1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo luật luật hôn nhân và gia đình năm 2014

20 288 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 33,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khái niệm Theo Khoản 21, Điều 3 Luật Hôn Nhân và gia đình năm 2014: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệ

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Khái quát về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 1

1 khái niệm 1

2 Một số kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 2

3 Các trường hợp được áp dụng 3

4 Điều kiện áp dụng 4

II Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 7

1 Căn cứ xác định 7

2 Thẩm quyền xác định 12

III Thực trạng và phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

1 Thực trạng xã hội 13

2 Những điểm tích cực và hạn chế còn tồn tại của quy định về xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 14

3 Giải pháp hoàn thiện những bất cập của pháp luật về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản 17

KẾT BÀI 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 2

MỞ ĐẦU

Theo nghiên cứu bệnh viện Phụ sản Trung ương và Đại học Y Hà Nội tiến hành năm 2014, tại Việt Nam tỉ lệ vô sinh chiếm khoảng 8% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản Như vậy ở nước ta có đến hàng triệu cặp vợ chồng có nhu cầu sinh con nhưng vẫn chưa thể thực hiện được mơ ước của mình Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ra đời, đặc biệt là kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, thực sự đã mang lại hạnh phúc lớn lao cho biết bao cặp vợ chồng Theo đó, vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đang ngày càng phổ biến và mang ý nghĩa vô cùng quan trọng, việc xác định cha, mẹ, con cũng có những nét đặc trưng riêng Để góp phần giúp mọi người

hiểu rõ hơn về vấn đề này, nhóm chúng em chọn đề tài: “Đánh giá việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo luật Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” Trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu bài viết

không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong thầy, cô và cùng các bạn

có ý kiến đóng góp, bổ sung để bài viết được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

I Khái quát về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

1 khái niệm

Theo Khoản 21, Điều 3 Luật Hôn Nhân và gia đình năm 2014: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”

Nói cách khác, đó là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật y học hiện đại để can thiệp vào quá trình thụ thai của người phụ nữ với mục đích giúp những cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh hoặc phụ nữ độc thân có thể mang thai và có những đứa con như họ ước muốn

Trang 3

2 Một số kĩ thuật hỗ trợ sinh sản

2.1 Thụ tinh nhân tạo

Thụ tinh nhân tạo được biết đến là một phương pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả được áp dụng phổ biến trong điều trị vô sinh hiếm muộn nhằm mang đến cơ hội làm cha, làm mẹ cho nhiều cặp vợ chồng Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật

để tạo điều kiện cho quá trình thụ thai được diễn ra thuận lợi nhất tại các cơ sở y tế chuyên khoa

Thụ tinh nhân tạo (artificial insemination, intrauterine insemination - IUI), còn gọi là phối giống nhân tạo, gieo tinh nhân tạo, là một phương pháp hỗ trợ sinh sản, thông qua một số biện pháp kỹ thuật, lấy tinh trùng từ người nam để pha chế, bảo quản và bơm vào đường sinh dục (tử cung) của người nữ

2.2 Phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)

Thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp điều trị hiếm muộn cho những cặp vợ chồng không thể thụ thai một cách tự nhiên

Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi (Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP) Hay nói cách khác, phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp mà trứng và tinh trùng được thụ tinh bên ngoài cổ tử cung của người phụ nữ Đây là một phương pháp được áp dụng sau khi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã thất bại, được áp dụng cho những được dành cho những cặp vợ chồng hay những người phụ nữ đang

ở độ tuổi sinh sản, vì bất kỳ lý do gì đó, tinh trùng không thể thụ tinh cho trứng bằng phương pháp tự nhiên …Đây cũng là biện pháp được nhiều cặp vợ chồng vô sinh, phụ nữ độc thân tìm đến và mang lại hiệu quả tương đối cao Ngày nay, với công nghệ tiên tiến, tỷ lệ mang thai của người được thụ tinh trong ống nghiệm đã được nâng lên đáng kể so với trước đây

Trang 4

3 Các trường hợp được áp dụng

Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ghi nhận: “Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa” Như vậy, pháp luật cho phép áp dụng biện

pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong hai trường hợp:

3.1 Đối với căp vợ chồng vô sinh

Khái niệm “vô sinh” được hiểu là “tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai”(Khoản 2, Điều 2, Nghị định số

10/2015/NĐ-CP) Các nguyên nhân dẫn đến vô sinh có thể xuất phát từ người đàn ông và cũng

có thể xuất phát từ người phụ nữ Vô sinh có thể là nguyên phát, tức là từ trước đến giờ người phụ nữ hay người đàn ông chưa bao giờ có con, cũng có thể là thứ phát, tức là đã từng có con, nhưng sau đó mất khả năng này Hiện nay tỉ lệ vô sinh trên thế giới trung bình từ 6%-12% Đây là một vấn đề lớn không chỉ riêng cho ngành y

tế mà là chung cho toàn xã hội Nghị định mới của Chính phủ về vấn đề Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ra đời không chỉ mang lại niềm vui cho những người

bị vô sinh mà còn là hành lang pháp lý quan trọng cho giới chuyên môn và cho những người muốn điều trị vô sinh

3.2 Đối với phụ nữ độc thân

Khoản 6, Điều 2, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định: “Phụ nữ độc thân

là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật” Tức

là, tại thời điểm đó, người phụ nữ đang không có quan hệ hôn nhân với bất kỳ ai Mặc dù không muốn bị ràng buộc bởi hôn nhân nhưng họ vẫn muốn có một đứa con để yêu thương, chăm sóc, đó cũng là một trong những lý do dẫn đến người phụ

nữ lựa chọn phương pháp này Cuộc sống công nghiệp hiện đại cùng nhịp sống hối

Trang 5

hả không những cuốn hút phái nam mà cả phái nữ Càng ngày càng có nhiều phụ

nữ độc thân lựa chọn biện pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và thường nằm ở đối tượng phụ nữ thành đạt

4 Điều kiện áp dụng

Theo Điều 3, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP qui định về nguyên tắc áp dụng

kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như sau:

Thứ nhất, các cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ sống độc thân có quyền sinh

con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa

Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng của việc sinh con theo phương pháp khoa học Cần phải hiểu rằng “cặp vợ chồng vô sinh” theo quy định tại Nghị định 12/NĐ-CP là cặp vợ chồng hợp pháp, tức là cặp vợ chồng vô sinh có đăng ký kết hôn hợp pháp hoặc có hôn nhân thực tế (nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 30/01/1987 có đủ điều kiện kết hôn nhưng không kết hôn) Hiện nay tỷ lệ vô sinh là vô cùng lớn, chiếm khoản 10 đến 18% trong các cặp

vợ chồng đề lớn không chỉ riêng cho ngành y tế mà cho chung cả xã hội Nghị định của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học không chỉ tạo điều kiện mang lại niềm vui cho những người bị vô sinh mà còn là hành lang pháp lý chuyên môn và cho mọi người muốn đến điều trị vô sinh

Sinh con cho người phụ nữ độc thân phần nào do cuộc sống hiện đại ngày nay Ngày càng có nhiều phụ nữ không muốn kết hôn nhưng lại muốn có một đứa con Theo khảo sát ban đầu làn sóng sinh con theo phương pháp này bắt đầu từ giới tri thức, người nổi tiếng, thành đạt Tuy nhiên gần đây những người phụ nữ bình thường cũng bắt đầu tìm đến phương pháp này khi họ không muốn kết hôn

Thứ hai, việc tiến hành kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải theo đúng quy trình kỹ

thuật do Bộ Y tế ban hành:

Trang 6

Sinh con theo phương pháp khoa học là một quy trình tốn kém về thời gian

và tiền bạc Các thao tác của quá trình này yêu cầu sự nghiêm ngặt để bảo đảm chất lượng của phương pháp Tất cả các thao tác trong hoạt động này đòi hỏi tính chính xác cao bởi vì nếu xảy ra sơ xót thì sẽ để lại những sai lầm nghiêm trọng Yêu cầu cao như vậy với mỗi thao tác nhưng cho đến này Bộ Y tế vẫn chưa ban hành được quy trình kỹ thuật hỗ trợ sinh sản áp dụng cho các cơ sở được công nhận đủ điều kiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, vì vậy nhiều cơ sở vẫn còn lung túng trong việc thực hiện

Thứ ba, việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: cho noãn, nhận noãn, cho

tinh trùng, nhận tinh trùng, cho phôi, nhận phôi phải được tiến hành trên nguyên tắc

tự nguyện:

Các bên tham gia phải tự nguyện ở đây là sự tự nguyện của cặp vợ chồng vô sinh và người cho noãn, tinh trùng Các bên tham gia phải ký thỏa thuận giữa người cho noãn, có chữ ký đầy đủ của vợ, chồng (nếu có) người cho và vợ chồng người nhận hoặc bản cam kết cho tinh trừng giữa người cho với cơ sở y tế lưu trữ tinh trùng

Thứ tư, việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi được thực hiện trên

nguyên tắc bí mật:

Nguyên tắc này có ý nghĩa là người nhận tinh trùng hoặc người nhận phôi không được biết đến danh tính cũng như lý lịch của người cho và ngược lại người cho cũng không biết đến các thông tin của người nhận Việc đưa ra nguyên tắc này là

để tránh trường hợp người nhận và người cho biết thông tin lẫn nhau sẽ gây rắc rối

về mặt tình cảm, nhiều khi dẫn đến những phiền phức về mặt xã hội, vì khi biết được đứa trẻ “mang dòng máu” của mình một lẽ đương nhiên là sẽ nảy sinh tình cảm đặc biệt trên cơ sở đó có thể dẫn đến những bất lợi hoặc hậu quả không hay

Trang 7

Vì lý do đó nên mặc dù có những bệnh nhân xin một trong những người trong gia đình hoặc dòng họ thì cũng không được chấp nhận Nhưng vì quan niệm vầ truyền thống văn hóa nước ta vẫn rất nhiều người lách luât, móc nối vơi các cơ sở y tế để thực hiện vẫn đang còn nhiều vì vậy pháp nghiên cứu kỹ vấn đề này

Thứ năm, nghiêm cấm các hành vi mang thai hộ và sinh sản vô tính:

Mang thai hộ là trường hợp sau khi thụ tinh trong ống nghiệm, nếu người mẹ

vì lý do sức khỏe hay vì điều kiện nào đó mầ không thể mang thai, phải nhờ đến người phụ nữ khác mang thai và sinh đẻ Theo quan niệm từ lâu đời vẫn cho rằng người nào sinh ra đứa trẻ thì chính là mẹ đẻ của đứa trẻ, tình cảm của người mẹ dành cho con bắt đầu từ khi mang thai đến ngày sinh ra, mối liên hệ tình cảm cũng hình thành từ ngày đó Hành động mang thai hộ cũng phần nào làm mất đi sự thiêng liêng của tình mẫu tử khi người mẹ vốn mang nặng đẻ đau sinh ra đứa trẻ lại không phải là mẹ ruột của đứa trẻ Để xác định ai là mẹ của đứa trẻ trong vấn đề mang thai hộ là rất khó khắn, vì thế nên các nhà làm luật cho rằng nên cấm quy định mang thai hộ

Sinh sản vô tính: vẫn thường được gọi là nhân bản người, rất nhiều người cho rằng sinh sản vô tính đi ngược lại tự nhiên, đạo đức, tôn giáo và pháp luật Hiện nay đại đa số các quốc gia trên thế giới cấm sinh sản vô tính ở người Ngày 01/03/2001, Nghị định thư về cấm sinh sản vô tính ở người đã có hiệu lực chính thức sau khi được cơ quan lập pháp của 5 nước thông qua là Tây ban Nha, Hy Lạp, Slovakia, Sloenia đây là thỏa thuận đầu tiên về cấm sinh sản vô tính ở người được

áp dụng Ngày 04/12/2001, Anh ban hành đạo luật nhân bản người, đạo luật này không cấm tuyệt đối nhân bản người mà chỉ không cho phép đưa phôi nhân bản vào tử cung phụ nữ Như thế, các nhà khoa học vẫn có thể sử dụng phương pháp này trong nghiên cứu khoa học Ở Việt Nam Nghị định về sinh con theo phương

Trang 8

pháp khoa học thì sinh sản vô tính được quy định là một trong những hành vi bị nghiêm cấm

Thứ sáu, tinh trùng, noãn của người cho chỉ được sử dụng cho một người:

Việc này nhằm hạn chế tối đã những đứa trẻ có cùng huyết thống nhưng được sinh ra từ những gia đình khác nhau mà trên mặt pháp lý lại không phải là anh chị em ruột Quy định này vẫn đảm bảo tính bảo mật riêng tư của người cho nhưng lại phải đòi hỏi địa chỉ rõ rang của người nhận Vì vậy đòi hỏi cơ quan y tế thực hiện quy trình này này phải có trách nhiệm, cẩn thận trong bảo quản và vận chuyển

để bảo đảm chỉ sử dụng cho một người duy nhất mà thôi

Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ra đời thay thế Nghị định số 12/2003/NĐ-CP không chỉ ghi nhận thêm quyền mang thai hộ vì mục đích nhân đạo mà còn bổ sung thêm nguyên tắc bảo đảm an toàn bí mật đời tư, bí mật cá nhân và gia đình của tất

cả các bên khi tham gia vào quan hệ mang thai hộ Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ra đời cho thấy được sự tiến bộ quan trọng và cần thiết của pháp luật Việt Nam

II Nội dung quy định của pháp luật hiện hành về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

1 Căn cứ xác định

1.1 Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh

Theo quy định tại Điều 93 Luật HN&GĐ năm 2014: “Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này” Đối chiếu với quy định tại Điều 88 Luật HN và GĐ năm 2014: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ

có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng Con được sinh ra trong

Trang 9

thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ

có thai trong thời kỳ hôn nhân Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”

Như vậy, đối với cặp vợ, chồng vô sinh sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì căn cứ xác định cha, mẹ, con được xác định trên nguyên tắc suy đoán pháp

lý, đó là căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng vô sinh, nhưng không hoàn toàn giống sinh con theo chu trình tự nhiên Đây không chỉ là căn cứ xác định cha,

mẹ, con trong trường hợp con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà còn là điều kiện bắt buộc để cặp vợ chồng được áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì tại khoản 2

Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định: “vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai” và chỉ khi cặp vợ, chồng đáp

ứng điều kiện vừa nêu thì mới được áp dụng Do đó, trường hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng đăng ký kết hôn và được vợ chồng thừa nhận là con chung sẽ không được áp dụng đối với trường hợp con sinh ra bằng hỗ trợ kỹ thuật sinh sản

Từ quy định này đã phát sinh vướng mắc, đó là, trong trường hợp đang tiến hành kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng chết, đứa trẻ sinh ra đã quá 300 ngày

kể từ khi hôn nhân chấm dứt thì đứa trẻ có được xác định là con chung của vợ, chồng không? Trường hợp này hiện pháp luật chưa có quy định cụ thể Theo người viết, nếu theo nguyên tắc quy định tại Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014, thì đứa trẻ trong trường hợp này không phải con chung của vợ, chồng Tuy nhiên, thực tế đứa trẻ đó mang huyết thống của người cha đã chết và được sinh ra hoàn toàn dựa trên

sự mong muốn của người đã khuất Do vậy, nếu xác định đứa trẻ sinh ra không phải con chung của cặp vợ chồng vô sinh thì sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của đứa trẻ, ví dụ như quyền thừa kế di sản của người cha để lại Ngoài ra, pháp luật hiện nay cũng chưa có quy định cụ thể về việc đang trong quá trình thực hiện kỹ

Trang 10

thuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng bị tuyên bố mất tích thì người vợ có được tiếp tục thực hiện và nếu thực hiện thì xác định cha, mẹ, con như thế nào

Mặt khác, chỉ khi có sự tự nguyện của cặp vợ chồng vô sinh thì mới được áp dụng việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Trên tình thần tự nguyện, người

vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác định là mẹ đứa trẻ trong mọi trường hợp

kể cả người mẹ là người nhận tinh trùng, nhận noãn hay nhận phôi của người khác Người chồng hợp pháp của người mẹ đó cũng chính là cha đứa trẻ, ngay cả trường hợp người chồng không phải là người cho tinh trùng

1.2 Xác định cha mẹ con trong trường hợp người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học được áp dụng theo Nghị định số 10/2015/NĐ-CP về sinh con bằng ký thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ về mục đích nhân đạo

Khoản 6 Điều 2 Nghị định số 10/2015 NĐ-CP quy định: “Phụ nữ độc thân là người phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật”.

Căn cứ để xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này chỉ dựa vào sự tự nguyện và

sự kiện sinh đẻ của chính họ

Khoản 2, điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra”

Như vậy việc xác định mối quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp người phụ

nữ độc thân sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản được áp dụng tương tự như trường hợp xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp, trong trường hợp này chỉ có quan hệ giữa mẹ và con Người phụ nữ được xác định là mẹ của đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả người mẹ này nhận tinh trùng hoặc phôi từ

Ngày đăng: 02/04/2020, 17:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w