Chức năng kiểm soát là chức năng cuối cùng trong hoạt động quản trị của doanh nghiệp, sau 3 chức năng: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo. Chức năng này có nhiệm vụ giám sát và đánh giá chất lượng công việc nhằm hạn chế tối đa các sai sót trong hoạt động quản trị để đạt được mục tiêu đã định. Do vậy có thể nói kiểm soát là mối nối cuối cùng trong chuỗi các hoạt động của nhà quản trị. Kiểm soát là cách duy nhất để nhà quản trị biết được họ có đạt được mục tiêu của tổ chức hay không cũng như nguyên nhân không đạt được mục tiêu. Trong thực tế, kiểm soát có tác động rất mạnh đến các hoạt động. Một công việc, nếu không có kiểm soát chắc chắn nảy ra nhiều sai sót hơn nếu được theo dõi, giám sát thường xuyên. Điều đó khẳng định rằng kiểm soát không chỉ là giai đoạn cuối cùng trong quá trình hoạt động của hệ thống hoặc là khâu sau cùng của chu trình quản lý (từ lập kế hoạch đến tổ chức lãnh đạo). Kiểm tra cũng không phải là hoạt động đan xen mà là một quá trình liên tục về thời gian và bao quát về không gian. Nó là yếu tố thường trực của nhà quản lý ở mọi lúc, mọi nơi. Tuy nhiên nhiều nhân viên hay khách hàng thường không bằng lòng với những hoạt động kiểm tra, kiểm soát bởi vì họ cảm thấy chúng ảnh hưởng đến giá trị của sự tự do và tính cá nhân. Vì lý do này, kiểm soát thường là tâm điểm của tranh luận và những đấu tranh chính sách trong tổ chức. Tuy nhiên, kiểm soát là cần thiết và hữu ích. Kiểm soát hiệu quả là một trong số các bí quyết để gia tăng lợi nhuận của các công ty lớn. Kiểm soát là một chức năng mà mọi nhà quản trị đều phải thực hiện dù rằng kết quả công việc của các bộ phận do họ quản lý đều đạt đúng theo kế hoạch đề ra. Nhà quản trị không thể xác định mức độ hoàn thành công việc của bộ phận nếu không đo lường được việc đã thực hiện và so sánh với tiêu chuẩn. Nó còn giúp các nhà quản trị nhận thấy những khiếm khuyết trong hệ thống của tổ chức, trên cơ sở đó có thể đưa ra những quyết định điều chỉnh kịp thời. Mặt khác, các hoạt động kiểm soát đảm bảo cho sự tồn tại và duy trì tính hiệu quả của mỗi cá nhân, mỗi nhóm, mỗi bộ phận và tổ chức. Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu sẽ thúc đẩy và cho phép mỗi nhân viên tự kiểm soát bản thân hơn là chịu sự kiểm soát từ người khác. Chính sự tự giác sẽ giúp công việc được hiệu quả hơn.Như vậy, kiểm soát gắn liền với quá trình giám sát nhưng đồng thời cũng sẽ chỉ ra những biện pháp cần thiết để khắc phục những sai lệch của kế hoạch. Do đó, có thể nói chức năng kiểm soát là một chức năng cơ bản của quản trị. Và có thể nói, kiểm soát là quan trọng cuối cùng để đánh giá hoạt động quản trị có diễn ra thuận lợi và đạt được mục đích đã xác định ngay từ ban đầu hay không . Chính vì sự quan trọng và cần thiết của chức năng kiểm soát, nhóm đã quyết định chọn chức năng kiểm soát để làm bài thảo luận của nhóm.
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu……….2
I.Cơ sở lí thuyết……….3
1 Khái niệm, vai trò và các nguyên tắc kiểm soát 2 Các loại kiểm soát………
3 Quy trình kiểm soát………
II Nội dung……… 7
1 Sơ lược về doanh nghiệp……….
a Giới thiệu chung……….
b Khái quát đặc điểm về mội trường quản trị của doanh nghiệp * Môi trường bên ngoài……….
* Môi trường bên trong……….
2 Mục tiêu kiểm soát của doanh nghiệp 3 Công tác kiểm soát a Kiểm soát lường trước………
b Kiểm soát hiện hành………
c Kiểm soát lường sau………
4 Quy trình sản xuất………
5 Kết quả và biện pháp điều chỉnh………
5.1 Đánh giá kết quả hoạt động………
5.2 Điều chỉnh sai lệch……….
III Tổng kết……….22
LỜI MỞ ĐẦU
Chức năng kiểm soát là chức năng cuối cùng trong hoạt động quản trị của doanh
nghiệp, sau 3 chức năng: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo Chức năng này có nhiệm vụ giám sát và đánh giá chất lượng công việc nhằm hạn chế tối đa các sai sót trong hoạt động quản trị để đạt được mục tiêu đã định Do vậy có thể nói kiểm soát là mối nối cuối cùng trong chuỗi các hoạt động của nhà quản trị Kiểm soát là cách duy nhất để nhà quản trị biết được họ có đạt được mục tiêu của tổ chức hay không cũng như nguyên nhân không đạt được mục tiêu
Trong thực tế, kiểm soát có tác động rất mạnh đến các hoạt động Một công việc, nếu không có kiểm soát chắc chắn nảy ra nhiều sai sót hơn nếu được theo dõi, giám sát
thường xuyên Điều đó khẳng định rằng kiểm soát không chỉ là giai đoạn cuối cùng trong quá trình hoạt động của hệ thống hoặc là khâu sau cùng của chu trình quản lý (từ lập kế hoạch đến tổ chức lãnh đạo) Kiểm tra cũng không phải là hoạt động đan xen mà là một
Trang 2quá trình liên tục về thời gian và bao quát về không gian Nó là yếu tố thường trực của nhà quản lý ở mọi lúc, mọi nơi Tuy nhiên nhiều nhân viên hay khách hàng thường khôngbằng lòng với những hoạt động kiểm tra, kiểm soát bởi vì họ cảm thấy chúng ảnh hưởng đến giá trị của sự tự do và tính cá nhân Vì lý do này, kiểm soát thường là tâm điểm của tranh luận và những đấu tranh chính sách trong tổ chức Tuy nhiên, kiểm soát là cần thiết
và hữu ích Kiểm soát hiệu quả là một trong số các bí quyết để gia tăng lợi nhuận của các công ty lớn
Kiểm soát là một chức năng mà mọi nhà quản trị đều phải thực hiện dù rằng kết quả công việc của các bộ phận do họ quản lý đều đạt đúng theo kế hoạch đề ra Nhà quản trị không thể xác định mức độ hoàn thành công việc của bộ phận nếu không đo lường được việc đã thực hiện và so sánh với tiêu chuẩn Nó còn giúp các nhà quản trị nhận thấy những khiếm khuyết trong hệ thống của tổ chức, trên cơ sở đó có thể đưa ra những quyết định điều chỉnh kịp thời Mặt khác, các hoạt động kiểm soát đảm bảo cho sự tồn tại và duy trì tính hiệu quả của mỗi cá nhân, mỗi nhóm, mỗi bộ phận và tổ chức Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu sẽ thúc đẩy và cho phép mỗi nhân viên tự kiểm soát bản thân hơn là chịu sự kiểm soát từ người khác Chính sự tự giác sẽ giúp công việc được hiệu quảhơn.Như vậy, kiểm soát gắn liền với quá trình giám sát nhưng đồng thời cũng sẽ chỉ ra những biện pháp cần thiết để khắc phục những sai lệch của kế hoạch Do đó, có thể nói chức năng kiểm soát là một chức năng cơ bản của quản trị Và có thể nói, kiểm soát là quan trọng cuối cùng để đánh giá hoạt động quản trị có diễn ra thuận lợi và đạt được mụcđích đã xác định ngay từ ban đầu hay không
Chính vì sự quan trọng và cần thiết của chức năng kiểm soát, nhóm đã quyết định chọn chức năng kiểm soát để làm bài thảo luận của nhóm
I.Cơ sở lý thuyết
1.1 Khái niệm, vai trò và các nguyên tắc kiểm soát
1.1.1.Khái niệm kiểm soát
Kiểm soát là quá trình đo lường kết quả thực hiện so sánh với các tiêu chuẩn, phát hiện
sa lệch và nguyên nhân tiến hành các điều chỉnh nhằm làm cho kết quả cuối cùng phù hợp với mục tiêu đã được xác định
Kiểm soát vừa là một quá trình so sánh giữa các chỉ tiêu, vừa là việc theo dõi cacscs ứng
xử của đối tượng
Kiểm soát không chỉ dành cho những hoạt động đã sẩy ra và đẫ kết thúc mà còn là hoạt động đối vói những đối tượng đang sảy ra và sắp sẩy ra
Trang 31.1.2 Vai trò của kiểm soát
Kiểm soát giúp nhà quản trị nắm được tiến độ và chất lượng thực hiện công việc của cá nhân, bộ phận trong tổ chức
Kiểm soát giúp tạo ra chất lượng tốt hơn cho mọi hoạt động trong tổ chức
Kiểm soát giúp nhà quản trị đối phó kịp thời với những thay đổi của thị trường
Kiểm soát giúp cho các tổ chức thực hiện đúng các chương trình, kế hoạch với hiệu quả cao
Kiểm soát tạo thuận lợi cho việc quyền và cơ chế hoạt tác trong tổ chức Kiểm soát là một hệ thống phản hồi quan trọng đối với công tác quản trị Chính nhờ hệ thống phản hồi này mà các nhà quản trị nắm rõ được thực trạng tổ chức của mình, những vấn đề trọng tâm cần phải giải quyết, từ đó chủ động tìm các biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm đạt được các mục tiêu đã định
1.1.3 Các nguyên tắc kiểm soát
Để thực hiện có hiệu quả các công tác kiểm soát, cần thực hiện các nguyên tắc sau đây: -Đảm bảo tính chiến lược và hiệu quả
Việc kiểm soát phải trên cơ sở mục tiêu, chiến lược của tổ chức và phải phù hợp với cấp bậc của đối tượng được kiểm soát
Việc đảm bảo tính hiệu quả của công tác kiểm soát là tất yếu và được hiểu là khá đơngiản trên lý thuyết nhưng thường khó trong thực hành
-Đúng lúc, đúng đối tượng và công bằng
Khi xác định được mục tiêu của sự kiểm soát, cần xác định khi nào kiểm soát, kiểm soát ở đâu và phạm vi như thế nào cho phù hợp Nếu không xác định được đúng chính xác thời gian và khu vực trọng điểm, như kiểm soát trên một phạm vi quá rộnghoặc không đúng thời điểm cần thiết sẽ gây lãng phí về thời gian và tiền bạc của tổ chức
-Công khai chính xác, hiện thực, khách quan
Nếu thực hiện kiểm soát không khách quan, với những định kiến có sẵn sẽ không cho các nhà quản trị có được những nhận xét và đánh giá đúng mực về đối tượng kiểm soát, kết quả kiểm soát sẽ xuất hiện những sai lệch và sẽ đưa đến những tổn thất cho tổ chức, đôi khi là rất lớn và nghiêm trọng Kết quả kiểm soát cần đưa cho nhưng đối tượng có liên quan được biết
-Linh hoạt và có độ đa dạng hợp lý
Qua trình kiểm soát cần được điều chỉnh hợp lý cả về thời gian, nội dung, phạm vi kiểm soát và hành động điều chỉnh ; chỉ có như vậy mới đảm bảo được tính hiệu quả
và phát huy tác dụng của nó trong hoạt động quản trị
Trang 41.2 Các loại kiểm soát
1.2.1 Theo thời gian tiến hành kiểm soát
Kiểm soát trước: là việc kiểm soát được tiến hành trước khi công việc được bắt đầu nhằm giảm thiểu các vấn đề có thể sảy ra, cản trở cho việc thực hiện công việc
Kiểm soát trong: là kiểm soát được tiến hành trong quá trình thực hiện công việc nhằm giảm thiểu các vấn đề cản trở công việc khi chúng phát sinh
Kiểm soát sau: là kiểm soát được thực hiện sau quá trình thực hiện công việc nhằm điều chỉnh các vấn đề sẩy ra
1.2.2 Theo tần suất cấc cuộc kiểm soát
Kiểm soát liên tục: là kiểm soát được thực hiện thường xuyên ở mọi thời điểm đối với đối tượng kiểm soát
Kiểm soát định kỳ: là kiểm soát được thực hiện theo kế hạch dự kiến trong mỗi thời kỳ nhất định
Kiểm soát đột xuất: là kiểm soát được thực hiện tại thời điểm bát kỳ, không theo kế hoạch
1.2.3 Theo mức độ tổng quát của nội dung kiểm soát
Kiểm soát toàn bộ: là kiểm soát được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, các khâu, các bộ phận, các cấp nhằm đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu chung
Kiểm soát bộ phận: là kiểm soát được thực hiện trên từng lĩnh vực hoạt động, từng bộ phận, từng khâu, từng cấp
Kiểm soát cá nhân: là kiểm soát được thực hiện đối với từng cá nhân cụ thể trong tổ chức
1.2.4 Theo đối tượng kiểm soát
Kiểm soát cơ sở vật chất kỹ thuật: là kiểm soát được thực hiện nhằm đánh giá tình hình
cơ sở vật chất kỹ thuật của tổ chức như đánh giá thực trạng của nhà xưởng, máy móc, thiết bị…
Kiểm soát con người: là kiểm soát được thực hiện nhằm đánh giá con người trên các mặt: năng lực, tính cách, kết quả thực hiện công việc, tinh thần trách nhiệm, sự thỏa mãn với công việc…
Kiểm soát thông tin: là kiểm soát thực hiện để nhằm đánh giá chất lượng của thông tin trong hoạt động của tổ chức
Kiểm soát tài chính: là kiểm soát được thực hiện nhằm đánh giá tình hình tài chính của
tổ chức như đánh giá công nợ, ngân sách…
Trang 51.3 Quy trình kiểm soát
1.3.1 Xác định các tiêu chuẩn kiểm soát
Tiêu chuẩn kiểm soát là những chỉ tiêu thực hiện nhiệm vụ mà dựa vào đó có thể đo lường và đánh giá kết quả thực tế của hoạt động
Khi xác định các tiêu chuẩn kiểm soát cần thực hiện các quy tắc sau đây:
-Tiêu chuẩn và mục tiêu
-Tiêu chuẩn và các dấu hiệu thường xuyên
- Tiêu chuẩn và quan sát tổng hợp
-Tiêu chuẩn và trách nhiệm
-Xác định mức chuẩn
-Tiêu chuẩn định tính
1.3.2 Đo lường kết quả hoạt động
Căn cứ vào những tiêu chuẩn đã được xác định trong bước 1, tiến hành đo ( đối với những hành động đang sảy ra hoặc đã sẩy ra và đã kết thúc), hoặc lường trước (đối với những hoạt động sắp sẩy ra) nhằm phát hiện những sai lệch và nguy cơ sai lệch với những mục tiêu đã được đã được xác định
Yêu cầu đối với đo lường kết quả
- Hữu ích
- Có độ tin cậy cao
- Không lạc hậu
- Tiết kiệm
Các phương pháp đo lường kết quả
- Quan sát các dữ kiện: phương pháp này dựa vào những dữ kiện định lượng như số liệu thống kê, tài chính,kế toán để đo lường kết quae thực hiện được
- Sử dụng các thiết bị báo trước: phương pháp này được thực hiện dựa vào những triệu chứng báo hiệu những vấn đề liên quan đến kết quả thực hiện công việc
- Quan sát trực tiếp và tiếp xúc cá nhân: phương pháp này được tiến hành thông qua việc nắm bắt tình hình thực hiện công việc trực tiếp từ đối tượng kiểm soát
- Dự báo: phương pháp này thực hiện dựa trên nhận định, phán đoán về kết quả thực hiện công việc
Trang 6- Điều tra: phương pháp này được thực hiện bằng cách xây dựng phiếu điều tra để thăm dò ý kiến của các đối tượng có liên quan
1.3.3 So sánh với các tiêu chuẩn khảo sát
Căn cứ vào kết quả đo lường, tiến hành so sánh kết quả hoạt động với tiêu chuẩn đã được xác định, từ đó pháp hiện những sai lệch giữa kết quả với tiêu chuẩn
Sau đó tiến hành thông báo:
- Đối tượng thông báo
Các nhà quản trị trên cấp có liên quan
Các bộ phận , cơ quan chức năng có liên quan
Đối tượng bị kiểm soát
- Nội dung thông báo
Kết quả kiểm soát bao gồm các số liệu, kết quả phân tích, tình hình thực hiện công viêc…
Chệnh lệch giữa kết quả với tiêu chuẩn và nguyên nhân của chúng
Dự kiến các biện pháp điều chỉnh nếu có sự sai lệch giữa kết quả với tiêu chuẩn
- Yêu cầu khi thông báo
Yêu cầu đối với hành động điều chỉnh:
- Phải nhanh chóng, kịp thời
- Điều chỉnh với “ liều lượng” thích hợp
- Điều chỉnh phải hướng tới kết quả
Trang 7II.Nội dung
Sơ lược về doanh nghiệp
a) Giới thiệu chung về Vinamilk.
Vinamilk là tên gọi tắt của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vietnam Dairy Products Joint Stock Company) một công ty sản xuất, kinh doanh sữa và các sản phẩm từ sữa cũngnhư thiết bị máy móc liên quan tại Việt Nam
Mã giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh là VNM Công ty
là doanh nghiệp hàng đầu của ngành công nghiệp chế biến sữa, hiện chiếm lĩnh 75% thị phần sữa tại Việt Nam Ngoài việc phân phối mạnh trong nước với mạng lưới 183 nhà phân phối và gần 94.000 điểm bán hàng phủ đều 63 tỉnh thành, sản phẩm Vinamilk còn được xuất khẩu sang nhiều nước Mỹ, Pháp, Canada, Ba Lan, Đức, khu vực Trung Đông, Đông Nam Á Sau hơn 30 năm ra mắt người tiêu dùng, đến nay Vinamilk đã xây dựng được 8 nhà máy, 1 xí nghiệp và đang xây dựng thêm 3 nhà máy mới, với sự đa dạng về sản phẩm, Vinamilk hiện có trên 200 mặt hàng sữa tiệt trùng, thanh trùng và các sản phẩm được làm từ sữa
Tính theo doanh số và sản lượng, Vinamilk là nhà sản suất sữa hàng đầu tại Việt Nam Danh mục sản phẩm của Vinamilk bao gồm: sản phẩm chủ lực là sữa nước và sữa bột; sản phẩm có giá trị cộng thêm như sữa đặc, yoghurt ăn và yoghurt uống, kem và phó mát.Vinamilk cung cấp cho thị trường một những danh mụ lv c các sản phẩm, hương vị và qui cách bao bì có nhiều lựa chọn nhất
Theo Euromonitor, Vinamilk là nhà sản xuất sữa hàng đầu tại Việt Nam trong 3 năm kết thúc ngày 31 tháng 12 năm 2007 Từ khi bắt đầu đi vào hoạt động năm 1976, Công ty doi mkexndlmcijđã xây dựng hệ thống phân phối rộng nhất tại Việt Nam và đã làm đòn bẩy để giới thiệu các sản phẩm mới như nước ép, sữa đậu nành, nước uống đóng chai và café cho thị trường
Phần lớn sản phẩm của Công ty cung cấp cho thị trường dưới thương hiệu“Vinamilk”, thương hiệu này được bình chọn là một “Thương hiệu Nổi tiếng” và là một trong nhóm
100 thương hiệu mạnh nhất do Bộ Công Thương bình chọn năm 2006 Vinamilk cũng được bình chọn trong nhóm “Top 10 Hàng Việt Nam chất lượng cao” từ năm 1995 đến năm 2007
Hiện tại Công ty tập trung các hoạt động kinh doanh vào thị trường đang tăng trưởng mạnh tại Việt Nam mà theo Euromonitor là tăng trưởng bình quân 7.85% từ năm 1997 đến 2007 Đa phần sản phẩm được sản xuất tại chín nhà máy với tổng công suất khoảng 570.406 tấn sữa mỗi năm Công ty sở hữu một mạng lưới phân phối rộng lớn trên cả nước, đó là điều kiện thuận lợi để chúng tôi đưa sản phẩm đến số lượng lớn người tiêu dùng
Trang 8Sản phẩm Công ty chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam và cũng xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài như Úc, Campuchia, Irắc, Philipines và Mỹ.
Các sản phẩm của Vinamilk rất phong phú và đa dạng như sữa tươi, sữa đặc, sữa bột, kem, sữa chua,…bao gồm các nhãn hiệu Vinamilk, Dielac, Ridielac, V-fresh, Icy,
Lincha, Sữa đặc, sữa đậu nành…
Tầm nhìn: “Trở thành biểu tượng niềm tin số 1 Việt Nam về sản phẩm dinh dưỡng và sức khỏe phục vụ cuộc sống con người”.
Sứ mệnh:” Vinamilk cam kết mang đến cộng đồng nguồn dinh dưỡng tốt nhất, chất lượng nhất bằng chính sự trân trọng, tình yêu và trách nhiệm cao của mình với cuộc sống con người và xã hội”
b)Khái quát môi trường quản trị của Vinamilk.
* Môi trường bên ngoài
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại:
Hiện nay, trên thị trường sữa của Việt Nam có rất nhiều hãng sữa, bao gồm
cả sản phẩm sữa sản xuất trong nước và sữa nhập khẩu Tính thị phần theo giá trị thì Vinamilk chiếm 35%; Dutch Lady chiếm 24% Sữa ngoại nhập từ các hãng như
Mead Johnson, Abbott, Nestle chiếm khoảng 22% thị phần, với các sản phẩm chủ yếu là sữa bột Còn lại 19% thị phần thuộc về khoảng trên 20 công ty sữa có quy mô nhỏ như Nutifood, Hanoi Milk, Ba Vì
Trong tất cả các hãng sữa trên, Dutch Lady là đối thủ cạnh tranh lớn nhất
của Vinamilk trong hầu hết các lĩnh vực Thế mạnh của Dutch Lady là quan hệ
công chúng và marketing Tuy nhiên Vinamilk là nhãn hiệu có mạng lưới rộng
khắp và quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam
Với sản phẩm TH True Milk lần đầu tiên được tung ra thị trường vào ngày 26/12/2010,
TH được coi là một đối thủ cạnh tranh nặng ký hiện tại và trong tương lai của Vinamilk, với mục đích chỉ sản xuất những sản phẩm sữa tươi tự nhiên chất lượng cao bằng nguồn nguyên liệu 100% sữa tươi sạch và cao cấp từ các trang trại Hơn nữa, nguyên phó tổng giám đốc của Vinamilk, ông Trần Bảo Minh hiện là tổng giám đốc của TH Milk, điều này hứa hẹn TH sẽ là đối thủ cạnh tranh lớn của Vinamilk
Ngành sữa của Việt Nam là ngành phân tán do có nhiều nhà sản xuất như
Vinamilk, Dutch Lady, các công ty sữa có quy mô nhỏ như Hanoimilk, Ba vì, các
công ty sữa nước ngoài như Abbott, Nestle nhưng các công ty có thị phần lớn như
Vinamilk, Dutch Lady (gần 60% thị phần) không đủ sức chi phối ngành mà ngày càng chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ của các hãng khác đặc biệt là các hãng sữa đến từ nước ngoài
Trang 9- Các rào cản rút lui: Rào cản về công nghệ, vốn đầu tư: chi phí đầu tư ban
đầu của ngành sữa rất cao do đó khi một công ty muốn rút khỏi thị trường sữa thì sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn đầu tư như máy móc, thiết bị
Các đối thủ tiềm ẩn:
Ngành chế biến sữa hiện đang là ngành có tỉ suất sinh lợi và tốc độ tăng
trưởng cao Ngành sữa hiện nay có tiềm năng phát triển rất lớn Các rào cản của ngành cũng không nhỏ đối với các công ty đặc biệt về vốn và kĩ thuật chế biến Trong
tương lai công ty Vinamilk sẽ có thể đối mặt với nhiều đối thủ mới đến từ nước
ngoài do nền kinh tế thị trường và sự vượt trội về kĩ thuật, vốn và nguồn nguyên
liệu đầu vào Do đó, áp lực cạnh tranh sẽ tăng từ các đối thủ tiềm năng mới
Năng lực thương lượng của nhà cung cấp:
Ngoài việc lấy nguyên liệu sữa đầu vào từ những nhà cung ứng trong nước, hầu hết các hãng sữa đều nhập khẩu nguyên liệu thô từ nước ngoài để sản xuất Vinamilk đã đặt mục tiêu phát triển lâu dài với tất cả các nhà cung ứng chiến lược trong nước và ngoài nước nhằm đảm bảo nguồn cung cấp nguyên liệu thô không những ổn định về chất lượng cao cấp mà còn cả ở giá cả rất cạnh tranh Các công ty trong ngành sữa có lợi thế mặc cả với người chăn nuôi trong việc thu mua nguyên liệu sữa, trong đó Vinamilk là nhà thu mua lớn, chiếm hơn 50% sản lượng sữa của cả nước
Hai nguồn cung cấp sữa chính cho Vinamilk là sữa bò tươi được cung cấp từ
các trang trại bò sữa của công ty và mua từ các hộ gia đình là 25%, nguồn sữa bột
ngoại nhập chiếm 75% với những nhà cung cấp hàng đầu thế giới Vinamilk tự chủ động trong nguồn nguyên liệu sữa tươi, không phụ thuộc vào nước ngoài
Các nông trại sữa là những đối tác chiến lược hết sức quan trọng của Vinamilk trong việccung cấp tới cho người tiêu dùng sản phẩm tốt nhất
- Khả năng thay thế sản phẩm của nhà cung cấp:
Vinamilk xây dựng 4 nông trại nuôi bò sữa, tự chủ nguồn cung sữa tươi.Về
bột sữa nguyên liệu, do cơ sở vật chất chưa đủ điều kiện và kĩ thuật nên hiện tại vẫn phụ thuộc vào nguồn cung của nước ngoài, công ty chưa đủ khả năng thay thế sản phẩm bột sữa nguyên liệu Ngoài ra, khả năng thay thế nhà cung cấp của Vinamilk cũng thấp do sản phẩm của các nhà cung cấp có chất lượng cao, các nhà cung cấp khác chưa thể đạt được chất lượng tương đương
Với tất cả các ngành, nhà cung cấp luôn gây các áp lực nhất định nếu họ có
quy mô, sự tập hợp và việc sở hữu các nguồn lực quý hiếm Chính vì thế những nhà cung
Trang 10cấp các sản phẩm đầu vào nhỏ lẻ sẽ có rất ít quyền lực đàm phán đối với các doanh nghiệp mặc dù họ có số lượng lớn nhưng họ lại thiếu tổ chức.
Vinamilk đã hạn chế được áp lực từ phía nhà cung cấp Vinamilk có thể tự chủ được nguồn nguyên liệu sữa tươi, chỉ phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu bột sữa Hơn nữa, công
ty Vinamilk đã tạo áp lực cho phía nhà cung cấp về chất lượng nguyên liệu, đảm bảo chấtlượng tốt cho sản phẩm Vinamilk không chịu áp lực từ nhà cung cấp do quy mô và sự sởhữu các nguyên liệu chất lượng cao và tạo vị thế cao hơn các nhà cung cấp, đảm bảo tính cạnh tranh công bằng cho các nhà cung cấp nhỏ lẻ nhưng sản phẩm có chất lượng cao
Năng lực thương lượng của khách hàng:
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt động sảnxuất kinh doanh của ngành
Công ty Vinamilk đã hạn chế được áp lực xuất phát từ khách hàng bằng cách định giá hợp lí các dòng sản phẩm của mình và đưa ra những thông tin chính xác về sản phẩm đồng thời tạo được sự khác biệt hóa đối với những sản phẩm của đối thủ và các sản phẩmthay thế khác
Đối với sản phẩm sữa, khi giá nguyên liệu mua vào cao, các công ty sữa có thể bán với giá cao mà khách hàng vẫn phải chấp nhận Do vậy, Vinamilk có khả năng chuyển nhữngbất lợi từ phía nhà cung cấp bên ngoài sang cho khách hàng Vì thế, Vinamilk không chịu
áp lực bởi bất cứ nhà phân phối nào
Sản phẩm thay thế:
Sản phẩm sữa là sản phẩm dinh dưỡng bổ sung ngoài các bữa ăn hàng ngày, với trẻ em, thanh thiếu niên và những người trung tuổi - sữa có tác dụng lớn hỗ trợ sức khỏe Trên thịtrường có rất nhiều loại bột ngũ cốc, đồ uống tăng cường sức khỏe nhưng các sản phẩm này về chất lượng và độ dinh dưỡng không hoàn toàn thay thế được sữa
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều sản phẩm cạnh tranh với các sản phẩm sữa như trà xanh, café lon, các loại nước ngọt Tuy nhiên, do đặc điểm văn hóa và sức khỏe của người Việt Nam, không sản phẩm nào có thể thay thế được sữa Mặt khác, đặc điểm từ các sản phẩm thay thế là bất ngờ và không thể dự báo được nên mặc dù đang ở vị trí cao nhưng ngành sữa vẫn phải đối mặt với các áp lực sản phẩm thay thế nên luôn có gắng cải tiến những sản phẩm của mình cho phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng
* Môi trường bên trong
Cơ sở hạ tầng:
Công ty đã đầu tư rất nhiều vào cơ sở hạ tầng Điển hình từ năm 2005 đến năm
2011, công ty đã đầu tư khoảng 4.500 tỷ đồng hiện đại hoá máy móc thiết bị, công
Trang 11nghệ cho sản xuất và xây dựng thêm các nhà máy chế biến mới cũng như chi nhánh, xí nghiệp Để góp phần vào khai thác tiềm năng và phát triển ngành chăn nuôi bò sữa công nghệ cao, công ty đã hình thành các vùng nguyên liệu trong nước bằng việc xây dựng năm trang trại bò sữa.
Nguồn nhân lực:
Công ty có một đội ngũ nhiệt tình và giàu kinh nghiệm trong ngành Chủ tịch Mai Kiều Liên có 30 năm kinh nghiệm trong ngành sữa tại công ty và giữ một vai trò chủ chốt trong quá trình tăng trưởng và phát triển của công ty Các thành viên quản lý cấp cao khác có trung bình 25 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất, phân phối và bán sản phẩm sữa Bên cạnh đó, công ty có một đội ngũ quản lý bậc trung vững mạnh được trang bị tốt nhằm hỗ trợ cho quản lý cấp cao đồng thời tiếp thêm sức trẻ và lòng nhiệt tình vào sự nghiệp phát triển của công ty.Công ty cũng đào tạo được một đội ngũ tiếp thị và bán hàng có kinh nghiệm về phân tích, xác định thị hiếu và xu hướng tiêu dùng, đồng thời hỗ trợ các nhân viên bán hàng trực tiếp, những người hiểu rõ thị hiếu người tiêu dùng thông qua việc tiếp cận thường xuyên với khách hàng tại nhiều điểm bán hàng Vinamilk còn có đội ngũ nghiên cứu và phát triển gồm 10 kỹ sư và một nhân viên kỹ thuật Các nhân sự làm công tác nghiên cứu phối hợp chặt chẽ với bộ phận tiếp thị, bộ phận này liên tục cộng tác với các tổ chức nghiên cứu thị trường để xác định xu hướng và thị hiếu tiêu dùng Chính vì vậy mà công ty đã có khả năng phát triển sản phẩm mới dựa trên thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng Công ty cũng đã chủ động thực hiện nghiên cứu và hợp tác với các công ty nghiên cứu thị trường để tìm hiểu các xu hướng và hoạt động bán hàng, phản hồi của người tiêu dùng cũng như các phương tiện truyền thông có liên quan đến vấn đề thực phẩm và thức uống
Về công tác nguồn nhân lực:
+ Công ty luôn đảm bảo công việc đầy đủ cho người lao động, thu nhập của người lao động ngày càng cải thiện như duy trì mức thu nhập năm sau cao hơn năm trước từ 10 – 20,3% Ngoài thu nhập từ lương, người lao động còn có thu nhập từ lợi nhuận được chia theo tỷ lệ sở hữu của họ trong công ty nếu công ty làm ăn có lãi
+ Thực hiện đầy đủ, quyền lợi và nghĩa vụ đối với người lao động theo đúng với quy địnhcủa pháp luật Chính sách khen thưởng kịp thời đối với cá nhân, tập thể có công lao đóng góp cho công ty, có biện pháp kỷ luật đối với những cá nhân có hành động ảnh hưởng xấu đến quyền lợi và uy tín của công ty
+ Hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để người lao động tham gia các khóa đào tạo trong và ngoài nước nhằm nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ Đào tạo và sắp xếp nguồn nhân lực phù hợp với tình hình triển công ty nhằm gia tăng về chất
Như vậy, công ty Vinamilk đã đầu tư phát triển nguồn nhân lực nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp