LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành Luận văn “Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo yêu cầu chương trình giáo dục mầm non ”
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM MINH HUỆ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM MINH HUỆ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 8.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thùy Linh
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào của tác giả khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Tác giả luận văn Phạm Minh Huệ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn “Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của
trẻ ở các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo yêu cầu chương trình giáo dục mầm non ” tác giả đã nhận được rất nhiều sự quan tâm,
giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, các cơ quan, đồng nghiệp, trường
học, bạn bè và người thân
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo
TS Lê Thùy Linh người đã hướng dẫn trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn
Cảm ơn trường Đại học Hạ Long, Phòng đào tạo (Sau đại học), khoa Tâm
lý - Giáo dục, trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo Phòng GD& ĐT thành phố Hạ Long, lãnh đạo địa phương, Ban giám hiệu các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi có thời gian và tư liệu hoàn thành luận văn
Mặc dù trong quá trình thực hiện tôi đã có nhiều cố gắng, nỗ lực để hoàn thành luận văn, nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được sự quan tâm, chỉ bảo của các thầy cô giáo cũng như những ý kiến của các bạn quan tâm
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Tác giả luận văn Phạm Minh Huệ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
NHỮNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 6
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 7
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 9
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục 9
1.2.2 Đánh giá và đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non 11
1.2.3 Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non 13
1.3 Một số vấn đề lý luận về hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non ở trường mầm non 14
Trang 61.3.1 Ý nghĩa đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non 15
1.3.2 Mục tiêu đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non mầm non 15
1.3.3 Nội dung và chỉ số đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non 16
1.3.4 Phương pháp đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non 18
1.3.5 Hình thức đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non 21
1.4 Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non ở trường mầm non 21
1.4.1 Mục tiêu quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non 22
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non ở trường mầm non 22
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non ở trường mầm non 25
1.5.1 Nhận thức và năng lực quản lý hoạt động đánh giá của CBQL 25
1.5.2 Năng lực đánh giá của giáo viên 26
1.5.4 Văn bản quản lý về hoạt động đánh giá 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 29
2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội và đặc điểm cấp học mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 29
2.1.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội thành phố Hạ Long 29
2.1.2 Giới thiệu về đặc điểm cấp học mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 30
2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 32
2.2.1 Mục đích khảo sát 32
2.2.2 Đối tượng khảo sát 32
Trang 72.2.3 Nội dung khảo sát 32
2.2.4 Phương pháp khảo sát và xử lý số liệu 32
2.3 Kết quả khảo sát 33
2.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh về hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non ở trường mầm non 34
2.3.2 Thực trạng hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 40
2.3.3 Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở các trường Mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 47
2.3.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở các trường Mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 53
2.4 Đánh giá chung về thực trạng 55
2.4.1 Ưu điểm 55
2.4.2 Hạn chế 56
2.4.3 Nguyên nhân 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 60
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 60
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 60
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 60
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 60
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 60
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 60
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 61
Trang 83.2.1 Tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức, năng lực và trách nhiệm của cán bộ quản lý và giáo viên đối với hoạt động đánh giá sự phát triển của
trẻ tại các trường mầm non 61
3.2.2 Tổ chức chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch đánh giá sự phát triển của trẻ phù hợp với đặc điểm tình hình của các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 64
3.2.3 Bồi dưỡng năng lực đánh giá sự phát triển của trẻ cho giáo viên các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 65
3.2.4 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để nâng cao chất lượng hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 67
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 70
3.4 Khảo nghiệm về tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp 74
3.4.1 Mục tiêu của khảo nghiệm 74
3.4.2 Các bước tiến hành 74
3.4.3 Kết quả khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Khuyến nghị 82
2.1 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh 82
2.2 Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Hạ Long 83
2.3 Đối với các trường mầm non trong thành phố Hạ Long 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHẦN PHỤ LỤC
Trang 9NHỮNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
3 CBQL - GV - NV Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đánh giá của CBQL và GV về ý nghĩa của hoạt động đánh giá
sự phát triển của trẻ ở trường mầm non 34Bảng 2.2 Nhận thức của CBQL và GV về mục tiêu của hoạt động đánh
giá sự phát triển của trẻ mầm non 38Bảng 2.3 Đánh giá của CBQL và GV về thực trạng thực hiện mục tiêu đánh
giá sự phát triển của trẻ mầm non 41Bảng 2.4 Đánh giá của CBQL và GV về thực trạng thực hiện nội dung
đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non 43Bảng 2.5 Đánh giá của CBQL và GV về thực trạng sử dụng hình thức đánh
giá sự phát triển của trẻ mầm non 44Bảng 2.6 Thực trạng sử dụng phương pháp đánh giá sự phát triển của trẻ ở
trường mầm non 45Bảng 2.7 Ý kiến đánh giá của CBQL về lập kế hoạch quản lý hoạt động
đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non 47Bảng 2.8 Ý kiến đánh giá của CBQL về thực trạng tổ chức, chỉ đạo hoạt
động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non 49Bảng 2.9: Ý kiến đánh giá của CBQL về kiểm tra, đánh giá hoạt động đánh
giá sự phát triển của trẻ ở trường Mầm non 52Bảng 2.10 Ý kiến đánh giá của CBQL về các yếu tố ảnh hưởng đến quản
lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non 54Bảng 3.1 Ý kiến đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý
hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở các trường mầm non 76Bảng 3.2 Ý kiến đánh giá về tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt
động đánh giá sự phát triển của trẻ tại các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo yêu cầu chương trình giáo dục Mầm non 78
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 2.1 So sánh nhận thức của CBQL và GV về ý nghĩa của hoạt
động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non 36Biểu đồ 2.2 So sánh nhận thức của CBQL và GV về mục tiêu của hoạt
động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non 39Biểu đồ 2.3 So sánh ý kiến của CBQL và GV về việc thực hiện mục tiêu
đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non 42
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non (GDMN) là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ MN phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ và hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ MN vào học lớp một Trẻ MN được tiếp cận với GDMN càng sớm, càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển ở giai đoạn tiếp theo Những nghiên cứu về GDMN cho thấy giai đoạn phát triển của trẻ MN có tính quyết định đến sự phát triển về thể lực, nhân cách, năng lực phát triển trí tuệ của trẻ trong suốt cả cuộc đời Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi GDMN là nền tảng của giáo dục và đào tạo
Trong những năm gần đây,, công tác GDMN đã được Đảng và Nhà nước quan tâm Các nghị quyết của Đảng về GDMN đều đã xác định rõ vị trí của GDMN trong chiến lược GD&ĐT con người và đã chỉ ra bước đi thích hợp với
khả năng thực tế của đất nước “Phát triển bậc học Mầm non phù hợp với điều kiện và yêu cầu của từng nơi, bảo đảm hầu hết trẻ 5 tuổi được học chương trình mầm non 5 tuổi chuẩn bị vào lớp 1”; “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học Mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình” Nhận thức đúng đắn về vị trí của GDMN trong chiến lược
phát triển con người sẽ giúp cho nền GD nước ta phát triển tiến kịp các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới
Đánh giá (ĐG) trong giáo dục là khâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, trong đó ĐG sự phát triển của trẻ ở trường MN có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ Đánh giá sự phát triển của trẻ MN nhằm xác định mức độ phát triển của trẻ so với mục tiêu của từng độ tuổi để có biện pháp thích hợp giúp trẻ tiến bộ Kết quả ĐG sự phát triển của trẻ giúp giáo viên có cơ sở để xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với đối với trẻ
và đề xuất đối với các cấp quản lý giáo dục trong việc nâng cao chất lượng chăm
Trang 13sóc giáo dục trẻ của lớp, trường, địa phương Đánh giá sự phát triển của trẻ giúp các cấp quản lý giáo dục có được những thông tin cần thiết về thực trạng thực hiện chương trình giáo dục mầm non, từ đó có những biện pháp quản lý phù hợp
để nâng cao chất lượng Các biện pháp quản lý là hệ thống các tác động nhằm đảm bảo cho quá trình đánh giá sự phát triển của trẻ diễn ra khách quan, trung thực, chính xác, góp phần vào thực hiện có hiệu quả mục tiêu đánh giá [11]
Trên thực tế, hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh còn nhiều hạn chế, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như: trình
độ đội ngũ giáo viên chưa đồng đều; kỳ vọng của cha mẹ trẻ đối với chất lượng GDMN cao; cơ sở vật chất, đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học chưa đáp ứng đủ cho việc giáo dục và vui chơi của trẻ, các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá
sự phát triển của trẻ mầm non chưa có tính hệ thống và đồng bộ
Xuất phát từ những yêu cầu về lý luận và thực tiễn trên, với tư cách là cán
bộ quản lý trường mầm non tôi chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động đánh
giá sự phát triển của trẻ mầm non ở các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng hoạt động quản
lý và nâng cao chất lượng giáo dục mầm non của địa phương
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, đề xuất các biện pháp quản
lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở các trường mầm non thành phố
Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ, góp phần nâng cao giáo dục mầm non của địa phương
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Trang 14Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non ở các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
4 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu việc quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non ở 6 trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
- Số liệu khảo sát năm 2018, 2019
- Khách thể khảo sát: 12 cán bộ quản lý, 58 giáo viên tại 6 trường mầm non trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh: trường mầm non Hạ Long, trường mầm non Hà Tu, trường mầm non Hoa Đào, trường mầm non Tuần Châu, trường mầm non Cao Thắng, trường mầm non Hồng Gai
5 Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non Ở các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, quản lý hoạt động đánh giá trẻ còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện mục tiêu giáo dục Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện thực tế của các trường mầm non và của địa phương thì hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non sẽ được nâng cao, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của từng nhà trường, chất lượng giáo dục mầm non của địa phương
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non ở trường mầm non
6.2 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ
ở các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
6.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và khảo nghiệm
tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp
7 Phương pháp nghiên cứu
Trang 157.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu tài liệu, phân tích, khái quát hóa, so sánh, tổng hợp các thông tin, tư liệu có liên quan đến vấn đề đánh giá trong giáo dục mầm non, quản lý giáo dục, quản lý hoạt động đánh giá trong giáo dục, các văn bản pháp quy, để tổng quan tư liệu nghiên cứu vấn đề, xác định hệ thống khái niệm và xây dựng khung lí thuyết của vấn đề nghiên cứu
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra viết: Chúng tôi thiết kế phiếu trưng cầu ý kiến tìm hiểu nhận thức, nguyện vọng của CBQL, GV để thu thập thông tin về thực trạng hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non và thực trạng quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu hồ sơ, giáo án của giáo viên; nghiên cứu kế hoạch đánh giá sự phát triển của trẻ, phiếu đánh giá trẻ , … từ đó, rút ra được những nhận xét về thực trạng đánh giá và thực trạng quản lý hoạt động đánh giá
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động giáo viên và trẻ trong giờ học
và giờ chơi để thu thông tin hỗ trợ cho việc đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn/trò chuyện: Tiến hành gặp gỡ và trao đổi với giáo viên đang thực hiện nhiệm vụ chăm sóc - giáo dục trẻ và tiến hành đánh giá trẻ tại các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; Ban giám hiệu,
Tổ trưởng chuyên môn
Trang 168 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của
trẻ ở trường mầm non
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở
các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở
trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Từ khi xuất hiện mô hình nhà trường thì cũng là thời điểm các hình thức đánh giá người học từ đó cũng ra đời Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia đều có các hình thức đánh giá khác nhau nhưng về cơ bản đều đưa ra những quy định chuẩn, phù hợp với yêu cầu của giáo dục chung và của xã hội hiện tại Chẳng hạn: Thời kì phong kiến sử dụng thi, kiểm tra theo các quy định nghiêm ngặt để đánh giá kết quả của người học; Thời kì tiền công nghiệp thi, kiểm tra phải phù hợp với trình độ người học và coi đó là một cách thức dạy và học, có vai trò khuyến khích tính tích cực, tự giác của học sinh; Thời kì hậu công nghiệp đánh giá phát triển theo tiêu chí hướng vào mục đích, yêu cầu của chương trình giảng dạy
Hiện nay ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới luôn ưu tiên quan tâm cho giáo dục mầm non Giáo dục mầm non ở các nước đó được coi là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội Xu hướng tập trung đánh giá quá trình phát triển của trẻ và xác định những vấn đề đặc biệt trong quá trình phát triển của trẻ được chú trọng đặc biệt Có thể kể đến một số nghiên cứu ở các nước trên thế giới như sau:
Tại trường mầm non ở Mỹ, cách đánh giá sự sẵn sàng vào học lớp 1 của trẻ được chuẩn bị rất kỹ lưỡng Ví dụ, để thu thập thông tin đánh giá sự phát triển ngôn ngữ của trẻ giáo viên hỏi trẻ về trường hợp chữ viết thường và chữ viết hoa, cách phát âm chữ cái Trẻ cũng được yêu cầu viết tên mình, cắt một hình tròn và xác định các chữ cái, con số [19]
Ở Đức, mức độ sẵn sàng cho lớp một lại được đánh giá hoàn toàn khác, trẻ được yêu cầu đếm đồ vật thay cho việc phải nhận diện mặt số Trẻ được kiểm
Trang 18tra khả năng phân biệt giữa các hình dạng khác nhau và vẽ một số vật thể đơn giản [19]
Các nhà giáo dục mầm non ở Úc dùng các chiến lược đa dạng nhằm thu thập, ghi chép, tổ chức, tổng hợp và diễn dịch thông tin thu được để đánh giá việc học của trẻ tại lớp Những quy trình đánh giá liên tục bao gồm nhiều phương pháp đa dạng ghi nhận và đánh giá các cách khác nhau mà trẻ sử dụng để đạt được những kết quả này Các quy trình này không chỉ tập trung duy nhất vào những giai đoạn cuối cùng trong việc học của trẻ mà cũng còn để xem xét những tiến bộ từng bước của từng trẻ, ghi nhận và trân trọng không chỉ những bước tiến
bộ vượt bậc mà trẻ đạt được trong việc học mà cả những tiến bộ nhỏ của trẻ nữa [19]
Điều đặc biệt của hệ thống giáo dục mầm non ở Hàn Quốc là “Giáo dục phụ mẫu” Vào cuối mỗi kì học, từng gia đình đăng kí để họp một buổi riêng với cô giáo phụ trách Tương tự, ở Singapore, theo quy định bắt buộc của nhà trường, hàng tháng phải có sự giao lưu giữa giáo viên và phụ huynh Trong những buổi gặp gỡ
đó, giáo viên làm nhiệm vụ thông báo, trao đổi cặn kẽ với bố mẹ về tất cả kết quả học tập cũng như các vấn để của từng trẻ Điều đó có nghĩa là giáo viên mầm non
ở Hàn Quốc, ở Singapore sẽ phải thường xuyên thu thập thông tin (phương pháp portiolio) về những khả năng của cá nhân trẻ trong trường mầm non, về sự phát triển của trẻ để trao đổi với phụ huynh nhằm phối hợp cùng nhau trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ một cách phù hợp và hiệu quả [19]
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Nhiều nghiên của các nhà khoa học trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống lý luận QLGD, giáo dục Đại học, quản lý nhà trường, quản lý chất lượng giáo dục; có nhiều công trình xây dựng cơ sở lý luận về hoạt
động đánh giá và quản lý hoạt động đánh giá của người học
Trong cuốn “Quản lý giáo dục”, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã chỉ ra sự
khác biệt trong quản lý giáo dục với quản lý kinh tế xã hội: “Trong giáo dục, rất
Trang 19khó đo lường, đánh giá việc đạt được các mục đích Trong các trường học có khá nhiều nhân tố cản trở việc đánh giá trực tiếp thành tựu hay mức độ đạt được mục tiêu.Việc thiếu những căn cứ chấp nhận được trong việc đánh giá sẽ tạo nên những khó khăn nghiêm trọng trong quản lý ” [17]
Trong cuốn “Quản lý chất lượng trong giáo dục - đào tạo”, tác giả Nguyễn
Đức Chính nêu: “Nếu như kiểm soát chất lượng là hình thức quản lý chất lượng phù hợp với cơ chế tập trung; quản lý chất lượng tổng thể phản ánh trình độ phát triển cao của các trường học thì bảo đảm chất lượng phù hợp với cơ chế chuyển đổi trong quản lý giáo dục ở nước ta” [7]
Trong cuốn “Đo lường - đánh giá trong giáo dục”, tác giả Nguyễn Đức
Chính cho rằng: “Đánh giá giáo dục vừa là một lĩnh vực nghiên cứu của khoa học quản lý giáo dục, vừa là một công cụ hữu hiệu của quản lý giáo dục nhằm phán đoán giá trị của sự nghiệp giáo dục để điều chỉnh, kiểm nghiệm trình độ phát triển của sự nghiệp giáo dục và cải tiến để giáo dục ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cộng đồng xã hội” [8]
Trong tài liệu “Các kỹ thuật đánh giá trong lớp học” tác giả Nguyễn Thị
Ngọc Bích cùng nhóm nghiên cứu đã khẳng định “Kiểm tra đánh giá trong giáo dục có giá trị không chỉ cho người dạy, người học mà còn cả nhà quản lý Đây cũng là khâu quan trọng tác động lớn đến quá trình nâng cao chất lượng đào tạo Việc kiểm tra đánh giá khách quan, nghiêm túc, đúng cách, đúng hướng sẽ là động lực mạnh mẽ khích lệ sự vươn lên trong học tập của người học, thúc đẩy sự tìm tòi sáng tạo không ngừng của người học Đối với chương trình giáo dục phổ thông
ở Việt Nam hiện nay, mục tiêu đánh giá được phân chia thành ba lĩnh vực là kiến thức, kỹ năng và thái độ Mỗi mục tiêu thuộc lĩnh vực lại được diễn tả cụ thể hơn bởi các chuẩn kiến thức, kỹ năng Bên cạnh mục tiêu được phân chia như trên, cần hướng tới mục tiêu đánh giá theo cách tiếp cận năng lực” [2]
Trong công trình nghiên cứu “Về việc chuẩn bị cho trẻ mầm non đến trường phổ thông” do phòng Tâm lý-Viện nghiên cứu trẻ em trước tuổi học tiến
Trang 20hành năm 1992-1993 đã sử dụng bộ test “Đến tuổi học” và một số trắc nghiệm thích hợp để đánh giá sự chuẩn bị của trẻ đã học mầm non với việc đến trường phổ thông
Phan Lan Anh “Đánh giá trong giáo dục mầm non” (Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Mầm non, Bộ Giáo dục và Đào tạo) Tác giả đã giới thiệu những vấn đề chung về đánh giá trong giáo dục mầm non và đưa ra các chỉ dẫn cụ thể về việc xây dựng công cụ cho giáo viên mầm non tiến hành đánh giá
sự phát triển của trẻ với hai hình thức đánh giá là: đánh giá hàng ngày và đánh giá sau chủ đề đối với trẻ mầm non [1]
Có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động đánh giá người học nhưng lại tập trung vào bậc học phổ thông và giáo dục đại học như:
Tác giả Ngô Quang Sơn với luận án “Biện pháp quản lý công tác đánh giá kết quả học tập của HV trong đào tạo trực tuyến ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay” [20]; tác giả Cấn Thị Thanh Hương với luận án “Nghiên cứu quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học ở Việt Nam” [15]; tác giả Mai Danh Huấn với luận án “Xây dựng và quản lý quy trình kiểm tra đánh giá thành tích học tập của sinh viên hệ chính quy, phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ” [14]… Những nghiên cứu trên của các tác giả mặc
dù đã tiếp cận dưới góc độ của khoa học QLGD, song chưa có công trình nào khái quát một cách toàn diện, sâu sắc về quản lý đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục
Trang 21Dưới góc độ khoa học, khái niệm QL được hiểu theo nhiều cách khác nhau:
- Theo tác giả Harol Koontz: QL là một hoạt động thiết yếu nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực các nhân nhằm đạt được các mục đắch, mục tiêu của tổ chức Mục tiêu của QL là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đắch của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ắt nhất [12]
- Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra [10]
- Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: ỘQL là tác động có mục đắch đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động" [16]
- Tác giả Nguyễn Quốc Chắ, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: ỘHoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đắch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đắch của tổ chứcỢ [5]
Từ các quan niệm trên có thể khái quát: QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đắch của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt tới mục tiêu đề ra
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục (QLGD) theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học, có tổ chức được hoạt động giáo dục, thực hiện được các tắnh chất của nhà trường mới quản lý được giáo dục
Theo tác giả Trần Kiểm: "QLGD là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đắch, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tất cả các mắt xắch của hệ thống từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường nhằm
Trang 22thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục" (ở cấp vĩ mô) [16]
"QLGD là những tác động của chủ thể QL vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể GV và HS, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường (ở cấp vi mô) [16]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc:“QLGD là quá trình đạt tới mục tiêu trên cơ sở thực hiện có ý thức và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [5]
QLGD được tiếp cận dưới hai góc độ:
Ở góc độ vĩ mô: Chủ thể QLGD là hệ thống các cơ quan QLGD trong hệ thống GD quốc dân, đối tượng của QL là hệ thống GD quốc dân và hệ thống QL, mục tiêu của QL là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Ở góc độ vi mô: Chủ thể QLGD là chủ thể QL nhà trường (Hiệu trưởng, giám đốc cơ sở GD), đối tượng của QL là các quá trình dạy học, quá trình giáo dục và các thành tố tham gia vào các quá trình đó (GV, HS-SV, các lực lượng khác, cơ sở vật chất, tài chính, )
QL nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhà trường làm cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục là hình thành, phát triển nhân cách người học theo yêu cầu của xã hội
1.2.2 Đánh giá và đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non
1.2.2.1 Đánh giá
Đánh giá là hoạt động của con người nhằm phán xét về một hay nhiều đặc điểm của sự vật, hiện tượng và con người theo những quan niệm và chuẩn mực nhất định Trong giáo dục, đánh giá là bộ phận hợp thành rất quan trọng, một
Trang 23khâu không thể tách rời của quá trình giáo dục và đào tạo, đánh giá có vai trò tích cực trong việc điều chỉnh giáo dục, là cơ sở cho việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
Có rất nhiều định nghĩa về đánh giá trong giáo dục, tuy nhiên tuỳ thuộc vào mục đích, cấp độ và đối tượng đánh giá mà mỗi định nghĩa đều nhấn mạnh hơn vào khía cạnh nào đó của việc đánh giá Qua nghiên cứu, tổng hợp quan niệm về đánh giá, các tác giả thường tập trung bàn tới ba vấn đề sau [24]:
Thứ nhất, khai thác đánh giá trong giáo dục ở cấp độ chung nhất, có nhấn
mạnh vào khía cạnh giá trị, coi đánh giá là sự thu thập và lí giải một cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về mặt giá trị
Thứ hai, khai thác đánh giá trong giáo dục là một việc làm giúp cho việc
đưa ra những quyết định nào đó, có thể quyết định các vấn đề thuộc về người học (xác nhận kết quả, phân loại học lực của người học, chứng nhận đạt chuẩn ),
về người dạy (phương pháp truyền đạt, kĩ năng sư phạm, tổ chức lớp học ), về chương trình (tính hợp lí về nội dung, mục tiêu, lôgíc )
Thứ ba, nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa mục tiêu và việc thực hiện, theo
đó quá trình đánh giá trong giáo dục chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu của chương trình trình giáo dục
Từ những luận giải trên có thể quan niệm về đánh giá trong giáo dục như
sau: Đánh giá trong giáo dục là một quá trình được tiến hành có hệ thống chặt chẽ, khoa học của giáo viên và các lực lượng QLGD, thông qua các hình thức, phương pháp khác nhau đến đối tượng đánh giá nhằm xác định mức độ thành tích, kết quả mà đối tượng đạt được so với các mục tiêu được xác định trước
đó
Đánh giá trong giáo dục có nhiều mục đích khác nhau, tuỳ vào mục đích
mà phương pháp, nội dung và cách thức tiến hành cũng khác nhau Đối tượng đánh giá trong giáo dục tương đối đa dạng như: đánh giá kết quả học tập của học sinh; đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non; đánh giá nội dung chương trình
Trang 24giáo dục; đánh giá giáo viên và đánh giá các điều kiện đảm bảo của quá trình giáo dục đào tạo
Đánh giá trong giáo dục là một quá trình bao gồm việc chuẩn bị cho đánh giá, thu thập, phân tích, xử lý các thông tin thu được, chuyển giao kết quả đến những người liên quan để có được những quyết định thích hợp Sản phẩm của đánh giá là các thông tin và bằng chứng thu được trong quá trình đánh giá, các nhận định rút ra trên cơ sở các thông tin và bằng chứng thu được, các kết luận Đánh giá trong giáo dục bao gồm việc trả lời các câu hỏi như: mục đích của đánh giá; những gì cần được đánh giá; ai đánh giá; những thủ tục của đánh giá; phương pháp nào được sử dụng; đánh giá bằng những tiêu chuẩn nào
1.2.1.2 Đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non
Đánh giá trong giáo dục mầm non là quá trình thu thập thông tin, phân tích
và so sánh với mục tiêu của chương trình nhằm định hướng, điều chỉnh chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ
Hay nói khác đi, Đánh giá trong giáo dục mầm non là quá trình hình thành những nhận định, những phán đoán về kết quả của quá trình giáo dục: phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm cải thiện thực trạng và điều chỉnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục trẻ [4]
Đánh giá trẻ được thực hiện thông qua việc đo, khám, trắc nghiệm (về) những đặc điểm tâm sinh lý và hành vi của trẻ bằng nhiều phương pháp khác nhau Việc đánh giá trẻ có thể do giáo viên tiến hành nhằm tổ chức tốt hơn việc chăm sóc giáo dục trẻ hoặc do cán bộ quản lý các cấp tiến hành nhằm thực hiện viêc giám sát, thanh tra việc thực hiện chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ ở trường Mầm non
Đánh giá sự phát triển của trẻ trong giáo dục mầm non là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống, phân tích, đối chiếu với mục tiêu của Chương trình giáo dục mầm non nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ và điều chỉnh
kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ [3]
1.2.3 Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non
Trang 25Trường Mầm non là cơ đơn vị cơ sở của bậc giáo dục mầm non nên quản
lý trường Mầm non là khâu cơ bản của hệ thống quản lý ngành học Đó là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (hiệu trưởng) đến tập thể cán bộ giáo viên để chính họ tác động trực tiếp đến quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đối với từng độ tuổi và mục tiêu chung của bậc học
Thực chất của công tác quản lý trường Mầm non là quản lý quá trình chăm sóc giáo dục trẻ, đảm bảo cho quá trình đó vận hành thuận lợi và có hiệu quả
Quá trình chăm sóc giáo dục trẻ bao gồm các thành tố như sau: Mục tiêu, nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ; Nội dung chăm sóc giáo dục trẻ; Phương pháp, phương tiện chăm sóc giáo dục trẻ; Giáo viên (lực lượng giáo dục); Trẻ em từ 0 đến 6 tuổi (đối tượng giáo dục); Kết quả chăm sóc giáo dục trẻ
Các thành tố của quá trình chăm sóc giáo dục trẻ có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục giữ vai trò định hướng cho sự vận động và phát triển của toàn bộ quá trình và cho từng thành tố
Quản lý hoạt động ĐG trong giáo dục là những tác động có hệ thống, có
kế hoạch, có ý thức và hướng tới đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý
để thực hiện quá trình đánh giá đã được ban hành
Quản lý hoạt động ĐG trong giáo dục mầm non về thực chất là quá trình định hướng và kiểm soát hoạt động đánh giá của giáo viên nhằm duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục theo mục tiêu giáo dục đã đề ra
Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non là tổng thể các công việc của CBQL, GV và học sinh: bao gồm việc thực hiện các chức năng quản lý (Kế - Tổ - Đạo - Kiểm) để thực hiện một cách tốt nhất tất cả các khâu trong quá trình đánh giá nhằm xác định chính xác sự tiến bộ của trẻ và giúp GV điều chỉnh liên tục các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục
1.3 Một số vấn đề lý luận về hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm
Trang 26non ở trường mầm non
1.3.1 Ý nghĩa đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non
Đánh giá sự phát triển của trẻ có ý nghĩa vô cùng to lớn như sau:
- GV có thêm thông tin về sự tiến bộ của trẻ trong một thời gian dài
- GV xác định được những khó khăn những nguyên nhân cụ thể trong sự phát triển của trẻ
- Làm cơ sở để giáo viên đưa ra quyết định giáo dục tác động phù hợp đối với trẻ
- GV giáo viên biết được hiệu quả của các hoạt động, mức độ kết quả đạt được theo dự kiến
- GV có cơ sở xác định nhu cầu giáo dục cá nhân đứa trẻ, căn cứ xây dựng
kế hoạch tiếp theo
- Làm cơ sở trao đổi đưa ra quyết định phối hợp kế hoạch giáo dục với cha
mẹ trẻ, với giáo viên/ nhóm lớp hoặc cơ sở giáo dục khác sẽ tiếp nhận trẻ tiếp theo
- Làm cơ sở đề xuất với các cấp quản lý giáo dục trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ của nhóm/ lớp/ trường/ địa phương
1.3.2 Mục tiêu đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non mầm non
Đánh giá sự phát triển của trẻ qua các hoạt động, qua các giai đoạn cho ta biết những biểu hiện về tâm sinh lý của trẻ hàng ngày, sự phát triển toàn diện của trẻ qua từng giai đoạn, khả năng sẵn sàng và chiều hướng phát triển của trẻ ở những giai đoạn tiếp theo từ đó có thể phục vụ nhiều mục đích khác nhau
Mục tiêu chung của đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non là nhằm xác định mức độ phát triển của trẻ so với mục tiêu của từng độ tuổi để có biện pháp thích hợp giúp trẻ tiến bộ
Mục tiêu cụ thể của đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non là:
- Đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ;
- Đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non nhằm điều chỉnh kế hoạch hoạt
Trang 271.3.3 Nội dung và chỉ số đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non
Đánh giá sự phát triển của trẻ gồm các nội dung:
- Đánh giá sự phát triển năng khiếu thể dục, thể thao
- Đánh giá sự hiểu biết ban đầu về bản thân
- Đánh giá khả năng diễn đạt sự hiểu biết của mình thông qua hành động,
cử chỉ, lời nói, ngôn ngữ
- Đánh giá khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề đơn giản theo những cách khác nhau
* Đánh giá sự phát triển ngôn ngữ
Trang 28- Đánh giá kỹ năng nghe và hiểu được lời nói trong giao tiếp hàng ngày, nghe kể chuyện, đọc thơ, các từ chỉ người, sự vật, hiện tượng, đặc điểm, các từ biểu cảm, khái quát
- Đánh giá khả năng phát âm rõ các tiếng trong Tiếng Việt
- Đánh giá khả năng diễn đạt bằng lời nói rõ ràng (hay kết hợp với nét mặt,
cử chỉ, điệu bộ) để thể hiện ý muốn, cảm xúc, tình cảm của mình và của người khác
- Đánh giá khả năng cảm nhận được các vần điệu, nhịp điệu bài thơ, đồng dao, ca dao, tục ngữ phù hợp với lứa tuổi
- Đánh giá một số kỹ năng ban đầu về việc đọc và viết để vào học lớp 1
* Đánh giá sự phát triển tình cảm - xã hội
- Đánh giá một số trạng thái cảm xúc và thể hiện tình cảm phù hợp với các đối tượng và hoàn cảnh cụ thể
- Đánh giá tình cảm của trẻ như yêu quý gia đình, trường, lớp và nơi sinh sống
- Đánh giá việc thực hiện một số quy định đơn giản trong sinh hoạt Có ý thức tự phục vụ, kiên trì thực hiện công việc được giao
- Đánh giá thái độ của trẻ: Mạnh dạn, hồn nhiên, tự tin, có thái độ lễ phép trong giao tiếp, ứng xử văn minh và có văn hóa trong cuộc sống thường ngày
- Đánh giá một số phẩm chất cá nhân như: tự tin, mạnh dạn, tự lực…
* Đánh giá sự phát triển thẩm mỹ
- Đánh giá hiểu biết của trẻ về cái đẹp;
- Đánh giá nhu cầu, hứng thú tham gia các hoạt động sáng tạo nghệ thuật (hát, múa vận động theo nhạc, đọc thơ, kể chuyện, đóng kịch, )
Đánh giá sự phát triển của trẻ được thực hiện theo từng độ tuổi và từng gia đoạn phát triển Việc đánh giá phải dựa trên kết quả mong đợi tương ứng với độ tuổi và giai đoạn phát triển ở trẻ Kết quả mong đợi là trình độ phát triển mà đứa trẻ cần đạt tới trong giới hạn độ tuổi của mình, là các tiêu chí cụ thể hóa các kênh
Trang 29Mỗi mốc kì vọng được cụ thể hóa bằng các chỉ số Mỗi chỉ số sẽ có những biểu hiện như là thước đo của chỉ số đó [3], [4]
1.3.4 Phương pháp đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non
Các phương pháp sau đây thường được sử dụng để theo dõi và đánh giá
sự phát triển của trẻ trong trường mầm non: quan sát tự nhiên; trò chuyện với trẻ; phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ; sử dụng tình huống; trao đổi với phụ huynh; kiểm tra trực tiếp Tuy nhiên quan sát tự nhiên là phương pháp sử dụng nhiều nhất trong chủ yếu trong trường mầm non
1.3.4.1 Quan sát tự nhiên
Là sự tri giác trực tiếp, không tác động hay can thiệp vào hoạt động tự nhiên của trẻ Các thông tin quan sát về biểu hiện tâm lý, các hành vi của trẻ được ghi lại một cách có hệ thống, có kế hoạch Cụ thể:
- Quan sát và lắng nghe cá nhân trẻ nói và làm (quá trình hoạt động): Tư tưởng, cách diễn đạt tư tưởng, cách khám phá, cách trẻ làm và sử dụng những gì
đã biết
- Quan sát và lắng nghe cách giao tiếp, cách ứng xử, thái độ, tình cảm của trẻ với các bạn trong nhóm bạn, nhóm chơi trong hoạt động hàng ngày: có hợp tác và làm việc nhóm không, có lắng nghe người khác không, tham gia hay thụ động trong hoạt động nhóm, khi chơi trong nhóm bạn thường đặt mình ở vị trí nào: là nhóm trưởng, là thành viên tích cực hay phục tùng, phụ thuộc ; trẻ biểu
Trang 30đạt sự thỉnh cầu hay nguyện vọng của mình như thế nào; trẻ có biết chia sẻ cùng bạn trong khi chơi hay không, có thường gây ra hay biết cách giải quyết những xung đột không; trẻ có biết giải quyết những tình huống khác xảy ra trong quá trình chơi hay không
1.3.4.2 Trò chuyện với trẻ:
- Trò chuyện là cách tiếp cận trực tiếp với trẻ thông qua giao tiếp bằng lời
nói Trong trò chuyện giáo viên có thể đưa ra câu hỏi, gợi mở kéo dài cuộc trò chuyện, để có thể thu thập các thông tin theo mục đích đã định
- Khi trò chuyện với trẻ giáo viên cần xác định mục đích, nội dung phù hợp Chuẩn bị phương tiện đồ dùng, đồ chơi, cần thiết để tạo ra sự gần gũi quen thuộc Gợi ý để trẻ dùng động tác, cử chỉ biểu đạt, nếu trẻ chưa nói bằng lời Dùng lời nói ngắn gọn, đơn giản; ân cần trò chuyện với trẻ, động viên khuyến khích trẻ hướng vào trò chuyện Khi đưa ra câu hỏi cần cho trẻ thời gian suy nghĩ trả lời, có thể gợi ý Trò chuyện khi trẻ thoải mái, vui vẻ, tự nguyện
1.3.4.3 Phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ:
- Dự vào sản phẩm hoạt động của trẻ (sản phẩm vẽ, nặn, xé dán, xếp hình ) để xem xét, phân tích, đánh giá tư tưởng, mức độ khéo léo, sự sáng tạo, khả năng thẩm mỹ của trẻ, sự tiến bộ của trẻ Thông qua sản phẩm của trẻ
có thể đánh giá được mức độ kiến thức, kỹ năng, trạng thái cảm xúc, thái độ của trẻ
- Việc đánh giá sự phát triển của trẻ thông qua sản phẩm mà trẻ cần lưu ý: không chỉ căn cứ vào kết quả sản phẩm đó mà căn cứ vào quá trình trẻ thực hiện
để tạo ra sản phẩm (sự chú ý, ý thức thực hiện sản phẩm đến cùng, thời gian thực hiện, cách thức sử dụng dụng cụ, vật liệu tạo nên sản phẩm, mức độ thể hiện sự khéo léo
- Giáo viên cần ghi lại những nhận xét của mình vào từng sản phẩm của trẻ và lưu lại thành hồ sơ riêng của từng trẻ Do sản phẩm của trẻ thu thập theo thời gian nên giáo viên có thể dựa vào sản phẩm đó đánh giá sự phát triển của
Trang 31trẻ
1.3.4.4 Sử dụng tình huống
- Là cách thức thông qua tình huống thực tế hoặc tình huống giả định để đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi xã hội, kỹ năng giải quyết vấn đề của trẻ (Ví dụ: Thái độ đồng tình, không đồng tình đối với hành vi tốt/ không tốt: đỡ bạn khi bạn bị ngã, xả rác bừa bãi Kỹ năng giải quyết vấn đề: có gọi người lớn khi gặp bất chắc không? biết chạy ra khi đám cháy? biết nối gậy để khều quả bóng dưới gầm giường? biết từ chối khi người lạ rủ đi không
- Khi sử dụng các tình huống giả định để thu thập thông tin cần thiết về trẻ, giáo viên cần chú ý:
+ Tình hống phải phù hợp với mục đích đánh giá
+ Tổ chức tình huống khéo léo để trẻ tích cực tham gia và bộc lộ một cách
tự nhiên
+ Những kết quả theo dõi được về trẻ trong quá trình chơi cần được ghi chép lại
1.3.4.5 Trao đổi với phụ huynh:
- Nhằm khẳng định thêm những nhận định, đánh giá của giáo viên về trẻ đồng thời có biện pháp tăng cường sự phối hợp với gia đình trong chăm sóc, giáo dục trẻ
- Giáo viên có thể trao đổi với phụ huynh hàng ngày, trao đổi với các cuộc họp phụ huynh, qua những buổi thăm gia đình trẻ để thu thập thêm thông tin về trẻ (VD: Trẻ ít nói, thiếu hòa đồng có phải do chậm phát triển ngôn ngữ, hay chưa thích ứng với môi trường lớp học, do mắc bệnh tự kỷ hoặc do sự bất đồng trầm trọng với gia đình )
1.3.4.6 Sử dụng bài tập (Kiểm tra trực tiếp)
- Là cách sử dụng bài tập, giao nhiệm vụ cho trẻ tự giải quyết, thực hiện
để xác định xem trẻ đã biết gì, làm được những việc gì
- Bài tập có thể thực hiện với một nhóm trẻ, hoặc với từng trẻ
Trang 32- Cho trẻ thực hiện bài tập khi trẻ vui vẻ, sảng khoái
- Tránh các can thiệp gây ảnh hưởng khi trẻ thực hiện bài tập
- Một bài tập có thể kết hợp đo một số chỉ số/ lĩnh vực
- Kết quả thực hiện của trẻ được ghi vào phiếu đánh giá của từng trẻ Lưu ý: Khi thực hiện sự theo dõi, đánh giá trẻ giáo viên cần thực hiện phối hợp các phương pháp với nhau một cách linh hoạt để có kết quả đáng tin cậy
Việc lựa chọn các phương pháp đánh giá là tùy thuộc vào sự quyết định của giáo viên sao cho hợp lý nhất với hoàn cảnh, điều kiện thực tiễn
1.3.5 Hình thức đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non
Xét theo tính liên tục và thời điểm đánh giá, có hai hình thức đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non như sau:
* Đánh giá trẻ hằng ngày
Đánh giá trẻ hằng ngày là GV thường xuyên xem xét tình trạng sức khỏe; trạng thái cảm xúc, thái độ, hành vi và kiến thức kỹ năng của trẻ để kịp thời điều chỉnh kế hoạch hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ hằng ngày
Giáo viên theo dõi và ghi chép lại những thay đổi rõ rệt của trẻ và những điều cần lưu ý để kịp thời điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục cho phù hợp
* Đánh giá trẻ theo giai đoạn
Đánh giá trẻ theo giai đoạn là GV xác định mức độ đạt được của trẻ ở các lĩnh vực phát triển theo giai đoạn (cuối chủ đề/tháng, cuối mỗi độ tuổi) trên cơ
sở đó điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục cho giai đoạn tiếp theo
Đánh giá trẻ theo giai đoạn là GV xác định mức độ chủ đề/tháng, kết quả mong đợi cuối độ tuổi Kết quả đánh giá được giáo viên lưu giữ trong hồ sơ cá nhân của trẻ
1.4 Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non ở trường
Trang 33- Tạo sự phối hợp gắn kết, thống nhất giữa CBQL, GV trong trường MN
để có những đánh giá chính xác, khách quan và công bằng
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non
1.4.2.1 Lập kế hoạch quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non
Kế hoạch hoá hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non, với mục đích nhằm giúp cho nhà quản lý có cái nhìn tổng thể, thấy được sự tương tác giữa các bộ phận trong quá trình đánh giá Kế hoạch hoá hoạt động đánh giá cho phép nhà quản lý lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức Kế hoạch hoá hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non bao gồm những nội dung chính: Xác định những căn cứ để xây dựng kế hoạch đánh giá; phân tích trạng thái của các chủ thể và đối tượng đánh giá; xác định nội dung kế hoạch đánh giá; lực lượng tham gia và các mốc thời gian; xác định các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch;
Việc xây dựng kế hoạch phải được tiến hành một cách khoa học, sát thực
Trang 34dựa trên cơ sở khách quan và chủ quan, tiến hành theo một quy trình hợp lý
Trong đánh giá sự phát triển của trẻ, lập kế hoạch quản lý có những công việc sau:
- Lập kế hoạch nâng cao nhận thức cho GV về vai trò, ý nghĩa của đánh
giá sự phát triển của trẻ mầm non;
- Lập kế hoạch đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non hàng ngày và sau gia đoạn theo chương trình giáo dục mầm non
- Lập kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục có tích hợp đánh
giá sự phát triển của trẻ mầm non
- Lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực đánh giá cho giáo viên đang trực tiếp thực hiện hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non
- Lập kế hoạch tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động kiểm tra,
đánh giá thường xuyên
1.4.2.2 Tổ chức hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non
Tổ chức là một công cụ quan trọng của nhà quản lý Một tổ chức phải có
chức năng, nhiệm vụ rõ ràng và đây là điều kiện để tổ chức hoạt động có hiệu quả Vận dụng chức năng tổ chức trong quản lý đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non cần được cụ thể hoá vào những nội dung cơ bản đó là: Xây dựng các văn bản chỉ đạo đánh giá; quán triệt mục đích, yêu cầu, kế hoạch đánh giá; tập huấn hướng dẫn, thống nhất nội dung, phương pháp, phương tiện bảo đảm cho hoạt động đánh giá
Trong đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non công tác tổ chức được thể hiện:
- Quy định rõ nhiệm vụ của giáo viên trong hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non bao gồm việc lựa chọn tiêu chí đánh giá, xây dựng công
cụ đánh giá, tổ chức đánh giá và lưu trữ hồ sơ minh chứng về kết quả đánh giá
sự phát triển của trẻ mầm non
- Quy định rõ nhiệm vụ của tổ, nhóm chuyên môn trong quản lý hoạt động
Trang 35đánh giá sự phát triển của trẻ
- Xác định cơ chế phối hợp giữa Ban Giám hiệu với tổ, nhóm chuyên môn trong quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non
- Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng đánh giá sự phát triển của trẻ cho giáo viên bao gồm: xác định nhu cầu bồi dưỡng, tổ chức bồi dưỡng, đánh giá kết quả bồi dưỡng
1.4.2.3 Chỉ đạo hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non
Chỉ đạo thực hiện đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non, đòi
hỏi nhà quản lý phải nắm chắc và thực hiện tốt một số nội dung đó là: Ra quyết định đánh giá; thực hiện quyết định đánh giá; kiểm tra việc thực hiện các quyết định; nắm thông tin điều chỉnh; tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo Điểm then chốt trong vận dụng chức năng chỉ đạo hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non đó chính là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và nghệ thuật quản lý của nhà quản lý trong việc điều phối các lực lượng tạo thành sức mạnh tổng hợp của tổ chức hoàn thành các mục tiêu đánh giá đã xác định
Trong đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non công tác chỉ đạo được thể hiện:
- Chỉ đạo sinh hoạt tổ chuyên môn về kiểm tra, đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non
- Chỉ đạo giáo viên đổi mới, chia sẻ kinh nghiệm về đánh giá hàng ngày
và đánh giá sau giai đoạn
- Chỉ đạo kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất GVCN, tổ chuyên môn về hoạt động đánh giá
- Chỉ đạo tuyên truyền, giải thích cho giáo viên về đổi mới hoạt động đánh giá
- Nhận xét giáo viên về đổi mới hoạt động đánh giá và từ đó tìm ra nguyên nhân để điều chỉnh
1.4.2.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường
Trang 36mầm non
Trong bất kì hoạt động quản lý nào nếu bỏ qua kiểm tra đồng nghĩa với việc buông lỏng sự quản lý Kiểm tra vừa đóng vai trò là phương tiện của quản
lý vừa là một chức năng của hoạt động quản lý
Kiểm tra, đánh giá là việc theo dõi, quan sát, thu nhận thông tin về việc thực hiện kế hoạch giúp công việc được mục tiêu đã đề ra
Kiểm tra, đánh giá là một chức năng quan trọng của nhà QL nhằm thu nhận thông tin phản hồi về tình hình thực hiện các quyết định quản lý Từ đó, nhà quản lý mới biết được việc thực hiện đang gặp khó khăn ở chỗ nào, thiếu phương tiện, điều kiện gì để hỗ trợ hoặc điều chỉnh các chỉ đạo kịp thời, giúp đạt hiệu quả cao trong quản lý
Kiểm tra, đánh giá hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non gồm các công việc sau:
- CBQL kiểm tra đột xuất và định kỳ việc đánh giá trong các giờ học của giáo viên;
- CBQL tổ chức lấy ý kiến phản hồi về GV trong đánh giá sự phát triển của trẻ
- CBQL tổ chức kiểm tra đột xuất và định kỳ trẻ mầm non
- CBQL tổ chức kiểm tra chất lượng trẻ mầm non theo mục tiêu giáo dục
và tiêu chuẩn phát triển của trẻ theo từng độ tuổi
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non ở trường mầm non
1.5.1 Nhận thức và năng lực quản lý hoạt động đánh giá của cán bộ quản lý
Đối với cán bộ quản lý: Để quản lý tốt công tác đánh giá trẻ mầm nontại trường mầm non, Hiệu trưởng phải có nhận thức đúng đắn về mục tiêu, nội dung,
ý nghĩa của việc đánh giá trẻ Nhận thức đúng đắn của cán bộ quản lý sẽ định hướng cho họ thực thi công việc một cách nghiêm túc, có chất lượng
Một cán bộ quản lý có năng lực sẽ quản lý sát sao, hiệu quả nội dung công
Trang 37việc Từ đó xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá cho phù hợp với nhà trường Đưa ra được nhiều biện pháp, giải pháp trong công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc, GV thực hiện các yêu cầu
Cán bộ quản lý phải là người phải hiểu đúng, đủ về hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở nhà trường Để có thể đánh giá đúng kết quả của giáo viên đang tham vào việc đánh giá sự phát triển của trẻ thì nhà quản lý phải nắm vũng các văn bản quy định có liên quan đến cấp học, đặc biệt là công tác đánh giá sự phát triển của trẻ
Một cán bộ quản lý có năng lực là đưa ra mục tiêu, kế hoạch phù hợp với tình hình của trường, lớp Chỉ đạo, đôn đốc các nội dung công việc đang diễn ra trong trường một cách khoa học, đạt kết quả Từ đó, nâng dần chất lượng giáo dục của nhà trường đi lên Công tác kiểm tra, đánh giá được thực hiện theo kế hoạch và quy trình
1.5.2 Năng lực đánh giá của giáo viên
GV mầm non trong nhà trường là người trực tiếp thực hiện việc đánh giá trẻ, GV mầm non được xác định “là lực lượng chủ yếu quyết định chất lượng trẻ trong các cơ sở GD mầm non”, và sự khẳng định đó là có cơ sở khoa học và thực tiễn Bởi vậy việc đánh giá sự phát triển có khách quan, công bằng hay không phụ thuộc lớn vào năng lực đánh giá của giáo viên
GV mầm non có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định việc học tập
và sự phát triển của trẻ mầm non GV có trình độ, được giao lưu học hỏi thường xuyên về chuyên môn sẽ có nhiều tương tác với trẻ tích cực hơn, nhanh nhạy hơn, thích ứng hơn, cung cấp những trải nghiệm về phát triển nhận thức và ngôn ngữ phong phú hơn
Giáo viên biết cách xây dựng kế hoạch, tổ chức và thực hiện nội dung chăm sóc, giáo dục trẻ phù hợp với đặc điểm của lớp và từng cá nhân trẻ
Dựa vào nội dung và kết quả mong đợi trong kế hoạch năm học để xây dựng các nội dung giáo dục và các phương pháp đánh giá trẻ Giáo viên biết tìm
Trang 38tòi, vận dụng nhiều phương pháp để phục vụ công tác đánh giá trẻ Trong quá trình thực hiện linh hoạt các hình thức đánh giá trẻ để đảm bảo kết quả được chuẩn xác nhất Như vậy, đội ngũ GV lớp mầm non là những đối tượng rất quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non tại các trường mầm non
1.5.4 Văn bản quản lý về hoạt động đánh giá
Hệ thống văn bản chiếm một vị trí hết sức quan trọng là một mắt xích không thể thiếu được Vì vậy trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp và hệ thông các văn bản pháp lý, công tác chăm sóc, giáo dục trẻ tại các trường mầm non đang diễn ra, thực hiện và đạt hiệu quả Kể đến là Thông tư
số 17/2009/TT-BGDDT, ngày 25/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục mầm non, có hiệu lực từ ngày 8/9/2009, được sửa đổi bổ sung bởi: Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT, ngày 30/12/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT, ngày 25/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, có hiệu lực từ ngày 15/02/2017 Đây là Thông tư quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng và lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ Căn cứ vào mục tiêu, nội dung trong chương trình giáo dục mầm non để nhà quản lý, giáo viên làm cơ sở pháp
lý trong việc xây dựng kế hoạch chỉ đạo năm học
Cán bộ quản lý nắm bắt đầy đủ các văn bản sẽ triển khai, chỉ đạo kịp thời xuống giáo viên thực hiện hiệu quả nội dung công việc, giáo viên căn cứ vào đó
để triển khai thực hiện
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non là một nội dung quản lý quan trọng và cần thiết của người hiệu trưởng nhưng những nghiên cứu về quản lý hoạt động này còn thiếu và chưa có tính hệ thống
Hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống, phân tích và đối chiếu với mục tiêu của CTGDMN, nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ và điều chỉnh kế hoạch CS-GD trẻ, đảm bảo sự phát triển của trẻ phù hợp với mục tiêu GD
QL hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non là những tác động
có hệ thống và kế hoạch, tổ chức của Hiệu trưởng trường mầm non tới cách thức, phương pháp và nội dung đánh giá, cách sử dụng kết quả đánh giá trẻ mầm non
Nội dung quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mầm non gồm các công việc sau: Xây dựng kế hoạch hoạt động đánh giá; mầm non Tổ chức, chỉ đạo hoạt động đánh giá trẻ; mầm non mầm non kiểm tra, đánh giá hoạt động đánh giá trẻ mầm non
Những yếu tố ảnh hưởng tới quản lý đánh giá sự phát triển của trẻ mầm nontại trường mầm non được xác định là: Năng lực đánh giá của giáo viên; năng lực quản lý hoạt động đánh giá của nhà quản lý; văn bản quản lý về hoạt động đánh giá
Như vậy, dựa trên cơ sở lý luận trên, tác giả tiếp tục phân tích thực trạng quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ tại các trường mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ HẠ LONG,
TỈNH QUẢNG NINH 2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội và đặc điểm cấp học mầm non thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
2.1.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội thành phố Hạ Long
2.1.1.1 Vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên của thành phố Hạ Long:
Thành phố Hạ Long nằm ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích đất là 27.195,03 ha, có quốc lộ 18A chạy qua tạo thành chiều dài của Thành phố,
có cảng biển, có bờ biển dài 50km, có vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là Di sản thế giới với diện tích 434km2
2.1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Thành phố Hạ Long là Trung tâm phát triển của Vùng trọng điểm ven biển Bắc bộ và trở thành đô thị loại I năm 2012 Thành phố Hạ Long là thành phố du lịch mang tầm quốc tế, các ngành du lịch, dịch vụ thương mại phát triển nhanh, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp ổn định, văn hóa giáo dục, y tế phát triển, đảm bảo an sinh xã hội, quốc phòng an ninh được giữ vững, an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội được đảm bảo, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển của Thành phố
Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội, an ninh quốc phòng của Thành phố Hạ Long còn bộc lộ một số hạn chế: một số ngành, lĩnh vực như kinh tế biển, du lịch, thương mại phát triển chưa tương xứng với tiềm năng nên doanh thu và đóng góp vào ngân sách còn thấp Môi trường du lịch, dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu của đô thị loại I Phát triển văn hóa chưa ngang tầm với phát triển kinh tế Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội chưa đáp ứng yêu cầu của đô thị loại I, nhất là hệ thống giao thông, một số công trình xuống cấp