Đây là một công trình nghiên cứu bài bản về quá trình di cư và định cư của đồng bào công giáo năm 1954. Dựa trên việc tiếp cận nhiều nguồn tư liệu khác nhau, tác giả đã phục dựng khá chi tiết về cuộc di dân khổng lồ này.
Trang 1NGUYỄN THỊ TUYẾT THANH
CUỘC DI CƯ VÀ ĐỊNH CƯ CỦA ĐỒNG BÀO CÔNG GIÁO MIỀN BẮC SAU HIỆP ĐỊNH GENÈVE
(1954 - 1963)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2019
Trang 2NGUYỄN THỊ TUYẾT THANH
CUỘC DI CƯ VÀ ĐỊNH CƯ CỦA ĐỒNG BÀO CÔNG GIÁO MIỀN BẮC SAU HIỆP ĐỊNH GENÈVE
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Thị Tuyết Thanh, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Mã số 62220313 theo quyết định giao đề tài và công nhận người hướng dẫn số: 804/QĐ-XHNV-SĐH ngày 28/10/2013 của Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG-HCM, xin cam đoan:
1 Đây là luận án do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS Ngô Văn Lệ
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
NGUYỄN THỊ TUYẾT THANH
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy/Cô khoa Sử, trường Đại học KHXH và NV TpHCM, các Thầy/Cô đã truyền dạy, chỉ bảo tôi kiến thức, chắp cánh ước mơ cho tôi trên con đường nghiên cứu khoa học
Tiếp đến, tôi cảm ơn tập thể quý thầy/cô ở khoa lịch sử và lãnh đạo trường Đại học Thủ Dầu Một đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quãng thời gian thực hiện luận án
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến mẹ tôi, chồng, con và em trai đã luôn bên cạnh động viên và hỗ trợ tôi về mọi mặt Mọi người là chổ dựa tinh thần vững chắc của tôi, giúp tôi có thêm nghị lực và sự tự tin để hoàn thành luận
án
Và, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các vị Linh mục, các gia đình Giáo dân, Chính quyền ở những nơi tôi đến nghiên cứu đã ủng hộ, giúp tôi hoàn thành công trình này
Trang 5MỤC LỤC Lời cam đoan I Lời cảm ơn II Mục lục III Danh mục bảng biểu VII Danh mục biểu đồ VII Danh mục sơ đồ VII Danh mục chữ viết tắt VIII
MỞ ĐẦU trang 1
1 Lý do chọn đề tài trang 1
2 Nhiệm vụ nghiên cứu trang 2
3 Mục đích nghiên cứu trang 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu trang 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu trang 3 4.2 Khách thể nghiên cứu trang 3 4.3 Phạm vi nội dung nghiên cứu trang 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn trang 5
5.1 Ý nghĩa khoa học trang 5 5.2 Ý nghĩa thực tiễn trang 5
6 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu trang 5
6.1 Nguồn tư liệu trang 5 6.2 Các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu trang 6 6.2.1 Phương pháp lịch sử và logic trang 6 6.2.2 Phương pháp nghiên cứu lịch sử qua lời kể (oral history) trang 8 6.2.3 Kỹ thuật nghiên cứu trang 9
7 Bố cục của luận án trang 9
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN trang 10
1.1 Những nghiên cứu về nguyên nhân cuộc di cư lịch sử năm 1954 trang 10
1.2 Về cuộc di cư và định cư của đồng bào Công giáo trang 27 1.2.1 Di cư từ miền Bắc trang 27 1.2.2 Định cư ở miền Nam trang 29
Tiểu kết chương I trang 35 CHƯƠNG 2: BỒI CẢNH LỊCH SỬ VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN CUỘC DI CƯ SAU HIỆP ĐỊNH GENÈVE NĂM 1954 trang 36
2.1 Bối cảnh thế giới và Việt Nam trước Hiệp định Genève năm 1954 trang 36 2.1.1 Bối cảnh thế giới trước Hiệp định Genève năm 1954 41 trang 36 2.1.2 Bối cảnh Việt Nam trước Hiệp định Genève năm 1954 44 trang 39 2.2 Hội nghị Genève năm 1954 trang 41 2.3 Sự tác động của các thể chế chính trị ở Việt Nam đối với cuộc di cư năm
1954 trang 46 2.3.1 Sự tác động của chính quyền VNDCCH đối với cuộc di cư trang 46 2.3.2 Sự tác động của Mỹ và VNCH đối với cuộc di cư năm 1954 trang 51 2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến cuộc di cư năm 1954 trang 61
Tiểu kết chương 2 trang 63 CHƯƠNG 3: DIỄN BIẾN CUỘC DI CƯ VÀ GIAI ĐOẠN ĐẦU ĐỊNH CƯ CỦA ĐỒNG BÀO CÔNG GIÁO MIỀN BẮC TẠI ĐÔNG NAM BỘ, CHỦ YẾU Ở KHU VỰC SÀI GÒN VÀ CÁC VÙNG LÂN CẬN (1954-1956)
trang 64 3.1 Kế hoạch di cư đồng bào miền Bắc vào miền Nam của Mỹ - Diệm năm 1954 trang 64 3.2 Diễn biến cuộc di cư năm 1954 trang 74
Trang 73.3 Tổ chức các trại tạm cư định hình các cộng đồng dân di cư tại khu vực đô thị
và lân cận (1954-1955) trang 83 3.3.1 Kế hoạch tổ chức các trại tạm cư trang 84 3.3.2 Chính sách của chính quyền VNCH đối với người dân di cư giai đoạn 1954-1955 trang 89 3.3.3 Hoàn tất công cuộc di cư và định cư (1955 - 1956) trang 95 3.3.4 Cơ cấu tổ chức hành chính trong trại định cư trang 101 3.3.5 Công tác an ninh ở các trại định cư trang 108
Tiểu kết chương 3 trang 113 CHƯƠNG 4: QUÁ TRÌNH “ĐỊA PHƯƠNG HÓA” VÀ CHIẾN LƯỢC PHÂN BỐ ĐỒNG BÀO CÔNG GIÁO DI CƯ Ở VÙNG NÔNG THÔN QUA LOẠI HÌNH DINH ĐIỀN (1957 – 1963) trang 115
4.1 Quá trình “địa phương hóa” và chiến lược phân bổ đồng bào Công giáo di cư của chính quyền VNCH trang 115 4.1.1 Chủ trương ổn định dân di cư trang 115 4.1.2 Chiến lược địa phương hóa dân di cư trang 119 4.1.3 Chiến lược phân bổ, quản lý dân di cư trong các dinh điền trang 123 4.2 Quá trình phân bổ và quản lý dân di cư của chính quyền VNCH trang 129 4.2.1 Địa phương hóa dân di cư trang 129 4.2.2 Quá trình tái phân bố dân di cư và sự ra đời các khu dinh điền trang 138 4.2.3 Tổ chức đời sống ở các khu định cư của dân di cư đi dinh điền ở Cái Sắn 150
Tiểu kết chương 4 trang 158 Kết luận trang 159 Tài liệu tham khảo trang 164 Chú thích trang 175
Phụ lục 1: Biên bản phỏng vấn sâu trang 182 Phụ lục 2: Bản kê, bản biểu, công văn trang 211
Trang 8Phụ lục 3: Văn bản trang 260 Phụ lục 4: Hình ảnh trang 271 Phụ lục 5: Sơ đồ trang 281
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1: Danh sách các quốc gia viện trợ cho cuộc di cư năm 1954 58
Bảng 2 2: Bảng đối chiếu thu – chi, tính đến năm 1955 59
Bảng 3 1: Mức độ ưu tiên trong thành phần di cư 68
Bảng 3 2: Kế hoạch di chuyển, chuyên chở người di cư từ Bắc vào Nam 70
Bảng 3 3: Thống kê người di cư vào Nam phân theo phương tiện vận chuyển 81 Bảng 3 4: Số ruộng đất được khai hoang tính đến tháng 7/1955 92
Bảng 3 5: Khối lượng hàng trợ cấp cho các trại định cư đến tháng 7/1955 93
Bảng 3 6: Dân số ở miền Nam đến ngày 01/06/1956 95
Bảng 4 1 Bảng thống kê các trại định cư được đồng ý thành lập mới 121
Bảng 4 2: Phân cấp đất cho người di cư tại vùng Cái Sắn 146
Bảng 4 3: Các cơ quan viện trợ trực tiếp cho nhà nông cơ (AMD) từ 1958 đến 1961 153
Bảng 4 4: Giá trị máy móc, dụng cụ và phụ tùng thay thế, viện trợ trực tiếp cho nhà nông cơ (AMD) từ 1958 đến 1961 154
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3 1: Tổng số tiền viện trợ của Mỹ và các quốc gia cho cuộc di cư 78
Biểu đồ 3 2: Cơ cấu phân bố dân cư 86
Biểu đồ 3 3: Cơ cấu nghề nghiệp dân di cư năm 1954 88
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 3 1: Khái quát sơ đồ tổ chức của ủy ban hành chính 103
Sơ đồ 3 2: Sơ đồ tổ chức và hoạt động trại định cư 111
Sơ đồ 4 1: Cách thức địa phương hóa đồng bào di cư (1954 - 1957) 137
Sơ đồ 4 2: Tổ chức thôn, xã trong vùng di cư 142
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TTLTQG II Trung tâm lưu trữ Quốc gia II
Trang 11Chính vì vậy, ngay sau khi Hiệp định được ký, dưới sự trợ giúp của Mỹ, Ngô Đình Diệm, một người Công giáo nhiệt thành, trên cương vị Thủ tướng đã ráo riết xây dựng kế hoạch đưa đồng bào Công giáo miền Bắc vào miền Nam với số lượng khổng
lồ Theo hồ sơ số 1088 của Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa, tính đến đầu tháng 6/1956, đã có 887.985 người di cư vào Nam, chỉ trong vòng 300 ngày thành phần dân
di cư chủ yếu là người Công giáo (chiếm 85%) Xét ở khía cạnh lịch sử, cuộc di cư năm 1954 là một biến cố “vô tiền khoáng hậu”, bởi nó diễn ra trong một thời gian rất ngắn với số lượng di dân rất lớn
Hơn nữa, những di dân đó đều là những người có tập quán cư trú gắn bó lâu đời với làng xã, không dễ chấp nhận rời bỏ quê hương, làng mạc Cho đến nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này và cũng có nhiều nỗ lực giải mã nguyên nhân, hệ quả của cuộc di cư [Chú thích (P/s: CT): 1]
Các tác giả này nghiên cứu dưới các nhãn quan học thuật khác nhau, có nhiều cách kiến giải khác nhau, nhưng thường chỉ dừng lại ở các chủ đề tương đối rộng như nguyên nhân và diễn biến cuộc di cư nói chung, nhiều nhà nghiên cứu vì trở ngại trong
Trang 12việc tiếp cận tư liệu nên khi đánh giá về cuộc di cư ít nhiều vẫn còn đưa ra những quan điểm trái chiều và gây tranh luận trong giới sử học
Chính vì vậy, xuất phát từ lối tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu sử học, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu về “Cuộc di cư và định cư của đồng bào Công giáo miền Bắc sau Hiệp định Genève (1954 - 1963)” thông qua việc tiếp cận nguồn tư liệu gốc tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TTLTQG II), cũng như nguồn tư liệu lịch sử qua lời kể (Oral History) của các cộng đồng người Bắc di cư tại Nam Bộ Qua đó, chúng tôi mong muốn tìm hiểu lịch sử cuộc di cư và định cư của đồng bào Công giáo gốc Bắc vào miền Nam, nhằm góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về lịch sử của cuộc
di cư Trong đó chúng tôi đặc biệt quan tâm bộ phận đồng bào Công giáo di cư và định
cư ở Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ trong cái nhìn so sánh Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tập trung vào giai đoạn Đệ nhất Cộng hòa (1954-1963), gắn với giai đoạn cầm quyền của Ngô Đình Diệm, nhân vật giữ vai trò quan trọng trong cuộc di cư và định cư của đồng bào miền Bắc vào miền Nam
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong công trình nghiên cứu Cuộc di cư và định cư của đồng bào Công giáo
miền Bắc sau Hiệp định Genève (1954-1963), chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu
cụ thể như sau:
- Nhận diện hoàn cảnh lịch sử Việt Nam và Hiệp định Genève năm 1954 trong bối cảnh quốc tế, chính sách thực dân mới của Mỹ những năm đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước Đồng thời, bước đầu đưa ra những nhận định về bối cảnh lịch
sử dẫn đến cuộc di cư của đồng bào Công giáo từ miền Bắc vào miền Nam
- Trình bày, phân tích, đánh giá những nguyên nhân dẫn đến cuộc di cư năm
1954, trong đó đề cập đến vai trò của Mỹ và chính quyền VNCH trong việc đề
ra chiến lược đưa người Công giáo miền Bắc vào định cư ở một số tỉnh ở miền Nam ở giai đoạn đầu
Trang 13- Phân tích, đánh giá vai trò, vị trí của Chính quyền VNCH trong việc kiện toàn công cuộc định cư, phân bố lại mật độ dân di cư và những hỗ trợ thời gian đầu (1955 – 1956), cũng như quá trình địa phương hóa - tổ chức định cư cho đồng bào di cư vào năm 1957 và sự hình thành các khu dinh điền
- Tổng kết, lý giải chiến lược di cư, phân bố, quản lý dân cư của chính quyền VNCH
3 Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài Cuộc di cư và định cư của đồng bào Công giáo miền Bắc sau
Hiệp định Genève (1954-1963), chúng tôi mong muốn khám phá và lý giải ý nghĩa các
cứ liệu lịch sử về cuộc di cư và định cư của đồng bào Công giáo miền Bắc dưới thời
Đệ nhất Cộng hòa (1954-1963) Qua đó có cái nhìn toàn diện về kế hoạch, chính sách của chế độ Mỹ - Diệm trong cuộc di cư và định cư (1954 – 1963) Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ phần nào đúc kết được những bài học lịch sử về việc xây dựng khối đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là “quá trình di cư và định cư của đồng bào Công giáo miền Bắc vào miền Nam giai đoạn 1954 – 1963”
4.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài này là cộng đồng người Công giáo di cư 1954 tại Nam Bộ
4.3 Phạm vi nội dung nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Mặc dù đề tài xác định nghiên cứu về cuộc di cư từ miền Bắc vào miền Nam, tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi xác định phạm vi khảo sát chủ yếu là hai khu vực: Đông Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai,
Trang 14Bình Dương) và Tây Nam Bộ (Kiên Giang) Việc xác định không gian nghiên cứu này
xuất phát từ hai lí do: thứ nhất, vùng Đông - Tây Nam Bộ có vị trí chiến lược quan
trọng, là vùng được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đặc biệt quan tâm, do đó, họ đã lên kế hoạch và tiến hành hình thành những làng Công giáo di cư toàn tòng như vùng
Hố Nai, Trảng Bom, Đồng Nai, hay xen lẫn những cộng đồng Công giáo di cư vào những cộng đồng cư dân địa phương ở những vùng trọng yếu như: Củ chi, Xóm Mới,
Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, Bến Cát, Dầu Tiếng ở Bình Dương, khi cuộc di cư hoàn tất, quá trình định cư diễn ra đã nảy sinh nhiều bất cập Năm 1957 song song với quá trình địa phương hóa, chính quyền VNCH tiến hành hình thành các địa điểm dinh điền và Cái Sắn (Kiên Giang) được chọn thí điểm xây dựng đầu tiên và họ xem đây là dinh điền kiểu mẫu để nhân rộng ra toàn miền Nam Theo chúng tôi, vùng Đông – Tây Nam Bộ có thể xem là nơi thể hiện rõ nét và đầy đủ chiến lược di dân, phân bố, định cư đồng bào Công giáo di cư theo những chủ ý chính trị của nhà cầm quyền ở miền Nam
Thứ hai, do đây là đề tài luận án do cá nhân thực hiện, nên việc chọn vùng Đông – Tây
Nam Bộ là vừa sức với chúng tôi
- Phạm vi thời gian: Đề tài giới hạn thời gian nghiên cứu trong năm 1954 và giai đoạn 1955 – 1963 (Đệ nhất Cộng hòa) Năm 1954, với sự chấp thuận, của Quốc trưởng Bảo Đại, Ngô Đình Diệm chính thức trở thành thủ tướng của Quốc gia Việt Nam, cũng trong năm này, Hiệp định Genève được ký kết và cũng là thời điểm mà đất nước Việt Nam chính thức bị chia cắt hai miền Bắt đầu từ đây, chính quyền miền Nam
đã tiến hành kế hoạch di cư người dân miền Bắc, đặc biệt là người Công giáo, vào Nam, thời khắc mở đầu cho quá trình ly tan của dân tộc một cách mạnh mẽ Từ năm
1955 thông qua cuộc tổng tuyển cử, Quốc trưởng Bảo Đại bị phế truất, Ngô Đình Diệm
đã chính thức trở thành tổng thống nước Việt Nam Cộng Hòa Do đó, giai đoạn 1955 –
1963 là giai đoạn lịch sử gắn với vai trò của Ngô Đình Diệm trong chiến lược đưa người di cư Công giáo từ miền Bắc vào miền Nam, đồng thời triển khai các kế hoạch định cư cho dân di cư tại các vị trí trọng yếu ở Nam Bộ Năm 1963, Ngô Đình Diệm bị
Trang 15ám sát và đó cũng là thời điểm chấm dứt nền Đệ nhất Cộng hòa Lúc này, có thể xem như việc di cư và định cư của người Bắc di cư tại Nam Bộ đã hoàn tất
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 Ý nghĩa khoa học
Qua đề tài Cuộc di cư và định cư của đồng bào Công giáo miền Bắc sau Hiệp
định Genève (1954-1963), chúng tôi mong muốn đóng góp phần nào vào cơ sở lý luận
sử học dùng để nghiên cứu các vấn đề lịch sử Việt Nam hiện đại, đặc biệt trong giai đoạn 1954 – 1975 tại miền Nam Việt Nam
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Chúng tôi hy vọng đề tài này sẽ trở thành một trong những nguồn tham khảo cho những người quan tâm và muốn tìm hiểu cuộc di cư của đồng bào Công giáo 1954 – 1963 về nguyên nhân, diễn biến cuộc di cư, quá trình địa phương hóa của cộng đồng
di cư và thiết lập các địa điểm dinh điền ở Đông - Tây Nam Bộ
6 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
6.1 Nguồn tư liệu
Trong quá trình tìm hiểu và đi sâu nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tập hợp
và khai thác tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau:
+ Tài liệu của TTLTQG II Thành phố Hồ Chí Minh Chúng tôi đã truy cứu thông tin tư liệu liên quan đến cuộc di cư 1954 và các chính sách của Chính phủ VNCH được lưu trữ tại phông Phủ Thủ tướng VNCH 1954 – 1975, phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa 1954 – 1963, phông Bộ Công chánh và Giao thông (1948 - 1966), phông Bộ Y Tế (1948-1975), phông Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ (USAID) (1955 - 1975), phông Phủ Thủ hiến (1945 - 1954), phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam (1948 - 1955), phông Tòa Đại biểu Chính phủ Nam phần (1945 - 1959), phông Phủ Tổng ủy Dinh điền và Nông vụ (1955 - 1963)
Trang 16+ Sách chuyên khảo, luận văn thạc sĩ, luận văn tốt nghiệp, hồi ký tác giả trong nước và người nước ngoài, đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến lịch sử Việt Nam hiện đại, liên quan đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hiện đang được lưu trữ tại các trung tâm lưu trữ, thư viện
+ Các biên bản phỏng vấn lịch sử qua lời kể của tác giả trong quá trình điền dã tại hai khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ
6.2 Các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề lịch sử di cư năm 1954 là một công việc hết sức khó khăn, phức tạp Do đó, chúng tôi vận dụng rất nhiều phương pháp khác nhau nhằm giải quyết vấn đề hiệu quả và tối ưu nhất Cụ thể, chúng tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp dưới đây
6.2.1 Phương pháp Lịch sử và phương pháp logic
Theo quan điểm triết học Marx – Lenin, khi nói đến phương pháp lịch sử và phương pháp logic là nói đến mối quan hệ tồn tại và tư duy Lịch sử thực chất là thời gian, diễn ra trong thời gian, mà cái gì diễn ra trong thời gian thì nó là thực tế bên ngoài tư duy và thực tại của con ngưới Nhưng khi nói đến logic, tức là nói đến nhận thức, thế giới quan của người làm nghiên cứu
Nếu xem xét lịch sử dưới khía cạnh này thì lịch sử và logic có mối quan hệ hữu
cơ với nhau Một bên nhận thức chủ quan về thế giới khách quan, bên còn lại là thế giới khách quan bên ngoài nhận thức của con người Thực chất vấn đề chỉ là cách nói khác đi của mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy, giữa hiện thực và cái phản ánh hiện thực trong đầu chúng ta
Trong luận án này chúng tôi đã sử dụng rất nhiều dữ kiện lịch sử qua các thư tịch thành văn, các công trình nghiên cứu của các vị tiền bối như là những chứng cứ khách quan của lịch sử, phản ánh một diễn trình thời gian trong phạm vi nghiên cứu về
Trang 17cuộc di cư và định cư của đồng bào Công giáo di cư tại Nam Bộ từ năm 1954- 1963 Chúng tôi đã xử lý, xâu chuỗi các dữ kiện đó để phục vụ các nội dung có đề cập đến tính niên đại nhằm phản ánh lại lịch sử theo góc nhìn nhận thức của người nghiên cứu Với phương pháp này chúng tôi có thể trình bày nội dung nghiên cứu vừa dựa trên tính lịch sử khi đi sâu phân tích các hiện tượng theo tính lịch đại, đồng thời chúng tôi cũng xem xét các sự kiện lịch sử để rút ra những đặc điểm, quy luật vận động và phát triển của cộng đồng Công giáo Bắc di cư ở Đông và Tây Nam Bộ là tính logic trong mối quan hệ với tính lịch sử Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng kết hợp các nguồn tư liệu thành văn với nguồn tài liệu điền dã (phỏng vấn nhân chứng, khảo sát thực địa) để tổng hợp, phân tích, so sánh, đưa ra những số liệu lịch sử và nhận định, đảm bảo tính khách quan, trung thực ở mức độ cao nhất có thể
Chính vì vậy, để thực hiện phương pháp nghiên cứu này, chúng tôi đã thực hiện các thao tác kỹ thuật nghiên cứu sử liệu thông qua việc sưu tầm, tra cứu các tư liệu thành văn, sắp xếp phân loại và tiến hành các phân tích nội dung các văn bản lịch sử qua đó gợi mở vài hướng lý giải dưới nhãn quan của người hậu bối về các sự kiện lịch
sử từ quan điểm nghiên cứu về sự diễn giải vốn được xem là nền tảng của nhiều ngành khoa xã hội và nhân văn, trong đó giới sử học trong vài thập niên qua đã thường dùng quan điểm này để phê phán quan điểm thực chứng Một trong những lý thuyết gia đi đầu trong sự phê phán lối nghiên cứu sử học theo quan điểm thực chứng luận là Karl R Popper (1902-1994) Ông là một nhà triết học, xã hội học, logic học người Áo Ông được coi là một trong những triết gia vĩ đại nhất thế kỉ XX Ban đầu, Karl R Popper chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực chứng logic, song ông cũng là một trong những người đầu tiên phê phán trường phái đó, và xây dựng trường phái triết học của riêng
mình – chủ nghĩa duy lí phê phán Trong tác phẩm Sự nghèo nàn của thuyết sự luận, ông đã chỉ ra “Ta có thể diễn giải lịch sử như lịch sử đấu tranh giai cấp, hoặc như lịch
sử đấu tranh chủng tộc để giành quyền là chủng tộc thượng đẳng, hoặc như lịch sử tư tưởng tôn giáo hoặc lịch sử đấu tranh giữa xã hội “mở” và xã hội “khép kín”, hoặc như
Trang 18lịch sử của tiến bộ khoa học và công nghiệp… nhưng các nhà sử học đã không trình bày chúng đúng như thế; họ ít chú ý đến tính đa dạng trong những cách diễn giải, thay
vì thế, họ trình bày chúng như những học thuyết hoặc lý thuyết và khăng khăng rằng
“toàn bộ lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp” hay đấu tranh ý thức hệ mà phía sau một
sự kiện lịch sử có thể có nhiều cách kiến giải khác nhau” Chính vì vậy, luận án này sẽ
cố gắng có trình bày các cứ liệu lịch sử và gợi mở vài hướng lý giải các vấn đề sự kiện
đã trải qua trong quá khứ mà không nhất thiết mang tính chất tiên quyết cho một sự kết luận mang tính chất thực chứng đơn thuần mà còn thể hiện cách kiến giải theo cách nhìn của nhà nghiên cứu từ bối cảnh xã hội đương đại
6.2.2 Phương pháp nghiên cứu lịch sử qua lời kể (oral history)
Chúng tôi đã tiến hành một số cuộc phỏng vấn sâu với sự đồng ý trả lời phỏng vấn có ghi âm của các thông tín viên (người dân Công giáo di cư 1954, linh mục, dân địa phương) ở miền Tây và miền Đông Nam Bộ
Chúng tôi đã thực hiện tổng cộng 17 cuộc phỏng vấn với nhiều đối tượng thông tín viên khác nhau, bao gồm linh mục, giáo dân ở Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương (linh mục, giáo dân, dân địa phương), Kiên Giang (linh mục, giáo dân, người Phật giáo di cư, dân địa phương) Cụ thể như sau:
- Tại Kiên Giang, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu ba giáo dân, một linh mục, một người dân địa phương, một người di cư theo Phật giáo
- Tại Đồng Nai, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu ba giáo dân, một linh mục
- Tại Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu hai giáo dân, một linh mục
- Tại Bình Dương, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu hai giáo dân, một linh mục, một người dân địa phương
Trang 19Chúng tôi chia nội dung phỏng vấn theo các tiêu chí và vấn đề cụ thể: Đối với linh mục và các giáo dân, chúng tôi phỏng vấn hồi cố về cuộc di cư 1954, những gì họ
đã chứng kiến hoặc những điều họ nghe ông bà, cha mẹ kể lại về cuộc di cư và thời gian đầu đến vùng đất mới, về đời sống và cảm nhận của họ Đối với người dân địa phương, chúng tôi phỏng vấn hồi cố về những năm tháng xuất hiện cư dân mới đến vùng đất họ sinh sống và mối quan hệ của họ hay ông bà, cha mẹ họ với người di cư Sau đó, chúng tôi đối chiếu những tư liệu thu thập được từ các cuộc phỏng vấn sâu với tư liệu thành văn được lưu trữ ở trung tâm lưu trữ quốc gia II, sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án ,… của nhiều tác giả và học giả trong và ngoài nước
6.2.3 Kỹ thuật nghiên cứu
Bên cạnh việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu vừa kể trên, trong luận án này, chúng tôi còn áp dụng các kỹ thuật nghiên cứu: tra cứu dữ liệu, thống kê, so sánh – đối chiếu, phân tích
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, chúng tôi chia nội dung luận án thành bốn chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
- Chương 2: Bối cảnh lịch sử và những nguyên nhân dẫn đến cuộc di cư sau Hiệp định Genève năm 1954
- Chương 3: Diễn biến cuộc di cư và giai đoạn đầu định cư của đồng bào Công giáo miền Bắc tại Đông Nam Bộ, chủ yếu ở khu vực Sài Gòn và các vùng lân cận (1954 - 1956)
- Chương 4: Quá trình “địa phương hóa” và chiến lược phân bố đồng bào Công giáo di cư ở vùng nông thôn qua loại hình dinh điền (1957 – 1963)
Trang 20CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Tuy cộng đồng Công giáo ở Việt Nam chỉ mới hình thành vài thế kỷ trở lại đây,
nhưng đến nay đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên
cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Trong số đó có cả các linh mục, tu sĩ và trí thức
Công giáo Các lĩnh vực được chọn nghiên cứu vô cùng đa dạng như: lịch sử Công
giáo ở Việt Nam (Đỗ Quang Hưng, 1991), phát triển cộng đồng Công giáo ở Cái Sắn
(Trần Hữu Hợp, 2000), kiến trúc Công giáo ở Việt Nam, vấn đề di cư của người Công
giáo ở Việt Nam năm 1954 (Nguyễn Quang Hưng, 2004), Công giáo với dân tộc, tổ
chức Giáo hội Công giáo Việt Nam (Nguyễn Hồng Dương, 2008), (Nguyễn Hồng
Dương, 2012), (Nguyễn Đức Lộc, 2013) … Mỗi công trình đều đóng góp rất lớn cho
đời sống, văn hóa, xã hội của cộng đồng Công giáo nói riêng và dân tộc Việt Nam nói
chung Với chủ điểm nghiên cứu của mình, chúng tôi điểm lại các công trình khoa học
liên quan đến tình hình nghiên cứu về cuộc di cư và định cư của đồng bào Công giáo
năm 1954 theo ba chiều cạnh cụ thể như sau: nguyên nhân, diễn biến cuộc di cư và quá
trình định cư ở vùng đất Nam Bộ của đồng bào Công giáo di cư năm 1954
1.1 Những nghiên cứu về nguyên nhân cuộc di cư lịch sử năm 1954
Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, chính quyền Pháp phải đồng ý ngồi vào bàn đàm
phán và ký Hiệp định Genève với những điều khoản yêu cầu phải tôn trọng nền độc lập
của nhân dân Việt Nam Trong bối cảnh ấy, với những tác động về chính trị, kinh tế, tư
tưởng, tôn giáo, nhiều người dân Bắc Việt đã di cư vào miền Nam với sự hỗ trợ của
Pháp, Mỹ và các nước đồng minh Phần lớn đoàn người di cư ấy là người theo đạo
Trang 21Di cư đi tìm vùng đất mới là một hiện tượng không mới, tuy nhiên di cư với số lượng lớn, trong một thời gian ngắn và người di cư chủ yếu là người Công giáo thì lại
là một hiện tượng “bất thường” chưa từng xảy ra trong lịch sử Việt Nam Câu hỏi đặt
ra là: Vì sao đồng bào Công giáo miền Bắc lại chấp nhận rời bỏ quê hương để đi vào vùng đất mới, một vùng đất hoàn toàn xa lạ đối với họ? Vì sao đồng bào di cư lại chủ yếu là người Công giáo? Họ di cư vì mục đích gì?
Khi phân tích thành phần dân di cư, có 754.710 người Công giáo trên tổng số 887.895 người, chiếm tỷ lệ 85%, 15% còn lại là người theo Phật giáo vào Tin Lành (Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa (1954 - 1963), Hồ sơ số 1088) Như vậy, không phải 100% đoàn người di cư là người Công giáo, nhưng người Công giáo chiếm
tỷ lệ áp đảo Nguyên nhân vì sao người Công giáo lại chiếm số lượng nhiều như vậy?
Do nhiều nguyên nhân dẫn đến cuộc di cư năm 1954 nên các nhà khoa học đứng trên các lập trường khác nhau đã có những cách lý giải khác nhau về nguyên nhân chính dẫn đến cuộc di cư 1954 trong các công trình nghiên cứu của mình Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi dẫn lại một số cách lý giải tiêu biểu dưới đây
Trong tác phẩm Thập Giá và Lưỡi Gươm, linh mục Trần Tam Tĩnh (1978) bày
tỏ quan điểm cho rằng, người Công giáo di cư 1954 xuất phát từ những mâu thuẫn của các vị linh mục với Việt Minh: “Ngày 9 tháng 11 năm 1951 các giám mục Việt Nam họp tại Hà Nội đã đưa ra những lời tuyên bố sấm sét trong Thư chung mục vụ: “Chúng tôi thấy mình có bổn phận nhắc nhở anh chị em đề cao cảnh giác chống lại nguy cơ hết sức to lớn của chủ nghĩa Cộng sản… Chẳng những cấm anh chị em không được vào Đảng Cộng sản, mà anh chị em cũng không được hợp tác với họ, hay là làm bất cứ việc
gì có thể góp phần cách nào cho Đảng Cộng sản lên nắm chính quyền”… bản kết án đó mang 12 chữ ký, trong đó có 5 chữ ký Việt Nam” Như vậy, Thư chung mục vụ đã cho dân chúng, tín đồ thấy rõ quan điểm của Giáo hội và rằng Giáo hội chính thức của Việt Nam đứng về phía nào Và linh mục Trần Tam Tĩnh nhận xét: “…nó hoàn tất sự cắt
Trang 22đứt quan hệ (trừ những người Công giáo yêu nước, chỉ với danh nghĩa yêu nước mà bị
vạ tuyệt thông và bị Giáo hội ruồng bỏ) giữa Công giáo và Kháng chiến Nó xô đẩy người Công giáo coi mình là quân binh của lực lượng Thực dân bởi vì từ nay, việc họ sung vào hàng ngũ quân đội Pháp được giáo quyền thánh chiến rồi” (Trần Tam Tĩnh,
1978, tr 56)
Cũng tác giả trên nhận xét, những lực lượng vũ trang Công giáo dưới sự dẫn dắt của các vị linh mục đã có những hành động rất đáng lên án: “Nhưng ở cấp địa phương, quân lính Công giáo mới là đội quân hung hăng nhất Nhằm lo cho các xứ đạo được bảo vệ hữu hiệu hơn, bọn chúng tổ chức ruồng bố liên tục các làng Lương chung quanh, bắt giam hoặc giết chết, khỏi cần tòa án, tất cả chiến sĩ du kích và những ai bị tình nghi là Việt Minh Theo gương lính Pháp, chúng cướp bóc các làng, lấy trộm, tàn sát, thiêu rụi tất cả những gì bị coi là ổ kháng chiến Nực cười hết cỡ, có những linh mục - đại úy nghĩ rằng thời điểm đem cả nước theo Kitô đã tới: họ ra lệnh cho lính đi cướp phá các chùa Phật giáo, mang hết các tượng Phật về làm củi chụm, rồi cắm thánh giá lên chùa hay là đặt tượng Đức Mẹ vào trong đó Thật phải rùng mình, khi nhắc lại tên tuổi của một số linh mục như Khâm, Tôn, Luật và theo sau đó là hoạt động của lính Pháp” (Trần Tam Tĩnh, 1978, tr 56-57)
Như vậy, theo Trần Tam Tĩnh, nguyên nhân đồng bào Công giáo quyết định di
cư vào Nam năm 1954 là do sự mâu thuẫn có từ trước giữa các vị linh mục và người Công giáo với Việt Minh
Năm 2000, trong luận văn thạc sĩ Quá trình hình thành và phát triển cộng
đồng Công giáo người Việt vùng Cái Sắn từ năm 1956-1975, Trần Hữu Hợp đã có
quan điểm nhận định về nguyên nhân cuộc di cư như sau: “Cuộc di cư như là hệ quả của thái độ chính trị của một số người lãnh đạo trong Giáo hội Công giáo miền Bắc lúc đó: từ việc tổ chức khu Công Giáo tự trị, thành lập lực lượng vũ trang “Lưu Động Tự Lực Quân”, để chống cách mạng, cộng tác với quân đội liên hiệp Pháp năm 1949, ủng
Trang 23hộ chính quyền thân Pháp, đến việc ban hành thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ngày 09/11/1951, công bố lập trường: “Chúng tôi thấy mình có bổn phận nhắc nhở anh chị em đề cao cảnh giác, chống lại nguy cơ hết sức to lớn của chủ nghĩa Cộng sản vô thần, là một mối đe dọa lớn lao nhất hiện nay Chẳng những cấm anh chị em không được vào đảng Cộng sản, mà anh chị em cũng không được hợp tác với họ, hay
là làm bất cứ việc gì có thể góp phần cách nào cho đảng Cộng sản lên nắm chính quyền Mối nguy hiểm nghiêm trọng và các hậu quả của nó kinh khủng đến nỗi chúng tôi cảm thấy có bổn phận phải nhắc anh chị em đề phòng cả đối với những kiểu cách lươn lẹo và mưu chước người Cộng sản dùng để đánh lừa dân chúng” (Trần Hữu Hợp,
2000, tr 9)
Trần Hữu Hợp cũng đã nêu ra quan điểm cho rằng một số người trong giới lãnh đạo Công giáo miền Bắc lúc đó đã thoả hiệp với đế quốc Pháp, lợi dụng niềm tin tôn giáo để phục vụ cho quan điểm chống cộng, bằng nhiều kiểu cách tuyên truyền, kích động: “Công giáo không thể sống chung với Cộng sản”, “Đức Mẹ đã vào Nam”, “Vào Nam để tránh một cuộc trả thù tắm máu của Cộng sản”, Cùng với những lời tuyên truyền về một vùng đất hứa: miền Nam tự do, màu mỡ Thực dân Pháp, sau khi bại trận, buộc phải ký kết Hiệp định Genève, đã tìm cách lừa bịp, dụ dỗ và cưỡng bức đồng bào Công giáo miền Bắc di cư vào Nam hòng phá hoại Hiệp định Genève Cuộc di cư nằm trong âm mưu của Mỹ, muốn xây dựng miền Nam thành tiền đồn ngăn chặn phong trào Cộng sản đang phát triển lan rộng ở châu Á Bên cạnh đó, Trần Hữu Hợp cũng cho rằng Luật cải cách ruộng đất được Quốc hội khóa I nước VNDCCH thông qua ngày 01/12/1953, đưa vào thực hiện, do giáo điều, duy ý chí, quá trình cải cách ruộng đất đã phạm những sai lầm … tạo ra sơ hở cho kẻ địch lợi dụng tuyên tuyền kích động, ít nhiều ảnh hưởng đến cuộc di cư Ông cũng đặt vấn đề nguyên nhân nội tại của người dân di cư, ông cho rằng đa số là đồng bào Công giáo ở miền Bắc, vốn là những nông dân nghèo, ngoan đạo, trước sự tuyên truyền, hù dọa, cưỡng bức của kẻ địch, đã
bỏ quê hương vào Nam Ngoài ra, còn một bộ phận nhỏ là viên chức, binh lính của
Trang 24thực dân Pháp, họ ra đi vì quyền lợi và mối quan hệ với thực dân, một số là những
người trong lực lượng “Lưu Động Tự Lực quân”, có tham gia hoạt động chống cách
mạng; họ ra đi để trốn tránh sự xét xử của chính quyền cách mạng (Trần Hữu Hợp,
2000, tr 10)
Từ những kết quả nghiên cứu của mình, Trần Hữu Hợp đã đưa ra nhận định
rằng cuộc di cư năm 1954 nguyên nhân xuất phát từ nhiều phía: thứ nhất là thái độ
chính trị của một số người lãnh đạo trong Giáo hội Công Giáo miền Bắc; thứ hai là
Pháp muốn cuộc di cư diễn ra để phá hoại Hiệp định Genève; thứ ba là Mỹ muốn biến
miền Nam trở thành tiền đồn ngăn cản sự phát triển của chủ nghĩa Cộng sản ở châu Á;
thứ tư là một số sai lầm khi thực hiện công cuộc cải cách ruộng đất năm 1954 của phía
VNDCCH; thứ năm là do bản thân giáo dân chịu sự tác động của các vị linh mục; và
cuối cùng là do nhiều thành phần di cư thân Pháp, có quyền lợi gắn chặt với Pháp
(Trần Hữu Hợp, 2000, tr 10-12)
Ngoài Trần Hữu Hợp, Nguyễn Quang Hưng (2004) cũng quan tâm nguyên
nhân dẫn đến cuộc di cư năm 1954, trong bài viết “Vài nét về cuộc di cư của giáo dân
Bắc kỳ sau Hiệp định Genève”, ông cho rằng nguyên nhân dẫn đến cuộc di cư của đồng
bào Công giáo miền Bắc rất đa dạng: “Tâm lý hoảng sợ, mặc cảm với chủ nghĩa Cộng
sản của một bộ phận chức sắc và giáo dân vốn được du nhập từ châu Âu vào Việt Nam
từ thời thuộc địa Mối quan hệ giữa Hội truyền giáo và chủ nghĩa Thực dân cũng là lý
do khiến giáo dân di cư Bản thân cán bộ Việt Minh trong vận dụng chính sách tôn giáo
có nhiều thiếu sót…” (Nguyễn Quang Hưng, 2004, tr 22-31)
Trong bài viết của mình, Nguyễn Quang Hưng (2004) tập trung phân tích
những hoạt động của CIA và Giáo hội đối với việc di cư của giáo dân Ông cho rằng
cuộc di cư nằm trong toan tính của lực lượng chống Cộng thân Mỹ ở miền Nam Từ
nhiều dẫn chứng và lập luận, tác giả đã kết luận rằng: “Thứ nhất, cuộc di cư là hệ quả
trong cuộc đụng độ giữa chính quyền cách mạng với các thế lực chống Cộng ở Việt
Commented [h2]: Thiết nghĩ nếu có chứng cứ rồi hãy nói
Trang 25Nam sau Hiệp định Genève Nếu không có áp lực từ nhiều phía cả trong và ngoài Giáo hội tự thân giáo dân Bắc kỳ ít có nguyện vọng di cư Họ đã không được tự do quyết định di cư hay ở lại, không được tự do lựa chọn nơi cư trú theo ý muốn của mình theo tinh thần Hiệp định Genève Thứ hai, Bản thân cán bộ Việt Minh cũng có thiếu sót trong việc vận dụng chính sách tôn giáo của chính quyền cách mạng Trong số những
lý do di cư phải nói đến việc thổi phồng, kích động sự mặc cảm, thành kiến (ở một số trường hợp thậm chí thù địch) của một bộ phận giáo dân khi đó với chính quyền cách mạng Bởi chiến tranh tâm lý cũng như các hình thức cưỡng bức di cư của các thế lực chống Cộng, trong đó có các vị chức sắc trong Giáo hội Công giáo Việt Nam lúc đó” (Nguyễn Quang Hưng, 2004, tr 24-29)
Như vậy, theo Nguyễn Quang Hưng, bên cạnh việc đồng thuận với quan điểm của chính quyền VNDCCH, ông còn phân tích thêm nguyên nhân mâu thuẫn của một
số giáo dân với chính quyền cách mạng và hoạt động của các vị chức sắc trong Giáo hội Công giáo Việt Nam lúc bấy giờ Quan điểm của Nguyễn Quang Hưng có phần tương tự quan điểm của Trần Tam Tĩnh, Trần Hữu Hợp, tuy nhiên Trần Hữu Hợp có phân tích thêm một số sai lầm khi thực hiện cuộc cải cách ruộng đất năm 1954 Nhìn chung, quan điểm của Trần Hữu Hợp có thể xem là tiêu biểu cho quan điểm của các học giả trong nước vốn có nhiều công trình công bố trước đây như Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Quang Hưng
Nhìn nhận nguyên nhân cuộc di cư năm 1954 theo chiều hướng gay gắt hơn, Lê
Thành Nam (2004) trong bài viết “Âm mưu của Mỹ - Diệm trong việc cưỡng ép đồng
bào miền Bắc di cư vào Nam những năm sau Hiệp định Genève 1954 – 1956” cho rằng
Mỹ và chính quyền VNCH mà đứng đầu là Ngô Đình Diệm đã dùng nhiều biện pháp như vận động, hứa hẹn để lôi kéo, dụ dỗ, cưỡng bức đồng bào Công giáo miền Bắc di
cư vào Nam, thậm chí sử dụng cả bạo lực thông qua các cụm từ tác giả dùng “càn quét”, “khủng bố”, “bắt ép”… (Lê Thành Nam, 2004, tr 3-5)
Trang 26Mỗi thành phần trong đoàn người di cư từ miền Bắc vào Nam năm 1954 có một động cơ khác nhau, nhưng vì sao có đến 85% trong số đó là người Công giáo Để lý giải cho sự bất thường ấy, Lê Thành Nam, cho rằng đồng bào miền Bắc di cư vào Nam
là do các nguyên nhân như: “Mĩ - Diệm tuyên truyền, xuyên tạc chính sách của Chính phủ VNDCCH, dựng lên hình ảnh: “Đức Mẹ và con trai là Chúa Giêsu đã vào Nam”, hứa hẹn vào Nam sẽ có tự do, đời sống sung túc, bày trò làm “công tác từ thiện” Cưỡng ép di cư vào Nam bằng các hình thức như: đóng cửa Ngân hàng Đông Dương, không cho rút tiền ra rồi sau đó chuyển tiền vào Nam, buộc những người gửi phải vào Sài Gòn để lĩnh, tìm mọi cách làm cho tài sản của giáo dân trở nên khánh kiệt, không còn một chút gì để hy vọng trở lại quê hương, như bắt giáo dân phải bán nhà cửa, đồ đạc, trâu bò, thuyền lưới, ngăn cấm đồng bào đi làm ăn hoặc đi buôn các nơi, không cho thuê mướn người làm việc Cùng với các biện pháp trên đây, Mĩ - Diệm sử dụng quân đội, công an, cảnh sát càn quét, khủng bố, bắt ép nhân dân di cư Việc dùng bạo lực cưỡng ép di cư diễn ra phổ biến khắp miền Bắc, nhất là những địa phương có đông tín đồ Thiên Chúa giáo” (Lê Thành Nam, 2004, tr 3)
Như vậy, theo tác giả Lê Thành Nam, nguyên nhân cuộc di cư năm 1954 là do đồng bào miền Bắc bị Mỹ - Diệm dùng nhiều thủ đoạn cưỡng ép di cư Tuy nhiên, các tác giả khác như Trần Hữu Hợp (2000), Nguyễn Quang Hưng (2004) lại cho rằng, cuộc
di cư năm 1954 xuất phát từ nhiều nguyên nhân: vai trò của chính quyền Mỹ và chính quyền VNCH, vai trò của chính quyền VNDCCH, vai trò của các cha cố, bản thân đồng bào Công giáo di cư Tất cả diễn biến, hoạt động của các bên, dòng suy nghĩ của người dân Công giáo đã góp phần tạo ra nhiều nguyên nhân dẫn đến cuộc di cư ồ ạt Cùng quan điểm với Lê Thành Nam, Nguyễn Đình Lê trong bài viết “Sự kiện di
cư 1954-1955 trong lịch sử Việt Nam và thế giới” cho rằng: “Trong vòng 300 ngày
chuyển quân tập kết, có khoảng 1.200.000 người di dân từ Bắc vào Nam và từ Nam ra
Bắc Trong đó luồng thứ nhất có khoảng trên 1 triệu người, bao gồm lực lượng thuộc
Trang 27các bộ phận trong bộ máy cai trị và chiến tranh, các nhà thầu kinh doanh,… của Pháp ở miền Bắc và một số đồng bào theo đạo Thiên Chúa… Nói chung, trừ bộ phận quần chúng nhân dân, còn lại là các thế lực chủ chốt trong bộ máy thực dân và lực lượng quân đội Pháp đồn trú ở miền Bắc Lực lượng rút vào Nam từ các vị trí đóng trú ở vùng
đô thị hoặc vùng nông thôn trù phú của các tỉnh thuộc miền Bắc Lực lượng này vào
Nam di cư theo mô hình gia đình và trong số họ có những người thuộc diện có máu
mặt, có chức sắc nhất định trong xã hội thuộc địa của Pháp” (Nguyễn Đình Lê,
nghiencuulichsu.com, đoạn 1)
Mặc dù, những cứ liệu lịch sử của Nguyễn Đình Lê có nhiều điểm không tương thích với các học giả cùng nghiên cứu về chủ đề này, chẳng hạn như số dân di cư trong giai đoạn này lên tới gần 1.200.000 dân di cư Tuy nhiên, xét về quan điểm học thuật thì Nguyễn Đình Lê không có sự khác biệt về quan điểm so với các học giả trong nước khi cho rằng nguyên nhân cuộc di cư phần nhiều là do sự lôi kéo của thế lực Mỹ - Ngụy
Nguyễn Văn Khoan (2009) trong bài viết “Về sự kiện chống cưỡng ép di cư cuối 1954 đầu 1955 tại miền Bắc Việt Nam” nhận định về vấn đề này có phần gay gắt hơn, khi cho rằng có sự cấu kết giữa Giáo hội Công giáo và chính quyền Mỹ Bởi vì, trước khi Hội nghị Genève kết thúc, Mỹ đã cử Hồng y Spenman, Giám mục Hacnet cùng Lansdale phối hợp với một số phản động đội lốt Thiên Chúa giáo hù dọa, cưỡng
ép, đàn áp, dồn bức đồng bào Công giáo đi vào Nam Vì không rõ tình hình, không được phổ biến kỹ càng đường lối, chính sách của chính phủ, nhẹ dạ, sợ hãi, thiếu sáng suốt trong việc đạo, việc đời, cũng không thể không nêu lên những tên tay sai, phản động, oán thù chế độ, nhận tiền của Mỹ, nhúng tay vào tội ác nên đồng bào đã kéo nhau ra đi Chúng rêu rao Việt Minh đã mượn tay Pháp tàn sát Công giáo (vì Việt Minh có trong quân đội Pháp và binh lính Tây cũng có Cộng sản Tây tiếp tay cho Việt Minh) Chúng tung tin chính phủ Việt Nam sẽ cấm đạo, Chúa đã vào Nam, miền Bắc là
Trang 28đất ma quỷ, Giáo hoàng kêu gọi con chiên vào Nam, ai ở lại sẽ rút phép thông công, sẽ
bị Cộng sản trả thù, Mỹ sẽ ném bom nguyên tử Như vậy, sự đối chọi quan điểm giữa
Tòa thánh Vatican và chính quyền VNDCCH cũng có thể xem là một trong những
nguyên nhân khiến các linh mục, tu sĩ ra sức vận động giáo dân thực hiện cuộc di cư
lịch sử này như một số học giả trong nước đã nêu ở trên (Nguyễn Văn Khoan, 2009, tr
43)
Một quan điểm tiêu biểu nữa là của Vũ Dương Ninh (2014) trong bài viết “Hành
trình tìm kiếm hòa bình đi qua 9 năm chiến tranh (1945-1954)”, ông cho rằng nguyên
nhân cuộc di cư phần lớn đến từ phía Mỹ khi đã có những chiến lược can thiệp nhằm
thay thế Pháp ở Đông Dương: “Mỹ từng viện trợ tiền, vũ khí, cố vấn cho Pháp, muốn
tiếp tục theo đuổi chiến tranh ở Đông Dương để từng bước gạt Pháp ra và nắm trực tiếp
khu vực này Việc Mỹ ép Pháp đưa Ngô Đình Diệm - con bài dự trữ bấy lâu của Mỹ -
lên làm thủ tướng chính phủ Bảo Đại ngày 18 tháng 6 là một bước thực hiện ý đồ trên,
do vậy Mỹ cố tình hạ thấp ý nghĩa Hội nghị Genève…” (Vũ Dương Ninh, 2014, tr 19)
Như vậy khi lý giải về nguyên nhân cuộc di cư, mỗi nhà nghiên cứu có những
nhận định riêng tùy theo quan điểm, phương pháp nghiên cứu và điều kiện khách quan
ở cộng đồng
Một quan điểm khác của giới học giả trong nước nhằm giải thích nguyên nhân
cuộc di cư là lập trường chống cộng của Tòa Thánh Vatican thông qua sắc chỉ Divini
Redemptoris do Giáo hoàng Pio XI ban hành năm 1937, trong đó có đoạn: “Chủ nghĩa
Cộng sản hiện nay che phủ một ý tưởng giải thoát sai lầm hơn bất cứ phong trào nào
trong lịch sử Toàn cục học thuyết đó nung nấu một lý tưởng sai lầm về chính nghĩa, về
công bằng và tình bác ái cộng với một thứ chủ nghĩa thần bí nào đó Bằng những lời
hứa hão huyền, nó chinh phục quần chúng, lôi cuốn họ vào những phong trào nhiệt
huyết bằng lòng hăng hái nhiệt tâm” (Nguyễn Ngọc Phúc, 2014, tr 36)
Commented [h3]: Nguồn tư liệu???
Commented [h4]: Lấy gì để chứng minh Ngô Đinh Diệm
là con bài của Mỹ ngay từ đầu???
Trang 29Hay như tinh thần trong Thư chung năm 1951 của các Giám mục Đông Dương:
“Chủ nghĩa Cộng sản xung khắc tuyệt đối với Công giáo đến nỗi Đức Thánh Cha đã tuyên bố rằng, không bao giờ có thể vừa theo Cộng sản vừa theo Công giáo và người Công giáo nào gia nhập Cộng sản thì ngay lập tức bị khai trừ ra khỏi Giáo hội Chẳng những không được gia nhập Đảng Cộng sản, mà lại anh em không thể cộng tác bất kỳ dưới hình thức nào có thể giúp họ nắm chính quyền… Anh em hãy kháng cự ngay từ đầu, đừng để mình bị lường gạt bởi mật ngọt Cộng sản, hãy trung thành với Thiên Chúa, hãy thức tỉnh, can đảm và vững tâm trong đức tin” (Nguyễn Ngọc Phúc, 2014, tr 37)
Gần đây, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã phát hành bộ sách “Lịch sử
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975”, khi đề cập đến nguyên nhân cuộc di cư
1954, các tác giả cho rằng: “Để thực hiện âm mưu thâm độc “dùng người Việt đánh người Việt”, hòng phá hoại việc thi hành Hiệp định, địch đã mở chiến dịch cưỡng ép nhân dân, nhất là đồng bào theo đạo Thiên Chúa di cư vào Nam” (Viện Lịch sử Quân
sự Việt Nam, 2015, tr 34)
Các tác giả cũng đã lý giải nguyên nhân dẫn đến việc đồng bào Công giáo miền Bắc di cư vào miền Nam là do nhiều chính sách và hành động của phía Mỹ và chính quyền VNCH “ Quân viễn chinh Pháp cho những chiếc tàu “ma” ở ven biển, khi thì làm “Đức mẹ hiện hình”, khi thì “Đức mẹ kêu gọi” để lừa và hù dọa giáo dân”
H tiến hành chiến tranh tâm lý, tuyên truyền xuyên tạc chính sách của ta Bọn phản động đội lốt cha cố không những chỉ hoạt động trắng trợn ở vùng địch đang kiểm soát,
mà còn ráo riết hoạt động ngay tại các vùng của ta, chúng đi rao giảng, rỉ tai, dọa dẫm
và hứa hẹn đối với đồng bào di cư Tại Cao Xá và Ngọc Đồng (Hưng Yên), linh mục chỉ đạo và giao cho bọn phản động gài mìn vào đường làng, ngõ xóm làm cho giáo dân
sợ, dù không muốn đi cũng không thể quay về làng Do bị mê hoặc, lừa bịp một số
Trang 30khá đông đồng bào theo đạo Thiên Chúa đã hoang mang, lo sợ, nghe theo lời dụ dỗ, cưỡng bức di cư.” (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, 2015, tr 34-35)
Như vậy, để lý giải cho nguyên nhân dẫn đến cuộc di cư 1954, các nhà khoa học trong nước đã cho rằng đồng bào Công giáo miền Bắc vào Nam xuất phát từ ba lý do: thứ nhất là cuộc sống khó khăn do hạn hán, mất mùa và hậu quả của nạn đói; thứ hai là những sai lầm thiếu sót trong việc thi hành chính sách; và cuối cùng là sự lôi kéo,
dụ dỗ di cư của Mỹ và chính quyền VNCH Và điều này cũng đã thể hiện qua Chỉ thị
số 07-CT/TW của Bộ Chính trị: “Bọn phản động rất xảo quyệt, chúng tập trung lực lượng và dùng nhiều thủ đoạn phản tuyên truyền ta và lừa bịp cưỡng ép giáo dân di cư Nhiều cấp ủy vẫn coi thường vấn đề này, không nhìn hết âm mưu thâm độc của địch; không thấy vấn đề “di cư” nằm trong vấn đề tôn giáo, vấn đề thi hành Hiệp định đình chiến, đối phó vụn vặt, cán bộ phạm nhiều sai lầm trong việc thi hành chính sách Nạn lụt, nạn hạn hán gây cho ta nhiều khó khǎn trong việc phục hồi sản xuất, quần chúng bị nạn đói đe doạ” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2011, tr 67)
Bên cạnh đó, cuộc di cư 1954 cũng thu hút sự chú ý của các học giả trên thế giới, xuất phát từ quan điểm cá nhân, cách lý giải của mỗi học giả về nguyên nhân chính của cuộc di cư có phần khác nhau
Khi lý giải nguyên nhân dẫn đến cuộc di cư 1954, Piero Gheddo cho rằng:
“Họ ra đi là để bảo vệ đức tin” (Piero Gheddo and Charles Quinn, 1968, tr 70-77) Quan điểm này trùng hợp với quan điểm của Bernard Fall: “người Công giáo Bắc kỳ
bỏ chạy vì họ đã có kinh nghiệm lâu dài nằm trong tay những người đồng bào không theo đạo của mình, chứ không phải vì chiến dịch chiến tranh tâm lý” (Bernard B F,
1962, tr 154) Như vậy, theo quan điểm của Piero Gheddo và Bernard Fall, đồng bào Công giáo miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 là vì lý do tôn giáo
Mieczyslaw Mareli (1971) thì lại cho rằng nguyên nhân chính là do tình trạng nghèo đói ở miền Bắc: “Nhiều người Công giáo cảm thấy buộc phải rời miền Bắc vì
Trang 31những lý do rất ít hay không liên quan gì đến Công giáo Mặc dầu không khắc nghiệt
và [xảy ra] trên diện rộng như nạn đói năm 1945, ở miền Bắc năm 1954 rõ ràng nhiều vùng thiếu lương thực Và có lẽ nhiều người di cư rời bỏ miền Bắc vì họ sợ nạn đói đã tàn phá địa phương của họ một thập niên trước đó có thể trở lại” (Mieczyslaw M,
1971, tr 38)
Trái ngược với quan điểm của Piero Gheddo, Seth Jacobs (2004) cho rằng, nguyên nhân dẫn đến cuộc di cư là do những cố gắng của Edward Lansdale, Edward Lansdale là một trong những hoạt động tuyên truyền táo bạo Seth Jacobs dẫn chứng rằng những áp phích và khẩu hiệu do nhóm Edward Landsdale nghĩ ra như “Chúa Giesu đã đi vào Nam” hay “Đức Mẹ đã rời khỏi miền Bắc” có những ảnh hưởng quyết định đến những suy nghĩ của những người Công giáo Việt Nam bình thường (Seth,
2004, tr 132-133)
Đồng quan điểm với Seth Jacobs, Cecil B Currey cũng cho rằng chiến dịch của Edward Lansdale là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến quyết định di cư vào Nam của người Công giáo miền Bắc
Cecil B Currey (2007) cho rằng nguyên nhân chủ yếu của cuộc di cư là do hoạt động chiến tranh tâm lý của Đại tá Edward Lansdale và CIA (Đây cũng là ý kiến chủ đạo của các nhà báo và học giả về các sự kiện diễn ra trong giai đoạn 1954 - 1955):
“Đã từ lâu người ta biết rằng Edward Lansdale và thuộc hạ của ông là Lucien Conein tiến hành một chiến dịch chiến tranh tâm lý để động viên cư dân miền Bắc – đặc biệt là người Công giáo – chuyển vào Nam Truyền đơn được rải từ máy bay, các nhà chiêm tinh được yêu cầu soạn những cuốn lịch dự báo số phận thảm khốc dưới sự lãnh đạo của Cộng sản và những người dưới quyền họ Tiến độ về những kế hoạch của Việt Minh được phát tán rộng rãi” (Currey, 2007, tr 158-159)
Tuy nhiên, bản thân Edward Landsdale lại tỏ ra hoài nghi khi cho rằng:
“Người ta không đơn giản nhổ rễ bản thân mình đi trồng những chỗ khác chỉ vì những
Trang 32khẩu hiệu Họ thật sự sợ những gì có thể xảy đến với họ, và những tình cảm ấy đủ mạnh để vượt qua sự gắn bó với đất đai, nhà cửa, mồ mả, tổ tiên của họ Như vậy, thế chủ động phần lớn là của họ và chúng tôi chủ yếu chỉ làm cho cuộc chuyển vận trở nên
có thể thực hiện được” (Peter Hansen, 2009, tr 7-10)
Trong luận án tiến sĩ “Bắc di cư: Dân Công giáo tỵ nạn từ miền Bắc Việt Nam
và vai trò của họ tại Cộng hòa miền Nam, 1954 – 1959”, Peter Hansen đã phân tích và
cho rằng nguyên nhân chính là do chủ nghĩa phân biệt tôn giáo thời kỳ này có tác động đến suy nghĩ và hành động của các vị linh mục và giáo dân (Peter Hansen, 1993, tr 4) Trong công trình nghiên cứu này của mình, Peter Hansen đã lý giải những nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự mâu thuẩn gay gắt giữa các linh mục và Việt minh Hệ quả là những trận đụng độ đã xảy ra
Ông đã dẫn ra sự kiện mâu thuẫn giữa linh mục Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi với lực lượng Việt Minh Mỗi người đều duy trì một lực lượng tự vệ, thường xuyên dụng độ với các lực lượng Việt Minh Nhiều người Công giáo đã chiến đấu không chỉ cho lực lượng dân quân Công giáo mà còn trực tiếp dưới sự chỉ huy của Pháp Khi sự thắng lợi của Việt Minh đã rõ ràng, nhiều người Công giáo sợ bị trả thù nên đã sẵn sàng rời bỏ miền Bắc, đặc biệt là khi Hiệp định Genève được ký kết (Peter Hansen,
1993, tr 5)
Qua quá trình nghiên cứu, tiếp xúc thực địa, Peter Hansen (2009) cho rằng:
“Những lo lắng về tự do tín ngưỡng dù là nguyên nhân nổi bật nhưng không đủ để giải thích cuộc ra đi ồ ạt Mặc dù hàng trăm ngàn người Công giáo lựa chọn ra đi, nhưng một số lớn hơn đã lựa chọn ở lại Tuy họ vẫn biết có sự bất hòa giữa Giáo hội và Việt Minh Hơn nữa, tuy 75% người di cư là Công giáo, nhưng số còn lại thì không Một sự kiện tự nó có ý nghĩa là người Bắc di cư có thể bị lôi kéo vì rất nhiều mối lo ngại và động cơ Nỗi âu lo về tự do tôn giáo chỉ là một trong rất nhiều nhân tố thúc đẩy người Bắc di cư, được khẳng định trong quá trình tôi nghiên cứu thực địa với những người
Trang 33Công giáo đủ già để nhớ được những sự kiện hồi năm 1954 - 1955” (Peter Hansen,
2009, tr 9)
Điều này có thể là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng di cư từ rất sớm, trong
công văn số 717/TU/VP, Lược thuật của Phủ TUDCTN gửi Ông Đổng Lý Văn Phòng
Phủ Tổng Thống có đoạn như sau: “Phong trào di cư tuy chính thức chỉ có khoảng 300
ngày, nhưng thực tế đã khởi diễn từ ngày 19 tháng 5 năm 1954” (Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa (1954 - 1963), Hồ sơ số 18961)
Ngoài ra, Peter Hansen (2009) đã đưa ra hai nguyên nhân cho hai đối tượng khác nhau trong cuộc di cư Thứ nhất, đối với giáo dân, nguyên nhân chính dẫn đến sự
di cư của họ có liên quan đến tôn giáo Thứ hai, đối với người không theo Công giáo,
có thể là Phật giáo, Tin lành hay không tôn giáo, nguyên nhân chính là lý do kinh tế, sự nghèo đói, thiếu thốn Những người này hy vọng về một tương lai sung túc nếu di cư vào Nam: “Đối với những người miền Bắc khác, quan hệ họ hàng ở miền Nam khiến cho viễn cảnh di cư chuyển thành lời mời gọi hấp dẫn Cuối cùng, ý tưởng di cư vào Nam cũng là một lời mời gọi cực kỳ đáng chú ý với những người nghèo hơn trong các cộng đồng Công giáo miền Bắc Đối với những người bần cố nông (lao động nông nghiệp không ruộng đất) và những người khác sống bên lề kinh tế xã hội của các xã hội nông thôn miền Bắc, việc chuyển vào Nam ít ra cũng hứa hẹn khả năng có cuộc sống sung túc hơn” (Peter Hansen, 2009, tr 10)
Từ đó, Peter Hansen kết luận rằng: “… Nổi bật nhất trong những cố gắng này không phải là chiến dịch của Lansdale hay của các lãnh đạo của chế độ mới ở miền Nam Đối với nhiều người Công giáo nông thôn ở miền Bắc, các quyết định di cư được hình thành trên hết bởi lời nói và việc làm của các cha cố trong xứ đạo của họ” (Peter Hansen, 2009, tr 10) Ông còn quả quyết rằng: “Tôi bác bỏ hai cách hiểu sai về người Bắc di cư Một là tôi thách thức quan điểm cho rằng việc có nhiều người Công giáo rời khỏi miền bắc phần lớn hay hoàn toàn do những cố gắng của CIA hay các cơ quan
Trang 34chính phủ khác của Hoa Kỳ Hai là tôi thách thức lời khẳng định rằng sự tái định cư của người Công giáo miền Bắc ở trong và xung quanh Sài Gòn là do chính sách có chủ
ý và có tính chiến lược mà Ngô Đình Diệm là người chủ mưu Trong cả việc rời bỏ miền Bắc và trong cuộc đời mới mà họ tạo lập cho mình ở miền Nam, những người Bắc di cư bình thường hoàn toàn không thụ động và thiếu phương hướng” (Peter Hansen, 2009, tr 3)
Quan điểm của Peter Hansen và những sự kiện được tường thuật lại trong tác phẩm của linh mục Trần Tam Tĩnh đã cho thấy sự mâu thuẫn về ý thức hệ giữa Công giáo đối với các tôn giáo khác, hoặc những người không tôn giáo ở Miền Bắc Giáo hội Công giáo và các linh mục ở Việt Nam đã khởi xướng, ủng hộ cho những hành động của tín đồ Công giáo
Edward Miller (2016) khi đề cập đến nguyên nhân cuộc di cư trong công trình
Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận Nam Việt Nam đã cho rằng, nguyên
nhân chính xuất phát từ bản thân người di cư Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng người miền Bắc thường cân nhắc lựa chọn chuyển nơi ở dựa vào trải nghiệm trước đây, nhiều người di cư từ Bắc vào Nam không phải là lần đầu tiên rời khỏi làng Kiến thức có được từ những chuyến đi trước đó đặc biệt quan trọng Nhiều người Công giáo đã từng thực hiện các chuyến hành hương đến các địa điểm tôn giáo, như Vương cung thánh đường Đức mẹ La Vang ở tỉnh Quảng Trị, nằm ngay phía Nam vĩ tuyến 17, và nhiều nơi khác nữa
Ngoài ra, Edward Miller cũng cho rằng Diệm hiểu được sự lo âu khiến một số người miền Bắc tính đến việc chuyển vào Nam, vì thế ông ta không cần nỗ lực để khích lệ họ làm điều này Tổng thống Diệm đã nghiên cứu kỹ về khả năng Mỹ hỗ trợ một đợt sơ tán quy mô lớn người dân Miền Bắc nếu Pháp nhượng lại quyền kiểm soát miền Bắc cho Việt Minh Khi biết tin tức về Hiệp định Genève, Diệm đã lệnh cho thuộc cấp xây dựng một chiến dịch tuyên truyền để cảnh báo người dân miền Bắc về số
Trang 35phận thảm khốc đang chờ họ dưới ách cầm quyền của Việt Minh Diệm cũng hứa hẹn vận chuyển miễn phí, cấp một khoản trợ cấp sinh hoạt và hỗ trợ tái định cư cho bất kỳ
ai sẵn sàng lên đường vào Nam Diệm còn đích thân tham gia vào những nỗ lực này nhằm thuyết phục người dân miền Bắc lên đường (Edward Miller, 2016, tr 140-141) Như vậy, khi thể hiện quan điểm về nguyên nhân cuộc di cư, Edward Miller có quan điểm tương đồng với Peter Hanen khi cho rằng, đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 xuất phát từ ý chí của bản thân của họ Song song đó, tác giả cũng khẳng định rằng chính quyền Diệm và Mỹ đã tạo những điều kiện thuận lợi về phương tiện, tài chính cho dòng người di cư ấy
Các quan điểm trên cũng không mâu thuẫn với các học giả trong nước, rằng Mỹ muốn biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự ở Đông Nam Á nhằm ngăn cản
sự phát triển của chủ nghĩa Cộng sản Miền Nam Việt Nam có một vị trí địa chính trị
và kinh tế đặc biệt quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ Đó là nguyên nhân vì sao người Mỹ phải bằng mọi cách phá hoại cuộc tổng tuyển cử, phải bảo vệ chính quyền VNCH như tuyên bố của John F Kennedy (khi còn là thượng nghị sĩ): “Chính quyền Mỹ cần phải duy trì sự lãnh đạo của chính quyền VNCH mà Ngô Đình Diệm làm Tổng thống Vì, đây là chính quyền do Mỹ thành lập lên” và “Việt Nam là hòn đá tảng của thế giới tự do ở Đông Nam Á Nó (VNCH) là con đẻ của chúng ta Chúng ta không thể từ bỏ nó” (Philippe Devillers (avec Jean Lacouture), 1960) Chính quyền Mỹ
đã sử dụng chính quyền này để thực hiện những mục đích sâu xa của mình ở Việt Nam nói riêng, châu Á và quốc tế nói chung
Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân cũng như trách nhiệm của các bên trong cuộc di cư, mỗi tác giả dựa trên cách thức tiếp cận và quan điểm khác nhau
Các nhà nghiên cứu trong nước cho rằng nguyên nhân xuất phát từ chính sách vừa chiêu dụ, hứa hẹn, vừa đe dọa của chính quyền Mỹ và Ngô Đình Diệm Trong đó,
Trang 36một số tác giả như Trần Hữu Hợp cho rằng ngoài những nguyên nhân trên thì một số sai lầm trong luật cải cách ruộng đất (01/12/1953) đã tạo ra sơ hở cho kẻ địch lợi dụng tuyên tuyền kích động
Các nhà nghiên cứu nước ngoài, mà tiêu biểu là Peter Hansen, Piero Gheddo, Bernard Fall, cho rằng tình hình kinh tế, chính trị miền Bắc và sự xung khắc ý thức hệ trong quan niệm niềm tin tôn giáo chính là các nguyên nhân dẫn đến cuộc di cư Bên cạnh đó, một dòng quan điểm khác mà tiêu biểu là Edward Miller, Cecil B Currey, Seth Jacobs cho rằng nguyên nhân chủ yếu là cuộc chiến tranh tâm lý của Đại tá Lansdale và CIA
Trang 371.2 Về cuộc di cư và định cư của đồng bào Công giáo
Cuộc di cư và định cư của đồng bào Công giáo ở vùng đất mới có thể nói là một vấn đề nghiên cứu lớn trong tiến trình lịch sử Việt Nam thời hiện đại Chính vì vậy, đây cũng là đề tài thu hút sự quan tâm của đọc giả trong và ngoài nước Để có cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày các công trình nghiên cứu trước đây về diễn biến cuộc di cư và công cuộc định cư của đồng bào Công giáo
1.2.1 Di cư từ miền Bắc
Từ năm 1950, các chiến lược gia của Hoa Kỳ đã xác định Đông Dương là một
bộ phận quan trọng trên tuyến ngăn chặn của Hoa Kỳ ở châu Á, đồng thời còn là khu vực có tầm sinh tử đối với an ninh của Hoa Kỳ Sự phát triển của lực lượng cách mạng
ở Việt Nam cùng với sự thất bại không thể tránh khỏi của người Pháp ở Đông Dương
đã biến Việt Nam thành “trọng tâm” trong chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ ở châu Á Trần Nam Tiến (2015) khi nghiên cứu về vấn đề này đã nhận định: “Theo Hoa Kỳ, điều cơ bản đầu tiên là phải lập ra một phòng tuyến mà Cộng sản không thể vượt qua, rồi sau đó giữ vững vùng này và chiến đấu lật đổ (các chính thể Cộng sản) trong khu vực này với tất cả sức mạnh mà chúng ta [Hoa Kỳ] có” (Trần Nam Tiến, 2015, tr 21) Trần Nam Tiến (2015) cũng dẫn ra tài liệu được giải mật của Lầu Năm Góc, nêu rõ: “Không có sự yểm trợ của Mỹ, Diệm hầu như chắc chắn không thể đứng vững được
ở miền Nam Về bản chất, chính quyền Ngô Đình Diệm chính là một sáng tạo của Mỹ” Với sự bảo trợ tối đa của Hoa Kỳ, chính quyền Ngô Đình Diệm gần như bị “lệ thuộc” rất lớn vào ảnh hưởng của Hoa Kỳ về mặt đối ngoại Mặc dù vậy, chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn cố gắng tìm thế chủ động trong “hợp tác” với Hoa Kỳ, đặc biệt trong giai đoạn 1961-1963 (Trần Nam Tiến, 2015, tr 23)
Trang 38Như vậy có thể thấy, cuộc di cư ồ ạt người dân từ Bắc vào Nam có sự hỗ trợ đắc lực từ phía Mỹ Đồng thời, phía Mỹ và Ngô Đình Diệm phần nào đã thành công trong việc truyền bá thông điệp cổ vũ di cư vào Nam đến dân chúng
Khi nghiên cứu về diễn biến cuộc di cư 1954, Lê Xuân Khoa (2004), trong công
trình Việt Nam 1945-1995 - Chiến tranh tị nạn, bài học lịch sử, viết rằng: “Hầu hết dân
di cư từ những nơi khác nhau tới các địa điểm tạm trú trước khi vào Nam là nhờ hệ thống thông tin truyền miệng lan tràn nhanh chóng trong dân chúng Hiệu lực nhất là công tác thông tin trong cộng đồng Công giáo nhờ có hệ thống liên lạc chặt chẽ trong nội bộ đã có sẵn từ trước Hai phần ba dân Công giáo miền Bắc lại tập trung ở những tỉnh lân cận với “hành lang tự do” nên nhận được tin tức đầy đủ và mau chóng hơn dân chúng ở những nơi khác Đó là lý do thực tế cho thấy tại sao đa số dân di cư là người Công giáo, bên cạnh bản chất chống cộng kịch liệt của tôn giáo này ở Việt Nam” (Lê Xuân Khoa, 2004, tr 133)
Theo Lê Xuân Khoa (2004), công cuộc di chuyển và định cư ngót một triệu dân
di cư gồm ba công tác chính: chuyên chở, tiếp đón và định cư Việc chuyên chở do Pháp và Hoa Kỳ phụ trách, còn tiếp đón và định cư là trách nhiệm của chính quyền Quốc gia Việt Nam với sự viện trợ tài chính và vật liệu của Pháp, Hoa Kỳ cùng một số chính phủ và tổ chức tư nhân ngoại quốc (Lê Xuân Khoa, 2004, tr 140-143)
Có thể nói, trong khả năng tiếp cận nguồn tư liệu trong và ngoài nước, cũng như
từ quan điểm đánh giá riêng của bản thân, chúng tôi nhận thấy ngoài Lê Xuân Khoa hầu như không có nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu chi tiết về diễn biến cuộc di cư, hoặc nếu có thì cũng có một khoảng cách nhất định về các cứ liệu lịch sử
Có lẽ mối quan tâm hoặc khả năng tiếp cận nguồn tư liệu gốc là một trở ngại đối với các học giả các giai đoạn trước đây Chính vì vậy, đây sẽ là một mảng trống cần được khai triển nghiên cứu sâu hơn trong luận án này của chúng tôi
Trang 391.2.2 Định cư ở miền Nam
Võ Tự Do (1974) với Công cuộc phát triển cộng đồng tại Hố Nai, Ban đốc sự
khóa XIX (1971 - 1974) đã trình bày khá chi tiết về công cuộc định cư và phát triển cộng đồng của cộng đồng Công giáo di cư từ năm 1954 đến năm 1974 Trong đó, Võ
Tự Do đã dành phần lớn thời lượng công trình để mô tả đời sống cộng đồng và cách thức tổ chức cộng đồng ngay sau ngày định cư trên vùng đất Nam bộ của người Công giáo di cư năm 1954 Cho đến lúc này, chúng tôi cho rằng đây là một trong những sử liệu hiếm hoi và có giá trị khoa học về các trại định cư của người Công giáo di cư năm
1954 tại Hố Nai Điểm nổi bật trong luận văn tốt nghiệp của tác giả là hướng tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ phát triển cộng đồng, vì thế những nhận định, đúc kết của tác giả mang tính khách quan và ít bị chi phối bởi những quan điểm chính trị đương thời Tuy vậy, luận văn của tác giả lại chủ yếu thiên về mô tả hiện trạng đời sống dân cư
Bên cạnh đó, Trần Hữu Hợp (2000) đã nghiên cứu đề tài Quá trình hình thành
và phát triển cộng đồng Công giáo người Việt vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và bảo
vệ luận án tiến sĩ Đây là đề tài được phát triển từ luận văn thạc sĩ “Quá trình hình
thành và phát triển cộng đồng Công giáo người Việt vùng Cái Sắn từ năm 1956-1975”
Trần Hữu Hợp đã khái quát quá trình lịch sử cộng đồng Công giáo vùng Đồng bằng sông Cửu Long, dựa trên số họ đạo được thành lập trong từng giai đoạn, và đưa ra những nhận định sau: 1) Giai đoạn hình thành, từ khi người Việt khai mở vùng đất mới này cho đến trước khi Gia Long lên ngôi vào năm 1802, nhịp độ phát triển chậm, một vài họ đạo được thành lập; 2) Giai đoạn dưới thời nhà Nguyễn từ 1802 - 1884, một số
họ đạo tiếp tục được hình thành nhưng không nhiều; 3) Giai đoạn Pháp thuộc từ 1885 -
1945, đây là thời kỳ phát triển mạnh nhất của Công giáo, đa số các họ đạo được thành lập trong giai đoạn này; 4) Giai đoạn 1945 - 1953, nhịp độ phát triển chậm lại; 5) Giai đoạn 1954 - 1975, nhịp độ phát triển của Công giáo Đồng bằng sông Cửu Long lại gia tăng, vừa gia tăng tự nhiên theo sự tự thân vận động, vừa gia tăng cơ học do cuộc di cư của đồng bào Công giáo từ miền Bắc vào miền Nam sau Hiệp định Genève (Trầm
Trang 40Hữu Hợp, 2000, tr 77-79) Công trình hàm chứa nhiều cứ liệu lịch sử liên quan đến các giai đoạn phát triển Công giáo ở Nam Bộ, nhất là giai đoạn 1954 – 1975, gắn liền với công cuộc di cư của những tín đồ Công giáo di cư miền Bắc đến định cư tại khu vực dinh điền Cái Sắn Tuy nhiên, công trình này đơn thuần là một công trình nghiên cứu lịch sử, tường thuật lại các dấu mốc lịch sử quan trọng liên quan đến cộng đồng Công giáo tại Đồng bằng sông Cửu Long
Tiếp nối dòng nghiên cứu này, Nguyễn Đức Lộc đã khởi sự nghiên cứu tại địa bàn Hố Nai về người Công giáo di cư vào năm 2002 với khóa luận tốt nghiệp chuyên
ngành Nhân học, đề tài Cộng đồng cư dân Công giáo Hố Nai (Đồng Nai) Đến năm
2007, tác giả tiếp tục thực hiện luận văn thạc sĩ với đề tài Tìm hiểu đời sống văn hóa
người Việt Công giáo Hố Nai – Đồng Nai Năm 2008, tác giả và các cộng sự viên đã
thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường với đề tài: Quá trình phát triển
cộng đồng Công giáo ở Hố Nai (Đồng Nai) Tác giả cũng tiếp tục theo đuổi hướng
nghiên cứu này trong luận án tiến sĩ được bảo vệ vào năm 2010 theo đề tài Cấu trúc
cộng đồng của người Việt Công giáo di cư năm 1954 tại Nam bộ (Nghiên cứu trường hợp cộng đồng Công giáo: Hố Nai-Đồng Nai, Cái Sắn-Cần Thơ) Mục đích của tác giả
khi nghiên cứu chủ đề này là tìm hiểu những yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất cấu trúc cộng đồng Công giáo di cư năm 1954 Qua đó, Nguyễn Đức Lộc đã nhận diện cấu trúc cộng đồng Công giáo di cư năm 1954 tại Nam Bộ và sự chuyển biến của cấu trúc này Qua quá trình phân tích, tác giả hướng tới việc làm rõ mối quan hệ giữa cấu trúc xã hội và chiến lược ứng xử của các cá nhân sống trong các cộng đồng Công giáo
di cư với các mối quan hệ xã hội đan xen: gia đình và dòng họ, tôn giáo và nhà nước Kết luận chính của tác giả sau khi thực hiện nghiên cứu này là thấy được mối quan hệ giữa cấu trúc xã hội và chiến lược sống của mỗi cá nhân trong cấu trúc cộng đồng Công giáo, trên cơ sở xem xét quá trình tái sản xuất cấu trúc làng xã cổ truyền của người Công giáo di cư tại vùng đất Nam Bộ