Thể chế hóa quy định của Hiến pháp, Bộ luật hình sự đã giành hẳnmột chương quy định các tội xâm phạm sở hữu Chương XIV Bộ luật hìnhsự gồm từ Điều 133 đến Điều 145 trong đó tội lừa đảo ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN TIẾN DŨNG
TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM – TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC
TIẾN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN TIẾN DŨNG
TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM – TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC TIẾN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành:Luật Hình sự và Luật Tố tụng Hình sự
Mã số: 60380104
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN DŨNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Nội dungcủa luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong công trình khoa học nào.
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Dũng
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TĂT
BLHS : Bộ Luật Hình sự
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối caoVKSND : Viện kiểm sát nhân dânVKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dânHĐTP : Hội đồng thẩm phánTNHS : Trách nhiệm hình sự
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: So sánh thực trạng tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
với tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Nam Định 58
Bảng 2.2: Thực trạng khởi tố, truy tố, xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên
địa bàn tỉnh Nam Định
Bảng 2.3 Hình phạt được áp dụng đối với bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản từ năm 2008 - 2012 trên địa bàn tỉnh Nam Định0
Bảng 2.4: Bảng thống kê đặc điểm chủ thể tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa
bàn tỉnh Nam Định
Bảng 2.5: Cơ cấu độ tuổi người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tài sản và quyền sở hữu về tài sản là một trong những quyền quantrọng, thân thiết nhất của con người và luôn chiếm được sự quan tâm đặc biệtcủa các nhà lập pháp của bất kỳ quốc gia nào Trong các hình thái xã hội khácnhau, Nhà nước đều sử dụng các biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu tài sảnhợp pháp của con người và hành vi xâm hại đến quyền sở hữu của con ngườiđều bị áp dụng những hình thức trách nhiệm pháp lý nhất định như: Tráchnhiệm bồi thường, trách nhiệm hoàn trả vật, tài sản trong pháp luật dân sự hayđiều tra, truy tố, xét xử một người khi họ có hành vi xâm phạm quyền sở hữu
ở mức độ nghiêm trọng Thông qua việc đánh giá coi hành vi xâm phạmquyền sở hữu của con người là tội phạm và áp dụng đối với người phạm tộimột hình phạt, Nhà nước luôn thể hiện thái độ đấu tranh không khoan nhượngđối với loại hành vi này
Ở Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước
ta đã ban hành Hiến pháp và các đạo luật khác để ghi nhận, bảo vệ quyền sởhữu hợp pháp của công dân, trong đó các quy định của pháp luật hình sự giữvai trò quan trọng Theo cách hiểu hiện nay "Quyền sở hữu là một hệ thốngcác quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xãhội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sảnxuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo quy định của pháp luật" [37].Như vậy sau quyền được sống, quyền được tự do thì quyền sở hữu có một vaitrò to lớn đối với đời sống con người Tiếp theo các văn bản pháp lý trước đó,Hiến pháp 1992 - văn bản pháp lý có giá trị pháp lý cao nhất đều ghi nhận:
Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chếthị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ
Trang 8cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh
đa dạng, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân,trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng [14]
Thể chế hóa quy định của Hiến pháp, Bộ luật hình sự đã giành hẳnmột chương quy định các tội xâm phạm sở hữu (Chương XIV Bộ luật hìnhsự) gồm từ Điều 133 đến Điều 145 trong đó tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnđược quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự Trước đó, trong Bộ luật hình sự
1985, vì đề cao sở hữu tập thể, sở hữu Nhà nước nên các nhà lập pháp thời kỳnày đã tách thành hai chương riêng: Chương các tội xâm phạm tài sản sở hữu
xã hội chủ nghĩa và chương các tội xâm phạm sở hữu của công dân với cácđặc điểm pháp lý hành vi không có gì khác nhau, có chăng chỉ khác nhau vềkhách thể bảo vệ là quan hệ sở hữu XHCN hay quan hệ sở hữ tư nhân Chínhsách hình sự khác nhau dẫn đến mức hình phạt áp dụng khác nhau và có mộtvài tình tiết định khung tăng nặng khác nhau
Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định quyền sở hữu là một quyền thiêngliêng và được hiến định Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định:
1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành,nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệphoặc trong các tổ chức kinh tế khác
2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ
3 Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi íchquốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặctrưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường [22]
Cụ thể hóa nội dung và tinh thần này của Hiến pháp, các quy định của
Bộ luật hình sự về bảo vệ quyền sở hữu của con người được nghiên cứu, bổsung, trong đó có tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản đáp ứng yêu cầu đấutranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới
Trang 9Nghiên cứu diễn biến tội phạm trong những năm vừa qua, trên phạm vitoàn quốc, có thể thấy rằng nhóm các tội xâm phạm sở hữu thuộc loại tộiphạm có diễn biến rất phức tạp Tính chất phức tạp thể hiện ở hai điểm: số vụliên tục tăng và mức độ nguy hiểm cũng ngày càng nghiêm trọng Hành vi phạmtội xâm phạm sở hữu đã gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản của Nhà nước, của
tổ chức và tài sản của công dân, ảnh hưởng đến trật tự chung của xã hội.Trong đó tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sởhữu có mức độ xảy ra nhiều nhất, tội này diễn biến ngày một gia tăng, vớinhiều thủ đoạn tinh vi xảo quyệt
Trên địa bàn tỉnh Nam Định, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tộiphạm xâm phạm đến sở hữu trong những năm vừa qua cho thấy loại tội phạmlừa đảo chiếm đoạt tài sản luôn chiếm một số lượng đáng kể trong tổng số cáctội phạm hàng năm Có nhiều nguyên nhân để giải thích cho tình trạngnghiêm trọng của tội phạm này, tuy nhiên việc nghiên cứu làm rõ các đặcđiểm của tội phạm này trên phạm vi một địa bàn cụ thể được xác định (thôngqua việc nghiên cứu đặc điểm kinh tế - xã hội, đặc điểm dân cư, tính chất địabàn) sẽ giúp chúng ta lý giải phần nào tính đặc thù của loại tội phạm này trênđịa bàn tỉnh Nam Định qua đó giúp chúng ta có thể đưa ra các đề xuất nhằmhoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của
Bộ luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với các cơ quantiến hành tố tụng
Là một cán bộ công tác trong ngành bảo vệ pháp luật, tác giả lựa chọn
đề tài này để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình Việc nghiên cứudấu hiệu pháp lý của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung và cácbiểu hiện cụ thể của nó tại Nam Định để từ đó đề ra những biện pháp hoànthiện các quy định của BLHS cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng các quyđịnh của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là rất cần
Trang 10thiết Vì lý do đó tác giả đã chọn đề tài "Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong
Luật hình sự Việt Nam - Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Nam Định"làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
Cũng cần nói thêm rằng, vì đặt trọng tâm nghiên cứu thực trạng tộiphạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên một địa bàn cụ thể, nên tác giả không cóđiều kiện nghiên cứu xuyên suốt quá trình lập pháp hình sự Việt Nam về loạitội phạm này trong suốt quá trình phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam,
mà chỉ cố gắng tập trung nghiên cứu quá trình phát triển pháp luật hình sựViệt Nam từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay
Qua nghiên cứu cho thấy, nhìn chung các tác giả đã đề cập khá sâu sắc
và toàn diện về các dấu hiệu pháp lý của loại tội phạm này; phân biệt rõ cáctrường hợp phạm tội này với một số tội phạm khác có chung đặc điểm là dấuhiệu lừa dối, tuy nhiên chưa có công trình khoa học nào đề cập đến tội lừa đảochiếm đoạt tài sản trong mối liên hệ với một địa bàn cụ thể là tỉnh Nam Định,nhất là trong bối cảnh là một tỉnh đan xen dân cư nông thôn và thành thị Sự
Trang 11đình đốn trong sản xuất công nghiệp, tình trạng thất nghiệp, tình trạng di dân
tự do, tình trạng yếu kém trong việc quản lý kinh tế của các cơ quan nhà nướctrong hoạt động tổ chức xuất khẩu lao động, trong hoạt động cho vay tíndụng, sự lơ là thiếu cảnh giác của một bộ phận không nhỏ người dân luôn làvấn đề nổi cộm và là một trong những nguyên nhân làm cho loại tội phạm nàygia tăng
Trên thực tế Nam Định tuy là một tỉnh nhỏ thuộc đồng bằng Bắc Bộ,song cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tếhiện nay, tình hình tội phạm lừa đảo có những diễn biến phức tạp và xu hướngngày càng gia tăng không chỉ về số vụ mà cả về tính chất, hậu quả thiệt hại về tàisản ngày càng trầm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của tỉnh Nam Định.Bởi vậy, luận văn nghiên cứu về: các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạttài sản; so sánh sự khác biệt của tội phạm này và các tội phạm khác có cùng tínhchất; nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp hình sự của một số quốc gia có nhữngnét tương đồng về truyền thống lập pháp với Việt Nam; nghiên cứu thực trạng vàdiễn biến của loại tội phạm này ở Nam Định Trên cơ sở đó, đề xuất các giảipháp nhằm sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự đồng thời đưa ra các biện phápnâng cao nhận thức và hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự củacác cơ quan tiến hành tố tụng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhằm giảm bớtnhững thiệt hại xảy ra,đem lại sự tin tưởng vào pháp luật cho mọi người dântrên địa bàn tỉnh Nam Định
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích của đề tài: trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng phápluật hình sự và thực trạng tình hình, các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảochiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định để đưa ra các các đề xuấthoànthiện BLHS về loại tội phạm này, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của
Bộ luật hình sự ViệtNam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 12- Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đặt
ra cho mình các nhiệm vụ sau đây:
a) Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự của Việt Nam từ khi Cáchmạng tháng 8 thành công đến nay, qua đó để có một cách nhìn khái quát vềquá trình phát triển của quy định này, phục vụ cho các đề xuất sửa đổi, bổsung tội phạm này và các tội phạm khác có liên quan
b) Phân tích và làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội "Lừađảo chiếm đoạt tài sản" theo Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 đồng thờiphân tích và so sánh các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này với một số tộiphạm khác có liên quan như: tội lừa dối khách hàng, tội đánh bạc…để làm rõthêm cách nhận biết các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này
c) Phân tích thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử loại tội này tại tỉnhNam Định trong thời gian vừa qua để thấy được các yếu tố tác động làm ảnhhưởng đến hiệu quả công tác này trong thời gian vừa qua
d) Phân tích những đặc điểm đặc thù của tội phạm lừa đảo chiếm đoạttài sản trên cơ sở gắn với đặc điểm của tỉnh Nam Định đồng thời chỉ ra nhữngvướng mắc, hạn chế trong việc điều tra, truy tố, xét xử tội phạm này tại tỉnhNam Định
đ) Đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành
về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụngcác quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản,qua đó góp phần đấu tranh có hiệu quả hơn đối với loại hành vi lừa đảo chiếmđoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định nói riêng và cả nước nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: Các dấu hiệu pháp lý của tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản, phân tích thực trạng và diễn biến của tội phạm đểrút ra những điểm thành công cũng như thiếu sót trong việc áp dụng các quy
Trang 13định của BLHS và BLTTHS trên địa bàn tỉnh Nam Định, phân tích nguyênnhân, đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện các quy định của BLHS và nângcao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự ViệtNam về tội lừa đảochiếm đoạt tài sản.
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu trong phạm vi những vấn đềliên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ luật hình sự trên địabàn tỉnh Nam Định
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình
sự và tội phạm học như: phương pháp thống kê hình sự, phương pháp phân tích
và so sánh, phương pháp tổng hợp Ngoài ra, còn một số phương pháp khác cũngđược áp dụng như: phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp chuyên gia
6 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của đề tài
Trong phạm vi của đề tài là một công trình nghiên cứu vừa có ý nghĩa
về mặt lý luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn đối với cuộc đấu tranh phòng,chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định
- Về mặt lý luận: đề tài góp phần hoàn thiện nội dung quy định củaĐiều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, đồng thời có thể sử dụng làm tài liệutham khảo trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự
- Về mặt thực tiễn: những đề xuất giải pháp nêu trong luận văn sẽ gópphần nâng cao hiệu quả hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sựViệt Nam về tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng.Ngoài ra, đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các lực lượngtham gia phòng, chống loại tội phạm này không những ở tỉnh Nam Định màcòn có thể áp dụng trên địa bàn tỉnh, thành phố khác có điều kiện tương tự
- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối có hệthống và toàn diện về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đồng thời đã đưa ra các
Trang 14giải pháp nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố và xét xử đối với tội lừađảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
trong luật hình sự Việt Nam
Chương 2:Trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
trong BLHS hiện hành và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định
Chương 3: Một số đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật
hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địabàn tỉnh Nam Định
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT
TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Bảo vệ quyền sở hữu của các nhân, tổ chức chống lại các hành vi xâmhại là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ Việt Nam kể từ khi giành đượcChính quyền Do đó, chỉ sau một thời gian ngắn, mặc dù bận nhiều công việcnhưng Chính phủ dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hànhnhiều văn bản quy phạm pháp luật để nghiêm trị các hành vi này
1.1 LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1 Từ năm 1945 đến trước khi ra đời Bộ luật hình sự 1985
Sau thành công của Cách mạng tháng 8 năm 1945, nước ta đã banhành những văn bản pháp luật hình sự quy định việc trừng trị các tội xâmphạm tài sản xã hội chủ nghĩa như:
Sắc lệnh số 26-SL ngày 25/2/1946 về các tội phá hoại công sản;
Sắc lệnh số 223-SL ngày 27/11/1946 về tội biển thủ công quỹ;
Sắc lệnh số 12-SL ngày 12/3/1949 về tội trộm cắp tài sản quốc phòngtrong thời chiến;
Sắc lệnh số 68-SL ngày 18/6/1949 về bảo vệ các công trình thủy nông;Sắc lệnh 267-SL ngày 15/6/1956 về các âm mưu và hành động pháhoại tài sản của Nhà nước, của Hợp tác xã và của nhân dân làm cản trở việcchính sách, kế hoạch Nhà nước…
Bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng quan tâm tới việc bảo vệ các tài sảnriêng của công dân bằng việc ban hành Thông tư 442-TTg ngày 19/1/1955của Thủ tướng Chính phủ về một số tội phạm Trong đó có đề cập tới tội lừađảo chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên mới nêu tội danh mà chưa mô tả được cụ thểhành vi phạm tội [31] Do yêu cầu khách quan và nhằm tăng cường pháp chế
Trang 16xã hội chủ nghĩa, đấu tranh bảo vệ có hiệu quả tài sản xã hội chủ nghĩa vàcông dân Tòa án nhân dân tối cao cũng đã có nhiều văn bản hướng dẫn việcvận dụng các quy phạm pháp luật vào công tác xét xử, ngày 21/10/1970 Nhànước ta đã thông qua hai pháp lệnh mới.
- Pháp lệnh thứ nhất là: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủnghĩa do Lệnh số 149-LCT ngày 23/10/1970 của Chủ tịch nước công bố
- Pháp lệnh thứ hai là: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng củacông dân do Lệnh số 150 - LCT ngày 23/10/1970 của Chủ tịch nước công bố
Hai pháp lệnh trên đã thay thế các luật lệ cũ về các tội phạm xâmphạm sở hữu Trong cả hai pháp lệnh này hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sảncũng được quy định với hai tội danh cụ thể tương ứng với hai hình thức sởhữu được quy định lúc đó là sở hữu tài sản xã hội chủ nghĩa và sở hữu tài sảnriêng của công dân
Về cơ bản hai tội trên đều có hành vi giống nhau đó là hành vi giandối chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lý Thủ đoạn gian dối có thểbằng cách dùng mọi mánh khóe, bịp bợm, bằng lời nói, giả mạo giấy tờ, giảdanh cán bộ, giả mạo tổ chức, Làm cho người quản lý tài sản tin mà giaonhầm tài sản đó cho người phạm tội
Với những hành vi có cùng tính chất nhưng lại tác động lên đối tượng
là hai loại tài sản khác nhau đó là tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của côngdân nên được quy định thành hai tội khác nhau trong hai pháp lệnh Tuy nhiên
ở pháp lệnh thứ nhất, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa coi lừađảo là một số hành vi gian dối cụ thể của những người trong khi giao dịch,mua bán với cơ quan nhà nước hay hợp tác xã đã cố ý dùng mánh khóe gianlận thông thường như cân, đo, đong, đếm, tính sai hoặc bằng cách khác đểchiếm đoạt tài sản của cơ quan nhà nước hoặc hợp tác xã mà mình giao dịch.Còn ở pháp lệnh thứ hai, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân chỉ
Trang 17quy định tôi phạm một cách chung chung: "kẻ nào dùng thủ đoạn gian dối để
chiếm đoạt tài sản riêng của công dân…" trong khi những hành vi gian lận
bằng cách: cân, đo, đong, đếm, tính gian, không chấp hành chính sách giá cả
đã quy định, đánh tráo hàng…" được tách ra khỏi tội lừa đảo để quy định
thành một tội riêng tại Điều 10 Pháp lệnh là "Tội gian lận để chiếm đoạt tài sản riêng của khách hàng".
Sau ngày 30/4/1975 thống nhất đất nước, Nhà nước ta đã ban hànhthêm một số văn bản pháp luật hình sự mới trừng trị các tội xâm phạm sởhữu Cụ thể ở miền Nam, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời ban hànhSắc lệnh số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định về tội phạm và hình phạt
Tại Điểm b, Điều 4 Sắc luật số 03-SL/76 quy định như sau: Phạm cáctội chiếm đoạt tài sản khác như trộm cắp, tham ô, lừa đảo, bội tín, cướp giật,cưỡng đoạt, chiếm giữ trái phép thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm Trườnghợp nghiêm trọng thì thì bị phạt tù đến 15 năm Phạm tội trộm cắp, tham ô,lừa đảo mà số tài sản chiếm đoạt rất lớn hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng,hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 20 năm, tù chungthân hoặc tử hình
Điều 8 Sắc luật 03-Sl/76 quy định về tội xâm phạm đến tài sản riêngcủa công dân như sau:
Phạm tội cướp tài sản riêng của công dân thì bị phạt tù từ 2 năm đến
12 năm Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 20 năm, từ chung thânhoặc tử hình
Phạm các tội chiếm đoạt khác như trộm cắp, lừa đảo, bội tín, cướpgiật, chiếm giữ trái phép thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm Trường hợpnghiêm trọng thì bị phạt tù đến 10 năm
Như vậy, ở thời điểm này trên hai miền Nam, Bắc tồn tại hai loại vănbản pháp luật khác nhau cùng xử lý về một tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đó
Trang 18là: Hai pháp lệnh ngày 21/10/1970 và Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976.Nội dung cơ bản của các văn bản này đều thống nhất về tội danh và đường lối
xử lý Tuy nhiên so với các pháp lệnh, thì các quy định của Sắc luật chỉ nêutên tội danh mà không quy định cụ thể dấu hiệu pháp lý của tội phạm
Để áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật này, Tòa án nhân dân tốicao đã ban hành Chỉ thị số 54/TATC ngày 6/7/1977 của Tòa án nhân dân tốicao hướng dẫn việc thi hành pháp luật thống nhất thì việc áp dụng pháp luậtđối với hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thống nhất như sau:
Ở miền Bắc vẫn áp dụng hai pháp lệnh ngày 21/10/1970 Ở miền Nam thì ápdụng Sắc luật số 03 là chính, có tham khảo điều khoản tương ứng của Pháplệnh ngày 21/10/1970 để nắm rõ hơn dấu hiệu các tội phạm và áp dụng cáchình phạt hợp lý hơn
Như vậy, trong giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi Bộ luật hình sựnăm 1985 có hiệu lực, pháp luật hình sự đã có quy định về loại tội phạm cóhành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên do có nhiều loại văn bảnđược ban hành và áp dụng ở hai miền Nam, Bắc khác nhau nên không tránhkhỏi những bất cập nhất định, nguyên tắc pháp chế khó được thực hiện Vìvậy cần phải pháp điển hóa các quy định trong các văn bản pháp luật này đểđảm bảo tính thống nhất [24] Bộ luật hình sự 1985, có hiệu lực từ ngày01/1/1986 đã ra đời đáp ứng yêu cầu đó
1.1.2 Từ năm 1986 đến trước khi sửa đổi toàn diện Bộ luật hình sự vào năm 1999
Ngày 27/6/1985 Bộ luật hình sự đã được Quốc hội khóa VI ban hành
và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/1986 đã khắc phục được tình trạng cácvăn bản pháp luật chồng chéo, không thống nhất trước đó Tăng cường đượctính pháp chế, đồng thời bảo vệ được quyền tài sản của công dân Sự ra đời
Trang 19của Bộ luật hình sự là sự pháp điển hóa các quy định về tội phạm và hình phạt
từ năm 1945 đến năm 1985
Qua nghiên cứu các quy định của Bộ luật hình sự thời kỳ này về tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản, chúng tôi nhận thấy, loại tội phạm này được pháttriển theo hướng: tiếp tục có sự ghi nhận và có sự phân biệt giữa quan hệ sởhữu xã hội chủ nghĩa và sở hữu riêng của công dân; mức hình phạt ngày càngđược tăng nặng cho phù hợp với tình hình tội phạm và các dấu hiệu pháp lý
và các tình tiết định khung tăng nặng ngày càng được hoàn thiện hơn
* Tiếp tục đề cao chính sách hình sự bảo vệ tốt hơn quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa
Theo quy định của Bộ luật hình sự 1985 thì tội xâm phạm sở hữu có
kế thừa và phát triển các văn bản pháp luật trước đó Do đề cao sở hữu nhàNước và tập thể, chưa thật sự coi trọng đến sở hữu tư nhân nên trong giaiđoạn này hành vi xâm phạm tài sản Nhà nước luôn được coi là nghiêm trọng hơnxâm hại sở hữu tư nhân nên được các nhà lập pháp lúc bấy giờ quy định ở haichương khác nhau Cụ thể: Chương IV là các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủnghĩa và chương V là các tội xâm phạm sở hữu công dân Có sự quy định nhưvậy là vì Bộ luật hình sự 1985 ra đời trong bối cảnh nền kinh tế nước ta lúc đóchỉ có hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và hợp tác xã Đượcquản lý và điều hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thống nhất từ trungương đến cơ sở Trên cơ sở kế thừa quy định của hai pháp lệnh ngày 21/10/1970thì vẫn được quy định là hai tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa"
và tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân" cụ thể như sau:
Điều 134: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa:
1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩathì bị phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm
Trang 202 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03năm đến 12 năm:
a Có tổ chức
b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm
c Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn
d Tái phạm nguy hiểm
3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nguy hiểm thì bị phạt tù từ 10 nămđến 20 năm hoặc tù chung thân [15]
Điều 157: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân:
1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khácthì bị phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02năm đến 10 năm:
a Có tổ chức
b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm
c Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn
d Tái phạm nguy hiểm
3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nguy hiểm thì bị phạt tù từ 7 nămđến 15 năm [15]
* Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm ngày càng được bổ sung hoàn thiện hơn
So với các điều luật tương ứng của các văn bản pháp luật trước năm
1985, Điều 134 Bộ luật hình sự 1985 đã có hai thay đổi quan trọng đó là Bộluật hình sự quy định rõ ràng hơn dấu hiệu khách quan của hành vi phạm tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa Trên thực tế, có thể nói sự sơ hởtrong công tác quản lý kinh tế cũng như một số khuyết điểm về kỹ thuật lậppháp, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tội phạm kinh tế và các tội xâm phạm
Trang 21sở hữu nảy sinh và phát triển Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranhphòng chống tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng,liên tiếp trong 04 năm, 1990, 1991, 1993 và 1997, Bộ luật hình sự 1985 đãđược sửa đổi bổ sung, trong đó có 02 lần sửa đổi bổ sung nhằm hoàn thiệnmột bước các dấu hiệu pháp lý của loại tội phạm này khi đất nước đang bắtđầu chuyển mình từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường Cụ thể:
Lần sửa đổi thứ nhất năm 1990 có bổ sung vào Điểm a khoản 2 Điều 134
và Điều 157 ngoài quy định "có tổ chức" còn thêm tình tiết "hoặc có tính chất
chuyên nghiệp" Do đó Điểm a Khoản 2 Điều 134 và Điều 157 được quy định
như sau: "Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp".
Lần sửa đổi thứ hai, năm 1993 Xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng
chống tội phạm cho thấy, nhiều tội phạm đã thực hiện hành vi phạm tội thôngqua việc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức để dễ dàng tạo được niềm tinđối với nạn nhân, đồng thời trong nền kinh tế thị trường, nhiều trường hợphành vi phạm tội đã gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (lớn hơn rất nhiềulần so với những dự liệu ban đầu của các nhà lập pháp, do đó năm 1993 có sựsửa đổi, bổ sung vào khoản 2 Điều 134 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã
hội chủ nghĩa thêm tình tiết định khung tăng nặng là: Lợi dụng danh nghĩa
cơ quan, tổ chức;gây hậu quả nghiêm trọng.cụ thể như sau:
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03năm đến 12 năm:
a Có tổ chức
b Có tính chất chuyên nghiệp
c Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm
d Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn
e Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức
f Gây hậu quả nghiêm trọng
Trang 22g Tái phạm nguy hiểm [17].
Trong lần sửa đổi năm 1997, Bộ luật hình sự đã bổ sung thêm một
điều (Điều 134 a) quy định tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếmđoạt tài sản xã hội chủ nghĩa cụ thể như sau:
1 Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn dùng thủ đoạn gian dốichiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới mộttrăm triệu đồng hoặc dưới năm triệu đồng nhưng gây hậu qủa nghiêm trọng, viphạm nhiều lần hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ hainăm đến bảy năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảynăm đến mười lăm năm:
a Có tổ chức
b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm
c Tài sản có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng
d Phạm tội nhiều lần
e Gây hậu quả nghiêm trọng
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từmười lăm năm đến hai mươi năm:
a Tài sản có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng
b Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này
c Gây hậu quả rất nghiêm trọng
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chungthân hoặc tử hình:
a Tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên
b Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này
c Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng [18]
* Mức hình phạt áp dụng ngày càng có xu hướng nghiêm khắc hơn
Trang 23Qua nghiên cứu cho thấy, so với các điều luật tương ứng của các vănbản pháp luật trước năm 1985 mặc dù Điều 134 Bộ luật hình sự bỏ hình phạt
tử hình áp dụng đối với người phạm tội ngay cả trong những trường hợp đặcbiệt nguy hiểm Tuy nhiên, giai đoạn giữa những năm 80 của thế kỷ trước,nướcta có những bước phát triển lớn trong lĩnh vực kinh tế Quá trình chuyển đổi
từ kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường đặt ra yêu cầu đảmbảo sự bình đẳng tham gia của các thành phần kinh tế Ngoài kinh tế nhà nướcvẫn giữ vai trò chủ đạo, các thành phần kinh tế khác như: kinh tế tư nhân, hợptác xã, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng dần được thừa nhận
và ngày càng chiếm một vị trí quan trọng hơn trong đời sống kinh tế, do đó,ngay lần sửa đổi đầu tiên vào năm 1991, các nhà lập pháp hình sự Việt Nam
đã nâng mức hình phạt tối đa lên tử hình Cụ thể: Khoản 3 Điều 134 tội lừađảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa: "Phạm tội trong trường hợp đặc biệt
nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử
hình" [16]
Đối với tội tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân (Điều 157) tronglần sửa đổi đầu tiên, các nhà lập pháp hình sự đã tăng mức hình phạt cao nhấtđối với tội này từ 10 năm đến 15 năm áp dụng trong trường hợp đặc biệtnghiêm trọng Tuy vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, năm 1991 hình phạt tửhình lại được áp dụng Khoản 3 Điều 157 như sau:
1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khácthì bị phạt tù từ 03 tháng đến 05 năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03năm đến 12 năm:
a Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp
b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm
c Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn
Trang 24d Tái phạm nguy hiểm
3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nguy hiểm thì bị phạt tù từ 10năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình [16]
Như vậy Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 1991 khi quy định hìnhphạt cho hai tội trên đều cùng quy định hình phạt cao nhất là tử hình
1.1.3 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lần sửa đổi toàn diện vào năm 1999
Do chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới là xâydựng nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên cơ sở nhiều hình thức sở hữukhác nhau, vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩatrong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Để làm được điều này, Nhànước chủ trường, thông qua hệ thống pháp luật bảo đảm là các thành phầnkinh tế được đối xử và bảo vệ ngang bằng trước pháp luật Do đó, việc chiahai nhóm tội xâm hại quan hệ sở hữu tỏ ra không còn phù hợp vì điều nàykhông phù hợp với bản chất của kinh tế thị trường - đòi hỏi một sự đối sửbình đẳng của các thành phần kinh tế cùng tham gia vào quá trình kinh tế.Trước tình hình đó, Bộ luật hình sự 1985 mặc dù đã qua 4 lần sửa đổi, bổsung vẫn duy trì hai chương về các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa vàcác tội xâm phạm tài sản của công dân Mặt khác, sự quy định hai nhóm tộixâm phạm đến hai loại quan hệ sở hữu khác nhau đã nảy sinh ra những bấtcập Trong nhiều trường hợp, người phạm tội chỉ quan tâm đến tài sản và giátrị tài sản mà không quan tâm đến nguồn gốc tài sản thuộc sở hữu nào, nêngây khó khăn cho các cơ quan tố tụng khi xác định tội danh cho đối với ngườiphạm tội Quan niệm về định tội danh theo ý thức chủ quan của người phạmtội, tuy giải quyết được một phần các vấn đề trước mắt là đáp ứng yêu cầu coitrọng bảo vệ sở hữu xã hội chủ nghĩa, nhưng rõ ràng không đảm bảo tínhkhoa học, nhất là trong trường hợp không xác định được rõ ý thức chủ quan
Trang 25của người phạm tội hoặc trong trường hợp người phạm tội có sự lẫn lộn giữa
sở hữu xã hội chủ nghĩa và sở hữu riêng của công dân (cùng một hành vi xâmhại đến hai loại tài sản thuộc hai nhóm quan hệ sở hữu khác nhau) Để phùhợp với chính sách kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổimới, Bộ luật hình sự 1999 đã ra đời và đã nhập hai chương của Bộ luật hình
sự 1985 thành một chương với tên gọi "Các tội xâm phạm sở hữu" Có thể
nói, việc nhập hai chương này làm một là một cuộc đấu tranh giữa hai luồng
tư tưởng cũ và mới ngay trong chính các nhà lập pháp Việt Nam thời bấy giờ
* Tư tưởng phân biệt hai loại quan hệ sở hữu tuy đã được khắc phục nhưng những ảnh hưởng của nó vẫn còn tồn tại trong một vài quy định của BLHS
Mặc dù được coi là lần sửa đổi toàn diện, nhưng các nhà lập pháp hình sựthời kỳ này vẫn muốn duy trì hai loại tội lừa đảo đó là: Tội lừa đảo chiếm đoạttài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 (là tội được nhập từ tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa tại Điều 134 và Tội lừa đảo chiếmđoạttài sản công dân quy định tại Điều 157) và tội lợi dụng chức vụ quyền hạnlừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 134a Bộ luậthình sự
Theo đó, Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 quy định về tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản quy định:
Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác cógiá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới nămtrăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hànhchính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưađược xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến banăm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm [19]
Trang 26Như vậy so với Bộ luật hình sự 1985 thì Điều 139 Bộ luật hình sự
1999 quy đình về hình phạt vẫn nghiêm khắc, vì mức cao nhất khung hìnhphạt của tội này là tử hình, còn các mức hình phạt khác có thể tăng lên hoặcgiảm xuống so với quy định của Bộ luật hình sự 1985
* Yếu tố định lượng đã được sử dụng để phân biệt giữa hành vi phạm tội là đảo và hành vi lừa đảo nhưng chỉ được coi là vi phạm hành chính và bị
xử phạt hành chính
Đây là vấn đề đã và đang gây nhiều tranh cãi trong giới chuyên gialuật hình sự hiện nay, tuy nhiên, quan điểm coi dấu hiệu định lượng là mộtcăn cứ để phân biệt giữa tội phạm và vi phạm hành chính đáp ứng được yêucầu chính trị là chống sự lạm dụng của cơ quan tố tụng
Theo đó, các tội xâm phạm sở hữu hầu hết được lấy mức khởi điểm là
từ 500 000 đồng trở lên để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự Cũngtheo đó, tùy theo giá trị tài sản mà mức hình phạt có thể thay đổi theo cáckhung hình phạt khác nhau Như vậy, trong lần sửa đổi toàn diện BLHS lầnnày, nếu giá trị tài sản chiếm đoạt từ 500 000đ trở lên thì được coi là tộiphạm Dưới 500 000đ được xem là vi phạm hành chính Tuy nhiên, gianh giớinày không phải là tuyệt đối khi mà giá trị tài sản mặc dù dưới 500 000đnhưng người phạm tội lại thuộc một trong những trường hợp “có nhân thânxấu” thì cũng có thể bị coi là tội phạm
* Coi đặc điểm xấu về nhân thân là dấu hiệu cấu thành tội phạm
Đây cũng là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi cho đến ngày nay Theo ýkiến của nhiều chuyên gia, việc lấy đặc điểm xấu về nhân thân người phạmtội để là dấu hiệu định tội là không phù hợp Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa:
Trong Luật hình sự, nguyên tắc vẫn được thừa nhận là: Một ngườikhông thể bị xử phạt hình sự về nhân thân xấu của họ Theo nguyên tắc này,Luật hình sự không thể quy định đặc điểm xấu về nhân thân là dấu hiệu định
Trang 27tội Đặc điểm này chỉ có thể được quy định là dấu hiệu định khung hình phạthoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự [11].
Theo đó, không chỉ riêng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà nhiều tộiphạm khác đã được thiết kế theo mô tuýp: trong trường hợp giá trị tài sảnchưa đến 500 000 đồng những trước đó "đã bị xử phạt hành chính về hành vichiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích
mà còn vi phạm" thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự (nghĩa là vẫn bị coi
sự 1999 đã bộc lộ nhiều bất cập, trong đó điểm đáng lưu ý là Bộ luật hình sự
1999 chưa thể chế hóa được những quan điểm, chủ trương mới của Đảng vàNhà nước ta về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08-NQ/TW
và Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị Trong khi sự phát triển mạnh
mẽ của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã đặt ra cho hệ thống phápluật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng phải là công cụ pháp lý nhằmthúc đẩy và bảo vệ cho các nền kinh tế phát triển
Mặt khác, bên cạnh xu hướng chung hội nhập quốc tế, có lẽ đã đến lúccần nghiên cứu lại chính sách hình sự đối với một số loại tội phạm cụ thể,nhất là khi chúng ta đã áp dụng một thời gian khá dài chính sách hình sự khánghiêm khắc (hình phạt tử hình) nhưng tình hình tội phạm không hề giảm màngười lại, loại tội phạm này còn có tính chất gia tăng và quy mô ngày càngnghiêm trọng Điều này cho phép chúng ta nhận thấy rằng: dường như biệnpháp trừng trị hà khắc không phải là liều thuốc hữu hiệu để có thể làm giảm
Trang 28loại tội phạm này mà cần hướng đến một biện pháp khác làm triệt tiêu độnglực và điều kiện phạm tội Bộ luật hình sự 1999 đã được sửa đổi, bổ sungnhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới
Ngoài ra, mặt trái của nền kinh tế thị trường cùng với những yếu kémtrong quản lý kinh tế của nhà nước là cơ hội để tội phạm lừa đảo phát triển.Thực tiễn đã chứng minh các hành vi lừa đảo chiếm đoạt thuế giá trị gia tăngđặc biệt lớn Gần đây là hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tiền vay trong hoạtđộng tín dụng, ngân hàng lên đến hàng ngàn tỷ đồng Đây là những hồichuông cảnh tỉnh cho các cơ quan Nhà nước trong việc kịp thời hoàn thiện thểchế, nhất là thể chế kinh tế để nhằm ngăn chặn các hành vi nguy hiểm này
Theo đó, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được sửa đổi hai nội dung cơ
bản: một là, sửa đổi mức định lượng tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội này là tăng mức từ "năm trăm nghìn đồng" lên mức "hai triệu
đồng", và hai là, bỏ hình phạt tử hình, và thay vào đó mức cao nhất của khung
hình phạt là "tù chung thân" Sự thay đổi này cho chúng ta thấy chính sách
hình sự của Nhà nước về loại tội phạm này một lần nữa lại có sự thay đổi chophù hợp với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới,thể hiện rõ quan điểm giảm nhẹ hình phạt có tính hà khắc đối với người phạmtội Tuy nhiên, trước diễn biến tình hình tội phạm lừa đảo ngày càng nghiêmtrọng như đã nói ở trên, nhiều ý kiến đề xuất cần quy định lại hình phạt tửhình tại khoản 4 điều này để tạo nên sự răn đe cần thiết trong quá trình xử lý
1.2 KHÁI NIỆM, CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH
1.2.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Đến nay, Bộ luật hình sự 1999 đã thi hành được hơn 10 năm và đượcsửa đổi, bổ sung lần gầy đây nhất vào năm 2009 Theo đó các tội xâm phạm
sở hữu được quy định từ Điều 133 đến Điều 145 Bộ luật hình sự không có
Trang 29khái niệm cụ thể thế nào là các tội xâm phạm sở hữu Khái niệm này chỉ thểhiện trong các tài liệu khoa học Theo một số chuyên gia, các tội xâm phạm
sở hữu như sau: "Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi của người có năng lựctrách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sởhữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân" [1]
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu,
vì vậy khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn khái niệmchung của các tội xâm phạm sở hữu, đồng thời phải thỏa mãn các các dấuhiệu đặc thù nói riêng Căn cứ vào quy định tại Khoản 1 Điều 139 của Bộ luậthình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009:
Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác cógiá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệuđồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành
vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa ántích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt
tù từ sáu tháng đến ba năm [21]
Như vậy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâmphạm sở hữu, với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, người phạmtội đã dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật, có thểbằng lời nói hoặc hành động khiến có tài sản hoặc người có trách nhiệm trônggiữ tài sản vì tin nhầm, tưởng giả là thật, tưởng kẻ gian là người ngay, tựnguyện giao tài sản cho người phạm tội
Từ đó có thể hiểu khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vigian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đếndưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quảnghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bịkết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, do
Trang 30người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạmđến quan hệ sở hữu về tài sản.
1.2.2 Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.2.2.1 Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu về tàisản, đây là quan hệ xã hội chủ yếu mà hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâmhại Do đặc điểm của hành vi nên tội này chỉ xâm hại đến một khách thể làquan hệ sở hữu tài sản Đây là điểm khác giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnvới một số tội xâm phạm sở hữu khác xâm hại đồng thời nhiều khách thể khácnhau như tội cướp tài sản, cướp giật tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tàisản… vì các tội phạm này ngoài khách thể là quan hệ sở hữu, người phạm tộicòn nhằm đến khách thể quan trọng khác đó là quyền được bảo vệ về tínhmạng, sức khỏe của người bị hại
Quan hệ sở hữu là quan hệ trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và địnhđoạt tài sản được tôn trọng và bảo vệ Quan hệ này bị tội phạm gây thiệt hạihoặc đe dọa gây thiệt hại thông qua việc làm biến đổi tình trạng bình thườngcủa những đối tượng vật chất (tài sản) là một bộ phận của quan hệ sở hữu
Như mọi hành vi phạm tội khác, hành vi xâm phạm sở hữu cũng cóđối tượng tác động cụ thể đó là tài sản "Tài sản gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá
và các quyền tài sản" [20, Điều 163] Tài sản là đối tượng của tội lừa đảochiếm đoạt tài sản có thể thuộc bất cứ hình thức sở hữu nào được pháp luậtthừa nhận và phải được thể hiện dưới dạng vật chất, vì những gì không thuộc
về vật chất thì không thể là đối tượng của hành vi chiếm đoạt Vì thế, khôngphải mọi trường hợp của quyền tài sản đều là đối tượng tác động của tội lừađảo chiếm đoạt tài sản
Ví dụ: Bản di chúc về quyền thừa kế tài sản của một người thì khôngphải là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, còn những giấy
Trang 31tờ thể hiện về quyền tài sản như hóa đơn lĩnh hàng… vẫn có thể là đối tượngcủa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong những trường hợp nhất định.
Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng, xuất phát từ tính năng, công dụng đặcbiệt của tài sản mà một số tài sản không thể được coi là đối tượng của tội lừađảo chiếm đoạt tài sản, mà là đối tượng của hành vi phạm tội khác: Ví dụ: tàinguyên rừng, công trình, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc,các chất ma túy, các loại vũ khí quân dụng…
Như vậy pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn bảo
vệ quyền sở hữu hợp pháp và chỉ bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp nên vềnguyên tắc tài sản được luật hình sự bảo vệ phải là tài sản hợp pháp Nhưngđiều đó không có nghĩa những hành vi xâm phạm tài sản bất hợp pháp kháccủa công dân không bị coi là tội phạm và vẫn bị coi là trái pháp luật và có thểcấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.2.2.2 Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố của tội phạm,không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm, dovậy cũng không có tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm là biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm,trong đó hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản nhất, các biểu hiện khác nhưhậu quả của tội phạm, công cụ, phương tiện… cũng chỉ thể hiện khi có hành
vi khách quan Vì vậy việc nghiện cứu những yếu tố thuộc mặt khách quancủa tội phạm có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Cụ thể có các dấu hiệu đặc trưng sau:
* Dấu hiệu hành vi khách quan
Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội lànội dung cơ bản nhất Theo quy định của Bộ luật hình sự hiện nay, hành vinguy hiểm cho xã hội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thể hiện dưới haihành vi thực tế là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản
Trang 32- Hành vi lừa dối: Là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật
nhằm để người khác tin đó là sự thật, tự nguyện trao tài sản cho người phạmtội Trên thực tế hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đượchợp thành bởi hai yếu tố:
Thứ nhất, đó là hành vi đưa ra những thông tin gian dối Hành vi này
thể hiện là hành động có chủ đích của người phạm tội Hành vi này có thểđược thực hiện bằng lời nói, hành động hoặc những biểu hiện khác nhằmcung cấp những thông tin sai lệch về sự việc như nói có thành không, ít thànhnhiều, xấu thành tốt, giả thành thật
Thứ hai, chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm lẫn, tin tưởng
vào những thông tin không đúng sự thật ấy mà trao tài sản cho người phạmtội Khi giao tài sản, chủ tài sản không biết mình bị lừa dối Họ có thể pháthiện ra ngay sau khi trao tài sản nhưng bản chất của hành vi chiếm đoạt vẫndựa trên thủ đoạn lừa dối thì vẫn xử lý về tội này Cũng cần lưu ý thêm rằng,nếu ngay sau khi trao tài sản, người quản lý tài sản phát hiện và đã thực hiệnmột số hành động để bắt giữ mà người phạm tội lại sử dụng các thủ đoạn khác(như dùng vũ lực) để chiếm đoạt tài sản cho bằng được thì sẽ xử lý về tộiphạm khác Đây là trường hợp mà khoa học luật hình sự Việt Nam thường gọi
là các trường hợp chuyển hóa từ một số tội có tính chất chiếm đoạt sang tộicướp tài sản
Ví dụ: Lê Văn K 35 tuổi là đối tượng nghiện ma túy có quen biết vớicháu Phạm Đình P 16 tuổi ở cùng khu phố Do có ý định muốn chiếm đoạtchiếc xe đạp điện của cháu P để lấy tiền sử dụng ma túy nên vào chiều ngày10/4/2012 chờ lúc cháu P đi học về K đón ở đầu đường xin đi nhờ xe, thấy K
là người quen nên P cho K đi nhờ Khi đi đến ngõ 102 Trần Đăng Ninh Thành phố Nam Định K nói dối P là đứng ngoài chờ để K mượn xe đi vào nhàngười quen trong ngõ có việc và hẹn 10 phút quay ra, P tin tưởng nên đã cho
Trang 33-K mượn xe Mượn được xe -K đi vào ngõ 102 rồi vòng ra ngõ 103 đến hiệucầm đồ Tuấn A đặt vấn đề cầm cố chiếc xe đạp điện nhưng anh C là chủ hiệunghi ngờ là xe trộm cắp nên không cầm, K lại đi tìm hiệu cầm đồ khác Quá
30 phút không thấy K quay lại nên P đi tìm nhưng không thấy nên biết mình
bị K lừa, P điện thoại cho người nhà đến đón và chở đi tìm K Khi đi đếnđường Lương Thế Vinh - Thành phố Nam Định P nhìn thấy K đang đi chiếc
xe của mình nên nhẩy xuống giữ lại và hô mọi người bắt giữ Thấy vậy K giậttay P ra nhưng không được, K tiếp tục dùng chân đạp mạnh vào bụng P làm Pngã ra đường, K nhảy lên xe chạy vào trong ngõ Sau đó K bị quần chúngnhân dân bắt giữ Như vậy hành vi của K đã chuyển hóa từ lừa đảo chiếmđoạt tài sản sang cướp tài sản
Trong trường hợp người phạm tội có hành vi gian dối nhưng chủ sởhữu hoặc người quản lý tài sản không bị nhầm lẫn, không tự nguyện trao tàisản, mà người phạm tội phải dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để chiếm đoạttài sản thì không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà sẽ cấu thành tộichiếm đoạt có hành vi tương ứng Nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sảnkhông bị nhầm lẫn, không tự nguyện trao tài sản và người phạm tội cũngkhông có hành động chiếm đoạt nào khác thì có thể người phạm tội bị truycứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở giai đoạn phạmtội chưa đạt [1,tr 271]
Xét về mặt khách quan hành vi gian dối là hành vi đưa ra những thôngtin giả Về mặt chủ quan, người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mongmuốn người khác tin đó là sự thật Thủ đoạn để thực hiện rất đa dạng có thểqua lời nói, sử dụng giấy tờ giả, hoặc qua những việc làm cụ thể… Những thủđoạn thể hiện hành vi này không có ý nghĩa về mặt định tội, bởi đã là hành vigian dối thì dù được thực hiện bằng thủ đoạn nào cũng đều có thể là hành vi
Trang 34phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên việc xem xét hình thứcthực hiện có giá trị trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm này.
Cần lưu ý, thủ đoạn gian dối không phải chỉ có ở tội lừa đảo chiếm đoạttài sản mà còn được quy định ở một số tội phạm, điều khác biệt ở đây là hành
vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện là nhằm chiếmđoạt tài sản, còn những hành vi lừa dối không hướng tới việc chiếm đoạt tài sản
mà nhằm mục đích khác, dù mục đích này có tính tư lợi cũng không cấu thànhtội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Ví dụ: hành vi gian dối khi cân, đo, đong, đếm…cấu thành tội lừa dối khách hàng được quy định tại Điều 162 Bộ luật hình sự
- Hành vi chiếm đoạt: là hành vi cố ý dịch chuyển một cách trái pháp
luật tài sản của người khác thành tài sản của mình.Tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản được coi là hoàn thành khi có hậu quả xảy ra, kẻ phạm tội chiếm đoạtđược tài sản Hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có haihình thức cụ thể:
Thứ nhất: Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ
tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tàisản từ người bị lừa dối vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên bị lừadối đã giao nhầm tài sản Khi nhận được tài sản cũng là lúc người phạm tộilừa đảo đã làm chủ được tài sản đó trên thực tế và đó cũng là lúc tội lừa đảochiếm đoạt tài sản được coi là hoàn thành
Ví dụ: Hàng năm chợ Viềng Xuân ở Nam Định họp từ ngày mồng 7đến hết ngày mồng 8 tháng giêng âm lịch Vào đêm ngày mồng 7 tháng giêngnăm 2012 âm lịch, Trần Văn A thấy có những bãi giữ xe tự phát mở ra ở gầnkhu vực chợ, ánh sáng tại chỗ soát vé không được sáng rõ, nên A nghĩ cáchlàm vé xe giả để lấy xe trong bãi giữ xe do Vũ Quang C quản lý A đã quansát kỹ đặc điểm vé xe của C giao cho khách và làm vé xe giả số 11 gần giốngvới vé thật Sau đó A mang theo một cục phấn trắng đi vào bãi gửi xe, đến
Trang 35cuối bãi xe A xóa số ghi ở yên chiếc xe Dream và viết số 11 vào rồi dắt chiếc
xe này ra ngoài và đưa chiếc vé giả cho C, C không biết đó là vé giả nên cho
A dắt xe ra bình thường Lấy được xe A mang đi bán được 3.000.000đ ăn tiêu.Khi có khách đến lấy xe, C kiểm tra lại mới biết bị A dùng vé giả lừa lấy xe.Như vậy A đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi chiếm đoạt tài sảnhoàn thành từ khi A dắt xe ra khỏi bãi gửi xe
Thứ hai: Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của
người phạm tội thì hình thức thể hiện của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữlại tài sản đáng nhẽ phải giao cho người bị lừa dối vì đã tin vào thông tin củangười phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản hoặc không nhận.Khi người bị lừa dối nhận nhầm hoặc không nhận tài sản cũng là lúc ngườiphạm tội lừa đảo đã làm chủ được tài sản bị chiếm đoạt và người bị lừa dối đãmất tài sản đó và đó cũng là thời điểm hoàn thành của tội lừa đảo chiếm đoạttài sản
Ví dụ: Lê Quốc N là chủ cửa hàng buôn bán đồ gỗ ở Nam Định, N thườngxuyên thuê Hoàng Đình H lái xe chở hàng cho khách Ngày 12/2/ 2012 Q
là khách mua hàng nhờ H chuyển cho chị T (là vợ N) 35 triệu đồng tiềnhàng, lúc giao nhận tiền giữa H và T, H đã dùng thủ đoạn gian dối khiến Ttưởng mình đã nhận đủ 35 triệu đồng và đã ký vào giấy nhận tiền rồi đi về.Khi về nhà T kiểm tra lại tiền thì thấy thiếu 10 triệu đồng và số tiền mà Tnhận từ H chỉ có 25 triệu đồng Như vậy H đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạttài sản, hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi giữ lại số tiền 10 triệu đồngđáng lẽ phải giao cho T
Hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo chiếm đoạttài sản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Hành vi gian dối tạo điều kiện chohành vi chiếm đoạt được thực hiện một cách công khai, dễ dàng Trong thực
Trang 36tế có những biểu hiện gian dối nhằm mục đích khác không phải là hành vikhách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thủ đoạn gian dối của ngườiphạm tội bao giờ cũng phải có trước, sau đó mới diễn ra việc bàn giao tài sảngiữa người bị hại và người phạm tội, nếu thủ đoạn gian dối lại có sau khingười phạm tội nhận được tài sản thì không phaỉ là lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
mà tùy từng trường hợp cụ thể thủ đoạn gian dối đó có thể là hành vi che giấutội phạm hoặc là hành vi phạm tội khác như tội lạm dụng tín nhiệm chiếmđoạt tài sản Thông thường hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra kế tiếp ngay sauhành vi gian dối, nhưng cũng có trường hợp giữa hai hành vi này lại cókhoảng cách nhất định về thời gian Ở đây cần chú ý tội lừa đảo chiếm đoạttài sản chỉ coi là hoàn thành khi hành vi chiếm đoạt xảy ra
Như vậy hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tương
tự với hành vi khách quan của nhiều tội khác Vì vậy để định tội danh chínhxác phải đặt hành vi khách quan trong mối liên hệ với các yếu tố khác, nghiêncứu một cách toàn diện các yếu tố của cấu thành tội phạm [10]
* Dấu hiệu hậu quả của tội phạm
Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan
hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự Thiệt hại gây ra cho khách thểđược thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phậncấu thành quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có cấu thành vật chất, nghĩa làtrong cấu thành tội phạm có phản ánh dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội,nhưng hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc, vì có những trường hợp hậuquả chưa xảy ra vẫn có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ví dụ nhưtrường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt Hậu quả của tội phạmđược phản ánh trong cấu thành tội phạm thông qua thiệt hại về tài sản mà cụ
Trang 37thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt, chính vì vậy việc xác định tài sản là đốitượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc, đây là dấu hiệuđịnh lượng để xác định cấu thành cơ bản hoặc cấu thành định khung tăngnặng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trong cấu thành tội phạm cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnđược quy định ở Khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm
2009 thì giá trị tài sản bị chiếm đoạt ở mức 2 triệu đồng là mức nguy hiểmđáng kể làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự Cụ thể nếu tài sản bị chiếmđoạt có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên luôn cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản
bị chiếm đoạt có giá trị dưới 2 triệu đồng thì phải kèm theo là gây hậu quảnghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bịkết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà vi phạm mới cấuthành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Việc xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt đối với hành vi lừa đảochiếm đoạt tài sản có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định trường hợpnào bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trường hợp nào chưa đến mức truy cứutrách nhiệm hình sự, cũng như việc áp dụng đúng khung hình phạt Do đó cầnlưu ý một số điểm sau đây trong việc xác định giá trị tài sản đối với tội lừađảo chiếm đoạt tài sản:
Giá trị tài sản bị chiếm đoạt được xác định căn cứ vào kết luận củaHội đồng định giá do cơ quan tố tụng tiến hành kết luận về giá trị tài sản bịchiếm đoạt Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm không còn nữa, cơ quanđiều tra cần lấy lời khai của những người biết về tài sản này để xác định đó làtài sản gì, nhãn mác của tài sản đó, giá trị tài sản đó theo thời giá vào thờiđiểm tài sản bị xâm phạm, tài sản đó còn bao nhiêu phần trăm giá trị sửdụng… để có kết luận cuối cùng về giá trị tài sản bị xâm phạm
Trang 38Trong trường hợp có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng người có hành
vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ý định xâm phạm đến tài sản có giátrị cụ thể theo ý thức chủ quan của họ, thì lấy giá trị tài sản đó để xem xét việctruy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi xâm phạm Nếu ngườiphạm tội có ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng không quan tâm đến giátrị của tài sản bị chiếm đoạt thì căn cứ vào giá trị thực của tài sản bị xâmphạm để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
Trong trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi lừađảo chiếm đoạt tài sản nhưng mỗi lần giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới mứctối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự vàkhông thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sựnhư: gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử phạt hành chính, đã bị kết án nhưngchưa xóa án tích…, đồng thời trong các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đóchưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính.Nếu tổng giá trị tài sản của các lần chiếm đoạt bằng hoặc trên mức 2 triệuđồng thì người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự đốivới tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm, nếu: (i) Các hành vi lừa đảochiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thờigian; (ii) Việc thực hiện các hành vi chiếm đoạt tài sản có tính chất chuyênnghiệp, lấy tài sản chiếm đoạt được làm nguồn sống chính và (iii) Với mụcđích chiếm đoạt, nhưng do điều kiện khách quan nên việc lừa đảo chiếm đoạttài sản phải được thực hiện nhiều lần cho nên giá trị tài sản bị chiếm đoạt mỗilần dưới 2 triệu đồng
Ngoài hậu quả là giá trị tài sản bị chiếm đoạt là dấu hiệu định tội đượcphân tích ở trên thì thức tế hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còngây hậu quả nguy hiểm khác, đó là những thiệt hại về tài sản, về thể chất hoặcnhững hậu quả phi vật chất khác diễn ra ở những cấp độ khác nhau thể hiện
Trang 39mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản Những hậu qủa này thường phát sinh do việc tài sản bị chiếm đoạt (cómối quan hệ nhân quả giữa việc tài sản bị chiếm đoạt và hậu quả) Do đó việcxác định hậu quả là thiệt hại về tài sản thì phải xảy ra ngoài giá trị tài sản bịchiếm đoạt Hậu quả phi vật chất ở đây được biểu hiện là những ảnh hưởngxấu đến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, gây ảnhhưởng lớn đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội Những hậu quả phát sinh này,tùy từng vụ án, tình hình cụ thể mà các cơ quan tiến hành tố tụng xác định đãgây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc gây hậu quảđặc biệt nghiêm trọng để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1Điều 139 Bộ luật hình sự hay để làm căn cứ quyết định hình phạt theo Điểm gKhoản 2, Điểm b Khoản 3 và 4 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổsung năm 2009.
* Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm
Việc định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ xác định hậu quả làgiá trị tài sản bị chiếm đoạt mà còn đòi hỏi làm rõ mối quan hệ nhân quả giữahành vi lừa đảo với hậu quả đó Vì con người chỉ phải chịu trách nhiệm hình
sự về hậu quả nguy hiểm cho xã hội khi hậu quả đó do chính hành vi củamình gây ra Mối quan hệ giữa hành vi vi phạm và hậu qủa tội phạm đượcbiểu hiện như sau:
- Hành vi gian dối phải diễn ra trước hành vi chiếm đoạt
- Hành vi gian dối là cơ sở chủ yếu để quyết định việc chiếm đoạt được tài sảncủa người phạm tội
Vì vậy việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội có thể gây ranhững hậu quả nguy hiểm khác cho xã hội nên việc xác định mối quan hệnhân quả giữa hành vi và hậu quả trên không chỉ có ý nghĩa về mặt định tội
mà còn có ý nghĩa trong quyết định hình phạt
Trang 401.2.2.3 Chủ thể của tội phạm
"Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt
độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể" [2].
Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xãhội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy Theoquy định của luật hình sự Việt Nam, người có năng lực trách nhiệm hình sự làngười đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp ởtrong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định tạiĐiều 13, Bộ luật hình sự Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy địnhtại Điều 12 Bộ luật hình sự cụ thể như sau:
1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọitội phạm
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệtnghiêm trọng [19]
Vì vậy, theo quy định của Điều 12 Bộ luật hình sự chủ thể của tội lừađảo chiếm đoạt tài sản phải:
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự trong mọitrường hợp lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định từ khoản 1 đến khoản 4Điều 139 Bộ luật hình sự
Người từ đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệmhình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu có hành vi thuộc khoản 3, khoản 4Điều 139 Bộ luật hình sự
Do chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường nênkhông có ngoại lệ đối với người nước ngoài, người không quốc tịch khi thựchiện hành vi lừa đảo trên lãnh thổ Việt Nam Trừ một số người được hưởng