Trong những năm vừa qua, kinh tế nước ta đã phải đối mặt với nhiều thách thức lớn của khủng hoảng kinh tế thế giới. Kinh tế suy thoái ảnh hưởng không hề nhỏ đến vấn đề việc làm của người dân nói chung và sinh viên Việt nam nói riêng. Đã từ rất lâu, một vấn đề khó khăn đối với kinh tế Việt Nam là hàng trăm, hàng nghìn sinh viên ra trường thất nghiệp, không có việc làm. Bởi vậy, khởi nghiệp là một sự lựa chọn vô cùng phù hợp cho các bạn trẻ sinh viên ngày nay. Và thực tế đã chứng minh, rất nhiều các startup Việt Nam ngày nay hầu hết là các bạn trẻ. Thanh niên, cụ thể là sinh viên là lực lượng xã hội hùng hậu, có sức khỏe, có trình độ học vấn, được đào tạo bài bản, có tiềm năng sáng tạo, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học hiện đại. Vì thế sinh viên là lực lượng có tiềm năng và tỷ lệ thành công cao trong vấn đề khởi nghiệp. Từ bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, Nhóm 2 bộ môn Phương pháp nghiên cứu khoa học thực hiện nghiên cứu về đề tài : “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học Thương mại”. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu này đầu tiên là tìm hiểu, phân tích và đánh giá về ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học Thương mại. Từ đó, xác định các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Và cuối cùng là đề xuất các giải pháp, cách khắc phục nhằm thúc đẩy phát triển ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học thương mại nói riêng cũng như sinh viên Việt Nam nói chung. Và để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề tài, các câu hỏi được đặt ra bao gồm: Thực trạng khởi nghiệp của sinh viên Đại học thương mại? Sinh viên Đại học thương mại có ý định khởi nghiệp hay không? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp? Giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy sinh viên Đại học thương mại khởi nghiệp.
Trang 1NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP
CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Giáo viên hướng dẫn:
Nhóm thực hiện:
Lớp học phần:
Năm học: 2019-2020
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 2 Tổng quan nghiên cứu 3
1 Tổng quan 3
2 Khung lý thuyết 5
Chương 3: 6
1 Tiếp cận nghiên cứu 6
2 Quy trình nghiên cứu 7
3 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu 7
4 Đơn vị nghiên cứu 8
Chương 4: 8
1 Kết quả phân tích dữ liệu 8
2 Bảng kết quả spss 16
3 Phân tích chuyên sâu (Phân tích độ tin cậy) 19
Chương 5: 23
1 Kết luận 23
2 Các đề xuất 23
3 Tài liệu tham khảo 25
4.Phụ lục 25
PHIẾU KHẢO SÁT NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI 25
Câu hỏi phỏng vấn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ĐH Thương Mại” 29
Trang 4Chương 1: LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm vừa qua, kinh tế nước ta đã phải đối mặt với nhiều thách thức lớn của khủng hoảng kinh tế thế giới Kinh tế suy thoái ảnh hưởng không hề nhỏ đến vấn đề việc làm của người dân nói chung và sinh viên Việt nam nói riêng Đã từ rất lâu, một vấn đề khó khăn đối với kinh tế Việt Nam là hàng trăm, hàng nghìn sinh viên ra trường thất nghiệp, không có việc làm Bởi vậy, khởi nghiệp là một sự lựa chọn vô cùng phù hợp cho các bạn trẻ sinh viên ngày nay Và thực tế đã chứng minh, rất nhiều các start-up Việt Namngày nay hầu hết là các bạn trẻ Thanh niên, cụ thể là sinh viên là lực lượng xã hội hùng hậu, có sức khỏe, có trình độ học vấn, được đào tạo bài bản, có tiềm năng sáng tạo, có khảnăng tiếp cận và làm chủ khoa học hiện đại Vì thế sinh viên là lực lượng có tiềm năng và
tỷ lệ thành công cao trong vấn đề khởi nghiệp
Từ bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, Nhóm 2 bộ môn Phương pháp nghiên cứu khoa học thực hiện nghiên cứu về đề tài : “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học Thương mại”
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu này đầu tiên là tìm hiểu, phân tích và đánh giá về ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học Thương mại Từ đó, xác định các yếu tố tác động đến ýđịnh khởi nghiệp của sinh viên Và cuối cùng là đề xuất các giải pháp, cách khắc phục nhằm thúc đẩy phát triển ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học thương mại nói riêng cũng như sinh viên Việt Nam nói chung
Và để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề tài, các câu hỏi được đặt ra bao gồm:
Thực trạng khởi nghiệp của sinh viên Đại học thương mại?
Sinh viên Đại học thương mại có ý định khởi nghiệp hay không?
Những nhân tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp?
Giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy sinh viên Đại học thương mại khởi nghiệp
Mô hình ngiên cứu của đề tài:
Theo đuổi đam
mê, sở thích
Trang 5
Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài:
Trước hết, là đối với sinh viên: giúp sinh viên thấy rõ được những trở ngại khi khởinghiệp từ đó có giải pháp để khắc phục giúp qúa trình khởi nghiệp thành công
Đồng thời thúc đẩy sinh viên trường Đại học thương mại khởi nghiệp ngày càng nhiều hơn
Và đối với nhà trường: từ việc chỉ rõ ra những nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, nhà trường sẽ tạo điều kiện giúp cho sinh viên khởi nghiệp được dễ dàng hơn
Và cuối cùng là đối với xã hội: Hiểu rỗ được những khó khăn của sinh viên gặp phải đồng thời là lợi ích nếu sinh viên khởi nghiệp, gia đình, người thân sẽ có cái nhìn thông cảm, sẽ hiểu hơn cho các bạn Xã hội sẽ tạo điều kiện hơn cho sinh viên
có ý định khởi nghiệp, có cái nhìn khác hơn về các bạn trẻ muốn gây dựng sự
nghiệp của riêng mình
Thiết kế nghiên cứu:
Phạm vi thời gian: đề tài được nghiên cứu trong khoảng thời gian tháng 9, tháng 10năm 2019
Các nhân tố tác động đến ý địnhkhởi nghiệp của sinh viên Đại học Thương mại
Kiến thức củabản thân
Việc đi làm thêm
giúp có thêm kinh
Sự ủng hộ từ giađình, người thânxung quanh
Điều kiện tàichính của gia đình
Các mối quan hệbạn bè, xã hội
Các doanh nhân, cáctấm gương đã khởinghiệp thành công
Trang 6 Phạm vi không gian: trường Đại học Thương mại
Đơn vị nghiên cứu:
Công cụ thu thập dữ liệu:
Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Các dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích và xử lý thông qua hai phương pháp phân tích là định tính và định lượng Phântích định lượng sử dụng công cụ phân tích thông kê dưới sự trợ giúp của phần mềm Còn phân tích định tính được sử dụng kết hợp để phân tích thông tin thu được từ phỏng vấn sâu, cùng với các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp,…
Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1 Tổng quan
Trên thế giới đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về khởi nghiệp Trong đó có không ít đề tài về khởi nghiệp của sinh viên vì đây là lực lượng trẻ có đặc điểm nổi trội vềtính sáng tạo và lòng nhiệt huyết
Theo Askun & Yildirim, 2011 đã chứng minh rằng các khóa học khởi nghiệp có ảnh hưởng lớn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, nghiên cứu của họ ủng hộ việc tạo lập doanh nghiệp thông qua chương trình giáo dục khởi nghiệp
Hong & cs, 2012, cho rằng chất lượng khởi nghiệp của sinh viên liên quan đến chương trình giáo dục khởi nghiệp vì nó làm giàu kiến thức khởi nghiệp và phát triển kỹ năng khởi nghiệp cho sinh viên Trường đại học phải tập trung chú ý nhiều hơn nữa đến
chương trình giáo dục khởi nghiệp, tập trung vào các doanh nghiệp sinh viên, kết nối với
xã hội, trao cho sinh viên nhiều cơ hội khởi nghiệp, và phải chú trọng đến cơ hội thực tập
va chạm thực tế của sinh viên
Với chủ đề huấn luyện khởi nghiệp thực tế, Taatila & Down, 2012 kết luận sinh viên ở những chương trình đào tạo khác nhau có xu hướng khởi nghiệp khác nhau Sinh viên có trải nghiệm về doanh nghiệp có xu hướng khởi nghiệp cao hơn sinh viên chưa có trải nghiệm Kết quả này có mâu thuẫn với kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Kuckertz
&Wagner, 2010 vì nhóm tác giả này cho rằng người chưa có va chạm thực tế với doanh nghiệp kiên định với ý định khởi nghiệp hơn người đã từng va chạm với doanh nghiệp
Từ những kết quả trên, có thể thấy nhiều nghiên cứu tập trung vào chương trình giáo dục Tuy nhiên ở Việt Nam chưa có chương trình giáo dục khởi nghiệp chính thức nào cả Pruett & cs, 2009 chứng minh yếu tố xã hội, tấm gương điển hình trong khởi nghiệp, sự ủng hộ của gia đình trong khởi nghiệp tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp
Chand & Ghorbani, 2011 cho rằng sự khác nhau về văn hoá mỗi quốc gia dẫn đến việc thành lập và quản lí doanh nghiệp khác nhau Văn hoá quốc gia cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập và sử dụng nguồn vốn xã hội Vì vậy, ở mỗi quốc gia khác nhau
ý định khởi nghiệp của sinh viên khác nhau
Sesen, 2013 phân tích sâu hơn Schwarz ở khía cạnh các yếu tố môi trường bao gồm thông tin kinh doanh, mối quan hệ xã hội và môi trường khởi nghiệp ở trường đại học Kết quả nghiên cứu cho thấy ngoại trừ các yếu tố như khả năng tiếp cận vốn, môi trường khởi nghiệp ở trường đại học, các yếu tố còn lại như thông tin kinh doanh, mối quan hệ xãhội, môi trường khởi nghiệp ở trường đại học tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp
Trang 7Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyen & Phan, 2014 cho thấy sự khác biệt về các nhóm tính cách khác nhau đối với các nhóm khảo sát doanh nhân, nhân viên, và sinh viên Kết quả cho thấy, nhiệt tình, tư duy cởi mở, trách nhiệm, chân thành là những tính cách mà người khởi nghiệp trẻ cần có
Về tư duy, Haynie & cs (2010) định nghĩa tư duy khởi nghiệp là khả năng trở nên năng động, linh hoạt, và tự điều chỉnh trong nhận thức của một người để thích ứng với môi trường không chắc chắn và năng động Nhóm tác giả đề xuất mô hình nhận thức tổng hợp
về tư duy khởi nghiệp trong đó có minh hoạ về mối quan hệ giữa tư duy khởi nghiệp và hành động khởi nghiệp
Về giới tính, nghiên cứu của nhóm Sullivan & Meek, 2012, Zhang & cs, 2009 cho thấy khi so sánh với nam, nữ sẽ có mức ảnh hưởng cao hơn trong ý định khởi nghiệp Tuy nhiên, theo Maes & cs, 2014 chứng minh thái độ cá nhân giải thích ý định khởi nghiệp của nữ yếu hơn của nam Vì phụ nữ khởi nghiệp mong muốn cân bằng các giá trị xã hội hơn nam (dành thời gian nhiều hơn cho gia đình, con cái) nên phụ nữ khởi nghiệp ít thànhtựu hơn nam Như vậy có sự mâu thuẫn rõ ràng trong kết quả của các nghiên cứu về giới tính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp Điều đó nhận thấy cần nghiên cứu và xem xét thêm vai trò của giới tính đối với ý định khởi nghiệp của sinh viên
Ý tưởng, dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên được đánh giá cao (Giáo dục.net) Trong bài báo này, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã phát biểu “cần kết hợp được sức mạnh dân tộc (truyền thống, con người…) với sức mạnh thời đại, trong đó có sự phát triểnnhư vũ bão của khoa học, bằng việc tập trung thật sự vào khoa học, vào nguồn nhân lực
để khơi dậy sự sáng tạo của mọi người, trước hết là trong giới nghiên cứu, nhất là nhà khoa học trẻ, sinh viên Đây cũng là những vấn đề đặt ra trong Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” Phó Thủ tướng nhấn mạnh mục đích chính của đề
án là trang bị các kiến thức cần thiết cho học sinh, sinh viên về khởi nghiệp Đồng thời kếtnối tất cả các trường học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp Quan trọng nhất là đề án phải khơi dậy, rèn luyện tinh thần khởi nghiệp trong các trường học
Theo tiến sĩ Nguyễn Thu Thuỷ, qua những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề khởi nghiệp của sinh viên dưới nhiều góc nhìn như Đào tạo đại học với khởi sự doanh nghiệp
xã hội, 2012, các nhân tố tác động tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học,
2014
Trang 82 Khung lý thuyết
Một số khái niệm liên quan
Ý định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là sự liên quan đến ý định của một cá nhân để
liên quan đến một doanh nghiệp (Souitaris &cs, 2007), là một quá trình định hướng lập kếhoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp (Gupta & Bhawe, 2007)
Ý định khởi nghiệp của một cá nhân bắt nguồn từ việc nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồnlực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp cho riêng mình (Kuckertz
& Wagner, 2010) Ý định khởi nghiệp của sinh viên xuất phát từ các ý tưởng của sinh viên và được định hướng đúng đắn từ chương trình giáo dục và người đào tạo (Schwarz
&cs, 2007) Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa ý định khởi nghiệp của sinh viên
Khởi nghiệp đòi hỏi phải đổi mới, sáng tạo Đặc tính cơ bản của khởi nghiệp là tính đột phá nhằm tạo ra một điều gì đấy chưa hề có trên thị trường hoặc tạo ra một giá trị tốt hơn
so với những thứ đang có sẵn, chẳng hạn như có thể tạo ra một phân khúc mới trong sản xuất, một mô hình kinh doanh mới, hoặc một loại công nghệ độc đáo mới…
Có lẽ nói đến đây một vài bạn sẽ nghĩ đến từ “lập nghiệp” và liệu “lập nghiệp” có giống
“khởi nghiệp” hay không? Và câu trả lời sẽ là không hoàn toàn giống cũng không hoàn toàn khác Lập nghiệp là gây dựng cơ nghiệp bằng cách lập một doanh nghiệp tư nhân hoặc hộ kinh doanh cá thể mà vô số những doanh nghiệp, hộ gia đình khác đã và đang làm cùng mô hình kinh doanh giống bạn, chẳng hạn như mở nhà hàng, quán ăn, tiệm hớt tóc, quán cà phê
Một ví dụ cụ thể để phân biệt giữa lập nghiệp và khởi nghiệp là chăn nuôi dê Nếu bạn mua dê về và chăn nuôi như các hộ khác trong vùng thì chỉ có thể nói bạn đang lập
nghiệp Còn mô hình chăn nuôi dê của anh Phạm Văn Hưng ở H.Di Linh, Lâm Đồng mới được xem là mô hình khởi nghiệp Bởi tính sáng tạo và đột phá trong mô hình của anh thểhiện qua việc tìm giống mới, chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi mới… nhờ đó lợi nhuận và năng suất trang trại của anh cao hơn cách chăn nuôi truyền thống của các hộ khác Như vậy rõ ràng khởi nghiệp khó hơn lập nghiệp nhiều ở tính đột phá và sáng tạo
Một ví dụ phân biệt giữa khởi nghiệp và lập nghiệp là việc kinh doanh quán cà phê Nếu chỉ là bán nước thông thường thì hình thức đó chỉ có thể là lập nghiệp Còn về khởi nghiệp, ở đây chúng ta có thể nhắc đến mô hình Talks Cafe 100% English của anh Đinh Minh Quyền ở phường Tam Hiệp (Tp.Biên Hòa) vớiý tưởng kết hợp sáng tạo đầy đột phá giữa việc kinh doanh cà phê vào buổi sáng và tận dụng không gian quán làm trung tâm dạy tiếng anh vào buổi tối Điều này không những giúp anh thúc đẩy lợi nhuận cho việc kinh doanh của mình mà còn tạo nên một cộng đồng học tiếng anh cho học sinh, sinh viên Vì vậy khởi nghiệp ở khía cạnh nào đó vẫn khó hơn lập nghiệp
Khởi nghiệp thành công không phải là một điều dễ dàng mà muốn có được thì chính những người khởi nghiệp phải có kiến thức vững vàng và trau dồi kinh nghiệm nghiên cứu thực tiễn nhiều hơn để có thể thực hiện hóa ý tưởng của mình
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 91 Tiếp cận nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu nhận được, nhóm 2 đưa ra hai phương pháp tiếp cận Đó lànghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính
Phương pháp tiếp cận định lượng (Quantitative Approach) là cách tiếp cận liên
quan đến việc nghiên cứu thực nghiệm mang tính hệ thống các thuộc tính định lượng,hiện tượng và quan hệ giữa chúng Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến phương pháp nghiêncứu có cấu trúc chặt chẽ nhằm thúc đẩy quá trình lặp lại nghiên cứu và những quan sát cóthể định lượng được sử dụng cho phân tích thống kê Mục tiêu của nghiên cứu định lượng
là phát triển và sử dụng các mô hình toán học, lý thuyết và/hoặc các giả thuyết gắn liềnvới hiện tượng Phương pháp sử dụng những kỹ thuật nghiên cứu để thu thập dữ liệu địnhlượng – thông tin có thể biểu hiện bằng các con số và bất cứ gì có thể đo lường được.Thống kê, bảng biểu và sơ đồ, thường được sử dụng để trình bày kết quả của phươngpháp này Nghiên cứu định lượng được dùng để tổng quát hóa kết quả nghiên cứu thôngqua phân phối ngẫu nhiên và mẫu đại diện Đối với các biến số có bản chất định tính(không đo lường được) thì việc lượn hóa biến số là bắt buộc để thực hiện nghiên cứu địnhlượng
VD: Khi hỏi mức độ quan trọng của yếu tố gia đình đến quyết định khởi nghiệp củasinh viên Đại học Thương Mại, các câu trả lời nhận được là định tính, như là “Rất khôngquan trọng”, “Tương đối quan trọng”, “Rất quan trọng” Nhóm cần lượng hóa các dữ liệuđịnh tính này dưới dạng số như 1( tương ứng với Rất không quan trọng) đến 5 (Tươngứng với rất quan trọng) để thực hiện các nghiên cứu định lượng
Các phương pháp thu thập dữ liệu có thể là cân, đo, sử dụng bảng câu hỏi có cấu trúckhảo sát/phỏng vấn, quan sát và ghi chép dữ liệu, tập hợp lại dữ liệu định lượng trong quákhứ
Phương pháp tiếp cận định tính (Qualitative Approach) là cách tiếp cận tìm hiểu
hành vi, động cơ và ý đồ đối tượng nghiên cứu và những lí do điều khiển những hành vi
đó Dữ liệu định tính ở dạng không phải số, phản ánh tính chất, đặc điểm hay sự hơn kém
và ta không tính được trị trung bình của dữ liệu dạng định tính Một số ví dụ về dữ liệuđịnh tính trong đề tài là là giới tính (nam hoặc nữ), kết quả học tập của sinh viên (khá,giỏi, trung bình), Nghiên cứu định tính liên quan đến mô tả, giải thích và ít nhiều cóyếu tố chủ quan của người nghiên cứu Phương pháp này đặc biệt phù hợp để trả lời cáccâu hỏi mà nghiên cứu định lượng chưa thực hiện được nhằm mở ra những hướng nghiêncứu mới sử dụng phương pháp khoa học Ngoài các phương pháp thu thập dữ liệu tương
tự như tiếp cận định lượng, các phương pháp khác có thể là phỏng vấn ý kiến (chuyêngia), quan sát, ghi hình, ghi âm,…
2 Quy trình nghiên cứu
Trang 10Chọn mẫu theo mục đích, việc chọn các phần tử của mẫu phụ thuộc vào những suy nghĩ chủ quan của nhóm nghiên cứu dựa trên những đặc tính của tổng thể nhằm trả lờicâu hỏi hoặc mục tiêu nghiên cứu Ví dụ: Khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ýđịnh khởi nghiệp của sinh viên ĐH Thương mại, nhóm nghiên cứu thường lựa chọn vàchọn lựa các nhân tố dựa theo sự phân tích chủ quan Cỡ mẫu cũng được xác định dựatrên điểm bão hòa – thời điểm trong quá trình thu thập thông tin khi dữ liệu mới khôngcung cấp thêm thông tin, nguồn cung cấp thông tin và hạn định về thời gian
3. Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu
a) Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp: Các tài liệu sách, báo, các báo cáo, các đề tài nghiên cứu trước đây vàcác tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Số liệu sơ cấp được thu thập từ:
- Điều tra, khảo sát: Nhóm nghiên cứu thực hiện khảo sát 100 sinh viên trường ĐHThương Mại bao gồm năm nhất, năm hai, năm ba, năm tư Bảng hỏi khảo sát được xâydựng dựa trên ý kiến đóng góp và tìm hiểu từ những tài liệu thứ cấp Bảng hỏi khảo sát vềkết quả và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên ĐHTM gồm 2phần: Phần thông tin chung về người được khảo sát và phần câu hỏi liên quan đến nhân tốảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp
- Phỏng vấn sâu: Nhóm tiến hành phỏng vấn 3 sinh viên năm cuối của trường nhằmlàm rõ các lý do, nhân tố ảnh hưởng về mặt định tính đối với từng biến nghiên cứu Đồngthời tìm hiểu các mong muốn, đề xuất của sinh viên đối với hoạt động kinh doanh của họ
Nghiên cứu tại bàn
- Cơ sở lí thuyết
- Tổng quan nghiên cứu
Phỏng vấn sâu
3 sinh viên năm cuối trường
Đại học Thương Mại
Khảo sát bằng phiếu hỏi
(100 sinh viên)
Nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường ĐHTM
Kết luận và kiến nghị
Trang 11b) Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được sẽ được phân tích và xử lý thông qua hai phương pháp phân tích
và định tính và định lượng Phân tích định lượng sử dụng công cụ phân tích thống kê dưới
sự trợ giúp của phần mềm SPSS với các bước cụ thể như thông kê mô tả mẫu, kiểm định
độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích giá trị trung bình,…Phân tích định tính đượcsử dụng kết hợp để phân tích thông tin thu được từ điều tra, khảosát cùng với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,… để rút ra cấc nhận xét và kếtluận cho vấn đề nghiên cứu
4. Đơn vị nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinhviên ĐHTM
Phạm vi không gian: Khởi nghiệp của các sinh viên ĐHTM năm thứ nhất, hai, ba , tư.Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập từ tháng 9/2019 đến tháng10/2019
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Kết quả phân tích dữ liệu
1.1 Phân tích thống kê
- Về giới tính và độ tuổi: tỉ lệ nam ít hơn tỉ lệ nữ (tỉ lệ nam chiếm 28,3%, tỉ lệ nữ chiếm 71,7%)
Đối tượng nghiên cứu là sinh viên ĐH Thương Mại, chính vì thế tỷ lệ chênh lệch nam và
nữ khá lớn Sinh viên nữ chiến đa số trên tổng số sinh viên tham gia khảo sát
- Sinh viên năm 1 chiếm 17,5%, sinh viên năm 2 chiếm 23,3%, sinh viên năm 3 chiếm 30,8%, sinh viên năm 4 chiếm 28,3%
Qua kết quả nghiên cứu thấy rằng, sinh viên năm 3, năm 4 thường có xu hướng khởi nghiệp cao hơn so với sinh viên năm nhất, năm hai Bởi sinh viên năm 3 và năm cuối có nhiều kiến thức và ý định khởi nghiệp cao hơn so với sinh viên mới
Trang 12bước vào trường
- Các sinh viên thuộc các chuyên ngành:
Khách sạn du lịch
Ngôn ngữ Anh
Marketing thương mại
Kế toán – kiểm toán
Kinh tế quốc tê
Kinh doanh quốc tế
Quản trị thương hiệu
Hệ thống thông tin quản lí
Thương mại quốc tế
- Có 70,8% sinh viên đồng ý với ý kiến nên khởi nghiệp khi tốt nghiệp đại học, 29,2% có ý kiến ngược lại
Trang 13Nên khởi nghiệp hay không sau khi tốt nghiệp đại học? Đây là câu hỏi tùy theo mục đích, ý định của sinh viên Nhưng phần lớn sinh viên đồng ý nên khởi nghiệp sau khi tốt nghiệp đại học Có nhiều lí do giải thích cho điều này Sinh viên cho rằng, khởi nghiệp giúp các bạn trẻ có thêm cơ hội tiếp cận với các doanh nghiệp và thị trường
Từ đó có thể giúp các bạn có thêm kinh nghiệm tìm kiếm và tạo việc làm, gây dựng sựnghiệp cho cá nhân mình
- Có 53,3% số sinh viên làm khảo sát có khoản tiền tiết kiệm, và 46,7% số sinh viên không có khoản tiền tiết kiệm Điều này cho thấy, dù có số đông sinh viên làm khảo sát đồng ý với ý kiến nên khởi nghiệp sau khi tốt nghiệm đại học (70,8%), nhưng số sinh viên chuẩn bị khoản tiếp kiệm để có thể khởi nghiệp lại chỉ chiếm 53,3%, cho thấy ý định khởi nghiệp của sinh viên thực tế không nhiều
Trang 14
to lớn cho những start-up trẻ Đây cũng là những nhóm ngành trọng tâm được giảng dạy ở trường Đại học Thương Mại, có thể thấy được nhà trường và môi trường học cũng tác động một phần không nhỏ đến quyết định lĩnh vực khởi nghiệp của sinh viên, và sinh viên cũng có ý thức chủ động định hướng nghề nghiệp cho bản thân đúng với nghành nghề mình đang được theo học trên ghế nhà trường Sản xuất và nông lâm ngư nghiệp là những ngành ít được sinh lựa chọn để khởi nghiệp, bởi đây là những nhóm ngành đặc thù, đòi hỏi phải có sự hiểu biết rõ
về chuyên môn, đòi hỏi phải có số vốn lớn khi khởi nghiệp
Trang 16 Kiếm tiền phụ gia đình: 12,5%
Trau dồi kinh nghiệm: 9,2%
Khác: 15%
Tự chủ tài chính và xây dựng sự nghiệp là hai lí do chiếm tỷ trọng lớn trong việc quyết định khởi nghiệp của sinh viên Có lẽ đây là lí do hầu hết đều có ở sinh viên có ý định khởi nghiệp Vì đây là đối tượng sinh viên có mục đích, quá trình học tập và đtặ ra mục tiêu rõ ràng Trau dồi kinh nghiệm và kiếm tiền phụ gia đình là những lý do phụ mà sinh viên muốc thu lại sau khi khởi nghiệp
- Điều kiện để khởi nghiệp:
Tài chính, vốn: 19,2%
Kiến thức: 27,5%
Điều kiện gia đình: 13,3%
Mối quan hệ bạn bè, người thân: 28,3%
Khác: 11,7%
Điều kiện sẵn có để sinh viên khởi nghiệp hầu hết là kiến thức, mối quan hệ bạn bè người thân và tài chính, vốn Cho thấy sinh viên khởi nghiệp thường dựa vào những gì sẵn có của bản thân và ít bị phụ thuộc vào gia đình Với việc 27,5% số sinh viên tự tin dựa vào kiến thức của bản thân, ta có thể thấy rằng sinh viên đã có sự nghiên cứu và tìm hiểu kĩ càng về lĩnh vực mình theo đuổi trước khi quyết định khởi nghiệp, đây là một điềucần thiết để phát triển được start-up Số sinh viên dựa vào những mối quan hệ xã hội, bạn
bè, người thân chiếm tỉ lệ nhiều nhất Các mối quan hệ xã hội tốt đẹp, là cơ sở mang đến