc bằng những hình tượng nghệ thuật sinh động và hấp dẫn, tác giả giúp con người phân biệt được tốt xấu, đúng sai, từ đó liên hệ đến mình và xác định cho mình một thái độ một lập trường nhất định theo những điều đã hấp thụ qua tác phẩm Tóm lại văn chương thực hiện chức năng giáo dục đối với bạn đọc ở những phương diện sau:
- Học tập, nâng cao trình độ văn hóa
- Rèn luyện, trau dồi giác quan thẩm mĩ
- Tu dưỡng đạo đức, phẩm chất
- Cải tạo thế giới quan và quan điểm chính trị - xã hội
Bất cứ tác phẩm văn chương nào cũng có thể có tác dụng này hay tác dụng khác đối với người đọc có tác dụng tiêu cực, có tác dụng tích cực,
có tác dụng nhất thời, có tác dụng vĩnh cửu
Trang 3434 Tài liệu được sưu tầm và biên soạn bởi: Hạ Văn| Mọi thắc mắc xin liên hệ: 0945 048 845
Văn chương thực hiện chức năng giáo dục bằng cách, trước hết, là ở
tư tưởng của nhà văn thể hiện ngay trong việc nhận thức và phản ánh hiện thực Tác phẩm văn chương là sản phẩm ý thức nhà văn, là kết quả hoạt động có mục đích của nhà văn Qua tác phẩm người sáng tác bao giờ cũng gửi gắm ký thác, truyền đạt một cái gì đó cho người đọc Ðó là lập trường quan điểm, tư tưởng, ý nghĩ và những lời giải đáp cùng những ước vọng của người sáng tác trước cuộc sống Những điều gửi gắm đó nếu rung động được lòng người thì giúp họ nhận thức được đúng đắn cuộc sống và khiến
họ đi đến những suy nghĩ và hành động đúng
Thứ đến là nội dung tư tưởng, ở khuynh hướng tuyên truyền, động viên và giáo dục của tác phẩm từ các nhân vật điển hình đại diện cho tư tưởng tác giả thông qua tâm tư, suy nghĩ, triết lí sống của nhân vật được trình bày dưới dạng này hay dạng khác Hình tượng Từ Hải trong Truyện Kiều ngoài ý nghĩa là mơ ước tự do và công lí của Nguyễn Du, nó còn có tác dụng khơi dậy ở người đọc ý chí độc lập tự do, ý thức không cam tâm làm nô lệ, ý thức tháo củi sổ lồng đạp bằng mọi bất công ở con người Hình tượng Kiều lại giáo dục con người ta lòng hiếu nghĩa với cha mẹ, lòng chung thủy vợ chồng, ý thức luôn luôn khơi dậy trong cuộc sống
Nó còn thể hiện ở tính thẩm mĩ của tác phẩm Tức là ở lí tưởng thẩm mĩ và hình thức nghệ thuật mà tác giả vận dụng để truyền đạt có hiệu quả nhất những tư tưởng và kiến giải của mình đến người đọc
Văn chương có nhiệm vụ xây dựng những hình tượng nghệ thuật mang lí tưởng thẩm mĩ, đó là cuộc sống đáng sống và con người đáng có Hình tượng Từ Hải là một hình tượng mang lí tưởng thẩm mĩ của tác giả:
Lí tưởng về con người anh hùng đầy lòng nhân đạo, bình đẳng, bác ái và ý chí quật cường không cam tâm làm nô lệ Từ Hải còn là niềm vui mừng, nỗi ước muốn của quần chúng lao động Nếu như Mác Giám Sinh, Tú Bà,
Sở Khanh … là những hình tượng làm cho người đọc căm ghét thì Từ Hải lại là nhân vật làm cho người ta thương yêu, trân trọng, đấy chính là mặt trái và mặt phải của tác dụng thẫm mĩ của hình tượng văn học
Văn chương là một nghệ thuật, tác dụng cải tạo của nó còn ở hình thức nghệ thuật Nghệ thuật trong sáng giản dị tạo cho người ta cảm giác