Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội...3 Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luậ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH VŨ HÒA
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ KHI THAM GIA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH VŨ HÒA
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ KHI THAM GIA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Anh Sơn
Hà Nội, 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN 3
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội 3
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn 3
Tôi xin chân thành cảm ơn! 3
NGƯỜI CAM ĐOAN 3
MỞ ĐẦU 7
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN THAM GIA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 13
1.1 Khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán 13
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của Quỹ đầu tư chứng khoán 13
1.1.2 Định nghĩa quỹ đầu tư chứng khoán 16
1.1.3 Đặc điểm quỹ đầu tư chứng khoán 18
1.2 Phân loại quỹ đầu tư chứng khoán 22
1.2.1.Quỹ đại chúng 22
1.2.2 Quỹ thành viên 23
1.3 Đặc điểm của các nhà đầu tư chứng khoán tham gia quỹ đầu tư chứng khoán 24
* Khái niệm nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán 24
* Nhà đầu tư tham gia vào quỹ chứng khoán thường là những nhà đầu tư không chuyên, không có hiểu biết sâu sắc về thị trường chứng khoán 25
* Nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư không trực tiếp quản lý hoạt động đầu tư hàng ngày của quỹ 25
Trang 5* Nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán nhằm mục tiêu lợi nhuận thể hiện trên hai khía cạnh 26 1.4 Quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán 28 1.5 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán 30
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ THAM GIA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 35
2.1 Bảo vệ quyền sở hữu của nhà đầu tư 35 2.2 Bảo vệ quyền được hưởng lợi nhuận của nhà đầu tư phát sinh từ hoạt động đầu tư của quỹ đầu tư chứng khoán và quyền được lợi ích và tài sản được chia hợp pháp từ việc thanh
lý tài sản quỹ đầu tư chứng khoán 36 2.3 Biện pháp bảo vệ quyền giám sát của nhà đầu tư 37 2.4 Bảo vệ quyền được hạn chế và giảm thiểu rủi ro phát sinh trong hoạt động đầu tư cho nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán 41 2.4.1 Pháp luật quy định trong mỗi công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán phải có hệ thống quản trị rủi ro 42 2.4.2 Pháp luật quy định quỹ đầu tư phải có danh mục đầu tư hiệu quả 43 2.4.3 Pháp luật hạn chế các hoạt động tiềm ẩn rủi ro đối với quỹ 44 2.4.4 Nhà nước đặt ra những điều kiện ngặt nghèo nhằm đảm bảo công ty quản lý quỹ có đủ năng lực quản lý, vận hành quỹ 46 2.4.5 Nhà nước quản lý chặt chẽ việc thành lập quỹ, phát hành chứng chỉ quỹ, thay đổi, tổ chức lại quỹ nhằm đảm bảo chất lượng chứng chỉ quỹ trên thị trường chứng khoán 49 2.5 Bảo vệ quyền giao dịch chứng chỉ quỹ của nhà đầu tư 53 2.6 Bảo vệ quyền được cung cấp thông tin đầy đủ và kịp thời của nhà đầu tư 55 2.7 Quyền được tự bảo vệ của nhà đầu tư khi quyền và lợi ích của nhà đầu tư bị xâm hại .57 2.8 Nhà đầu tư được bảo vệ quyền nhận bồi thường thiệt hại hoặc nhận khoản đền bù thích hợp khi công ty quản lý quỹ hoặc ngân hàng giám sát có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho nhà đầu tư và quỹ đầu tư chứng khoán 58 Nhưng quy định về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hoặc thành lập quỹ dự phòng chưa có cơ chế cụ thể: 59 2.9 Nhà đầu tư có quyền được nhà nước bảo vệ khỏi các vi phạm pháp luật do các chủ thể liên quan thực hiện 59 2.9.1 Nhà nước bảo vệ nhà đầu tư bằng các chế tài hành chính 59
Trang 62.9.2 Nhà nước bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán bằng chế tài hình sự 61 2.10 Đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư chứng khoán tham gia quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam 64 2.10.1 Ưu điểm 64 2.10.2 Hạn chế 65 Tuy rằng pháp luật Việt Nam hiện đã xây dựng được một hệ thống các biện pháp nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư tương đối toàn diện mặc dù vậy vẫn còn nhiều rủi ro chưa kiểm soát và hạn chế được Các biện pháp hiện hành chủ yếu mới chỉ kiểm soát và hạn chế được đối với các loại rủi ro như rủi ro hoạt động, rủi ro tuân thủ Những loại rủi ro còn lại vẫn chưa có biện pháp nhằm kiểm soát
và hạn chế thích hợp Ví dụ như khi thị trường chứng khoán bị khủng hoảng, hoặc chịu tác động xấu từ sự khủng hoảng của nền kinh tế hoặc chịu tác động xấu từ chiến tranh, thiên tai, dịch họa … thì đi kèm theo đó là việc chứng khoán nói chung, chứng chỉ quỹ nói riêng bị giảm giá, giảm tính thanh khoản Vì vậy giá trị quỹ suy giảm nghiêm trọng Hiện nay pháp luật chưa đưa ra được biện pháp hữu hiệu nào nhằm giảm thiểu rủi ro này cho nhà đầu tư 65
Từ những thực trang trên đây cho thấy hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư chứng khoán khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam là một vấn đề hết sức bức xúc 67 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67 Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO
VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ KHI THAM GIA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 69
Từ những phân tích tại chương 2, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam như sau: 69 3.1 Cần có các quy định cụ thể về hoạt động của ngân hàng giám sát nhằm bảo vệ quyền được giám sát quỹ đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư 69 3.2 Điều chỉnh quy định về mức vốn pháp định của công ty quản lý quỹ nhằm hạn chế và giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư 69 3.3 Hoàn thiện các quy định về công bố thông tin, nhằm bảo vệ quyền được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác của nhà đầu tư 70 Cần hoàn thiện cơ chế pháp lý nhằm đảm bảo công khai, minh bạch thông tin Thông tin trên thị trường chứng khoán là nhân tố quan trọng giúp định hướng cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp và không chuyên Chính vì vậy việc đảm bảo thông tin trên thị trường chứng khoán được công khai, minh bạch không những chỉ cần hoàn thiện các
Trang 7văn bản pháp luật mà còn có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền 70
3.4 Quy định cụ thể về người đại diện cho quỹ tham gia tố tụng trong trường hợp quỹ tranh chấp với công ty quản lý quỹ để hoàn thiện biện pháp tự bảo vệ của nhà đầu tư 71
3.5 Pháp luật cần cụ thể hóa về trích lập quỹ dự phòng và tạo cơ chế nhằm phát triển nhiều sản phẩm dịch vụ bảo hiểm cho nhà đầu tư trên cơ sở đó giảm thiểu những thiệt hại do rủi ro phát sinh và đảm bảo quyền được bồi thường thiệt hại của quỹ và nhà đầu tư 71
* Quy định cụ thể việc trích sử dụng quỹ dự phòng khi công ty quản lý quỹ phá sản, giải thể để bảo đảm giá trị tài sản của quỹ, giá trị quỹ 72
3.6 Phân quyền xử lý vi phạm hành chính nhằm nâng cao hiệu quả biện pháp bảo vệ nhà đầu tư bằng chế tài hành chính 72
3.7 Hoàn thiện các biện pháp nhà nước bảo vệ nhà đầu tư bằng chế tài hình sự 73
3.8 Các biện pháp khác 73
3.8.1 Tuyên truyền và giáo dục nhằm nâng cao ý thức của nhà đầu tư về quyền lợi của mình 73
3.8.2 Nâng cao hoạt động áp dụng pháp luật 74
KẾT LUẬN 75
Danh mục tài liệu tham khảo 76
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư chứng khoán thông qua quỹ Đầu tư chứng khoán đang là một kênh đầu tư thu hút nhà đầu tư trên thế giới Hình thức đầu tư này được đánh giá cao bởi những ưu điểm như: được quản lý bởi những người chuyên nghiệp trong lĩnh vực chứng khoán, kế hoạch sử dụng vốn rõ ràng, được lập kế hoạch
kỹ lưỡng bởi các chuyên gia chứng khoán Nhờ đó danh mục đầu tư tuy đa dạng, phong phú nhưng có tính an toàn cao nên có thể giảm thiểu được rủi ro Bằng các lợi thế của mình Quỹ Đầu tư chứng khoán và các nhà đầu tư tổ chức chuyên nghiệp khác có thể trở thành chủ thể định hướng thị trường thị trường chứng khoán
Trang 8Mặc dù với nhiều ưu điểm như vậy nhưng tại thị trường chứng khoánViệt Nam, vai trò định hướng, dẫn dắt của quỹ đầu tư chứng khoán nói riêng,
tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp nói chung vẫn chưa được thể hiện
Tỷ trọng giao dịch mà các tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp thựchiện tại thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ chiếm 15% trong khi ở nhữngthị trường chứng khoán phát triển tỷ lệ này lên tới 85% [25]
Do đó với nỗ lực xây dựng thị trường chứng khoán lành mạnh, thực sựtrở thành một kênh thu hút vốn đầu tư hiệu quả, pháp luật Việt Nam cần đặcbiệt chú ý tới cơ chế phát triển hoạt động của các tổ chức đầu tư chứng khoánchuyên nghiệp trong đó có Quỹ Đầu tư chứng khoán
Ý thức được vấn đề này, tại Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 vềviệc phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn
2011 – 2020 và Quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày 06/12/2012 về việc phê duyệt
đề án "Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm", Chínhphủ Việt Nam đã khẳng định sẽ tập trung phát triển các nhà đầu tư tổ chức chuyênnghiệp trong đó có quỹ đầu tư chứng khoán
Để đạt mục tiêu này, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạmpháp luật nhằm tạo nên một hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động củaQuỹ đầu tư chứng khoán Vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhàđầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán cũng đã nhận được sự quan tâmnhất định Các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu
tư chứng khoán đã được ghi nhận tại các văn bản pháp luật như: Luật chứngkhoán năm 2006, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoánngày 24 tháng 11 năm 2010 Các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa nhà đầu tư chứng khoán cũng được xây dựng và ghi nhận trong nhiều vănbản pháp luật ví dụ như: Nghị định 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và
Trang 9hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổsung một số điều của luật chứng khoán, Thông tư số 183/2011/TT-BTC ngày16/12/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc thành lập và quản lý quỹ mở,Thông tư số 224/2012/TT-BTC ngày 26/12/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn
về thành lập và quản lý quỹ đóng, quỹ thành viên …
Mặc dù vậy pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu
tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán vẫn còn nhiều hạn chế và còn nhiềuđiểm chưa phát huy tác dụng khi áp dụng vào thực tiễn Trong khi đó bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư là biện pháp hiệu quả nhất nhằm thuhút nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán Vì vậy việc nghiên cứu mộtcách toàn diện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tưchứng khoán tham gia Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam để từ đó đề ragiải pháp hoàn thiện cần được tiến hành kịp thời Hay nói cách khác việcnghiên cứu đề tài “Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu
tư chứng khoán tham gia quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam” là một vấn đề
về môi trường kinh doanh” được Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế
công bố năm 2010 Những nghiên cứu này đánh giá và xếp hạng mức độ bảo
vệ nhà đầu tư dựa trên một số tiêu chí nhất định mà không đi sâu phân tích vềvấn đề bảo vệ nhà đầu tư nói chung và bảo vệ nhà đầu tư trong quỹ đầu tưchứng khoán nói riêng
Trang 10Bên cạnh đó, nhiều nhà khoa học trong nước thuộc các lĩnh vực khácnhau đã dành sự quan tâm nhất định tới vấn đề bảo vệ nhà đầu tư Đáng chú ý
là một số công trình như: luận văn thạc sĩ “Pháp luật về quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam” của Võ Thị Mỹ Hương, luận văn thạc sĩ “Bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung theo pháp luật Việt Nam” của Phạm Thanh Tú và luận án tiến sỹ: “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam” của Thạc sỹ Hoàng Thị Quỳnh Chi Trong các công trình
nghiên cứu này, tác giả đã tập trung luận giải một số vấn đề lý luận và thựctiễn xung quanh hoạt động của quỹ đầu tư, yêu cầu bảo vệ quyền lợi của nhà đầu
tư Nhưng cho đến nay, ở Việt Nam chưa có một công trình nghiên cứu nào đềcập, đánh giá một cách có hệ thống và đầy đủ nhất về vấn đề bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán dưới góc độpháp luật
Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của nhà đầu tư chứng khoán tham gia quỹ đầu tư chứng khoán ở ViệtNam” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình, nhằm nghiên cứu góp phần hoànthiện vấn đề bảo vệ nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán
3 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
* Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ các quy định của phápluật về quyền và lợi ích của nhà đầu tư tham qua quỹ đầu tư chứng khoán Tácgiả tập trung phân tích quy định thực trạng quy định pháp luật và áp dụngpháp luật tại Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
Trang 11nhà đầu tư chứng khoán tại Việt Nam Từ sự phân tích này, tác giả sẽ tổng hợpvấn đề để đưa ra ý kiến, nhận định cho vấn đề được xem xét.
* Phương pháp so sánh
Khi xem xét các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán, tác giả có so sánh vớipháp luật của một số nước để thấy được những điểm hợp lý hoặc còn bất cậptrong việc điều chỉnh cơ chế bảo vệ nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứngkhoán ở Việt Nam Từ đó, có thể đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả của các quy định đối với vấn đề này
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ duy vật lịch sử
4 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Với luận văn này tác mong muốn:
- Làm rõ cơ sở lý luận về quyền và lợi ích hơp pháp của nhà đầu tưchứng khoán tham gia quỹ đầu tư chứng khoán cũng như các biện pháp bảo
vệ nhà đầu tư chứng khoán khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán
- Đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của các nhàđầu tư chứng khoán tham gia quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về bảo vệquyền và các lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư chứng khoán tham gia quỹ đầu
tư chứng khoán tại Việt Nam
Luận văn này tập trung vào việc phân tích quyền và lợi ích hợp pháp củanhà đầu tư trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và công ty quản lý quỹ, giữa nhàđầu tư tham qua quỹ đầu tư chứng khoán và cơ quan quản lý nhà nước, không
đề cập tới mối quan hệ giữa nhà đầu tư với các tổ chức như: công ty chứng
Trang 12khoán, công ty niêm yết, công ty/tổ chức mà quỹ đầu tư đầu tư vào Luận vănnày cũng không đề cập tới quy định nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư trênthị trường vốn ở Việt Nam cũng như sự tham gia của các quỹ đầu tư nướcngoài tại Việt Nam
5 Tính mới của luận văn
Luận văn là công trình tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp pháp lý vềbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tưchứng khoán Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và đánh giá thựctrạng bảo vệ nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán, tác giả nêu lênnhững kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận văn gồm 3 chương được kết cấu như sau:
Chương 1 Khái quát chung về quỹ đầu tư chứng khoán và pháp luật về bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư chứng khoán tham gia quỹ đầu tưchứng khoán
Chương 2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ nhà đầu tư chứng khoántham gia quỹ đầu tư chứng khoán
Chương 3 Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ nhà đầu tư chứngkhoán khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam
Trang 13Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN THAM GIA QUỸ ĐẦU TƯ
CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 1.1 Khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của Quỹ đầu tư chứng khoán
Khi tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán và các hoạt động đầu tưkhác nhà đầu tư sẽ gặp phải muôn vàn khó khăn, sự khó khăn nhất đó chính làlựa chọn chứng khoán để đầu tư Nhà đầu tư phải có bản lĩnh, kiến thứcchuyên môn và thông tin đầy đủ để đánh giá mức độ sinh lợi của loại chứngkhoán mà mình đầu tư vào Nhưng trên thực tế không phải nhà đầu tư nàocũng có đầy đủ các điều kiện nêu trên Bên cạnh đó nhằm phân tán rủi ro nhàđầu tư còn có nhu cầu đa dạng hóa danh mục đầu tư, họ cần phải đầu tư vàonhiều loại chứng khoán Nhưng nhu cầu này lại vấp phải rào cản là khả năngtài chính của mỗi nhà đầu tư, với số tiền ít ỏi của một nhà đầu tư thì việc đadạng hóa danh mục đầu tư gặp rất nhiều khó khăn Vì những lý do này nhàđầu tư cần phải đầu tư thông qua tổ chức chuyên nghiệp và quỹ đầu tư chứngkhoán ra đời Như vậy quỹ đầu tư chứng khoán ra đời chính do nhu cầu nộitại của thị trường chứng khoán
Xuất hiện lần đầu tại Châu Âu vào thế kỷ 18, loại hình quỹ đầu tư chứngkhoán đã thu hút được sự tham gia đông đảo của công chúng và đã trở thànhmột định chế tài chính không thể thiếu được Các Quỹ đầu tư ban đầu đượcthành lập theo kiểu Quỹ tín thác đầu tư (Investment Trust) Quỹ tín thác đầutiên do vua William I của Hà Lan thành lập tại Brussels – Bỉ Quỹ này đượclập ra để tạo điều kiện cho Hà Lan có thể đưa tiền đầu tư ra nước ngoài dướidạng các khoản vay của chính phủ Tuy nhiên, phải đến khi cuộc cách mạng
Trang 14công nghiệp bùng nổ ở Anh thì các Quỹ đầu tư mới thực sự phát triển Cuộccách mạng công nghiệp này đã đưa nước Anh thành một quốc gia thịnh vượngnhất Châu Âu, sở hữu những nguồn vốn lớn Trong khi đó, các nước lánggiềng ở Châu Âu hay Mỹ thì lại đang thiếu vốn trầm trọng Vì vậy, các nướcthiếu vốn đã phát hành rất nhiều công cụ nợ với lãi suất hấp dẫn nhằm thu hútvốn cho quá trình đầu tư ra nước ngoài, nhưng việc đầu tư này thường gặpphải những khó khăn do không tiếp cận được những thông tin cần thiết vàthiếu những hiểu biết về môi trường đầu tư nước ngoài Trước tình hình đó,một số nhà đầu tư đã lập ra Quỹ đầu tư hải ngoại và thuê những chuyên giahiểu biết về đầu tư nước ngoài đứng ra quản lý Đây chính là tiền thân của cácQuỹ đầu tư phổ biến trên thị trường tài chính hiện nay
Vào những năm đầu của thập kỷ 60 thế kỷ 19, các công ty tín thác tương
tự như của Hà Lan được lập ra ở Anh và Scotland Hiệp hội tài chính London(London Financial Association) và Tập đoàn tài chính quốc tế (InternationalFinancial Society) thành lập năm 1863 được coi là những công ty tín thác đầutiên của Anh Các thương nhân Anh và Scotland ngày đó muốn tìm kiếm nhiềulợi nhuận hơn nên đã đem các khoản tiền đầu tư của họ ra nước ngoài và đặcbiệt là đầu tư vào các chứng khoán của Mỹ với tỷ suất lợi nhuận cao Từ năm
1900 đến 1914, một lượng tiền khổng lồ từ các nhà đầu tư Anh đã đổ vào Mỹđặc biệt trong lĩnh vực đường sắt, năng lượng Quỹ đầu tư chứng khoán ngànhđường sắt và năng lượng (The Railway and Light Securities Fund) là quỹ đóngđầu tiên của Mỹ áp dụng các quỹ cho vay làm đòn bẩy để thâu tóm chứngkhoán đã ra đời năm 1904 Vào những năm 1920, mô hình công ty tín thác đầu
tư bùng nổ ở Mỹ đáp ứng sở thích đầu cơ của các nhà đầu tư
Thế nhưng, cuộc Đại suy thoái 1929 - 1933 đã làm ảnh hưởng nặng nềtới các Quỹ đầu tư Chỉ sau Chiến tranh thế giới thứ 2, các Quỹ đầu tư mới bắtđầu được khôi phục và phát triển trở thành một định chế trung gian ưu việt
Trang 15như hiện nay Điều này một phần là nhờ hệ thống luật định làm khuôn khổpháp lý cho sự hoạt động của các quỹ ngày càng được hoàn thiện Tại Mỹ, hai
dự luật làm cơ sở căn bản nhất cho hoạt động chứng khoán là Luật Chứngkhoán (The Securities Act, 1933) và Luật về Sở giao dịch chứng khoán (TheSecurities Exchange Act, 1934) Cũng từ năm 1934, Uỷ ban chứng khoán của
Mỹ (SEC) bắt đầu nghiên cứu những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc Đạisuy thoái, soạn thảo và cho ra đời Luật Công ty đầu tư (Investment CompanyAct, 1940) Phần lớn các Quỹ đầu tư bắt đầu ra đời hoặc được tái lập sau năm
1940 để đáp ứng các quy định của đạo luật này Đến năm 1995, luật này lạiđược sửa đổi nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo an toàn hơn nữa chongười đầu tư đồng thời cho phép các quỹ được áp dụng các nghiệp vụ đầu tưmới nhất
Ở Châu Á, ngay từ năm 1937 ở Nhật Bản đã xuất hiện một số quỹ tương
tự như Quỹ đầu tư Đây là một tổ chức do một số nhà đầu tư thành lập nên đểlợi dụng các dịch vụ đầu tư do công ty chứng khoán cung cấp Đây chính làmầm mống cho sự ra đời các Quỹ đầu tư về sau của Nhật Tại Nhật Bản, Luậttín thác (Trust Law) và Luật kinh doanh tín thác (Trust Business Law) là các
bộ luật điều chỉnh hoạt động của các Quỹ đầu tư
Không chỉ ở các nước có nền tài chính phát triển như Anh, Mỹ…, môhình Quỹ đầu tư còn giữ một vị trí quan trọng trên các thị trường chứng khoánmới nổi Việc thành lập các Quỹ đầu tư ở thị trường này bắt nguồn từ nhu cầucủa những nền kinh tế còn yếu kém nhiều mặt, đòi hỏi phải cải thiện khả năngthanh toán và trợ giúp cơ sở hạ tầng phát triển
Nói tóm lại, hoạt động của các Quỹ đầu tư phát triển không ngừng, mởrộng trên tất cả các thị trường chứng khoán thế giới Nắm trong tay một lượngvốn khổng lồ, các Quỹ đầu tư ngày càng chứng tỏ vai trò của mình – một định
Trang 16chế tài chính trung gian quan trọng đáp ứng nhu cầu của người đầu tư vàngười nhận đầu tư cũng như của cả nền kinh tế.
Tại Việt Nam, tiếp nhận các bài học, kinh nghiệm của các nước trên thếgiới, ngay từ khi hình thành thị trường chứng khoán chính thức vào năm
2000, pháp luật đã dự liệu và có những quy định về việc thành lập quỹ đầu tưchứng khoán Mặc dù vậy mãi tới năm 2004, quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiênmới ra đời đó là quỹ đầu tư chứng khoán VF1 do công ty liên quỹ đầu tưchứng khoán doanh quản lý quỹ Việt Nam VFM thành lập [31] Cho tới nayViệt Nam đã có 24 quỹ đầu tư chứng khoán [27]
1.1.2 Định nghĩa quỹ đầu tư chứng khoán
Từ lịch sử hình thành và phát triển của quỹ đầu tư chứng khoán trên thếgiới ta nhận thấy quỹ là một hiện tượng khách quan, ra đời do nhu cầu cấpthiết của nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư quản trị, sử dụng đồng vốn của mình mộtcách hợp lý nhất Tại Việt Nam hiện đang có một số quan điểm về quỹ đầu tưchứng khoán như sau:
Dưới góc độ kinh tế quỹ đầu tư chứng khoán là một tập hợp nhữngkhoản tiền từ những người đầu tư được hình thành từ việc phát hành cácchứng chỉ huy động vốn (chứng chỉ quỹ đầu tư) để đầu tư vào các công cụtrên thị trường tài chính [24, tr297]
Dưới góc độ khoa học pháp lý quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ tiền hìnhthành từ vốn góp của các nhà đầu tư để đầu tư chủ yếu vào chứng khoánnhằm tìm kiếm lợi nhuận [23, tr256]
Khoản 27 Điều 6 Luật chứng khoán Việt Nam năm 2006 định nghĩa: Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư vớimục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài
Trang 17sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểmsoát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ.
Từ những định nghĩa trên ta rút ra kết luận: quỹ đầu tư chứng khoán hìnhthành từ sự góp vốn của nhiều nhà đầu tư nhằm mục đích sinh lợi bằng cáchđầu tư vào chứng khoán, các công cụ trên thị trường tài chính (bao gồm cảchứng khoán và các công cụ tài chính khác) và các dạng tài sản đầu tư khác
Sở dĩ Luật Chứng khoán Việt Nam quy định quỹ đầu tư chứng khoánViệt Nam có lĩnh vực hoạt động rộng như vậy vì thị trường chứng khoán ViệtNam chưa phát triển, hàng hóa trên thị trường chưa thật chất lượng và nhiềulựa chọn cho quỹ đầu tư chứng khoán, nếu chỉ gói gọn lĩnh vực hoạt độngtrong lĩnh vực chứng khoán thì quỹ đầu tư không có điều kiện đa dạng hóadanh mục đầu tư và không thể phân tán tốt rủi ro
Trên thế giới quỹ đầu tư chứng khoán được tổ chức dưới hai hình thức làquỹ dạng hợp đồng không có tư cách pháp nhân và quỹ dạng công ty có tư cáchpháp nhân Từ định nghĩa của quỹ được phân tích ở phần trên cho thấy tại ViệtNam quỹ đầu tư chứng khoán được tổ chức dưới dạng không phải là pháp nhân.Nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán chính là một hình thức ủy thác chocông ty quản lý quỹ quản và đầu tư phần vốn của mình
Hình thức quỹ dạng công ty được pháp luật Việt Nam gọi là công ty đầu tưchứng khoán
Luận văn này thống nhất cách hiểu quỹ đầu tư chứng khoán theo định
nghĩa tại Luật Chứng khoán như sau: “Quỹ đầu tư chứng khoán là một quỹ tiền tệ do nhiều nhà đầu tư đóng góp với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu
tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ.”
Trang 181.1.3 Đặc điểm quỹ đầu tư chứng khoán
Quỹ đầu tư chứng khoán có các đặc điểm cơ bản sau đây:
*Một là quỹ đầu tư chứng khoán được hình thành từ vốn góp của các nhàđầu tư
Quỹ đầu tư chứng khoán bản chất là một quỹ tiền tệ do các nhà đầu tưđóng góp nhằm đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản khác theo địnhhướng được nêu tại Điều lệ quỹ và quyết định của Đại hội nhà đầu tư Haynói cách khác, quỹ là sự tập hợp vốn của các nhà đầu tư đơn lẻ nhằm cùng tậptrung đầu tư theo định hướng đã đề ra
Các nhà đầu tư được hưởng lợi nhuận từ từ hoạt động đầu tư của quỹ đầu
tư chứng khoán tương ứng với tỷ lệ vốn góp và hưởng các lợi ích và tài sảnđược chia hợp pháp từ việc thanh lý tài sản quỹ đầu tư chứng khoán;
*Hai là các nhà đầu tư – chủ sở hữu tài sản trong quỹ không có quyềnkiểm soát hoạt động hàng ngày đối với hoạt động của quỹ
Việc quản lý hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán được giao cho công
ty quản lý quỹ Đặc điểm này thể hiện rõ nét trong suốt quá trình thành lập vàhoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
Công ty quản lý quỹ có vai trò quan trọng trong việc thành lập quỹ đầu
tư chứng khoán Đối với quỹ đại chúng: công ty quản lý quỹ có trách nhiệmlập phương án phát hành và phương án đầu tư số vốn thu được từ đợt chàobán chứng chỉ quỹ phù hợp với quy định pháp luật Sau đó công ty quản lýquỹ có trách nhiệm đăng ký chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng Kết thúcđợt chào bán, nếu đã đủ điều kiện để thành lập quỹ theo quy định pháp luật,công ty quản lý quỹ có trách nhiệm gửi thông báo về kết quả chào bán chứngchỉ quỹ và đăng ký thành lập quỹ lên Ủy ban chứng khoán nhà nước để được
Trang 19cấp giấy chứng nhận đăng ký thành lập quỹ Đối với quỹ thành viên: sau khicác nhà đầu tư hoàn tất các bước góp vốn, ký hợp đồng với công ty quản lýquỹ, công ty quản lý quỹ có trách nhiệm báo cáo về việc thành lập quỹ lên Ủyban chứng khoán nhà nước để được cấp giấy chứng nhận thành lập quỹ.
Quỹ đầu tư chứng khoán hoạt động trên cơ sở các nhà đầu tư của quỹthống nhất ủy thác hoạt động đầu tư của mình cho công ty quản lý quỹ Công
ty quản lý quỹ có vai trò thiết lập và điều hành mọi mặt hoạt động của quỹđầu tư chứng khoán Các nhà đầu tư giao cho công ty quản lý quỹ quản lý tàisản của quỹ và có trách nhiệm không ngừng gia tăng tài sản của quỹ Công tyquản lý quỹ được trả phí từ sự gia tăng tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán
* Ba là quỹ đầu tư chứng khoán không có tư cách pháp nhân
Như đã nêu ở phần trên, quỹ đầu tư chứng khoán chỉ là một quỹ tài chính
do các nhà đầu tư cùng đóng góp và ủy thác cho Công ty quản lý quỹ quản lý
và tiến hành các hoạt động đầu tư Tài sản của quỹ là tài sản của các nhà đầu
tư Do đó, Quỹ đầu tư không phải là một tổ chức có tư cách pháp nhân
* Bốn là quỹ đầu tư chứng khoán là loại quỹ đầu tư có lĩnh vực hoạtđộng chủ yếu là chứng khoán
Quỹ đầu tư chứng khoán chủ yếu đầu tư trên thị trường chứng khoán Từlịch sử hình thành và phát triển của quỹ đầu tư chứng khoán thế giới và ViệtNam chúng ta có thể nhận thấy quỹ đầu tư chứng khoán ra đời nhằm đáp ứngnhu cầu của những nhà đầu tư không chuyên Đây là đối tượng không có tiềmlực tài chính, không am hiểu thị trường chứng khoán và khó có lợi thế vềthông tin trên thị trường chứng khoán Mặc dù vậy họ vẫn muốn tham gia thịtrường chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận Vì vậy trên thực tế quỹ đầu tưchứng khoán chủ yếu đầu tư vào chứng khoán Pháp luật Việt Nam cũng quyđịnh quỹ mở không được dùng quá 49% tổng giá trị tài sản của quỹ vào các
Trang 20tài sản là giấy tờ có giá, công cụ chuyển nhượng và gửi tiền tại các tổ chức tíndụng Quỹ đóng không được dùng quá 10% tổng giá trị tài sản của quỹ vàobất động sản và Cổ phiếu chưa niêm yết, cổ phiếu chưa đăng ký giao dịch củacông ty đại chúng; trái phiếu chưa niêm yết của các tổ chức phát hành hoạtđộng theo pháp luật Việt Nam; cổ phiếu của công ty cổ phần, phần vốn góp tạicông ty trách nhiệm hữu hạn
1.1.4 Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán
*Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư
Quỹ đầu tư chứng khoán giúp nhà đầu tư phân tán rủi ro tốt hơn Khimột quỹ tập hợp vốn của nhiều nhà đầu tư sẽ tạo ra một khối lượng vốn lớn.Khối lượng vốn lớn giúp cho quỹ có khả năng tham gia vào nhiều hạng mụcđầu tư hay nói cách khác các nhà đầu tư có cơ hội đa dạng hóa danh mục đầu
tư – điều mà nếu đứng riêng lẻ họ khó có khả năng kinh tế để thực hiện Khiđầu tư vào nhiều hạng mục đầu tư sẽ làm rủi ro phân tán và ổn định thu nhập
vì giả sử một hạng mục đầu tư nào đó thất bại thì vẫn còn những hạng mụcđầu tư khác thành công sẽ giúp cho nhà đầu tư duy trì được tình trạng tàichính vững vàng
Quỹ đầu tư chứng khoán giúp nhà đầu tư tăng tính chuyên nghiệp, hiệuquả của hoạt động đầu tư Quỹ đầu tư được quản lý bởi công ty quản lý quỹ -một chủ thể có đội ngũ nhân viên có kiến thức, kỹ năng chuyên nghiệp vàkinh nghiệm trong hoạt động đầu tư Nhờ vậy việc phân tích đánh giá cáchạng mục đầu tư tốt hơn từ đó giúp cho các quyết định đầu tư hiệu quả hơn,đúng đắn hơn
Quỹ đầu tư chứng khoán giúp nhà đầu tư giảm thiểu chi phí giao dịch.Quỹ đầu tư thường thực hiện các lệnh mua bán chứng khoán lớn, thực hiện cáchạng mục đầu tư có tính tập thể, do đó nếu chia chi phí giao dịch này cho từng
Trang 21nhà đầu tư thì sẽ nhỏ hơn mức phí mà từng nhà đầu tư bỏ ra nếu hoạt độngriêng lẻ Vì vậy chi phí trong hoạt động đầu tư sẽ được giảm thiểu đáng kể.
*Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán với thị trường chứng khoán
Quỹ đầu tư chứng khoán góp phần ổn định thị trường chứng khoán.Quỹ đầu tư chứng khoán được quản lý, điều hành bởi những chuyên gia amhiểu thị trường chứng khoán Nhờ đó quỹ có tầm nhìn chiến lược lâu dài Bêncạnh đó quỹ có khả năng phân tích thông tin tốt hơn và có khả năng tiếp cậnđược với những nguồn thông tin tốt mà nhà mà nhà đầu tư nhỏ khó có được
Do đó việc nắm giữ chứng khoán của quỹ đầu tư mang tính lâu dài và ổnđịnh Hơn nữa nhờ quy mô vốn lớn, lượng chứng khoán quỹ sở hữu là rất lớn.Đây chính là lý do khiến quỹ đầu tư chứng khoán giúp bình ổn thị trườngchứng khoán
Quỹ đầu tư chứng khoán góp phần giúp tăng cung - cầu về chứngkhoán Điểm này thể hiện trên hai khía cạnh thứ nhất quỹ đầu tư chứng khoán
ra đời giúp thị trường chứng khoán có thêm một loại hàng hóa đó là chứng chỉquỹ Thứ hai quỹ đầu tư chứng khoán góp phần thúc đẩy các công ty niêm yếtchứng khoán Quỹ đầu tư chứng khoán có nhu cầu hoạt động trong môitrường có tính thanh khoản cao mà thị trường không niêm yết không thể đápứng nhu cầu này Vì vậy các quỹ đầu tư chứng khoán sẽ tích cực thúc đẩy các
cổ phần của các công ty quỹ mà quỹ đầu tư vào ra thị trường niêm yết Đây làđộng lực cho sự phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán
Quỹ đầu tư chứng khoán góp phần phát triển các thị trường vốn và tăngcường năng lực quản trị doanh nghiệp Sự tham gia của quỹ đầu tư chứngkhoán vào thị trường vốn giúp thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển có trật tự,
ổn định của cả thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu Ngoài ra sự củng
cố vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán cũng giúp năng lực quản trị của doanhnghiệp tốt hơn
Trang 22Hoạt động của quỹ đầu tư giúp nâng cao chuẩn mực và chất lượng quản
lý đầu tư Các quỹ được quản lý bởi các tổ chức chuyên nghiệp, mang tínhchuyên môn hóa cao; các tổ chức này thực hiện các nghiên cứu một cách chặtchẽ và giám sát, theo dõi một cách cẩn trọng các loại chứng khoán mà quỹđầu tư vào Nhờ đó chất lượng quản lý đầu tư được nâng cao
Hoạt động hữu hiệu của quỹ đầu tư chứng khoán có thể làm tăng lượngtiền đầu tư Khi thị trường có một hệ thống quỹ đầu tư chứng khoán hoạt độnghiệu quả thì sẽ lôi kéo được lượng tiền nhàn rỗi, tiền tiết kiệm sang quỹ đầu tưđầu tư chứng khoán Đây là một biện pháp giúp tăng lượng tiền đầu tư trongnền kinh tế
1.2 Phân loại quỹ đầu tư chứng khoán
Theo Điều 82 Luật Chứng khoán Việt Nam năm 2006, quỹ đầu tư chứngkhoán gồm hai loại là: Quỹ đại chúng và Quỹ thành viên Quỹ đại chúng gồm:quỹ mở và quỹ đóng
1.2.1.Quỹ đại chúng
Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉquỹ ra công chúng
Quỹ đại chúng được chia làm hai loại gồm Quỹ mở và quỹ đóng
Quỹ mở là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúngphải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư
Quỹ đóng là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúngkhông được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư
Quỹ đại chúng được thành lập như sau:
Trang 23Công ty quản lý quỹ đứng ra huy động vốn lần đầu bằng hình thức pháthành chứng chỉ quỹ Việc phát hành chứng chỉ quỹ lần đầu phải được đăng kývới Ủy ban chứng khoán
Quỹ chỉ được thành lập nếu sau khi kết thúc đợt phát hành chứng chỉ quỹ(thường là 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thực hiện lệnh chào bán hoặc 120 ngàynếu được gia hạn) mà có ít nhất một trăm (100) nhà đầu tư, không kể nhà đầu
tư chứng khoán chuyên nghiệp, tham gia góp vốn và tổng giá trị chứng chỉquỹ đã bán đạt ít nhất là năm mươi (50) tỷ đồng Việt Nam, giá trị chứng chỉquỹ đã bán so với mức vốn dự kiến huy động của Quỹ phải vượt một tỷ lệ tốithiểu đã được quy định rõ trong Điều lệ Quỹ và Bản Cáo bạch, tỷ lệ tối thiểunày phải không thấp hơn 80% mức vốn dự kiến huy động của Quỹ trong đợtchào bán
Sau khi được thành lập Quỹ có thể tăng vốn Điều lệ bằng cách phát hànhthêm chứng chỉ quỹ cho các thành viên hiện hữu, nếu các thành viên hiện hữukhông mua thì có thể huy động các nhà đầu tư khác Việc tăng vốn phải đảmbảo các quy định tại Điều lệ của quỹ và quy định pháp luật
1.2.2 Quỹ thành viên
Quỹ thành viên là quỹ đầu tư chứng khoán có số thành viên tham gia gópvốn không vượt quá ba mươi thành viên và chỉ bao gồm thành viên là phápnhân [1, Điều 6]
Quỹ thành viên được thành lập trên cơ sở hợp đồng góp vốn của cácthành viên Quỹ thành viên được thành lập khi có không quá 30 nhà đầu tưtham gia, tổng vốn Điều lệ ít nhất là năm mươi (50) tỷ và có Công ty quản lýquỹ quản lý, Tài sản của Quỹ thành viên được lưu ký tại một Ngân hàng lưu
ký không phải là người có liên quan với Công ty quản lý quỹ Các thành viêncủa quỹ phải là các tổ chức
Trang 24Quỹ thành viên được tăng giảm vốn theo quy định tại Điều lệ quỹ vàđược Ủy ban chứng khoán cho phép.
Ngoài các loại quỹ cơ bản nêu trên hiện nay tại Việt Nam còn xuất hiệnmột số loại quỹ như: quỹ đầu tư bất động sản, quỹ hoán đổi danh mục (quỹETF) Thực ra các loại quỹ này được phân loại dựa trên lĩnh vực hoạt động,lĩnh vực đầu tư chủ yếu của quỹ Đây thực chất là các dạng quỹ đại chúng,quỹ đầu tư bất động sản được hình thành dưới dạng quỹ đóng còn quỹ hoánđổi danh mục được hình thành dưới dạng quỹ mở
1.3 Đặc điểm của các nhà đầu tư chứng khoán tham gia quỹ đầu tư chứng khoán
* Khái niệm nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán
Theo Luật chứng khoán Việt Nam năm 2006, nhà đầu tư là tổ chức, cánhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên thị trườngchứng khoán
Theo Luật đầu tư năm 2005, nhà đầu tư là là tổ chức, cá nhân thực hiệnhoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam Đầu tư là việc nhàđầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tàisản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định pháp luật
Như vậy địa nghĩa của nhà đầu tư theo Luật đầu tư rộng hơn Luật chứngkhoán Nhà đầu tư theo giải thích của Luật đầu tư bao hàm cả nhà đầu tư theođịnh nghĩa của Luật chứng khoán
Từ những quy định nêu trên chúng ta có thể đi đến kết luận nhà đầu tư
tham gia quỹ đầu tư chứng khoán là: tổ chức, cá nhân bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để tham gia quỹ đầu tư chứng khoán, trở thành thành viên góp vốn của quỹ đầu tư chứng khoán nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Trang 25Nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán có các đặc điểm được nêudưới đây
* Nhà đầu tư tham gia vào quỹ chứng khoán thường là những nhà đầu tưkhông chuyên, không có hiểu biết sâu sắc về thị trường chứng khoán
Theo Điều 90 Luật chứng khoán, quỹ đại chúng phải có ít nhất là 100thành viên quỹ không kể nhà đầu tư chuyên nghiệp (ngân hàng thương mại,công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổchức kinh doanh chứng khoán – Khoản 11 Điều 6 Luật chứng khoán) Quỹthành viên có tối đa 30 thành viên là các pháp nhân (Điều 95 Luật chứngkhoán) Và trên thực tế thành viên của quỹ đầu tư chứng khoán phần lớn làcác nhà đầu tư chứng khoán không chuyên, nhà đầu tư nhỏ, lẻ Đây cũngchính là những đối tượng dễ chịu tác động bởi những rủi ro trên thị trườngchứng khoán
* Nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư không trực tiếp quản lý hoạt động đầu tưhàng ngày của quỹ
Nhằm bảo vệ mình các nhà đầu tư không chuyên đã tham gia quỹ đầu tưchứng khoán và ủy thác toàn bộ thương vụ của mình cho người khác (Công tyquản lý quỹ) Như đã phân tích kỹ ở trên, khi tham gia quỹ đầu tư chứngkhoán các nhà đầu tư không quản lý hoạt động đầu tư thường ngày của quỹ
mà những hoạt động này do Công ty quản lý quỹ điều hành Điều này mộtphần đã giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư vì hoạt động đầu tư của họ đượctrao cho những người chuyên nghiệp, có chiến lược đầu tư được xây dựng kỹlưỡng, danh mục đầu tư đa dạng và có tính an toàn cao Tuy nhiên chắc chắnđiều đó cũng không thể loại trừ được hết những rủi ro có thể xảy đến với nhàđầu tư vì rủi ro trong đầu tư có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất kỳ ai
Trang 26Hơn nữa khi phó thác tài sản của mình cho người khác để họ toàn quyềnthực hiện các hoạt động đầu tư thì nhà đầu tư đang trong thế yếu và dễ bị tổnthương, dễ bị xâm phạm bởi công ty quản lý quỹ và các chủ thể có liên quan.
* Nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán nhằm mục tiêu lợi nhuận thểhiện trên hai khía cạnh
Thứ nhất nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán nhằm hưởng lợiích trực tiếp từ quỹ (hưởng lợi nhuận từ hoạt động đầu tư của quỹ, được chiatài sản còn lại sau khi thanh lý quỹ)
Thứ hai khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư vẫn có thểchuyển nhượng chứng chỉ quỹ/phần vốn góp của mình Như vậy họ vẫn đượcchủ động tự mình tham gia thị trường chứng khoán với hàng hóa - đối tượnggiao dịch là chứng chỉ quỹ/phần vốn góp trong quỹ Khi chủ động tham giathị trường với hàng hóa là chứng chỉ quỹ/phần vốn góp trong quỹ, nhà đầu tư
sẽ chịu tác động của thị trường như mọi nhà đầu tư khác
* Nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán phải đối mặt với nhiều rủi roRủi ro là việc xảy ra không được như mong muốn Rủi ro là một phầncủa đầu tư, bất kể đầu tư vào loại tài sản nào, theo hình thức nào, bao giờ nhàđầu tư cũng có thể gặp những rủi ro tiềm ẩn nhất định khiến cho tài sản hoặclợi nhuận của nhà đầu tư bị giảm sút hoặc có thể bị mất toàn bộ
Mặc dù bản thân việc tham gia quỹ đầu tư chứng khoán đã là một hoạtđộng nhằm giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư nhưng không có nghĩa khi thamgia quỹ đầu tư chứng khoán là nhà đầu tư không phải đối mặt với bất kỳ rủi ronào Với đặc điểm chủ yếu là nhà đầu tư nhỏ, không chuyên, đã ủy thác tàisản của mình cho người khác đầu tư, nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tưchứng khoán là đối tượng dễ bị xâm phạm, dễ bị tác động bởi nhiều rủi ro
Trang 27Việc tìm hiểu rủi ro là rất quan trọng, giúp cho nhà đầu tư có quyết định đầu
tư đúng đắn cũng như giúp các nhà hoạch định chính sách có phương án hạn chếrủi ro, góp phần thúc đẩy sự phát triển của quỹ đầu tư chứng khoán nói riêng vàthị trường chứng khoán nói chung Không những vậy nghiên cứu, đánh giá tácđộng của mỗi loại rủi ro đối với nhà đầu tư còn là tiền đề để xây dựng các biệnpháp nhằm đề phòng, kiểm soát, giảm thiểu rủi ro – vấn đề trọng tâm trong hoạtđộng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các nhà đầu tư
Sau đây là một số rủi ro chủ yếu có thể xảy ra khi nhà đầu tư đầu tư vào quỹ: Rủi ro hoạt động: là rủi ro xảy ra do lỗi kỹ thuật, lỗi hệ thống và quytrình nghiệp vụ, lỗi con người trong quá trình tác nghiệp hoặc do thiếu vốnkinh doanh phát sinh từ các khoản chi phí, lỗ từ hoạt động đầu tư, hoặc do cácnguyên nhân khách quan khác
Rủi ro uy tín: là rủi ro mà các nhà đầu tư phải đối mặt trong trường hợpcông ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán mình đầu tư bị mất uy tín, lòngtin, mức độ tín nhiệm của nhà đầu tư, kể cả trường hợp do các nguyên nhânkhách quan
Rủi ro thanh khoản: là rủi ro khi không thể bán, không thể chuyển đổicác tài sản trong danh mục thành tiền mặt với giá trị hợp lý do thiếu hụt thanhkhoản trên thị trường
Rủi ro thanh toán: là rủi ro khi đối tác không thể thanh toán đúng hạnhoặc không thể chuyển giao tài sản đúng như cam kết
Rủi ro thị trường: là rủi ro do biến động giá trị thị trường của các tài sản
và công cụ tài chính
Rủi ro tuân thủ: là rủi ro phát sinh trong trường hợp công ty quản lý quỹ,nhân viên của công ty quản lý quỹ vi phạm hoặc không tuân thủ các quy định
Trang 28của pháp luật, quy định tại điều lệ, quy trình nghiệp vụ, quy chế kể cả đạo đứcnghề nghiệp.
Như vậy nhà đầu tư phải đối mặt với rất nhiều rủi ro khi tham gia quỹđầu tư chứng khoán, vì vậy đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
là vấn đề được nhà nước đặc biệt quan tâm và trên thực tế đã và đang thựchiện nhiều biện pháp nhằm bảo vệ đối tượng này
1.4 Quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán
1.1.4 Khái niệm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán
Dưới góc độ pháp lý, quyền là những việc mà một người được làm màkhông bị ai ngăn cản, hạn chế, tức là những hành vi pháp luật cho phép thựchiện hoặc pháp luật không cấm thực hiện Vậy quyền của nhà đầu tư khi thamgia quỹ đầu tư chứng khoán là hành vi nhà đầu tư được thực hiện khi tham giaquỹ đầu tư chứng khoán
Lợi ích là điều có lợi, điều cần thiết Lợi ích của nhà đầu tư khi tham giaquỹ đầu tư chứng khoán là điều có lợi cho nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tưchứng khoán
Theo Điều 84 Luật chứng khoán Việt Nam năm 2006, các quyền và lợiích hợp pháp của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán gồm:
- Quyền được hưởng lợi từ hoạt động đầu tư của quỹ đầu tư chứng khoántương ứng với tỷ lệ vốn góp;
- Quyền được hưởng các lợi ích và tài sản được chia hợp pháp từ việc thanh
lý tài sản quỹ đầu tư chứng khoán;
Trang 29- Quyền được yêu cầu công ty quản lý quỹ hoặc ngân hàng giám sát mualại chứng chỉ quỹ mở;
- Quyền khởi kiện công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát hoặc tổ chứcliên quan nếu tổ chức này vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
- Thực hiện quyền của mình thông qua Đại hội nhà đầu tư;
- Quyền chuyển nhượng chứng chỉ quỹ theo quy định tại Điều lệ quỹ đầu tưchứng khoán;
- Các quyền khác quy định tại Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán
Như vậy chúng ta nhận thấy Điều 84 Luật chứng khoán Việt Nam năm
2006 đã nêu được những quyền cơ bản nhất của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu
tư chứng khoán Trong tất cả những quyền nên trên thì quyền được hưởng lợinhuận từ hoạt động đầu tư là quyền quan trọng nhất và chi phối những quyềncòn lại
1.4.2 Phân loại quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán
Căn cứ vào Điều 84 Luật chứng khoán Việt Nam năm 2006, có thể phânloại các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư như sau:
* Quyền được bảo vệ quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư trong quỹ(đảm bảo quyền sở hữu phần vốn góp của nhà đầu tư trong quỹ, được bảo vệquyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của mình)
* Nhóm các quyền được hưởng lợi bao gồm: quyền hưởng lợi nhuận từhoạt động đầu tư của quỹ, được hưởng các lợi ích và tài sản khi thanh lý quỹđầu tư chứng khoán Để quyền được hưởng lợi nhuận và lợi ích từ quỹ đầu tưđược thực hiện trọn vẹn được, nhà đầu tư phải được bảo vệ các quyền sau: -Nhà đầu tư được bảo vệ quyền giám sát quỹ của nhà đầu tư;
Trang 30- Nhà đầu tư được pháp luật bảo vệ nhằm hạn chế và giảm thiểu rủi rocho nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán
* Nhóm quyền được tự do tham gia thị trường chứng khoán gồm: quyềnđược mua chứng chỉ quỹ, được chuyển nhượng chứng chỉ quỹ và quyền đượcyêu cầu công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát mua lại chứng chỉ quỹ mở.Nhóm quyền này chỉ được bảo vệ mạnh mẽ khi nhà đầu tư được cung cấpthông tin đầy đủ và kịp thời
* Nhóm quyền được bảo vệ trước các hành vi vi phạm gồm:
- Quyền được tự bảo vệ của nhà đầu tư khi quyền và lợi ích của nhà đầu
tư bị xâm hại
- Nhà đầu tư được bảo vệ quyền nhận bồi thường thiệt hại hoặc nhận khoảnđền bù thích hợp khi công ty quản lý quỹ hoặc ngân hàng giám sát có hành vi viphạm pháp luật gây thiệt hại cho nhà đầu tư và quỹ đầu tư chứng khoán
- Nhà đầu tư có quyền được nhà nước bảo vệ khỏi các vi phạm pháp luật docác chủ thể liên quan thực hiện
1.5 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán
Bảo vệ nhà đầu tư là một trong những nội dung quan trọng nhất của phápluật về chứng khoán và quỹ đầu tư chứng khoán Nói tổng quát pháp luật vềbảo vệ nhà đầu tư chứng khoán khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán là tổngthể các quy định điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà đầu tư với các chủ thể liênquan nhằm xác lập, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, đồng thờicung cấp các công cụ pháp lý hỗ trợ nhà đầu tư trong việc thực hiện cácquyền và thụ hưởng lợi ích hợp pháp đó
Trang 31Luật pháp các quốc gia có nền tài chính – chứng khoán phát triển đều rấtchú trọng đến vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư Ví dụ ở Hòa Kỳ đã
có riêng một đạo luật nhằm bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán đó là Luật bảo vệnhà đầu tư chứng khoán năm 1970 Luật này lập ra một cơ quan có chức năngbảo vệ nhà đầu tư chứng khoán gọi là SIPC, đồng thời định ra trình tự, thủ tụcchặt chẽ và rõ ràng để cơ quan này thực hiện chức năng bảo vệ nhà đầu tư
Ở Việt Nam, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư chứngkhoán nói chung và nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán nói riêngluôn được quan tâm từ khi thị trường chứng khoán xuất hiện cho tới nay Luậtchứng khoán Việt Nam năm 2006 ghi nhận nguyên tắc “bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của nhà đầu tư”, coi đây là nguyên tắc quan trọng trong vậnhành thị trường chứng khoán Luật chứng khoán Việt Nam năm 2006 cũng đã
hệ thống hóa được quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khi tham gia quỹđầu tư chứng khoán Các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhàđầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán được đề cập trong nhiều văn bảnthuộc hệ thống pháp luật Việt Nam Qua tổng thể các văn bản quy định vềchứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, có thể thấy quyền và lợi ích hợp phápcủa nhà đầu tư được bảo vệ bằng các biện pháp như sau:
* Bảo vệ bằng biện pháp dân sự:
Biện pháp dân sự cho phép nhà đầu tư bảo vệ quyền sở hữu của mình,quyền được hưởng lợi nhuận từ hoạt động đầu tư Biện pháp dân sự cung cấpcho nhà đầu tư công cụ nhằm phòng ngừa, ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền
sở hữu hợp pháp, đòi lại quyền và lợi ích hợp pháp của mình nếu bị xâm phạm.Các công cụ này có thể là các hoạt động như hợp đồng, tự đàm phán, tự thỏathuận hoặc có thể là khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền
Trang 32* Bảo vệ bằng biện pháp hành chính
Các biện pháp hành chính được áp dụng để bảo vệ quyền lợi nhà đầu tưcần thiết phải có vai trò của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ví dụ như Ủyban chứng khoán nhà nước, Bộ tài chính … Biện pháp hành chính được ápdụng có thể là biện pháp quản lý và biện pháp xử lý vi phạm hành chính
Cơ quan quản lý nhà nước có thể áp dụng các biện pháp quản lý đối vớicông tác phát hành chứng chỉ quỹ tức là khâu lựa chọn hàng hóa để đưa ra thịtrường Bên cạnh đó cơ quan quản lý nhà nước còn có thẩm quyền quản lý vàtiến hành kiểm tra, thanh tra hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán, công tyquản lý quỹ, ngân hàng giám sát Biện pháp này giúp cho hoạt động của quỹđầu tư chứng khoán, công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát đi đúng quỹ đạo,hạn chế thấp nhất hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo vệ nhà đầu tư
Cơ quan quản lý nhà nước còn có thẩm quyền tiến hành xử lý vi phạmhành chính các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán, hoạtđộng của quỹ đầu tư chứng khoán và hoạt động của các chủ thể có liên quan.Biện pháp này nhằm trừng phạt, răn đe các hành vi vi phạm, hạn chế bớt cáchành vi vi phạm, góp phần mang lại tính công bằng và minh bạch trong hoạtđộng của quỹ đầu tư chứng khoán
* Bảo vệ bằng biện pháp hình sự: là các biện pháp nhằm đấu tranh,phòng chống tội phạm trong lĩnh vực hoạt động của quỹ, công ty quản lý quỹ,giao dịch chứng chỉ quỹ Đây là biện pháp có tính răn đe cao nhất, nghiêmkhắc nhất Mọi hành vi được coi là tội phạm khi được quy định trong Bộ luậtHình sự Mặc dù trong Bộ luật hình sự không nêu đính danh các hành xâmphạm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tưchứng khoán Việt Nam được coi là tội phạm Nhưng nếu đích thực có cáchành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư tham gia quỹ đầu
Trang 33tư chứng khoán xảy ra người áp dụng luật cũng có thể vận dụng các cấu thànhcủa 03 tội nêu trên và các tội khác có liên quan như lừa đảo, lạm dụng tínnhiệm chiếm đoạt tài sản, tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lýkinh tế gây hậu quả nghiêm trọng hoặc tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế Như vậy các hành vi xâm phạm nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tưchứng khoán đã được xử lý bởi chế tài nghiêm khắc nhất – chế tài hình sự.
Trang 34KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 tác giả đã tập chung phân tích cơ sở lý luận về bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán Quỹđầu tư chứng khoán ra đời và tồn tại là nhu cầu tất yếu của thị trường chứngkhoán Nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán là một biện pháp nhằmbảo vệ chính mình Nhưng hình thức đầu tư nào cũng tiềm ẩn những rủi ro mànhà đầu tư phải đối mặt Hơn nữa khi tiền không nằm trong tay nhà đầu tư màđược đưa vào quỹ đầu tư chứng khoán để công ty quản lý quỹ quản lý và tiếnhành đầu tư thì rõ ràng nhà đầu tư đang phó mặc tài sản của mình cho ngườikhác và họ rơi vào thế yếu, càng dễ bị tổn thương
Với những ưu điểm của mình, quỹ đầu tư chứng khoán đang là một trong
mô hình đầu tư chứng khoán được nhà nước ta đầu tư phát triển Mà muốnthu hút được các nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tư chứng khoán thì quyền và lợiích của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán phải được bảo vệ Vìvậy nhà nước ta đã xây dựng được hệ thống các biện pháp nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán.Những nội dung cơ bản được nêu tại chương này là cơ sở lý luận đểnghiên cứu các quy định pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củanhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam, đánh giá nhữngthành tựu đạt được và đề ra những bất cập, những hạn chế cần khắc phục, đểgóp phần xây dựng thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng vững vàng,trong sạch, chuyên nghiệp
Trang 35Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ THAM GIA
QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2.1 Bảo vệ quyền sở hữu của nhà đầu tư
Quyền sở hữu bao gồm các quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền sửdụng và quyền định đoạt Khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán nhà đầu tư đã
ủy thác tài sản của mình cho công ty quản lý quỹ Như vậy liệu quyền sở hữucủa nhà đầu tư có còn được bảo đảm?
Nhận thức được vấn đề này, pháp luật Việt Nam hiện hành đã có nhiềubiện pháp nhằm bảo đảm quyền sở hữu của nhà đầu tư
Thứ nhất: mặc dù nhà đầu tư không trực tiếp nắm giữ tài sản của mìnhnhưng pháp luật đã cung cấp cho họ cách thức để chứng minh quyền chiếmhữu của mình đó là biện pháp lập sổ đăng ký nhà đầu tư/thành viên của quỹ
và biện pháp thường xuyên xác định tài sản ròng của quỹ đầu tư chứng khoán
Để đảm bảo quyền sở hữu của nhà đầu tư công ty quản lý quỹ của mọiloại quỹ đều phải lập sổ đăng ký nhà đầu tư/thành viên góp vốn của quỹ Sổnày phải ghi nhận đầy đủ các giao dịch phát sinh của khách hàng liên quan tớichứng chỉ quỹ Thông tin về tài sản của nhà đầu tư trên sổ đăng ký nhà đầutư/thành viên góp vốn là bằng chứng về quyền sở hữu của nhà đầu tư
Bên cạnh đó công ty quản lý quỹ còn phải thường xuyên xác định tài sảnròng của quỹ để từ đó có định hướng cho các hoạt động của quỹ Tổ chức xácđịnh tài sản ròng, kết quả đánh giá tài sản ròng phải được thông qua ngânhàng giám sát và ban đại diện quỹ
Việc lập sổ đăng ký nhà đầu tư/thành viên góp vốn cộng với chứng chỉ
ký quỹ có trong tay nhà đầu tư là bằng chứng xác nhận chủ thể đầu tư vào quỹ
Trang 36và tỷ lệ vốn góp của họ trong quỹ Từ đó có căn cứ để xác định được phầnquyền và lợi ích của nhà đầu tư trong quỹ.
Việc thường xuyên xác định tài sản ròng của quỹ giúp cho các nhà đầutư/thành viên của quỹ nắm bắt được tình hình hoạt động của quỹ, từ đó có thểđưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn Đồng thời đây cũng là căn cứ để xácđịnh lợi nhuận của mỗi nhà đầu tư khi chia lợi nhuận đồng thời cũng là căn cứ
để xác định khối lượng tài sản nhà đầu tư được hưởng khi giải thể quỹ
Thứ hai pháp luật cho phép nhà đầu tư thực hiện quyền định đoạt trongkhuôn khổ nhất định Mặc dù hoạt động thường ngày của quỹ đầu tư chứngkhoán được giao cho công ty quản lý quỹ Nhưng không phải công ty quản lýquỹ được toàn quyền quyết định các hạng mục đầu tư Quỹ đầu tư chứngkhoán phải hoạt động theo định hướng được nêu trong Điều lệ của quỹ vàđịnh hướng đã được Đại hội nhà đầu tư thông qua Như vậy hoạt động củaquỹ không thể thoát ly hoàn toàn ý chí của nhà đầu tư mà phải tuân thủ theonhững định hướng cơ bản do Đại hội nhà dầu tư xác định Quy định này nhằmtránh tình trạng công ty quản lý quỹ tự ý sử dụng tài sản của quỹ vào mụcđích trục lợi, tư lợi
Bằng các biện pháp nêu trên pháp luật Việt Nam hiện hành đã đảm bảođược quyền sở hữu của nhà đầu tư khi tham gia quỹ đầu tư chứng khoán
2.2 Bảo vệ quyền được hưởng lợi nhuận của nhà đầu tư phát sinh từ hoạt động đầu tư của quỹ đầu tư chứng khoán và quyền được lợi ích
và tài sản được chia hợp pháp từ việc thanh lý tài sản quỹ đầu tư chứng khoán
Các nhà đầu tư được công ty quản lý quỹ chi trả lợi tức phát sinh từhoạt động của quỹ Việc trả lợi tức phải tuân thủ quy định tại bản cáo bạch vàthông tin trên trang thông tin điện tử của công ty quản lý quỹ Việc chi trả lợi
Trang 37tức có thể bằng tiền hoặc chứng chỉ quỹ Nếu chi trả bằng chứng chỉ quỹ thìphải được Đại hội nhà đầu tư thông qua
Việc phân chia lợi tức được thực hiện sau khi đã trử đi mọi nghĩa vụ tàichính của quỹ đầu tư chứng khoán Và việc phân chia lợi tức chỉ được thựchiện khi đảm bảo sau khi phân chia tổng giá trị ròng của quỹ tối thiểu là 50 tỷđồng và phải bảo đảm thanh toán được hết khoản nợ đến hạn
Khi quỹ bị giải thể, nhà đầu tư được bảo đảm phân chia tài sản còn lạicủa quỹ sau khi đã trử đi mọi nghĩa vụ tài sản của quỹ theo tỷ lệ vốn góp Khiquỹ giải thể, đại hội nhà đầu tư có quyền chỉ định tổ chức kiểm toán độc lập
để kiểm tra, đánh giá toàn bộ hoạt động thanh lý, thẩm định việc phân chia tàisản của quỹ cho nhà đầu tư để bảo đảm việc thanh lý quỹ, phân chia tài sảnđược thực hiện công bằng, minh bạch
Ngoài những biện pháp nêu trên, quy định thường xuyên xác định tàisản ròng của quỹ và phải thông báo kết quả này tới nhà đầu tư cũng góp phầnbảo vệ quyền được nhận lợi nhuận của nhà đầu tư
2.3 Biện pháp bảo vệ quyền giám sát của nhà đầu tư
Như trên đã phân tích, đặc điểm nổi bật của quỹ đó là các nhà đầu tư cùnggóp tiền để thành lập quỹ nhưng không trực tiếp tham gia hoạt động đầu tư màgiao quyền quyết định điều hành hoạt động hàng ngày của quỹ cho Công ty quản
lý quỹ Vì vậy để đảm bảo quyền và nghĩa vụ hợp pháp của nhà đầu tư, hạn chếtình trạng công ty quản lý quỹ lạm dụng tài sản của nhà đầu tư trục lợi, quyềngiám sát hoạt động quỹ của các nhà đầu tư cần phải được bảo vệ
Theo pháp luật hiện hành, nhà đầu tư được thực hiện quyền của mìnhthông qua Đại hội nhà đầu tư chứng khoán Các vấn đề quan trọng nhất củaquỹ đầu tư chứng khoán phải được Đại hội nhà đầu tư quỹ đầu tư chứngkhoán thông qua Đại hội nhà đầu tư bao gồm tất cả các nhà đầu tư tham gia
Trang 38góp vốn vào quỹ đầu tư chứng khoán Đại hội nhà đầu tư hoạt động theo cơchế đại hội Đại hội nhà đầu tư được tiến hàng thường niên hoặc bất thường.Ngoài hình thức tổ chức cuộc họp thường niên hoặc bất thường, đại hội nhàđầu tư có thể thông qua các quyết sách theo hình thức lấy ý kiến bằng vănbản Mỗi một chứng chỉ quỹ tương ứng với một phiếu bầu
Nhưng đại hội nhà đầu tư chứng khoán chỉ có quyền quyết định các vấn
đề chung nhất, cơ bản nhất, có tính định hướng như: thành lập ban đại diệnquỹ; quy định quyền và nghĩa vụ, thù lao của thành viên ban đại diện quỹ;quyết định thù lao trả cho công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát; xem xét
và xử lý vi phạm của công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và Ban đại diệnquỹ gây tổn thất cho quỹ đầu tư chứng khoán; quyết định sửa đổi, bổ sungĐiều lệ quỹ đầu tư chứng khoán, Hợp đồng giám sát; quyết định việc niêm yếtchứng chỉ quỹ đóng; quyết định các thay đổi cơ bản trong chính sách đầu tư,phương án phân phối lợi nhuận, mục tiêu đầu tư của quỹ đầu tư chứng khoán
và giải thể quỹ đầu tư chứng khoán; quyết định thay đổi công ty quản lý quỹ,ngân hàng giám sát; yêu cầu công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát trình sổsách hoặc giấy tờ giao dịch tại Đại hội nhà đầu tư; thông qua các báo cáo vềtình hình tài chính, tài sản và hoạt động hàng năm của quỹ đầu tư chứngkhoán; thông qua việc lựa chọn tổ chức kiểm toán được chấp thuận để kiểmtoán báo cáo tài chính hàng năm của quỹ đầu tư chứng khoán; các quyền vànhiệm vụ khác quy định tại Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán
Quyền trực tiếp giám sát công ty quản lý quỹ trong hoạt động quản lý quỹcủa các nhà đầu tư được giao cho Ban Đại diện quỹ Ban Đại diện quỹ là cơquan do Đại hội nhà đầu tư bầu nên Ban đại diện quỹ có từ 3 đến 11 thànhviên, có nhiệm vụ đại diện cho Đại hội nhà đầu tư thực hiện các quyền: giámsát hoạt động của công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và các tổ chứccung cấp dịch vụ cho Quỹ đại chúng phù hợp với Điều lệ quỹ và quy định
Trang 39pháp luật; kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy trình và phương pháp xácđịnh giá trị tài sản ròng của Quỹ đại chúng; kiến nghị chính sách và mục tiêuđầu tư của Quỹ đại chúng; kiến nghị mức lợi nhuận phân phối cho người đầutư; thông qua thời hạn và thủ tục phân phối lợi nhuận; kiến nghị việc thay đổicông ty quản lý quỹ hoặc ngân hàng giám sát; các quyền và nhiệm vụ khácquy định tại Điều lệ quỹ.
Quyết định của Ban đại diện quỹ được thông qua theo hình thức cuộchọp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản, mỗi thành viên của ban đại diện có mộtphiếu bầu Quyết định của Ban đại diện quỹ được thông qua khi được đa sốphiếu thông qua
Mặc dù thông qua các cơ quan đại diện của mình nhà đầu tư có thể giámsát hoạt động của quỹ Tuy nhiên những nhà đầu tư tham gia quỹ đầu tưthường là người không chuyên về chứng khoán vì vậy việc giám sát thôngqua cơ quan đại diện của mình có thể còn nhiều hạn chế, hơn nữa cơ quan đạidiện của nhà đầu tư cũng khó có thể theo sát từng giao dịch của quỹ Vì vậyviệc giám sát hoạt động của quỹ còn cần những đơn vị có chuyên môn khácgiúp đỡ, đó chính là ngân hàng giám sát, ngân hàng lưu ký
Ngân hàng giám sát là Ngân hàng thương mại có Giấy chứng nhận đăng
ký hoạt động lưu ký chứng khoán có chức năng thực hiện các dịch vụ lưu kýchứng khoán và giám sát việc quản lý quỹ đại chúng, được Công ty quản lýquỹ đại diện cho các nhà đầu tư ký hợp đồng giám sát
Vai trò giám sát, đối trọng của ngân hàng giám sát thể hiện trên các khíacạnh như sau:
- Ngân hàng giám sát là đơn vị lưu giữ tài sản của quỹ, tách bạch với tàisản của công ty quản lý quỹ Ngân hàng giám sát thực hiện lưu ký tài sản của