1. Trang chủ
  2. » Đề thi

giải chi tiết bộ 10 đề thi thử môn văn 2020 chuẩn cấu trúc ( đề 11 đến 20)

78 5,4K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 109,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bộ giải chi tiết đề môn văn 2020 cấu trúc chuẩn, có đáp án, giải chi tiết đầy đủ, cần cả bộ giải chi tiết và các chuyên đề môn khác có lời giải chi tiết, đầy đủ liên hệ zalo 084.364.8886 để biết chi tiết.

Trang 1

THẦN TỐC LUYỆN ĐỀ

ĐỀ SỐ 11

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2020

NĂM HỌC: 2019 – 2020 MÔN: Ngữ văn

Thời gian làm bài: 120 phút; không kể thời gian phát đề

I ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Núi lửa nào hay mình làm đau Trái đất Sóng thần nào hay mình làm đau những đại dương Bão

to nào hay mình làm đau những cánh rừng Đá ghềnh nào hay mình làm tổn thương những dòng suối Mỏ neo níu giữ con thuyền đâu hay đã làm rách tướp những lòng sông.

Trái rụng đâu hay mình làm đau lòng vườn Nắng chói đâu hay mình làm đau những giọt sương đậu hờ trên mép lá Bụi bay đâu hay mình làm đau những làn hương Con ong đâu hay tiếng đập cánh vụng về làm giật mình nụ hoa út ít Lá rơi nào hay mình làm tốn thương giấc mơ của cánh chuồn kim thiêm thiếp sau ngọn cỏ góc ao.

Tiếng chuông rền làm tốn thương hoàng hôn Bước chân mau làm tốn thương những con đường Gót giày khua làm tổn thương lối ngõ Nếp áo nhàu làm tổn thương bao ấp iu của gió Vệt lá lăn làm tổn thương thảm rêu nhung ấm ướt bên thềm [ ]

Thế giới cần nâng niu quá đỗi Ta song đời lại thô ráp làm sao Ta làm tổn thương những dòng sông Ta làm tổn thương những mặt đầm Ta làm tổn thương những mảnh vườn Ta làm tổn thương những mùa hoa trái Ta làm tổn thương những bình minh yên ả Ta làm tổn thương những canh khuya trong vắng Ta làm đau những niềm người quá đỗi mong manh

Mặt đất ngàn đời quen tha thứ Đại dương bao la quen độ lưọng Cánh rừng mênh mông quen trầm mặc Những dòng sông quen chảy xuôi Những hồ đầm quen nín lặng Những nẻo đường quen nhẫn nhịn Những góc vườn quen che giấu Những thảm rêu vốn không biết dỗi hờn Những đoá hoa không bao giờ chì chiết Những giấc mơ chỉ một mực bao dung Những yêu thương không bao giờ trả đũa

Và ta cứ yên chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu.

(Nên bị gai đâm, Chu Văn Sơn)

Câu 1 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.

Câu 2 Xác định và phân tích giá trị của 02 biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn đầu của

Trang 2

II LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm)

Từ đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ) bàn

về nội dung: Cuộc sống con người là chuỗi những sự lựa chọn.

Câu 2 (5.0 điểm)

Nhận định về văn học giai đoạn kháng chiến chống Mĩ cứu nước, có ý kiến cho rằng: “Chất sử thi dạt dào trong mỗi tác phẩm đã tác động sâu sắc đến tâm tư, tình cảm của mỗi người Việt Nam,

có sức lay động sâu xa”

Qua hai tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành và Những đứa con trong gia đình của

Nguyễn Thi, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định

Trang 3

Chỉ ra 02 biện pháp nghệ thuật và phân tích giá trị của biện pháp đó:

- Biện pháp nghệ thuật nhân hóa: làm đau.

- Tác dụng:

 Khiến cho hình ảnh trở nên sinh động, gần gũi hơn với đời sống con người

 Thể hiện sự tinh tế, tài năng quan sát của tác giả trong việc miêu tả những nét

đẹp riêng của cuộc sống

- Biện pháp nghệ thuật điệp ngữ: điệp cấu trúc nào hay mình làm đau.

- Tác dụng:

 Nhấn mạnh một thực tế được lặp đi lặp lại là ngay cả những thứ vô tri giác đôi

khi cũng làm tổn thương lẫn nhau

 Tạo ra nhịp điệu cho câu văn, khiến câu văn mang đậm chất thơ

Học sinh lưu ý khi chỉ ra biện pháp nghệ thuật thì không chỉ gọi tên biện pháp đó mà

còn cần chỉ ra biện pháp đó được sử dụng như thế nào Đối với tác dụng của biện

pháp nghệ thuật, học sinh cần áp dụng cụ thể vào nội dung của tác phẩm, tránh suy

diễn theo ý cá nhân hoặc nói quá chung chung mà không dựa vào từ ngữ trong tác

phẩm

0.5

Câu 3:

Theo tác giả, Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn

thương là rỉ máu vì: Việc bị gai đâm là hình ảnh ẩn dụ cho việc bị tổn thương, cảm

nhận đau đớn Chỉ khi con người bị tổn thương thì mới nhận ra rằng đã có những lúc

mình cũng hay làm tổn thương người khác Tác giả cho rằng đó là lúc con người nhận

thức được việc không nên làm người khác đau, vì sẽ có lúc mình cũng sẽ bị tổn

thương như vậy

Học sinh có thể trình bày theo quan điểm khác, tuy nhiên không được sai lệch hoàn

toàn với quan niệm trên

1.0

Câu 4:

Thí sinh có thể tự do bày tỏ quan điểm của mình về những bài học được rút ra từ

đoạn trích Dưới đây là một số thông điệp gợi ý:

• Cuộc sống là chuỗi những khó khăn, thử thách, việc sai lầm là điều tất yếu,

con người cần phải chấp nhận những sai lầm đó

1.0

Trang 4

• Mỗi con người nên tự mình biết cách chấp nhận việc đôi khi phải bị tổn

thương, coi đó là điều hoàn toàn có thể xảy ra trong cuộc sống

• Nên hiểu giá trị của mỗi con người, không nên để đến khi bị tổn thương mới

nhận ra rằng mình cũng thường làm tổn thương người khác

Câu 1: Từ đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận xã hội

(khoảng 200 chữ) bàn về nội dung: Cuộc sống con người là chuỗi những sự lựa chọn 2.0

a Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn

Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp,

móc xích hoặc song hành

0.25

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Tầm quan trọng của việc biết sống có trách nhiệm với mỗi lựa chọn trong cuộc sống

của mỗi con người

0.25

c Triển khai vấn đề nghị luận

Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề theo nhiều

cách nhưng cần làm rõ con người cần phải có trách nhiệm với sự lựa chọn trong cuộc

sống của mình Có thể theo hướng sau:

- Giải thích: vấn đề nghị luận được đặt ra là mọi điều xảy ra trong cuộc sống

đều được quyết định bởi sự lựa chọn của mỗi cá nhân Do đó cần có những lựa chọn

đúng đắn để phát triển và trưởng thành, hơn cả là có trách nhiệm trước những lựa

chọn của mình, dù lựa chọn đó là đúng hay sai

- Phân tích, chứng minh:

 Cuộc sống có thể có những biến cố, những sự kiện bất thường, việc của con

người là lựa chọn đối mặt với nó hay không Dù đối mặt hay không thì sự việc vẫn sẽ

diễn ra

 Con người luôn có hai mặt tốt và xấu đấu tranh lẫn nhau, lựa chọn của mỗi

người là để con người xấu hay tốt của mình chiến thắng Đôi khi ranh giới phần xấu

hay tốt, sáng hay tối của con người cũng mong manh, chỉ có những lựa chọn đúng đắn

mới khiến người ta chiến thắng được chính bản thân mình để trở nên tốt hơn

 Dẫn chứng: Franklin là nhà bác học Mĩ đã dũng cảm thực hiện thí nghiệm làm

cột thu lôi Công việc đó có thể gây ra cái chết cho ông bất kì lúc nào Sau nhiều năm

đương đầu với sấm sét, năm 1752, Franklin đã thành công Đó là lựa chọn dám đương

đầu với thử thách, lựa chọn một cuộc sống ý nghĩa

- Bàn luận/ Mở rộng: Câu nói không khuyên người ta luôn luôn phải lựa chọn

đúng bởi không ai có thể lúc nào cũng đúng cả Điều quan trọng là sau những lựa

chọn sai lầm, họ biết đứng lên và phát triển, trưởng thành hơn

- Bài học: Thay đổi chính bản thân mình từ những hành động nhỏ, đó chính là

1.0

Trang 5

lựa chọn đầu tiên cho một cuộc sống ý nghĩa.

d Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt 0.25

e Sáng tạo

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận 0.25

Câu 2: Nhận định về văn học giai đoạn kháng chiến chống Mĩ cứu nước, có ý kiến

cho rằng: “Chất sử thi dạt dào trong mỗi tác phẩm đã tác động sâu sắc đến tâm tư,

tình cảm của mỗi người Việt Nam, có sức lay động sâu xa”.

Qua hai tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành và Những đứa con trong gia

đình của Nguyễn Thi, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

5.0

a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận

Mở bài giới thiệu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát

được vấn đề

0.25

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Phân tích vẻ đẹp của khuynh hướng sử thi thể hiện qua hai tác phẩm Rừng xà nu của

Nguyễn Trung Thành và Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi.

0.25

c Triển khai vấn đề nghị luận

Vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm

- Nguyễn Thi là cây bút tiêu biểu của văn nghệ giải phóng miền Nam thời kỳ

chống Mĩ Ông được mệnh danh là nhà văn của nông dân Nam Bộ Văn Nguyễn Thi

vừa giàu chất hiện thực quyết liệt, dữ dội của chiến tranh, vừa đằm thắm, trữ tình với

một ngôn ngữ phong phú, góc cạnh, giàu giá trị tạo hình và đậm chất Nam Bộ Nhân

vật trong tác phẩm của ông là những người nông dân Nam Bộ có lòng căm thù giặc

sâu sắc, vô cùng gan góc, kiên cường, thủy chung son sắt với quê hương và cách

mạng Những đứa con trong gia đình là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất

của Nguyễn Thi, được viết ngay trong những ngày chiến đấu ác liệt khi ông công tác

ở tạp chí Văn nghệ quân giải phóng.

- Mỗi nhà văn thường có một vùng đất riêng, với Nguyễn Trung Thành đó là

Tây Nguyên Ông đã có rất nhiều những tác phẩm viết về mảng đề tài này, đặc biệt là

hình ảnh của những con người bất khuất, kiên cường nơi núi rừng Tây Nguyên Một

trong những tác phẩm nổi bật nhất trong sáng tác của Nguyễn Trung Thành là truyện

ngắn Rừng xà nu Truyện ngắn Rừng xà nu được nhà văn Nguyễn Trung Thành viết

năm 1965, in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc Tác phẩm là câu

chuyện về dân làng Xô Man trong kháng chiến chống Mĩ

- Cả hai tác phẩm là những bản anh hùng ca hào hùng, ca ngợi chủ nghĩa anh

hùng của những con người miền Nam kiên cường, bất khuất, căm thù giặc ngùn ngụt

0.5

Trang 6

và yêu quê hương tha thiết, giàu tình nghĩa, thủy chung son sắt với gia đình, với cách

mạng và nguyện sống chết cho quê hương

* Giải thích ý kiến: Ý kiến khẳng định vẻ đẹp không thể phủ nhận của một số

tác phẩm văn học thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước là sự thấm đẫm chất sử thi

* Giải thích về khuynh hướng sử thi:

- Là khuynh hướng trong sáng tác nghệ thuật thiên về việc phản ánh những sự

kiện có ý nghĩa lịch sử và mang tính toàn dân Đây là một trong những đặc trưng của

văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, đáp ứng nhiệm vụ ca ngợi cuộc kháng

chiến, cổ vũ chiến đấu Từ đó, văn học xây dựng hình tượng trung tâm là người lính,

người anh hùng, với phẩm chất hào hùng, hành động lớn lao, đại diện cho sức mạnh

và ý chí của cộng đồng Tính chất sử thi đó đã tạo nên những tác phẩm mang âm

hưởng hào hùng của thời đại

- Trên phương diện nội dung, nhân vật trung tâm trong những tác phấm viết

theo khuynh hướng sử thi thường là những con người đại diện cho giai cấp, cho dân

tộc với những phẩm chất cao cả, kết tinh những gì cao đẹp nhất của cộng đồng Khi

khẳng định, ngợi ca những anh hùng, những kì tích sáng chói, người cầm bút không

nhân danh cá nhân mà nhân danh dân tộc, nhân danh cộng đồng Chủ nghĩa cá nhân ở

giai đoạn này đã lùi lại để cho cái ta chung hòa cùng cuộc chiến đấu oanh liệt của dân

tộc

- Trên phương diện nghệ thuật, khuynh hướng sử thi thể hiện ở cách xây dựng

nhân vật mang tầm vóc, kích cỡ sử thi, được đặt trong sự liên tường, so sánh theo lối

thi vị hóa, lí tưởng hóa Đặc biệt, không gian nghệ thuật của tác phẩm gợi nên tất cả

sự trang nghiêm, hoành tráng Nhìn chung, khuynh hướng sử thi của văn học giai

đoạn 1945 - 1975 là sự tiếp nối và phát triển mạnh mẽ khuynh hướng sử thi trong văn

học dân tộc nói chung giữa bối cảnh lịch sử của hai cuộc chiến đấu chống Pháp và

Trong Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành viết về câu chuyện của một ngôi làng

người dân tộc - làng Xô Man Cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm là hình tượng cây xà

nu Tác giả đã lấy ngọn đồi xà nu làm biểu tượng cho những con người làng Xô Man

anh dũng kiên cường trước bom đạn của giặc Mĩ Cả tác phẩm là câu chuyện kể về

cuộc đấu tranh của Tnú cùng người dân làng Xô Man Ngôi làng anh hùng giàu truyền

thống cách mạng cũng giống như làng Cát Bay, làng Đồng Khởi, và trăm nghìn ngôi

làng khác đã trải qua cuộc thảm sát, càn quyết của quân giặc

3.0

Trang 7

+ Trong Những đứa con trong gia đỉnh, Nguyễn Thi kể câu chuyện về một gia

đình Nam Bộ giàu truyền thống cách mạng Câu chuyện xoay quanh các thành viêntrong một gia đình có truyền thống yêu nước, căm thù giặc: Từ đời bố mẹ bị chết dướibom đạn của Mĩ cho tới đời con cháu quyết chí ra đi trả thù nước, thù nhà Qua

Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi đã vẽ nên một bức tranh chân thật về cuộc

kháng chiến chống Mĩ và số phận của những người con trong gia đình cách mạng

- Cách xây dựng nhân vật:

Trong Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành vẽ nên hình tượng Tnú là một Anh

hùng cách mạng chân chính Tnú mang trong người tố chất của một cán bộ anh dũngkiên cường

 Ngay từ nhỏ anh đã tỏ ra hơn người ở sự gan dạ, bản lĩnh Khi giặc Mĩ giết hếtthanh niên tới ông bà già thì lũ trẻ trong làng như Tnú và Mai đã thay họ đi nuôi cán

bộ Cậu bé Tnú vừa thông minh lại gan dạ Khi đã trưởng thành, Tnú vẫn là một ngườicon của cách mạng Anh đã cùng dân làng quyết tâm đánh Mĩ Cuộc đời anh bất hạnh

vì cả gia đình đều bị giặc giết Đau đớn hơn hết là chính mắt anh trông cảnh vợ con bịchúng đánh đập, hành hạ mà không làm được gì Con người ấy bị số phận trêu đùa,phải nếm trải hết mọi cay đắng, phải vượt qua và vươn lên từ đáy sâu địa ngục MấtMai, mất đứa con bé bỏng rồi lại bị bắt, bị đốt mười đầu ngón tay bằng chính thứnhựa xà nu thơm ngào ngạt, Tnú phải có một ý chí sắt đá và một bản lĩnh phi thườngmới có thể tiếp tục sống, tiếp tục chiến đấu vì Tổ quốc Vượt lên tất cả, Tnú vẫn làmột người con trung thành với Đảng, vẫn tiếp tục xông pha trận mạc giành nhiều

chiến công, ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được.

 Tnú không còn là một nhân vật cá biệt mà đã là hình tượng, đại diện chonhững người lính Việt Nam anh hùng Tnú hiện lên với nhiều mất mát cả về tâm hồn

và thể xác nhưng trên hết là tinh thần chiến đấu kiên cường, là một nhân cách, mộtbản lĩnh mà ai ai cũng phải ngưỡng mộ

Trong Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi xây dựng Chiến là một cô

gái người Nam Bộ, trẻ trung và bản lĩnh; Việt cũng là một thiếu niên anh hùng

 Nổi bật ở chị Chiến là sự đảm đang, tháo vát, tính gan góc, dũng cảm Điều đóthể hiện rõ qua cách thức Chiến thu xếp chuyện nhà cửa trước khi lên đường đánhgiặc Chiến lớn lên đã thừa hưởng nhiều tính cách từ người mẹ nhất là ở cái đảm đang.Bên cạnh sự đảm đang, Chiến còn là cô gái kiên trung, gan góc, dũng cảm Hình ảnh

cô gái trẻ với một ý chí đánh giặc “thà chết không lui” trở thành hình tượng chung chobiết bao người con gái khác trong thời kháng chiến chống Mĩ

 Việt mang theo những nét cá tính riêng nhưng cũng như chị, Việt có một lòng

Trang 8

căm thù giặc sâu sắc và một ý chí chiến đấu không ngừng nghỉ Là một người dũngcảm, kiên trung, dù còn trẻ nhưng anh đã lập được chiến công, một mình diệt được xebọc thép của địch Trong một trận đánh lớn, Việt bị thương phải nằm lại chiến trường.Giữa hoàn cảnh bấp bênh, cận kề ranh giới sống chết mà anh vẫn giữ được chí ý chiếnđấu, không hề mỏi mệt hay nản lòng.

- Mối quan hệ giữa cá nhân với quần chúng:

Trong Rừng xà nu, mối gắn kết bền chặt giữa Tnú và người dân làng Xô Man

đã tạo ra một làn sóng sức mạnh to lớn, tiêu diệt mọi kẻ thù Cả cộng đồng người làng

Xô Man ai cũng gan dạ, bản lĩnh Các thế hệ người làng Xô Man rồi đây sẽ lần lượttiếp nối truyền thống yêu nước của dân tộc

 Cụ Mết là cây xà nu cổ thụ, là người đưa đường dẫn lối cho đám con cháu biếtchiến đấu để bảo vệ quê hương Tnú, Mai, Dít là những cây xà nu trường thành, giữvai trò chủ lực trong cuộc kháng chiến trường kì Thằng bé Heng cũng là một cây là

xà nu đang tuổi lớn, hứa hẹn mai đây sẽ vươn cao cành lá, hiên ngang bất khuất giữangọn đồi xà nu mà chống chọi với bom đạn Cả ngọn đồi hàng trăm cây xà nu luôngắn bó khăng khít với nhau, cũng như cả cộng đồng dân tộc làng Xô Man đoàn kếtđánh giặc Sự kết giao bền chặt giữa Tnú với dân làng tạo nên một nguồn sức mạnhkhông gì làm suy suyển

Trong Những đứa con trong gia đình, Việt và Chiến cũng là thành phần tiêu biểu trong đơn vị của mình Cả hai lớn lên dưới sự dìu dắt từ người chú ruột, có một lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết tâm trả nợ nước thù nhà Tiếp theo đó là sự

bao bọc, giúp đỡ từ đoàn thể, đồng đội Họ ra đi và hội ngộ cùng biết bao thanh niênanh hùng khác

 Việt và Chiến cùng với những người đồng đội tình thâm như ruột thịt sẵn sàngchiến đấu và hy sinh Sức mạnh tạo ra từ tình đoàn kết và to lớn vĩ đại nhất Hìnhtượng cuốn sổ gia đình được nhắc tới nhiều lần trong truyện có ý nghĩa nghệ thuật rấtquan trọng Nó hé lộ cho ta thấy ý đồ nghệ thuật của nhà văn muốn qua câu chuyệnmột gia đình mà đề cập những vấn đề khái quát hơn Hình tượng cuốn sổ ngầm chứachức năng lí giải chiều sâu hành động hiện tại của các nhân vật Cuộc đời mỗi người

là những trang viết, tự mình viết nên những trang hào hùng Ý niệm cuộc đời là mộtvăn bản rất hiện đại đã được diễn đạt một cách giản dị trong tác phẩm này

 Cuốn sổ ghi chép đủ những sự việc đáng nhớ xảy ra với gia đình lớn của chị

em Chiến - Việt, từ chuyện người nào bị giặc giết vào ngày nào đến chuyện ai bịchúng nhục mạ ra sao Cuốn sổ - ấy là lịch sử một gia đình, nó cho thấy truyền thống

và sự tiếp nối Nó là một hình thức giáo dục lòng tự hào về truyền thống mà chú Năm

Trang 9

rất có ý thức xây dựng cho thế hệ con cháu.

- Ngôn ngữ kể chuyện:

Trong Rừng xà nu, tác giả sử dụng ngôn ngữ kể chuyện đầy hào hùng và mạnh

mẽ, dứt khoát Nguyễn Trung Thành tả ngọn đồi xà nu với một quy mô hoành tráng,

cường đại

 Qua cách miêu tả của nhà văn, người đọc hình dung ra sự rộng lớn, hùng vĩ

của rừng cây cũng như bản tính kiên cường, sức sống mãnh liệt của xà nu Cụ Mết

xuất hiện trong tác phẩm là một ông già ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn, là

một người quắc thước, có tiếng nói ồ ồ, dội vang trong lồng ngực Đặc biệt là nhân

vật Tnú, nhà văn đã tinh chọn những từ ngữ oai hùng nhất, mạnh mẽ nhất khi nói về

anh Từ nhỏ, bản lĩnh của Tnú đã thể hiện rõ qua cách thức anh đi nuôi cán bộ Tnú là

đứa trẻ dám một mình băng rừng, vượt thác Khi chứng kiến cảnh vợ con bị tra tấn,

Tnú đã không còn có thể đứng yên được nữa Dù cụ Mết có cố ngăn cản thì ở chỗ hai

con mắt anh bây giờ chỉ còn là hai cục lửa lớn Đó là một con người đang điên dại đi

vì căm thù Anh dám nhảy xổ vào giữa bọn lính rồi hai cánh tay rộng lớn như hai

cành lim chắc của anh ôm chặt mẹ con Mai Hình tượng Tnú dưới văn phong của

Nguyễn Trung Thành trở nên đẹp đẽ và oai hùng, bản lĩnh và lì lợm

Trong Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi cũng ưu ái miêu tả hai nhân

vật Việt, Chiến thành những anh hùng lý tưởng qua các lời thoại sục sôi ý chí của

nhân vật

Ta đặc biệt ấn tượng với câu nói dứt khoát, đầy nhuệ khí của Chiến: “Đã là

thân con gái ra đi thì tao chỉ nói một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!” Hình ảnh

cô gái trẻ cũng mang vẻ đẹp rắn rỏi, mạnh mẽ Với Việt, Nguyễn Thi đã miêu tả bằng

những tư thế hiên ngang và anh dũng nhất Cho dù bị thương, anh vẫn sục sôi một tinh

thần chiến đấu, Việt luôn trong tư thế sẵn sàng đối đầu với giặc Mĩ Phương thức

miêu tả và cách sử dụng từ ngữ mạnh mẽ, dứt khoát đã góp phần làm tăng chất sử thi

cho tác phẩm

* Đánh giá: Tính sử thi đã trở thành một phần quan trọng không thể thiếu trong

một số tác phẩm văn học nước nhà giai đoạn chống Pháp, chống Mĩ Các áng văn sử

thi góp phần làm đa dạng phong thú kho tàng văn học Việt Nam, trở thành những tài

liệu, minh chứng cho một chặng đường lịch sử khó khăn mà hào hùng của đất nước ta

Hai tác phẩm tái hiện lại sống động cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống giặc

ngoại xâm, nói lên tinh thần yêu nước căm thù giặc và tấm lòng anh dũng kiên trung

của thế hệ trẻ đối với Đảng và cách mạng

0.5

d Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt 0.25

Trang 10

Thời gian làm bài: 120 phút; không kể thời gian phát đề

âm thanh dịu dàng tha thiết mà sao có một âm lượng cao hơn tất cả mọi đạn bom sấm sét vang lên trong lòng con Đó là tiếng nói của miền Bắc yêu thương, của mẹ, của ba, của em, của tẩt cả Từ hàng lim xào xạc bên đường Đại La, từ tiếng sóng sông Hồng dào dạt vô đến cả âm thanh hỗn tạp của cuộc sống Thủ đô vẫn vang vọng trong con không một phút nào nguôi cả.

Biết bao lần trong giấc mơ con trở về với Hà Nội, con trở về giữa vòng tay êm ấm của ba má, trong tiếng cười reo trong trẻo của các em và trong ánh sáng chan hoà của Hà Nội Xa nhà ba năm, năm năm hay bao lâu đi nữa chắc rằng cũng không có gì khác trong tình nhớ thương của con.

Ai đâu có thể vì tiền tài danh vọng mà ra đi, còn con ngoài Đảng chắc không thế ai làm con xa với gia đình.

Con vẫn là một chiến sĩ trong cuộc chiến đẩu này Địch càn lên súng nổ rầm rầm con vẫn cười, bình tĩnh đi ra công sự Địch tập kích vào căn cứ, vừa chạy địch, có đêm phải ngủ rừng con cũng vẫn cười, nụ cười vẫn nở ngay cả khi tàu ro và HU1A quăng rocket xuống ngay trên đầu mình Vậy mà khỉ nghĩ đến gia đình đến những người thân yêu trên cả hai miền, lòng con xao xuyến xót

xa và cũng có những lúc từng giọt nước mắt của con.

Phải chăng trái tim con mang trong lửa đạn mà vẫn còn mềm yếu? Con người cách mạng như vậy đã được chưa? Con nhớ lời của Lênin “người cách mạng là người có trái tim giàu tình cảm nhất ” và con đã làm như vậy.

(Nhật kí Đặng Thùy Trâm, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005)

Trang 11

Câu 1 Chỉ ra phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích Chỉ ra dấu hiệu của phong cách

ngôn ngữ đó

Câu 2 Trong đoạn trích, tác giả đã kể lại mấy vấn đề chính? Đó là những vấn đề nào?

Câu 3 Nhân vật “người con” trong đoạn trích mang trong mình những phẩm chất nào?

Câu 4 Anh/chị nhận được những thông điệp gì sau khi đọc đoạn trích trên? Đâu là thông điệp

khiến anh/chị ấn tượng nhất?

II LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm)

Từ đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về phương

châm: hãy sống vì lí tưởng của mình.

Câu 2 (5.0 điểm)

Khi nói về tác phẩm Đàn ghi-ta của Lor-ca, Thanh Thảo tâm sự: “Bài thơ của tôi vẫn thuộc

“thơ ca thông thường”, nhưng ở đó, phẩm chất tượng trưng được nhấn mạnh, một cách tự nhiên” (Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 2-2014).

Anh/chị hãy làm sáng tỏ vẻ đẹp của dấu ấn thơ tượng trưng trong bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca

(Thanh Thảo) qua việc phân tích những đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng hình ảnh của nhà thơ

Trang 12

 Ngôn ngữ mang tính cảm xúc: Các câu đều gắn với cảm xúc của người viết, đó là

cảm xúc xúc động mãnh liệt, tình yêu, nỗi nhớ da diết

 Ngôn ngữ mang tính cá thể: Ngôn ngữ gắn với những đặc điểm riêng của cá nhân

là một người chiến sĩ gan dạ, quả cảm

0.5

Câu 2:

- Tác giả kể về hai vấn đề chính

- Đó là các vấn đề sau:

 Nỗi nhớ về gia đình, nhớ về Hà Nội và những cảnh vật thân thương ở quê nhà

 Kể lại cuộc chiến đấu anh dũng và những cung bậc cảm xúc không thể nào quên

mà chị đã trải qua

0.5

Câu 3:

Nhân vật trong đoạn trích là một cô gái quả cảm, vì tiếng gọi của Tổ quốc mà đứng

lên chiến đấu Cô mang trong mình những phẩm chất sau:

- Là một người nặng lòng với gia đình, với quê hương Chị luôn nghĩ về quê nhà,

về những điều thân thương nhất: bao giờ cũng có một âm thanh dịu dàng tha thiết mà

sao có một âm lượng cao hơn tất cả mọi đạn bom sấm sét vang lên trong lòng con Đó là

tiếng nói của miền Bắc yêu thương, của mẹ, của ba, của em, của tất cả.

- Là một chiến sĩ gan dạ dũng cảm, sẵn sàng lao vào những nơi hiểm nguy để thựchiện nhiệm vụ được giao với tinh thần lạc quan đáng quý: Địch tập kích vào căn cứ, vừachạy địch, có đêm phải ngủ rừng con cũng vẫn cười, nụ cười vẫn nở ngay cả khi tàu ra vàHU1A quăng rocket xuống ngay trên đầu mình

Học sinh chú ý khi trả lời câu hỏi này, học sinh cần chỉ ra những dẫn chứng có trong

đoạn trích để làm sáng tỏ ý kiến của mình Tránh trả lời một cách chung chung, không có

Trang 13

nhất mà mỗi người cần giữ, cần có trong lòng mình.

- Trong hoàn cảnh nào, con người cũng cần giữ vững lòng gan dạ, dũng cảm, lạc

quan để vững vàng vượt qua những khó khăn thử thách đó

Học sinh có thể lựa chọn một trong số những thông điệp trên và khẳng định đó là thông

điệp mà học sinh cảm thấy ấn tượng nhất

Câu 1: Từ đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ)

bàn về phương châm: hãy sống vì lí tưởng của mình. 2.0

a Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn

Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc

c Triển khai vấn đề nghị luận

Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề theo nhiều cách

nhưng cần làm rõ vai trò của lối sống có lí tưởng, sống có mục đích trong đời sống mỗi

con người Có thể theo hướng sau:

- Giải thích: Lí tưởng sống là mục đích tốt đẹp mà mỗi con người muốn hướng tới,

là lí do, mục đích mà mỗi con người mong mỏi đạt được Người có lí tưởng sống cao đẹp

là người luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện mình hơn, giúp ích cho mình, gia đình

xã hội và đất nước

- Phân tích, chứng minh:

 Lí tưởng sống bộc lộ ở việc con người hướng đến một mục đích cụ thể trong cuộc

sống của mình, sống với đam mê, ước vọng và quyết tâm theo đuổi nó đến cùng

 Lí tưởng sống giúp con người nhìn nhận lại mình, biết đi đúng hướng khi lạc lối

 Hoàn cảnh mỗi người là khác nhau, nên tiêu chuẩn cuộc sống đặt ra cũng hoàn

toàn khác nhau Chính vì thế, mỗi người cần phải tạo dựng cho mình một lí tưởng sống

để theo đuổi, một chuẩn mực riêng của bản thân để cố gắng

 Lí tưởng sống là động lực thôi thúc mỗi người mạnh mẽ, can đảm đối mặt mọi

chông gai thử thách, đứng lên bước tiếp, chinh phục thành công Lí tưởng sống như chiếc

kim chỉ nam trong cuộc đời mỗi con người; định vị cho mọi hành động; là nhân tố không

thể thiếu quyết định đến sự thành bại trong cuộc đời mỗi con người

 Dẫn chứng: Phạm Thị Huệ là một trong số ít người Việt Nam nhiễm HIV/AIDS

dám công khai thân phận, chị quê ở Hải Phòng đã được tạp chí Times của Mĩ bầu chọn là

“anh hùng châu Á” Biết mình và chồng bị nhiễm bệnh nhưng chị đã chiến thắng bản

1.0

Trang 14

thân, đóng góp sức lực còn lại cho cuộc đời Tháng 2 năm 2005 chị trở thành thành viên

Liên hợp quốc Chị là một tấm gương về sống có lí tưởng, dù những ngày sống của chị

không còn nhiều nhưng chị vẫn cố gắng sống xứng đáng

- Bàn luận: Mỗi người có một mục đích khác nhau, không có một câu trả lời nào

chung cho tất cả mọi người, chính vì vậy mỗi người phải nỗ lực đi tìm câu trả lời cho

riêng mình

- Bài học: thay đổi chính bản thân mình từ những hành động nhỏ nhưng có ích mỗi

ngày Đó là tiền đề để thay đổi thế giới

d Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt 0.25

e Sáng tạo

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận 0.25

Câu 2: Khi nói về tác phẩm Đàn ghi-ta của Lor-ca, Thanh Thảo tâm sự: “Bài thơ của tôi

vẫn thuộc “thơ ca thông thường”, nhưng ở đó, phẩm chất tượng trưng được nhấn mạnh,

một cách tự nhiên' 1 '' (Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 2-2014).

Anh/chị hãy làm sáng tỏ vẻ đẹp của dấu ấn thơ tượng trưng trong bài thơ Đàn ghi-ta của

Lor-ca (Thanh Thảo) qua việc phân tích những đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng hình

ảnh của nhà thơ

5.0

a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận

Mở bài giới thiệu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được

vấn đề

0.25

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng hình ảnh của Thanh Thảo trong bài thơ

Đàn ghi-ta của Lor-ca, từ đó rút ra những vẻ đẹp của dấu ấn thơ tượng trưng có trong bài

thơ này

0.25

c Triển khai vấn đề nghị luận

Vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm

- Thanh Thảo là nhà thơ đi tiên phong trong nỗ lực đổi mới thơ Việt Ông luôn có ý

thức tìm tòi cách tân cho nền thơ Việt đương đại

- Bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca là kết quả của sự cộng hưởng diệu kì của những

khát vọng sáng tạo với một khả năng nhập cảm sâu sắc vào thế giới nghệ thuật thơ Lor-ca

và những suy nghiệm thâm trầm về nỗi đau và niềm hạnh phúc của những cuộc đời đã

dâng hiến trọn vẹn cho cái đẹp Bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca được Thanh Thảo viết ở

trại sáng tác Quân khu 5 - Đà Nẵng năm 1979, được công chúng biết đến lần đầu tiên vào

năm 1985 khi tập thơ Khối vuông ru bích ra đời Đây là bài thơ tiêu biểu cho kiểu tư duy

0.5

Trang 15

của Thanh Thảo Bài thơ đã tái hiện được vẻ đẹp bình tượng của Garcia Lor-ca, nhà thơ

vĩ đại nhất Tây Ban Nha thế kỉ XX, qua đó cũng thể hiện niềm suy tư của Thanh Thảo về

cuộc đời và nghệ thuật

* Khái quát những đặc trưng của thơ tượng trưng:

Chủ nghĩa tượng trưng đề ra một hệ thống quan điểm mĩ học: Hình tượng trong thơ tượng

trưng mang tính chất đa nghĩa Thơ tượng trưng phải giàu tính nhạc

0.25

* Phân tích những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng hình ảnh:

- Hình ảnh cây đàn:

 Cây đàn là nhạc cụ quen thuộc của đất nước Tây Ban Nha Hình ảnh cây đàn gợi

liên tưởng đến Lor-ca - một nghệ sĩ rất yêu nhạc dân gian và gợi liên tưởng đến Tây Ban

Nha - quê hương của đàn ghita

 Cây đàn còn được hiểu rộng là biểu tượng sự nghiệp nghệ thuật của Lor-ca, là

tổng hợp mọi cống hiến và đóng góp của Lor-ca trên lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật Cây

đàn là thế giới nghệ thuật của riêng Lor-ca, là thế giới trong đó ông sống và sáng tạo Cây

đàn cũng như cuộc đời Lor-ca chỉ có giá trị khi gắn với Lor-ca

Qua lời di chúc sớm Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn, Lor-ca muốn gửi gắm

một khát vọng: nền nghệ thuật Tây Ban Nha truyền thống đuợc cách tân Quá khứ là cái

truyền thống mà tương lai phải tiếp nối và nhân lên Hình ảnh cây đàn là biểu tượng cho

sức sống bất diệt của nghệ thuật chân chính Lor-ca không còn nhưng sự nghiệp và những

cách tân của ông vẫn còn mãi sẽ được kế thừa để tiếp nối

0.5

- Hình ảnh tiếng đàn:

Những tiếng đàn bọt nước: Tiếng đàn đó không chỉ có chức năng tạo ra âm thanh

thành bản nhạc mà nó còn mang tính tạo hình qua hình ảnh bọt nước Đây là hình ảnh

đem lại sự thụ cảm vừa bằng thính giác vừa bằng thị giác Thanh Thảo sử dụng biện pháp

quen thuộc của thơ tượng trưng khiến tiếng ghi ta hiện lên cũng bồng bềnh như giọt nước

lan tỏa trong không gian

 Hình ảnh tiếng ghita được gợi lên trong những giây phút bi phẫn của cuộc đời

Lorca:

Tiếng ghi-ta nâu/bầu trời cô gái ấy: nâu có thể là màu của vỏ đàn, màu của đất

đai quê hương hay màu da cô gái Lorca yêu Đó là âm vang màu sắc của tình yêu, tiếng

ghi-ta đã chứa đựng trong nó thế giới của những rung động tình yêu say mê đắm đuối Lạ

là ở chỗ âm thanh tiếng ghita lại mở ra một khoảng trời, một phần đời sống riêng tư với

tình yêu dành cho “cô gái ấy”

Tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy: lá xanh là thiên nhiên tươi tắn, là cỏ cây với cuộc

sống tự nhiên, tiếng ghi-ta lá xanh là tiếng ghi-ta mang màu xanh của sự sống và niềm

thiết tha khắc khoải với sự sống

1.0

Trang 16

Tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan: âm thanh đến đây như có hình khối qua từ

“tròn” và cụm từ “bọt nước vỡ tan” Câu thơ này gợi sự mất mát, kết thúc của cái tồn tạimong manh (bọt nước) Khi tiếng đàn ghi-ta vang lên những âm thanh cuối cùng của giaiđiệu cuộc sống cũng là khi sự sống đột ngột chấm dứt

Tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy: là sự sống ở dạng tồn tại đau thương và bi tráng

nhất Âm thanh tiếng ghi-ta là giai điệu, là sự sống của tâm hồn Máu chảy ròng ròng lạigợi sự hủy diệt tàn bạo sự sống và vết thương đau đớn Trong sự liên tưởng của ThanhThảo, bản thân tiếng đàn là một sự sống, một sinh thể cũng bị tổn thương và bị “chảymáu” như chính con người

 Hình ảnh tiếng đàn sau cái chết của Lor-ca:

Tiếng đàn như cỏ mọc hoang: tiếng đàn vốn là một âm thanh được so sánh với

một hình ảnh quen thuộc Đây là cách lạ hóa trong xây dựng hình ảnh làm cho hình ảnhhiện lên có nhiều cách hiểu Cỏ vốn là hình ảnh quen thuộc trong thế giới nghệ thuật củaThanh Thảo, nó tượng trưng cho sự đơn sơ, cho sức sống mãnh liệt, trường tồn cỏ cũngbiểu tượng cho tuổi trẻ, tuổi xuân So sánh tiếng đàn với cỏ là để bất tử hóa tài năng nghệthuật của Lorca, từ đó khẳng định rằng, cái đẹp không thế bị hủy diệt, cái đẹp sẽ sốngmãi

- Hệ thống hình ảnh gợi nhiều liên tưởng:

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt: về nghĩa thực, câu thơ gợi đến cuộc đấu bò tót

-một hoạt động văn hóa đặc trưng của Tây Ban Nha khiến đất nước này nổi tiếng trên thếgiới, về nghĩa biểu tượng, Tây Ban Nha đã trở thành một đấu trường giữa tự do, dân chủvới thể chế chính trị hà khắc, giữa những cách tân nghệ thuật với nền nghệ thuật già nua

Giọt nước mắt vầng trăng: Đó có thể là sự gợi đến cái chết bi phẫn của Lor-ca, nó

cũng có thể khiến ta có cảm giác vầng trăng nơi đáy giếng như giọt nước mắt khổng lồcủa nhân loại tiếc thương Lor-ca Hay hình ảnh vầng trăng soi xuống đáy giếng như giọtnước mắt của đất trời tiếc thương đồng thời khẳng định sự bất tử của Lor-ca Với sự xóa

bỏ liên từ ở câu thơ này, Thanh Thảo đã đem đến những ý nghĩa mới cho hình ảnh quenthuộc và ẩn chứa trong những hình ảnh ấy là nỗi xót xa trước sự ra đi đột ngột, đầy biphẫn của người nghệ sĩ chân chính Lor-ca

Dòng sông rộng màu bạc: hình ảnh dòng sông biểu tượng cho cuộc đời vô hạn

vẫn tiếp tục chảy trôi Điều đó gợi một cảm giác bi quan: có lẽ sự tồn tại hữu hạn, mongmanh của một đời người ngắn ngủi đứt gãy nửa chừng sẽ bị dìm cho chìm nghỉm dướiđáy sông, sẽ trở nên vô nghĩa trước cái vô cùng của sóng nước Thế nhưng Thanh Thảo

lại bằng tưởng tượng, đem đến một cảm nhận hoàn toàn ngược lại Bơi là hành động đế tồn tại và khẳng định sự tồn tại trên dòng sông, bơi sang ngang là không bị cuốn đi và

1.0

Trang 17

không muốn buông trôi theo dòng nước - phải chống chọi với sức băng cuốn của sóng

nước song cũng thể hiện rõ tư thế đứng cao hơn mọi sự chảy trôi thông thường; bơi trên

chiếc ghi-ta màu bạc là dùng cây đàn ghi-ta chuyển tải sự sống của mình vượt lên mọi sự

băng hoại, chảy trôi Chiếc đàn ghi-ta đã chở sự sống và linh hồn Lor-ca vượt qua giới

hạn ngắn ngủi của đời người để đến với cõi vô cùng của cuộc sống Đó vừa là thực tế,

vừa là niềm tin tuyệt đối của Thanh Thảo vào sự bất tử của Lor-ca Vậy là, sự tưởng

tượng xét đến cùng lại bắt nguồn từ nhận thức về giá trị tinh thần của tiếng đàn Lor-ca, từ

giá trị của tiếng nói và những cống hiến của Lor-ca cho nghệ thuật Vậy là ta lại thấy ở

đây một khía cạnh nữa trong quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo: sự sống vật chất của

người nghệ sĩ chỉ là hữu hạn song sản phẩm nghệ thuật mà nghệ sĩ tạo ra sẽ đưa nghệ sĩ

vào cõi bất tử

Li-la li-la li-la: Hai lần Thanh Thảo mô tả tiếng đàn li-la li-la li-la Lần thứ nhất

là những âm thanh vang lên trong không gian dữ dội của đất nước Tây Ban Nha thành lời

ca tranh đấu Lần thứ hai là những âm thanh vang lên trong lặng im bất chợt, vang lên từ

cõi vô cùng và sự bất diệt

- Lần thứ nhất là âm thanh thực Lần thứ hai đã là những dư âm không dứt để khơi

dậy và nối dài cảm xúc, rung động và tỏa sáng lí tưởng cao cả đẹp đẽ của Lor-ca

- Đặc sắc nghệ thuật: Sử dụng bút pháp tương giao kết hợp với các biện pháp tu từ,

nổi bật là nhân hóa, hoán dụ làm cho các hình ảnh hiện lên mang nhiều tầng nghĩa so

sánh; xây dựng hình ảnh theo lối lạ hóa; xóa bỏ liên từ và các từ theo lo-gic đã tạo ý

nghĩa triết lí sâu sắc

0.25

* Đánh giá:

- Thanh Thảo là một nhà thơ luôn luôn dam mê và sáng tạo nghệ thuật với những

nỗ lực đổi mới và cách tân Là một thi sĩ có ý thức sâu sắc về thế hệ mình, về nghệ thuật

của mình, Thanh Thảo không ngừng suy ngẫm để đúc kết thành những châm ngôn, tuyên

ngôn, trước hết là cho ngòi bút của mình

- Sự cộng hưởng của những khát vọng sáng tạo nghệ thuật giữa Thanh Thảo và

người nghệ sĩ Lor-ca đã khiến cho thi phẩm Đàn ghi-ta của Lor-ca trở thành một thi

phẩm mà “lần đầu đọc ai cũng cảm thấy choảng ngợp và lúng túng như đứng trước một

mĩ nhân có một vẻ đẹp hiện đại mà không biết cách nào tiếp cận và khảm phá.”

0.5

d Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt 0.25

e Sáng tạo

- Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận

- Có thể so sánh mở rộng với một số tác phẩm văn học khác viết về người phụ nữ:

Truyện Kiều, Chuyện người con gái Nam Xương, Tắt đèn

0.25

TỔNG ĐIỂM: 10.0

Trang 18

THẦN TỐC LUYỆN ĐỀ

ĐỀ SỐ 13

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM HỌC: 2019 – 2020 MÔN: Ngữ văn

Thời gian làm bài: 120 phút; không kể thời gian phát đề

I ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Đất nước đẹp vô cùng Nhưng Bác phải ra đi Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất

Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre

Đêm xa nước đàu tiên, ai nỡ ngủ Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở

Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương

Lũ vhungs ta ngủ trong giường chiếu hẹp Giấc mơ con đè nát cuộc đời con

Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp Một má nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn

[…] Hiểu sao hết “Người đi tìm hình của Nước”

Không phải hình một bài thơ đá tạc nên người Một góc quê hương nửa đời quen thuộc Hay một đấng vô hình sương khói xa xôi

(Người đi tìm hình của nước, Chế Lan Viên)

Câu 1 Xác định thể thơ của đoạn thơ trên.

Câu 2 Đoạn thơ sử dụng phương thức biểu đạt chính nào? Chỉ ra các dấu hiệu của phương thức biểu đạt đó Câu 3 Theo anh/chị, câu thơ Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp/ Giấc mơ con đè nát cuộc đời con mà

tác giả nói tới trong đoạn trích là gì?

Câu 4. Anh/chị hãy phân tích tình cảm của tác giả được thể hiện trong khổ thơ cuối cùng trong đoạn trích.

II LÀM VĂN (7.0 điểm)

Trang 19

Bằng cảm nhận về đoạn thơ Việt Bắc (Ngữ văn 12, tập 1 – NXB Giáo dục Việt Nam), anh/chị hãy

làm sáng tỏ những ý kiến trên

Trang 20

- Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.

- Nguyên nhân: Đoạn thơ bộc lộ cảm xúc xúc động, nghẹn ngào của tác giả nghĩ về

ngày đầu tiên Bác đi trên con tàu ra nước ngoài tìm đường cứu nước

1.0

Câu 3:

Câu thơ Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp/ Giấc mơ con đè nát cuộc đời con

mà tác giả nói tới trong đoạn trích là hình ảnh ẩn dụ nhắc đến việc những con người

trong xã hội lúc bấy giờ không có suy nghĩ lớn, chỉ biết yên phận sống trong một đất

Ở đoạn thơ cuối, tác giả thể hiện tình cảm của mình với vị lãnh tụ:

- Lòng cảm phục những điều mà Người đã làm cho đất nước, trân trọng những giá trị

cao quý mà Người đã đem đến cho dân tộc ta

- Ca ngợi hình ảnh người lãnh tụ không xa lạ mà luôn gần gũi, bình dị với nhân dân,

c Triển khai vấn đề nghị luận

Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề thao nhiều

cách nhưng cần làm rõ phương châm con người cần phải sống sao cho xứng đáng,

không hối tiếc vì những gì mình đã lựa chọn, những gì mình đã làm Có thể theo

hướng sau:

- Giải thích: Sống xứng đáng là sống có ý nghĩa, sống trọn vẹn, không cảm thấy hổ

thẹn, hối tiếc về những điều đã làm Người biết sống xứng đáng là người làm tròn

trách nhiệm của mình, người sống có mục đích, lí tưởng và tạo được cảm hứng, động

lực cho những người khác

- Phân tích, chứng minh:

1.0

Trang 21

+ Người sống xứng đáng trước tiên phải biết làm chủ cho bản thân mình, biết mình

muốn gì, cần gì và mục tiêu hướng đến trong cuộc đời mình là gì Mục đích sống của

mỗi người là khác nhau, không thể có một câu trả lời duy nhất cho tất cả những mục

đích sống của con người, nhưng những người sống xứng đáng gặp gỡ nhau ở việc họ

có mục đích cho riêng mình

+ Người sống xứng đáng là người không phụ thuộc vào những quyết định của

người khác, họ luôn biết cách tự chọn cho mình một lối đi phù hợp và nhất quán theo

lối đi đó dù cho có gặp nhiều khó khăn, thử thách

+ Người sống xứng đáng còn là người tạo động lực, cảm hứng cho người khác

+ Dẫn chứng: Học sinh có thể lấy dẫn chứng cụ thể như sau: Những nhân vật lịch

sử thể hiện khí tiết, phong thái dù trong hoàn cảnh nào, nhất là khi đi sứ, đại diện cho

quốc gia dân tộc: Nguyễn Biểu, Phùng Khắc Hoan,…

Chu Văn An là một nhà nho, nhà hiền triết, nhà sư phạm mẫu mực cuối đời Trần,

nổi tiếng cương trực, không cầu danh lợi Ra làm quan vào thời vua Trần Dụ Tông

(đầu thế kỉ XIV), chính sự suy đồi, nịnh thần lũng đoạn, ông dâng sớ xin chém 7 nịnh

thần (Thất trảm sớ) nhưng không được chấp thuận.

Ông treo ấn, từ quan về quê dạy học, soạn sách Ông không vì học trò làm quan to

mà dựa dẫm, trái lại luôn thẳng thắn phê bình những học trò thiếu lễ độ Ông là tấm

gương về lối sống trung thực, bất chấp khó khăn vẫn đấu tranh cho lẽ phải Chu Văn

An là một điển hình cho người sống xứng đáng

- Bàn luận, mở rộng: Việc lựa chọn cho mình một lí tưởng sống, những quyết định

không để bị ảnh hưởng bởi người khác không đồng nghĩa với việc tách mình ra khỏi

cộng đồng mà trái lại làm cho mục đích, lí tưởng của mình trở thành đặc biệt trong xã

hội, được mọi người tin tưởng và tôn trọng

- Bài học: Liên hệ bản thân và rút ra bài học nhận thức và hành động phù hợp.

d Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt 0.25

e Sáng tạo

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận 0.25

Câu 2: Có ý kiến cho rằng: Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu là bản anh hung ca, bản

tình ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến Ý kiến khác lại khẳng định :Ở

Việt Bắc, tính dân tộc trong nghệ thuật thơ Tố Hữu rõ nét nhất.

5.0

a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận

Mở bài giới thiệu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát

Trang 22

ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến; là bài thơ đậm đà tính dân tộc.

c Triển khai vấn đề nghị luận

Vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm

- Tố Hữu là lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng, với phơng cách trữ tình – chính

trị

- Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác vào tháng 12 năm 1954 nhân một sự kiện

lịch sử: Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu về Thủ đô Hà Nội Từ điểm

xuất phát ấy, bài thơ thể hiện tình gắn bó thắm thiết giữa người ra đi và người ở lại,

giữa miền xuôi và miền ngược, giữa người cán bộ với Việt Bắc quê hương của cách

mạng, với đất nước và nhân dân, với Đảng và Bác Hồ, với cuộc kháng chiến đã thành

kỉ niệm sâu nặng trong tâm hồn

- Tình cảm quân – dân, tình đồng bào - chiến sĩ…là những tình cảm thiêng liêng,

gắn liền với thời đại cách mạng, trở thành nguồn cảm hứng lớn trong thơ ca

0.5

a Giải thích hai ý kiến:

- Ý kiến thứ nhất: Ca ngợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta,

những con người kháng chiến (nhân dân và cán bộ cách mạng) anh hung trong chiến

đấu, căm thù giặc cao độ, có tinh thần đoàn kết Đồng thời cũng thể hiện tình cảm lưu

luyến vấn vương giữa đồng bào Việt Bắc và cán bộ cách mạng, ca ngợi lối sống ân

nghĩa ân tình giữa nhân dân và cách mạng

- Ý kiến thứ hai: Khẳng định vẻ đẹp về nghệ thuật thơ Tố Hữu – tính dân tộc - thể

hiện ở kết cấu đậm chất ca dao, thể thơ lục bát điêu luyện, ngọt ngào, việc dử dụng

cặp đại từ “mình”, “ta”

0.5

b Chứng minh qua đoạn trích Việt Bắc:

* Luận điểm 1: Đoạn thơ là bản tình ca, anh hung ca

- Việt Bắc là bản tình ca:

+ Tình cảm lưu luyến vấn vương giữa đồng bào Việt Bắc và cán bộ cách mạng, ca

ngợi lối sống ân tình, thủy chung của đồng bào Việt Bắc Với kiểu kết cấu đối đáp rất

ngọt ngào, tình nghĩa, bài thơ Việt Bắc là tình yêu với thiên nhiên đất nước được biểu

hiện cụ thể qua sự gắn bó với núi rừng Việt Bắc trong nỗi nhớ của người cán bộ sắp

về xuôi Cảnh Việt Bắc hiện ra những vẻ đẹp hiện thực và thơ mộng, thi vị gợi rõ nét

độc đáo của Việt Bắc so với nhiều miền quê khác của đất nước Người về xuôi lưu

luyến từ cảnh vật đến con người Việt Bắc

+ Đoạn trích thể hiện sự hòa quyện giữa người với cảnh, là ấn tượng không thể

phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù lao động, thủy chung trong nghĩa tình

Nét đặc sắc cao quý của Việt Bắc chính là ở chỗ nghèo cùng cực mà chân tình, rộng

mở, son sắt, thủy chung với cách mạng Hình ảnh củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa, tấm

2.0

Trang 23

chăn sui đắp cùng là hình ảnh thực của đời sống kháng chiến, gian khổ nhưng thấm

đẫm chân tình của đồng bào, của an hem đồng chí Hay hình ảnh người mẹ Việt Bắctần tảo chắt chiu, cần cù lao động, vất vả, nhọc nhằn nhưng ấm áp cảm động, địu contrên lưng dưới cái nắng cháy da để bẻ bắp nuôi con, nuôi bộ đội

+ Tác phẩm là lời ca ngợi vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc: cảnh đẹp, hài hòa từđường nét, màu sắc, âm thanh; con người đẹp trong lối sống nghĩa tình Có thể thấythiên nhiên Việt Bắc hiện ra với những vẻ đẹp phong phú, đa dạng, thay đổi theo thờitiết, từng mùa Gắn với cảnh tượng ấy là con người giản dị, người đi làm nương rẫy,người đan nón, người hái măng…Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình

họ đã góp phần tạo ra sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến Chính tình nghĩa gắn bó

và san sẻ cùng nhau chịu đựng gian khổ thiếu thốn, cùng nhau gánh vác nhiệm vụnặng nề, khó khăn giữa nhân dân với bộ đội và cán bộ, tất cả càng làm cho hình ảnhViệt Bắc sáng ngời trong hồi tưởng của nhà thơ

- Việt Bắc là bản anh hùng ca:

+ Anh hùng trong chiến đấu: khung cảnh hùng tráng đạm chất sử thi, cảm hứnglãng mạn thể hiện qua giọng điệu dồn dập, âm hưởng hào hùng, những hoạt động sôinổi…góp phần diễn tả sức mạnh và khí thế chiến đấu của cuộc kháng chiến

+ Sức mạnh bắt nguồn từ lòng căm thù trước tội ác của giặc: Nhớ khi giặc đến giặc lùng…mối thù nặng vai, từ tinh thần đoàn kết rừng cây núi đá, ta cùng đánh Tây, đất

trời ta cả chiến khu một lòng Nhưng Tố Hữu không chỉ miêu tả diễn biến của cuộckháng chiến mà còn đi sâu vào lí giải những cội nguồn sức mạnh đã dẫn tới chiếnthắng Đó không chỉ là sức mạnh của lòng căm thù mà còn là sức mạnh của tình nghĩa

thủy chung: Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi, nhất là sức mạnh của khối đoàn kết

toàn dân, của sự hòa quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên - tất cả tạo thànhhình ảnh “đất nước đứng lên”

+ Sức mạnh của đau thương biến thành hành động và lập được những chiến công

vang dội Tim vui chiến thắng trăm miền Dân tộc ta đã vượt qua bao gian khổ hi sinh

để lập lên những kì tích, những chiến công: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phốRàng, Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên,…

+ Sức mạnh của niềm tin, lạc quan tin tưởng và Đảng, Bác Hồ; khảng định ViệtBắc là căn cứ địa vững chắc của cuộc kháng chiến Trong những năm tháng kháng

chiến gian lao, Việt Bắc là nơi có Cụ Hồ soi sáng, có Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công Đặc biệt bằng những lời thơ quan trọng mà tha thiết, Tố Hữu đã đi sâu

nhấn mạnh hình ảnh và vai trò của Việt Bắc như là quê hương của cách mạng, can cứvững chắc của cuộc kháng chiến

Trang 24

* Luận điểm 2: Đoạn thơ thể hiện đậm đà tính dân tộc:

+ Tâm trạng bao trùm là nỗi nhớ, nương theo những câu hỏi, theo lối đối đáp của

ca dao ta – mình để khơi gợi kỉ niệm về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến.

Cả bài thơ dài như một cuộc hát đối đáp nam nữ Kết cấu đối đáp hài hòa với lối thơ

lục bát giàu chất dân gian đã là cho bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu có cái dáng dấp của

một bài hát gioa duyên bác học được viết theo lối dân gian Người ở lại rừng núi chiến

khu là cô gái Việt Bắ, người về xuôi là anh cán bộ cách mạng Cuộc chia tay lớn của

cán bộ Đảng và Chính phủ kháng chiến với Việt Bắc được thu vào cuộc chia tay của

một đô trai gái Nói khác hơn, tác giả đã chọn tình yêu của đôi trai gái làm một góc

nhìn để bao quát toàn cảnh Việt Bắc, với Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Chuyện chung đã hóa thành chuyện riêng, chuyện cách mạng của nhân dân, đất nước

trở thành chuyện tình yêu của đôi lứa nhẹ nhàng, thắm thiết

+ Những phương diện khác như: ngôn ngữ, nội dung, hình tượng nhân vật trữ

tình…Việt Bắc cùng với những bài thơ khác của Tố Hữu đã khẳng định phong cách

độc đáo của ông trong suốt chặng đường cầm bút của người nghệ sĩ mạng: từ hiện đại

trở về cổ điển, trở về với nét dân tộc và truyền thống

0.5

* Đánh giá:

- Hai ý kiến trên là những đánh giá về giá trị nội dung tư tưởng và hình thức nghệ

thuật độc đáo của bài thơ Việt Bắc – một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một tác

phẩm xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp

- Tác phẩm kể về sự kiện lớn, những tư tưởng được diễn đạt bằng một hình thức

nghệ thuật dân tộc Bài thơ vừa làm sống dậy những kỉ niệm ân nghĩa, ân tình của đời

sống cách mạng và kháng chiến vừa là lời nhắc nhở về sự thuuyr chung của con ngườ

và đối với quá khứ cách mạng dân tộc Việt Nam

Thời gian làm bài: 120 phút; không kể thời gian phát đề

I ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Trang 25

Ngày mai các em bước vào đời Ngày mai sẽ không còn sự bình yên thơ mộng trên giảng đường, không còn chầm chậm bước chân trên con đường nhuốm sắc vàng mùa lộc vừng thay lá, không còn

mơ mộng vu vơ Bước ra đời là bước vào cuộc sống.

Ở đó, có dự diệu kì, có điều lạ lẫm và có cả những nỗi chán chường Nhưng đó là cuộc sống Hãy yêu lấy cuộc sống và làm cho cuộc sống tốt hơn Hãy bắt đầu từ những điều bình dị và hãy bắt đầu

từ tình yêu thương, lòng tha thứ để không còn những điề đau lòng, yêu thương sẽ xóa tan thù hận Đừng chọn thời gian cho mỗi riêng mình và đừng chọn lối mòn mà đời ta từng quen đi lại, chỉ trừ lối về quê cha đất mẹ Hãy bắt đầu những điều tưởng chừng như rất dễ để cảm hóa một con người,

để họ nhận biết đúng sa Biết gieo vào lòng người nhiều hi vọng và ngày mai sẽ tốt tươi hơn.Hãy biết khát vọng và gieo mầm khát vọng, ngheo nàm rồi sẽ đi qua, nhưng không phải là những giấc chiêm bao ngồi chờ ông bụt hiện hình mà phải thực hiện bằng bàn tay và khối óc, bằng nhọc nhằn

và gian khổ của mỗi người Đừng gieo vào lòng người những ảo tuongr vì không làm sẽ không có cái ăn Hãy bắt đầu tạo dựng niềm tin giữa con người.Niềm tin phải được bắt đầu từ chân thành và tôn trọng, từ sự trung thực củ mỗi người Một xã hội văn minh được dựng lên từ những con người trung thực Vì vậy, hãy thay đổi chính mình đầu tiên Đừng kỳ vọng thay đổi xac hội khi chính mình chưa thay đổi.

Các em là những người hạnh phúc vì các em không bị ám ảnh bởi tiếng súng, tiếng bom Các em được tiếp cận những thành quả mới nhất của nhân loại và các em đang sống trong một thời đại tuyệt vời Thầy đang cố gắng để theo kịp các em,học hỏi các em nhưng không dễ Có lúc, thầy cảm nhận được sự lạc hậu của mình trong các quan niệm, trong cách thức, trong điều kiện và trong hành động Thậm chí, có lúc cảm thấy hụt hơi Nhưng thầy lấy đó làm niếm hạnh phúc để cố gắng Bởi vì nếu thế hệ trước bỏ xa thế hệ sau thì đó là rủi ro Trong tiến trình đi tới, thế thệ sau đi chậm hơn là điều đáng buồn Thầy thường hòa nghi và lo lắng quan niệm của mình có lạc hậu hay không

và hôm nay thầy mạo muội chia sẻ với các em.

(Bài phát biểu Ngày Tốt nghiệp của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Nguyễn Văn Minh,

2019)

Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.

Câu 2: Trong bài phát biểu, tác giả khẳng định những tư tưởng chính nào?

Câu 3: Anh/chị nhận được những thông điệp đáng quý nào từ đoạn trích trên?

Câu 4: Anh/chị có đồng tình với quan niệm của tác giả: Nếu thế hệ trước bỏ xa thế hệ sau thì đó là

rủi ro? Vì sao?

II LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1: (2.0 điểm)

Từ đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về ý nghĩa củalối sống biết khát vọng

Trang 27

Trong bài phát biểu, tác giả khẳng định những tư tưởng chính sau:

- Cuộc sống có những điều ngang trái, những khó khăn, thử thách và những điều

mà tuổi trẻ phải làm để khẳng định bản thân mình

- Những thuận lợi, thế mạnh mà giới trẻ có được để vượt qua những khó khăn, thử

thách đó

1.0

Câu 3:

Những thông điệp mà tác giả gửi gắm trong đoạn trích trên:

- Tuổi trẻ cần có những trách nhiệm đối với cuộc sống của chính mình: Biết sống

có khát vọng, biết nỗ lực làm nên thành tựu cho chính mình, biết trung thực tạo ra

thành quả của bản thân (Hãy yêu lấy cuộc sống và làm cho cuộc sống tốt hơn Hãy bắt

đầu từ những điều bình dị và hãy bắt đầu từ tình yêu thương, lòng tha thứ để không

còn những điều đau lòng, yêu thương sẽ xóa tan thù hận).

- Tuổi trẻ đang được sống trong một thòi đại thừa hưởng nhiều thành quả của nhân

loại, đó là những giá trị cần được trân trọng va biến nó thành cơ hội (Các em được

tiếp cận những thành quả mới nhất của nhân loại và các em đang sống trong một thời

đại tuyệt vời).

0.5

Câu 4:

Thí sinh có thể tự do bày tỏ quan điểm của mình, có thể đồng tình hoặc không

đồng tình, hoặc đồng tình điểm này nhưng không đồng tình điểm kia Sau đây là một

số gợi ý:

- Thế hệ trước là những người đi trước, là những người có nhiều trải nghiệm, kinh

nghiệm, chính họ đã mắc sai lầm để thế hệ sau không mắc sai lầm nhu họ nữa Đó là lí

do mà thế hệ sau cần phải biết rút kinh nghiệm, để tiến xa hơn những bước đi mà thế

hệ trước đã đi

- Tuy nhiên, việc thế hệ sau mắc sai lầm, có những bước lùi so vớ thế hệ trước

cũng không hẳn là một điều hoàn toàn tiêu cực, bởi sau sai lầm, vấp ngã đó thì con

người mới có thể tiến bộ được

1.0

Câu 1: Từ đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ)

bàn về ý nghĩa cuả lối sống biết khát vọng

2.0

Trang 28

Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân –

hợp, móc xích hoặc song hành

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Tầm quan trọng của khát vọng đối với đời sống mỗi con người

0.25

c Triển khai vấn đề nghị luận

Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề theo nhiều

cách nhưng cần làm rõ tầm quan trọng của khát vọng đối với mỗi con người Có thể

theo hướng sau:

* Giải thích: Khát vọng là mong muốn hướng tớ những điều lớn lao, tốt đẹp với

sự thôi thúc mãnh liệt đến từ sâu thẳm trái tim con người Nó đem đến một mục đích

sống cao đẹp, trở thành động lực giúp ta vượt qua khó khăn trên đường đời Những

dười có khát vọng sống chính là những người sẽ không bao giờ từ bỏ ước mơ của

mình dù cho có khó khăn đến nhường nào Chỉ còn một tia hi vọng cũng sẽ nỗ lực cố

gắng chiến đấu đến cùng cho khát vọng sống ấy

* Bình luận, phân tích,chứng minh:

- Mỗi cá nhân đều cần có khát vọng, đó là ý chí, là mong muốn để mỗi người có

mục tiêu phấn đấu, có động lực để lao động

- Cuộc sống của mỗi con người chúng ta không phải ai cũng bằng phẳng có những

người họ luôn phải đối mặt với khó khăn về sức khỏe, công việc và động lực để giúp

họ thành công hơn đó chính là khát vọng sống

- Khát vọng nâng ta lên khỏi những cái tầm thường, vươn tới cái cao cả, thuần

khiết hơn, trở thành nền tảng quan trọng để có thể kiến tạo nên lợi ích cho gia đình và

xã hội

- Để tạo cho mình một khát vọng sống thì chũng ta hãy luôn biết sống yêu đời, lạc

quan nhìn về phía trước

- Dẫn chứng:

+ Steve Jobs, Bill Gates, Zuckerberg…là những dẫn chứng điển hình cho khát

vọng tạo dựng sự nghiệp, thay đổ thế giới

+ Thuở niên thiếu Picaso là một họa sĩ vô danh, nghèo túng ở Paris Đến lúc chỉ

còn 15 đồng bạc, ông quyết định “đánh canh bạc cuối cùng” Chưa đầy một tháng, tên

tuổi của ông đã nổi tiếng khắp Paris, tranh của ông bán được và nổi tiếng từ đó Như

vậy, vốn dĩ Picaso đã tự tạo cơ hội cho mình, tin tưởng vào tài năng của mình và hơn

cả là bởi ông có khát vọng chính đáng

- Mở rộng: Khát vọng quá lớn không chỉ tạo nên áp lực đè nặng lên con người mà

còn khiến nhiều người bất chấp mọi thủ đoạn xấu xa để đạt được nó Con người biết

khát vọng là con người biết phấn đấu Đừng vì sự tự ti mà không dám thực hiện khát

1.0

Trang 29

vọng nhưng cũng đừng vì muốn đạt được khát vọng của mình mà giẫm đạp lên mọi

Câu 2: Nhận định về truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu,

Đoàn Huỳnh Kim khẳng định: “Tác phẩm là ,một kiệt tác trong việc kêu gọi cái nhìn

đa chiều trước vấn nạn bạo hành”.

Từ việc phân tích những cách nhìn khác nhau về vấn đề bạo hành trong tác phẩm,

anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về vẻ đẹp của người đàn bà làng chài

5.0

a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận.

Mở bài giới thiệu được vấn đê, Thân bài trển khai được vấn đề, Kết bài khái quát

được vấn đề

0.25

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận.

Phân tích nhân vật người đàn bà làng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài

xa để thấy được vấn nạn bạo hành trong tác phẩm có thể được nhìn nhận ở hai khía

cạnh: vừa là bi kịch đáng thương của người đàn bà nhưng qua đó cũng thấy được phần

nào trách nhiệm, sự đáng trách của người đàn bà đã khiến gia đình lâm vào bi kịch ấy

0.25

c Triển khai vẫn đề nghị luận

Vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm

- Nguyễn Minh Châu là tác giả tiêu biểu, được xem như “người mở đường tinh

anh” của văn học Việt Nam sau 1975 Ông thành công với nhiều tác phẩm như: Người

đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau, Bến quê,…

- Chiếc thuyền ngoài xa la truyện ngắn cả nhà văn Nguyễn Minh Châu, được in

trong tập Bến quê (1985), sau đó được đưa vào và dùng làm tên cho một tuyển tập –

gồm 15 truyện – do nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn hành năm 1987.

Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước

ra từ cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mát Phùng được dịp trở về chiến trường

xưa đề chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng.Tại đây anh

đã phát hiện ra một bức tranh cảnh biển có một không hai, nhưng đằng sau chiếc

thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người chồng vũ phu,

thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn bà nhẫn nhục chịu

đựng Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ sửng sốt

0.5

Trang 30

Thí sinh có thể cảm nhận theo nhều cách nhưng cần đáp ứng các yêu cầu sau:

a Giải thích hai ý kiến: Bạo hành vẫn dduocj nhìn nhận như một vấn nạn, một bi

kịch đáng buồn trong mỗi gia đình nhưng trong tác phẩm của mình, Nguyễn Minh

Châu đã nhìn ở những góc quy khác, những khía cạnh khác, nơi đó nhân vật có những

tâm sự, nỗi lòng, bộc lộ cảm quan nhân sinh của nhà văn Qua vấn nạn bạo hành, nhân

vật người đàn bà hàng chài hiện lên với những nhận xét đa chiều, thậm chí là đối

nghịch

+ Một mặt người đàn bà làng chài là người phụ nữ đáng thương, là nạn nhân của

nạn bạo hành

+ Mặt khác người đàn bà làng chài là người chịu trách nhiệm trước bi kịch của

mình, thỏa hiệp với nạn bạo hành, coi đó là điều tất yếu của một gia đình khốn khổ,

- Thân phận nhỏ bé, vô danh: Xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, hầu như người đọc

không hề được biết đến tên gọi của người đàn bà tội nghiệp ấy, Nguyễn Minh Châu đã

gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi là mụ, khi

thì gọi chị ta… Cách gọi phiếm định ấy đã hé mở một cuộc đời nhỏ bé, không đáng để

tâm và sẽ ngang trái, một số phận bị vùi dập giữa cuộc sống bộn bề lo toan

- Ngoại hình xấu xí; Người đàn bà trạc ngoài 0, hình dáng thô kệch, rỗ mặt, khuôn

mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt, mệt mỏi dường như đang buồn

ngủ Và cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ

trở nên thô kệch

- Cuộc đời sớm bất hạnh: Có mang với một anh hàng chài, đến mua bả về đan

lưới, tối thành vợ chồng Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhoc, vất vả, lam lũ, bấp

bênh Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật…

- Chị là nạn nhân của những trận bạo hành:

+ Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ: ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một

trận nặng Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, với

lời lẽ cay độc Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ.

+ Khi bị đánh chị không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy

trốn mà coi đó là một lẽ đương nhiên Người đàn bà ấy nhẫn nhục, cam chịu, thầm

lạng chịu đựng mọi đau đớn tất cả vì những đứa con Chị không muốn đàn con phải

nhìn thấy cảnh cha đánh mẹ Chị xin chồng lên bờ mà đánh khi con lớn Chị xót xa

đau đớn khi phải chứng kiến cảnh thằng Phác đánh cha: như một viên đạn bắn vào

2.0

Trang 31

người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, và làm rỏ xuống

những dòng nước mắt.

* Người đàn bà hang chài là người phụ nữ đáng trách, chị cam chịu việc bị bạo

hành để nghĩ về gia đình, nghĩ về con

- Tính cách cam chịu, không phản kháng: Chị coi việc mình bị đánh đó như một

phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình, chị chấp nhận, không kêu van, không trốn

chạy Khi được đề nghị giúp đỡ thì: Xin các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu; Quý

tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó.

- Luôn ý thức được thiên chức của người phụ nữ: Ông trời sinh ra người đàn bà

là để đẻ con và nuôi con đến khi khôn lớn nhưnglại không biết phải làm thế nào để

ngăn chặn, chấm dứt thói vũ phu của ông chồng Đau đớn chấp nhận nhìn đứa con

(thằng Phác) ôm mối thù hằn với bố nó

- Thỏa hiệp với thói vũ phu của chồng: ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận

nặn Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, với lời

lẽ cay độc Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ.

c Đánh giá, bình luận mở rộng:

- Ý kiến góp phần khắc họa sâu sắc bi kịch của nhân vật thông qua những cái nhìn

khác nhau về nạn bạo hành gia đình Người đàn bà hang chài vừa đáng thương, vừa

đáng trách nhưng đáng trân trọng hơn cả là long vị tha,đức hi sinh quên mình dành

cho những đứa con

- Trong mọi hoàn cảnh chị vẫn giữ trong tâm hồn mình ngọn lửa của hi vọng, của

niềm tin để thắp lên hạnh phúc mong manh: Trong khổ đau triền miên, người đàn bà

ấy ấy vẫn chắt chiu ddowcj những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi:…vui nhất là lúc ngồi

nhìn con tôi chúng nó được ăn no; trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái

chúng tô sống hòa thuận,vui vẻ.

- Đằng sau sự nhẫn nhục ấy là bản năng sinh tồn mãnh liệt và một tấm lòng yêu

thương con đến đáng thương.Người đàn bà hang chài vừa lam lũ, chất phát, có tình

thương con vô bờ bến, vừa luôn mang nỗi đau, vừa có cái tham trầm trong việc thấu

hiểu các lẽ đời Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bong dáng của biết bao phụ nữ

Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu long vị tha và đức hi sinh

- Truyện ngắn là cuộc đối thoại mà Nguyễn Minh Châu mang tới cho người đọc,

về những phát hiện mang tính nhân sinh sâu sắc

Trang 32

THẦN TỐC LUYỆN ĐỀ

ĐỀ SỐ 15

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2020

NĂM HỌC: 2019 – 2020 MÔN: Ngữ văn

Thời gian làm bài: 120 phút; không kể thời gian phát đề

I ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc trích đoạn sau và thực hiện các yêu cầu:

Ăn phở bất cứ vào giờ nào cũng đều thấy trôi cả Sớm, trưa, chiều, tối, khuya, lúc nào cũng ăn được Trong một ngày ăn thêm một bát phở, cũng như lúc trò chuyện ăn giọng nhau mà pha thêm một ấm trà, cùng thưởng thức với bạn bè Hình như không ai nỡ từ chối một người quen rủ đi ăn phở Phở còn tài tình ở cái chỗ là mùa nào ăn cũng thấy có nghĩa thâm thúy Mùa nắng, ăn một bát phở, ra mồ hôi, gặp cơn gió nhẹ chạy qua mặt qua lưng, thấy như giời quạt cho mình Mùa đông lạnh, ăn bát phở nóng, đôi môi tái nhợt chợt thắm tươi lại Trong một ngày mùa đông của người nghèo, bát phở có giá trị như một tấm áo kép mặc thêm lên người Đêm đông, có người ăn phở xong, tự coi như vừa nuốt được cả một cái chăn bông và tin rằng có thể ngủ yên đến sáng, để mai

đi làm khỏe Dùng những hình ảnh bình dị để nói lên mùa đông ở Việt Nam, tôi cho không gì nên thơ bằng cái hình ảnh một bếp lửa hàng phở bến ô tô nhiều hành khách quây quanh chờ đợi bát mình, vai rụt xuống một tí, người nhún nhẩy như trẻ em đang thú đời […].

Phở cũng có những quy luật của nó Như tên các hàng phở, hiệu phở Tên người bán phở thường chỉ dùng một tiếng, lấy ngay cái tên cúng cơm người chủ hoặc tên con mà đặt làm tên gánh, tên hiệu, ví dụ phở Phúc, phở Lộc, phở Thọ, phở Trưởng ca, phở Tư … Có khi một cái tên tật nguyền trên thân thế người bán phở được cảm tình quần chúng thân mật nhắc lại thành một cái tên hiệu: phở Gù, phở Lắp, phở Sứt … cái khuyết điểm trên hình thù ấy đã chuyển thành một cái uy tín trong nghề bán miếng chín mà lưu danh một thời trên cửa miệng những người sành Quần chúng nhân dân, nhất là nhân dân Hà Nội có nhiều sáng kiến để đặt tên cho những người họ yêu tin […]

Hương vị phở vẫn như xa xưa, nhưng cái tâm hồn người ăn phở ngày nay, đã sáng sủa và lành mạnh hơn nhiều … Ngày trước, anh hàng phở có tiếng rao, có người rao nghe quạnh hiu như tiếng bánh dày giò đêm đông tội lỗi trong ngõ khuất; có người rao lên nghe vui rền Tại sao, bây giờ Hà Nội vẫn có phở, mà tiếng rao lại vắng hẳn đi? Có những lúc, tôi muốn thu thanh vào đĩa, tất cả những cái tiếng hàng quà rong của tất cả những thứ quà rong, của tất cả những thư quà miếng chín trên toàn cõi quê hương chúng ta Những tiếng rao ấy, một phần nào vang hưởng lên cái nhạc điệu sinh hoạt chung của chúng ta đấy *.

Trang 33

(Phở, Nguyễn Tuân, Báo Văn số 1, 10-5-1957, và số 2, 17-5-1957 In lại trong Cảnh sắc và hương

vị đất nước, NXB Tác phẩm Mới, 1988)

(* So với nguyên tác, bài viết có chỉnh sửa lại các địa danh theo quy tắc viết hoa mới)

Câu 1 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích Tại sao anh/chị nhận ra phương thức biểu

đạt này?

Câu 2 Phở được nhìn nhận trong đoạn trích trên mấy phương diện? Đó là những phương diện nào? Câu 3 Theo anh/chị, tình cảm mà tác giả bộc lộ đối với phở Hà Nội là những tình cảm gì?

Câu 4 Trong những nét đẹp của văn hóa Việt Nam mà anh/ chị được biết, anh/chị thấy ấn tượng

nhất là điều gì? Giải thích nguyên nhân?

II LÀM VĂN (7.0 điểm)

Thông qua việc phân tích bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh), anh/chị hãy làm sáng tỏ hai ý kiến trên.

Trang 34

HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1:

- Chỉ ra được phương pháp biểu đạt chính: thuyết minh

- Nguyên nhân: Đoạn trích thuyết minh về đối tượng phở Hà Nội với các thông tin

khoa học về phở, ngôn ngữ mang tính khách quan, trung thực, hữu ích, cần thiết cho

mọi người

- Học sinh có thể chỉ ra những thông tin đó: Phở cũng có những quy luật của nó Như

tên các hàng phở, hiệu phở Tên người bán phở thường chỉ dùng một tiếng, lấy ngay

cái tên cúng cơm người chủ hoặc tên con mà đặt làm tên gánh, tên hiệu …

0.5

Câu 2:

- Phở được nhìn nhận trên 3 phương diện chính

- Đó là các phương diện sau:

+ Thời gian thích hợp để ăn phở (Phở ăn bất cứ vào gờ nào cũng đều thấy trôi cả.

Sớm, trưa, chiều, tối, khuya, lúc nào cũng ăn được).

+ Những quy luật riêng của món phở thể hiện trong tên gọi hiệu phở (Phở cũng có

những quy luật của nó Như tên các hàng phở, hiệu phở Tên người bán phở thường

chỉ dùng một tiếng, lấy ngay cái tên cúng cơm người chủ hoặc tên con mà đặt làm tên

gánh, tên hiệu)

+ Tiếng rao bán phở thể hiện được hồn cốt của văn hóa dân tộc nhưng hiện đã mai

một đi ít nhiều (bây giờ Hà Nội vẫn có phở,mà tiếng rao lại vắng hẳn đi)

1.0

Câu 3:

Tác giả bộc lộ tình cảm quý mến, thân thuộc với món phở Hà Nội, đó là một món ăn

thấm đượm tinh thần dân tộc

0.5

Câu 4:

Thí sinh có thể kể lại trải nghiệm và những cảm nhận của mình về văn hóa Việt Nam

để lựa chọn ra một nét đẹp mà mình ấn tượng nhất Giải thích nguyên nhân một cách

giản dị, trung thực, trong sáng, tránh cường điệu hóa cảm xúc của mình

1.0

Câu 1:

Từ đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) viết về

trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với việc gìn giữ những nét đẹp truyền thống của dân

tộc

2.0

a Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn

Thi sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng-phân- hợp, móc

xích hoặc song hành

0.25

Trang 35

Vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc gìn giữ những nét đẹp văn hóa của dân

tộc

c Triển khai vấn đề nghị luận

Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề theo nhiều cách

nhưng cần làm rõ vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc gìn giữ những nét đẹp

văn hóa của dân tộc ta Có thể theo hướng sau:

- Giải thích:

+ Bản sắc văn hóa truyền thống là điều cốt lõi mang tính đặc trưng, màu sắc riêng của

mỗi một quốc gia, dân tộc; được hình thành và được vun đắp song song với quá trình

dựng nước và giữ nước thẻo cả chiều đồng đại và lịch đại Đó có thể là những giá trị

về vật chất, cũng có thể là những giá trị văn hóa về tinh thần như phong tục tập quán,

truyền thống văn hóa

+Khẳng định trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc phát huy, gìn giữ những nét bản

sắc văn hóa dân tộc

- Phân tích, chứng minh:

+ Bản sắc văn hóa được coi là cái gốc, cái hồn cốt lõi khẳng định sự tồn tại của mỗi

quốc gia, dân tộc Trong vô vàn những quốc gia tồn tại bình đẳng với bức tranh đa

dạng và muôn màu sắc, bản sắc chính là một trong những yếu tố làm nên đặc trưng

riêng, không thể hòa lẫn, hợp nhất giữa các đất nước

+ Là những chủ nhân tương lai của đất nước, thế hệ thanh thiếu niên cần phải phát

huy bản sắc dân tộc bằng những việc làm tích cực nhỏ bé của mình

- Mở rộng: Tuy vậy, trong xã hội hiện nay, chúng ra vẫn bắt gặp những thanh niên với

lối sống xa rời bản sắc dân tộc Họ thờ ơ với những giá trị truyền thống ở cả vật chất

cũng như tinh thần; đề cao những giá trị văn hóa du nhập ở nước ngoài qua sự thần

tượng, sinh ngoại quá mức

- Bài học: Thế hệ trẻ cần ý thức được vai trò, ý nghĩa của bản sắc dân tộc để nâng cao

tinh thần gìn giữ những giá trị tốt đẹp này Đồng thời, cần rèn luyện lối sống, những

hành động tích cực phù hợp với những truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc, bảo

lưu, phát huy những giá trị riêng đậm đà bản sắc dân tộc Chúng ta còn cần lên án, phê

phán những hành vi làm mai một bản sắc dân tộc, và có thái độ đấu tranh mạnh mẽ để

bài trừ và tẩy chay những hoạt động văn hóa không lành mạnh

Trang 36

thơ đã thể hiện vẻ đẹp của tình yên muôn thuở với tâm hồn trong sáng nguyện dâng

hiến hết mình”, nhưng cũng có ý kiến lại khẳng định “nét đẹp tình yêu được thể hiện

trong bài thơ thể hiện rõ nhịp đập hơi thở của một tình cảm mới mẻ, hiện đại”

Thông qua việc phân tích bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh), anh/chị hãy làm sáng tỏ hai ý

kiến trên

a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận

Mở bài giới thiệu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát vấn

đề

0.25

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Phân tích bài thơ Sóng để làm sáng tỏ hai ý kiến: Vẻ đẹp của tình yêu trong bài thơ là

sự hòa quyện của tình yêu muôn thuở, truyền thống vừa là một thứ tình cảm mới mẻ,

hiện đại

0.25

c Triển khai vấn đề nghị luận

Vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm

- Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ tiêu biểu nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại Người yêu

thơ mệnh danh chị là Nữ hoàng của thi ca tình yêu Thơ của chị là tiếng nói nhân hậu,

thủy chung, trực cảm và da diết khát vọng hạnh phúc đời thường

- Sóng là bài thơ được làm năm 1967 nhân chuyến đi thực tế ở biển Diêm Điền Bài

thơ sau đó được in trong tập Hoa dọc chiến hào Bài thơ nói về tâm trạng, tình yêu

mãnh liệt của người con gái khi yêu

0.5

Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần đáp ứng các yêu cầu sau: 3.0

* Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh đã thể hiện vẻ đẹp của một tình yêu muôn thuở:

- Đối với Xuân Quỳnh, tình yêu có tính chất truyền thống như tình yêu muôn đời là

một tình yêu với đầy đủ các cung bậc cảm xúc: yêu đương, nhung nhớ, khát khao say

đắm, mãnh liệt … Tất cả các cung bậc tình cảm đó được nhà thơ kín đáo gửi gắm qua

hình tượng “sóng”

- Tình yêu say đắm: “Sóng” là một hình tượng ẩn dụ, đó là sự hóa thân của các tôi trừ

tình của nữ sĩ, lúc thì hòa nhập, lúc sự phân thân của “em” – người con gái đang yêu

một cách say đắm Sóng đã khơi gợi một hồn thơ phong phú, hồn nhiên, sôi nổi: “Dữ

dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ” Trạng thái của sóng cũng là tâm trạng khi yêu, là

khát vọng to lớn, mạnh vẻ về một tình yêu chân thành

- Sự trăn trở băn khoăn tìm kiếm tình yêu, cắt nghĩa lí giải tình yêu của người con gái:

“Sóng bắt đầu từ gió/ Gió bắt đầu từ đâu/ Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu

nhau” Tìm được một câu trả lời thật khó, bởi tình yêu là một hiện tượng, một thứ tình

cảm khó có thể cắt nghĩa được Bởi vậy trong bài thơ tình số 21 của thi hào Tagor đã

viết rằng: “Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy/ Nhưng chẳng bao giờ

1.5

Trang 37

em biết trọn nó đâu” Câu thơ “khi nào ta yêu nhau” đã diễn tả đúng nỗi niềm điểm

hình của những trai giá đang sống trong tình yêu đẹp

- Nỗi nhớ tha thiết khắc khoải Nỗi nhớ ấy choán đầy cả không gian, thấm trong chiều

sâu, bề rộng, trải dài trong chiều thời gian: “Con sóng dưới lòng sâu/ Con sóng trên mặt nước/ Ôi con sóng nhớ bờ/ Ngày đêm không ngủ được” Thật tự nhiên và thơ

mộng, con sóng nhớ bờ nên ngày đêm sóng vỗ, sóng thao thức với thời gian và đạidương Cũng giống như bến đợi thuyền, thuyền nhớ bến, lúc nào lòng người con gái

cũng bồi hồi nhớ thương, khắc khoải trong tâm trí: “Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong

mơ còn thức”

- Trên hết là khát vọng được sống hết mình trong một tình yêu đẹp, sắt son thủy

chung “Dẫu xuôi về phương Bắc/… Hướng về anh một phương” Người ta thường

nói xuôi vào Nam, ngược ra Bắc ở đây, trong nỗi nhớ chất đầy nhà thơ lại dùng ngượclại

* Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh mang hơi thở của tình yêu mới mẻ, hiện đại:

- Tình yêu là đề tài muôn thuở của thi ca Nhiều nhà thơ nổi tiếng đã viết về tình yêuvới tất cả sự nồng nhiệt của một trái tim tuổi trẻ Ta bắt gặp một Xuân Diệu nồng nàn,đắm say và khát khao dâng hiến cho tình yêu, một Nguyễn Bính mơ màng tìm về tìnhyêu đồng nội, một Anh Thơ tha thiết nhưng thẹn thùng cái duyên con gái … nhưngchỉ đến Xuân Quỳnh, cái khát vọng rất đỗi đời thường của con người đó mới được bộcbạch, mà bộc bạch một cách chân thành như chính cuộc đời nhà thơ vậy: một thứ tìnhyêu vừa phong phú, phức tạp, vừa thiết tha sôi nổi của trái tim phụ nữ đang rạo rực,đang khát khao yêu đương

- Quan niệm mới mẻ, hiện đại trong quan niệm về tình yêu: Người con gái khao khát

yêu đương nhưng không còn nhẫn nhục, cam chịu Nếu Sông không hiểu nổi mình thì sóng dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp đó Tìm ra tận bể, đến với cái cao rộng, bao dung

- Nỗi khát vọng tình yêu xôn xao, rạo rực trong trái tim con người, trong quan niệmcủa Xuân Quỳnh, là khát vọng muôn đời của nhân loại mà mãnh liệt nhất là của tuổitrẻ Nó cũng như sóng, mãi mãi trường tồn, vĩnh hằng với thời gian Từ ngàn xưa, conngười đã đến với tình yêu và mãi mãi cứ đến với tình yêu Với con người, tình yêu

bao giờ cũng là một khát vọng bồi hồi: “…Ôi con sóng ngày xưa/ Vày ngày sau vẫn thế/ Nỗi khát vọng tình yêu/ Bồi hồi trong ngực trẻ…” tình yêu của người con gái ở

đây vừa thiết tha, mãnh liệt, vừa trong sáng, giản dị, vừa thủy chung duy nhất

- Qua hình tượng sóng và em, Xuân Quỳnh đã nói lên thật chân thành, táo bạo, không

hề giấu giếm cái khát vọng tình yêu sôi nổi, mãnh liệt của mình, một phụ nữ, một điềuhiếm thấy trong văn học Việt Nam

Trang 38

- Dù say đắm, nồng nàn với tình yêu của mình, thì một người phụ nữ như Xuân

Quỳnh cũng không tránh được khi có những dự cảm lo âu về sự tan vỡ trong tình yêu

“Cuộc đời tuy dài thế/ Năm tháng vẫn đi qua/ Như biển kia dẫu rộng/ Mây vẫn bay về

xa…” Song, người phụ nữ hồn nhiên tha thiết yêu đời này vẫn còn ấp ủ biết bao hi

vọng, vẫn phơi phới một niềm tin vào hạnh phúc trong tương lai Vừa tự động viên, an

ủi mình, tác giả vừa tin vào cái đích cuối cùng của một tình yêu lớn như con song nhất

định sẽ “tới bờ”, “dù muốn vời cách trở”… Đó chính là những nét hiện đại trong tình

yêu của Xuân Quỳnh

* Đánh giá: Cả hai nhận định đều hướng tới làm sáng tỏ trọng vẹn vẻ đẹp về tình yêu

ở nhiều cung bậc, trạng thái khác nhau của người phụ nữ Xuân Quỳnh viết bài thơ

Sóng vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam ở vào giai

đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”,

khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những “cuộc chia ly màu đỏ” Và

trong cuộc kháng chiến ấy, Xuân Quỳnh đã hiểu ra rằng thiên nhiên vũ trụ, biển và

sóng là hiện thân sinh động của sự sống mãnh liệt, vĩnh hằng Phải chăng vì thế, qua

ngòi bút nhiều nhà thơ, biển và sóng đã trở thành những biểu tượng quan thuộc diễn tả

sự dâng đầy, nỗi khát khao, niềm sục sôi mê đắm của sức sống, của tình yêu

Thời gian làm bài: 120 phút; không kể thời gian phát đề

I ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu:

Anh ra khơi Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng Phút chia tay, anh dạo trên bến cảng

Biển một bên và em một bên

Trang 39

Biển ồn ào, em lại dịu êm

Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía Biển một bên và em một bên

Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc Thăm thẳm nước trời, nhưng anh không cô độc Biển một bên và em một bên

Vòm trời kia có thể sẽ không em Không biển nữa Chỉ mình anh với cỏ Cho dù thế thì anh vẫn nhớ

Biển một bên và em một bên…

( Thơ tình người lính biển, Trần Đăng Khoa)

Câu 1 Chỉ ra những từ ngữ thuộc trường từ vựng biển có trong bài thơ.

Câu 2 Xác định và phân tích giá trị của biện pháp nghệ thuật chính được sử dụng trong bài thơ

trên

Câu 3 Anh/chị hiểu như thế nào về ý nghĩa của hai câu thơ sau: Vòm trời kia có thể không em/

Không biển nữa Chỉ mình anh và cỏ?

Câu 4 Nội dung bài thơ trên gợi cho anh/chị nhớ tới bài thơ nào cũng sử dụng hình ảnh biển cả để

nói về đề tài tình yêu muôn thuở? Chỉ ra điểm giống và khác nhau trong sắc thái cảm xúc của từng tác phẩm

II LÀM VĂN (7.0 điểm)

dù thế nào đi nữa vẫn luôn luôn khao khát cuộc sống tốt hơn, vẫn tin tưởng một cách mơ hồ vào cuộc sống tương lai.

Từ hiểu biết của anh/chị về truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân), hãy làm sáng tỏ nhận định trên của

nhà văn

Ngày đăng: 01/04/2020, 15:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w