1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản Lý Giáo Dục Kỹ Năng Múa Cho Học Sinh Tại Các Trường Mầm Non Công Lập Huyện Ba Vì

97 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm quản lý giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập Quản lý giáo dục kỹ năng múa là hoạt động của CBQL nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NHƯ DUYÊN

QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MÚA CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP HUYỆN BA VÌ,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NHƯ DUYÊN

QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MÚA CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP HUYỆN BA VÌ,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Học viên

Nguyễn Thị Như Duyên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MÚA CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP 10

1.1 Hoạt động quản lý và quản lý giáo dục 10

1.2 Hoạt động giáo dục kỹ năng múa 14

1.3 Quản lý giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập 18

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập 26

Tiểu kết chương 28

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MÚA CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 30

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu và quá trình tổ chức khảo sát 30

2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập huyện Ba Vì 34

2.3 Thực trạng quản lý giáo giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập huyện Ba Vì 41

2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập huyện Ba Vì 49

Tiểu kết chương 52

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MÚA CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 54

3.1 Nguyên tắc xây dựng và thực hiện các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng múa cho học sinh tại các trừờng mầm non công lập huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 54

3.2 Các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng múa cho học sinh tại các trừờng mầm non công lập huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 55

3.3 Khảo sát mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 73

3.4 Mối quan hệ của các biện pháp 75

Tiểu kết chương 77

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CBQL Cán bộ quản lý ĐTB Điểm trung bình ĐTKS Đối tượng khảo sát

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thực trạng các trường mầm non và học sinh mầm non trên địa bàn huyện

Ba Vì năm học 2018 - 2019 32 Bảng 2.2 Ý kiến CBQL giáo dục, giáo viên, phụ huynh về vai trò của giáo dục kỹ năng múa cho trẻ 34 Bảng 2.3 Ý kiến của cán bộ, giáo viên về nội dung giáo dục kỹ năng múa 38 Bảng 2.4 Ý kiến của CBQL, giáo viên về phương pháp và hình thức giáo dục kỹ năng múa cho học sinh 39 Bảng 2.5 Đánh giá của CBQL, giáo viên về quản lý xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho trẻ 41 Bảng 2.6 Đánh giá của CBQL, giáo viên về tổ chức thực hiện nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng múa cho trẻ 44 Bảng 2.7 Đánh giá của CBQL giáo dục, giáo viên về quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ giáo dục kỹ năng múa cho trẻ 45 Bảng 2.8 Đánh giá của CBQL giáo dục, giáo viên về kết quả kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ 48 Bảng 3.1 Bảng tổng hợp ý kiến của CBQL giáo dục, giáo viên về mức độ cần thiết của các biện pháp 73 Bảng 3.2 Bảng tổng hợp ý kiến của CBQL giáo dục, giáo viên về mức độ tính khả thi của các biện pháp 74 Bảng 3.3 Hệ số tương quan mức độ cần thiết và tính khả thi 76 của các biện pháp đề xuất 76

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục mầm non nhằm đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần cho thế hệ tương lai của đất nước Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ

Do vậy, phát triển giáo dục mầm non, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ là yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước

Nghị Quyết hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo” đề ra mục tiêu cụ thể: Đối với giáo dục mầm non, giáo dục phải giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1” [2, tr.112] Chương trình giáo dục mầm non mới do BGD&ĐT ban hành theo Thông tư số 17/2009/TT-BG ĐT ngày 25/07/2009 và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ giáo dục lấy trẻ làm trung tâm theo quyết định số 1955/QĐ-BGDĐT ngày 30/05/2014 một lần nữa khẳng định, giáo dục mầm non theo hướng phát triển toàn diện về mọi mặt cho trẻ là rất cần thiết và là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu trong việc hình thành nhân cách cho trẻ [3]

Đối với trẻ vào lớp 1, cần có 5 lĩnh vực phát triển cơ bản là kỹ năng ngôn ngữ

và nhận thức; kỹ năng giao tiếp và hiểu biết chung; sự trưởng thành tình cảm; năng lực

xã hội; sức khỏe và thể chất Nhưng theo báo cáo đánh giá phát triển trẻ thơ ở Việt Nam năm 2013 do Bộ GD và ĐT, Tổ chức Hỗ trợ phát triển giáo dục của Nga, Học viện Offord ở Canada và Ngân hàng Thế giới đồng thực hiện, hiện nay, ở Việt Nam có đến 50% trẻ em được xác định là có nguy cơ thiếu hụt hoặc sẽ thiếu hụt ít nhất một trong năm kỹ năng cần thiết để bắt đầu đi học [14, tr.46]

Để ngăn ngừa và hạn chế sự thiếu hụt các kỹ năng cần thiết cho trẻ trước khi vào lớp 1, việc đẩy mạnh giáo dục cho trẻ các bộ môn năng khiếu và kỹ năng sống là hết sức cần thiết Đặc biệt là cần giáo dục cho trẻ kỹ năng múa, vì hoạt động múa không chỉ nâng cao thể chất mà còn giúp trẻ phát triển toàn diện về thẩm mỹ, trí tuệ, đạo đức và các kỹ năng cần thiết khác cho cuộc sống sau này

Trang 8

Kết quả của nhiều nghiên cứu, cũng như kinh nghiệm cho thấy, quản lý giáo dục có tác động rất lớn đến hiệu quả của các hoạt động giáo dục Vì vậy, để nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non trong các trường công lập, cần có sự tác động tích cực, hiệu quả của các nhà quản lý ở các cấp trong hệ thống giáo dục mầm non Trong khi đó, hiện nay, ở nước ta còn ít các nghiên cứu về quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây, tôi chọn đề tài nghiên cứu:

“Quản lý giáo dục kỹ năng múa cho học sinh tại các trường mầm non công lập huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hoạt động quản lý giáo dục là một bộ phận của công tác quản lý, hiện nay các nghiên cứu về quản lý giáo dục nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả, cũng như các nhà nghiên cứu Giáo dục kỹ năng múa là hoạt động thường xuyên tại các cơ sở giáo dục mầm non trên cả nước, tuy nhiên việc nghiên cứu một cách có hệ thống và coi giáo dục về kỹ năng múa là một đối tượng nghiên cứu thì chưa nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các tác giả Đặc biệt, việc nghiên cứu về quản lý giáo dục kỹ năng múa thì lại chưa nhận được nhiều sự quan tâm như các hoạt động khác trong trường mầm non như hoạt động tạo hình, hoạt động ngoài giờ lên lớp… Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về quản lý giáo dục kỹ năng múa sẽ góp phần hoàn thiện thêm các lý luận và thực tiễn khoa học đối với kỹ năng này

Tác giả Đinh Xuân Đại (2007), Giáo trình múa và phương pháp dạy trẻ vận

động theo âm nhạc, Nxb Hà Nội Tác giả có đề cập đến những kiến thức cơ bản về

nghệ thuật múa: Đã ra một số phương pháp dạy trẻ vận động theo nhạc và múa Tác giả đã nhận thức được vai trò quan trọng của múa đối với trẻ nhưng tác giả mới chỉ dừng ở việc dạy trẻ vận động theo nhạc chứ chưa đưa vào các phương pháp, biện pháp nhằm nâng cao nghệ thuật múa cho trẻ [10]

Tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân (2013), Phương pháp dàn dựng chương

trình ca múa nhạc cho trẻ mầm non, luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường Đại

học Sư phạm TP Hồ Chí Minh Đề tài được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu về công tác tổ chức chương trình ca múa nhạc cho trẻ mầm non hiện nay tại

Trang 9

một số trường mầm non trong thành phố, đồng thời cũng nghiên cứu ứng dụng của một số phần mềm có thể hỗ trợ cho công tác dàn dựng chương trình ca múa nhạc từ đó đề xuất ra phương pháp dàn dựng chương trình ca múa nhạc cho trẻ mầm non để góp phần nâng cao hiệu quả việc tổ chức dàn dựng các chương trình

ca múa nhạc cho trẻ mầm non Đồng thời, tác giả cũng đã nghiên cứu một số phần mềm tin học để ứng dụng vào việc giải quyết những khó khăn thường gặp trong công tác dàn dựng chương trình ca múa nhạc cho trẻ mầm non Trình bày, hướng dẫn sử dụng các phần mềm và hệ thống chúng trên chương trình Mindjet Mindmanager [31]

Tác giả Vũ Thị Mến (2016), Bước đầu nghiên cứu tiết học múa ở trường

mầm non, luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Việc

nghiên cứu, tìm hiểu và bước đầu đưa tiết học múa vào trường mầm non là một việc làm cần thiết Tiếp thu nghệ thuật múa theo một hình thức thoải mái, cơ bản

từ thấp đến cao phù hợp với khả năng phát triển tâm lý trẻ Trẻ khấn khởi và tích cực hơn Thúc đẩy việc cải thiện dạy trẻ múa ở trường mầm non Tác giả đã xác định rõ tác dụng của nghệ thuật múa đối với việc giáo dục trẻ Từ đó mở rộng và khắc phục những khả của chương trình đang thực hiện Để cho vai trò vị trí nghệ thuật thực sự được tách rời thành môn học riêng biệt [30]

Tác giả Trần Hồng Diệu Linh (2018), Nâng cao chất lượng dạy múa cho

trẻ mầm non 5 - 6 tuổi, luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư

phạm 2 Theo tác giả trong chương trình giáo dục mầm non, môn giáo dục kỹ năng múa là một môn nghệ thuật hết sức gần gũi với trẻ, là hoạt động được trẻ yêu thích, là nguồn cảm hứng mạnh mẽ để trẻ cảm thụ nghệ thuật Nó là một phương tiện hữu hiệu cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường Hoạt động múa, hát và vận động sáng tạo khi được giáo viên Mầm non sử dụng một cách có có mục đích, phù hợp sáng tạo sẽ hỗ trợ trẻ thu nhận kinh nghiệm tích cực và tạo cảm giác hưng phấn, vui tươi [27]

Tác giả Đỗ Thị Tường Vân (2013), Biện pháp quản lý hoạt động dạy học

ở các trường mầm non thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ Quản

Trang 10

lý giáo dục, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả luận văn đã nêu được cơ sở lý luận, cở sở thực tiễn của hoạt động dạy học mầm non, những đặc điểm riêng biệt trong việc thực hiện giáo dục tại cấp mầm non, nghiên cứu thực trạng dạy học, quản lý hoạt động dạy học tại các cơ sở mầm non ở thị

xã Sơn Tây và đưa ra một số biện pháp để tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ở các trường mầm non thuộc khu vực thị xã Sơn Tây, Thành phố

Hà Nội trong giai đoạn 05 năm tiếp theo [40]

Tác giả Nguyễn Thị Thu Lương (2016) , Quản lý hoạt động giáo dục theo

chủ đề ở trường mầm non công lập phường 3, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh,

luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã nghiên cứu về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của hoạt động giáo dục, thực trạng quản lý hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non, tìm hiểu và đánh giá thực trạng về giáo dục tích hợp theo chủ đề tại trường mầm non công lập phường

3 quận 10, TP Hồ Chí Minh Từ đó, rút ra những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế để làm cơ sở đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục nhằm nâng cao, tăng cường hiệu quả của hoạt động giáo dục theo chủ đề ở trường mầm non công lập phường 3, quận 10, TP Hồ Chí Minh [29]

Tác giả Khuất Thị Thanh Hiền (2016), Quản lý hoạt động chăm sóc, giáo

dục trẻ tại các cơ sở mầm non tư thục phường Khương Đình, quận Thanh Xuân,

Hà Nội”, luận văn thác sĩ quản lý giáo dục, Học viện Quản lý giáo dục Tác giả,

đã nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ trong các

cơ sở giáo dục mầm non Đồng thời khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập tại phường Khương Đình, quận Thanh Xuân và nguyên nhân của thực trạng Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất được một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng của hoạt độngnày tại các cơ sở GDMN ngoài công lập ở phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội [19]

Tác giả Triệu Thị Hằng (2016), Quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng

trẻ tại trường mầm non Hoa Hồng quận Đống Đa thành phố Hà Nội trong bối

Trang 11

cảnh hiện nay, luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Trường Đại học Giáo dục

Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trong trường mầm non trong bối cảnh hiện nay Khảo sát đánh giá thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng giáo viên nhân viên trong trường mầm non Hoa Hồng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non Hoa Hồng bằng việc áp dụng một số biện pháp phù hợp, hiệu quả nhằm đạt mục tiêu giáo dục mầm non “giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1 ” Nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng ở trường mầm non, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội và khảo nghiệm tính cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp [16]

Tác giả Đào Thị Chi Hà (2018), Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống

cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non tư thục, luận văn thạc sĩ Quản lý giáo

dục, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam Xây dựng cơ sở lý luận, chỉ ra thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non tư thục và các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động này trên cơ sở

đó đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 -6 tuổi ở các trường mầm non tư thục nước ta hiện nay góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 – 6 tại các trường mầm non tư thục [14]

Tác giả Mai Thị Tâm (2018), Quản lý hoạt động dạy học các môn nghệ

thuật tại các cơ sở giáo dục mầm non tư thục quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, Học viện Khoa học và Xã hội Việt Nam,

đã phân tích và làm rõ các nội dung của quản lý nhà trường đối với khách thể là các môn nghệ thuật tại các cơ sở giáo dục mầm non tư thục Tác giả có sự phân biệt những đặc điểm của cơ sở mầm non tư thục và các trường mầm non công lập

để làm rõ hơn môi trường tác động đến quá trình quản lý Tác giả đã phân tích và làm rõ thực trạng công tác này thông qua các nội dung, phương pháp, hình thức

Trang 12

tổ chức các môn nghệ thuật trong trường mầm non, rút ra những hạn chế, nguyên nhân và đề xuất được 07 biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả quản lý dạy học các môn nghệ thuật tại các cơ sở giáo dục mầm non tư thục quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội [36]

Tóm lại, giáo dục kỹ năng trẻ và quản lý giáo dục kỹ năng cho trẻ trong trường mầm non đã được nhiều nhà khoa học, nhiều luận án, luận văn, bài báo khoa học quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Các đề tài đã làm

rõ được nhiều vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn giáo dục kỹ năng, cũng như quản lý giáo dục kỹ năng cho học sinh, cho trẻ em Tuy nhiên, còn ít công trình quan tâm nghiên cứu về giáo dục kỹ năng múa cho trẻ và quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non Chính vì vậy, tác giả chọn vấn đề

“Quản lý giáo dục kỹ năng múa cho học sinh tại các trường mầm non công lập ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” là không trùng lặp với các công trình đã nghiên

cứu trước đây và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở lý luận và thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ, đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ trong các trường mầm non công lập huyện Ba Vì nói riêng và trẻ mầm non nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về Quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ trong trường mầm non công lập

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ trong các trường mầm non công lập huyện Ba Vì

- Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ trong các trường mầm non công lập huyện Ba Vì nói riêng và trẻ mầm non nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng dạy múa cho học sinh trong các trường mầm non

Trang 13

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Luận văn chỉ nghiên cứu Quản lý giáo dục kỹ năng dạy múa cho

học sinh trong các trường mầm non công lập huyện Ba Vì theo 5 lĩnh vực phát triển của trẻ gồm các nội dung: kỹ năng múa của học sinh; Trình độ của giáo viên; Phương pháp dạy trẻ của giáo viên; Môi trường dạy học; nhu cầu tham gia của học sinh; Đào tạo bồi dưỡng và đánh giá giáo viên dạy năng khiếu múa

Về không gian: luận văn chỉ nghiên cứu quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ

mầm non ở các trường công lập huyện Ba Vì, Hà Nội

Về thời gian: Nghiên cứu các dữ liệu từ năm 2016 đến 2018, tổ chức khảo sát từ tháng 3/2019 - 4/2019

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

5.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài:

5.1.1 Nghiên cứu vấn đề theo nguyên tắc hệ thống

Quản lý giáo dục kỹ năng múa thông qua hoạt động giảng dạy trên lớp có mối quan hệ biện chứng với nhiều yếu tố khác trong hoạt động quản lý nhà trường, chúng phụ thuộc lẫn nhau, tác động lẫn nhau Đặc biệt trong thời kì đổi mới giáo dục hiện nay, vấn đề nghiên cứu chịu nhiều sự tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan nên nó được xem xét như là kết quả tác động của nhiều yếu tố Vì vậy, vấn đề nghiên cứu quản lý giáo dục kỹ năng múa thông qua hoạt động giờ lên lớp tại các trường mầm non công lập huyện Ba Vì được xem xét trong mối quan hệ về nhiều mặt

5.1.2 Tiếp cận lịch sử:

Luận văn nghiên cứu lịch sử phát triển và kinh nghiệm quản lý giáo dục kỹ năng múa, thông qua hoạt động giảng dạy để tìm ra ưu, nhược điểm, vận dụng vào quản lý giáo dục kỹ năng múa thông qua hoạt động lên lớp ở các trường mầm non công lập huyện Ba Vì

5.1.3 Tiếp cận thực tiễn:

Nghiên cứu quản lý giáo dục kỹ năng múa thông qua hoạt động giảng dạy cần phải xuất phát từ thực tiễn để tìm ra những yếu điểm, hạn chế, khó khăn, thuận lợi và nguyên nhân để giải quyết nhằm nâng cao chất lượng quản lý và đề xuất các biện pháp

Trang 14

quản lý giáo dục kỹ năng múa thông qua hoạt động giảng dạy phù hợp với thực tiễn ở các trường mầm non công lập huyện Ba Vì

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ

sở thực tiễn của đề tài Nhóm này có các phương pháp cụ thể sau:

5.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Thiết kế hai loại phiếu hỏi dành cho hai đối tượng là cán bộ quản lý, giáo viên

và phụ huynh nhằm thu thập thông tin cần thiết phục vụ cho việc phân tích và đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu

5.2.2 Phương pháp quan sát

Tiến hành quan sát sư phạm nhằm thu thập thông tin cho việc phân tích thực trạng về quản lý giáo dục kỹ năng múa thông qua giảng dạy trên lớp tại một số trường mầm non công lập huyện Ba Vì

5.2.3 Phương pháp xử lý thông tin

Sử dụng phần mềm SPSS, toán thống kê, lập bảng, vẽ sơ đồ,… để xử lý số liệu thu thập được

6 Ý nghĩa lý luận thực tiễn của luận văn

Luận văn có những ý nghĩa cơ bản về lý luận và thực tiễn như sau:

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần làm sáng tỏ hơn và phong phú thêm những tri thức cơ bản

về Quản lý giáo dục kỹ năng dạy múa cho học sinh trong các trường mầm non công lập huyện Ba Vì mà tác giả đã đề cập ở phần phạm vi nghiên cứu

6.2 Ý Nghĩa thực tiễn

Trang 15

Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho cán bộ quản lý và giáo viên các trường trong toàn huyện Ba vì nói riêng và các trường mầm non nói chung, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng múa cho học sinh tại các trường mầm non công lập

Chương 2: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh tại các trường mầm non công lập huyện Ba Vì

Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục kỹ năng múa tại các trường mầm non công lập huyện Ba Vì

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MÚA

CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP

1.1 Hoạt động quản lý và quản lý giáo dục

1.1.1 Quản lý

1.1.1.1 Khái niệm quản lý

Quản lý là một chức năng lao động bắt nguồn từ tính chất lao động của xã hội loài người Từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu

mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì nhu cầu quản lý cũng hình thành như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung Bàn về quản lý, cho đến nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau,

tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7, tr.9]

Qua phân tích, lý giải về quản lý của các nhà khoa học, tác giả tiếp cận khái

niệm quản lý như sau: Quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý thông qua

hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đặt ra

1.1.1.2 Chức năng quản lý

Từ khái niệm về quản lý cho thấy quản lý có bốn chức năng cơ bản là kế hoạch;

tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra đánh giá

Chức năng kế hoạch hóa: là đưa toàn bộ hoạt động vào kế hoạch, có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường,

Trang 17

biện pháp để đạt mục tiêu, mục đích đó Nhờ có kế hoạch mà một tổ chức có thể nhận

ra và tận dụng được cơ hội của môi trường, giúp nhà quản lý ứng phó với sự bất định

và thay đổi của môi trường, dự đoán các biến đổi và xu hướng trong tương lai, thiết lập các mục tiêu và lựa chọn các chiến lược để theo đuổi mục tiêu, phát triển tinh thần làm việc tập thể Kế hoạch còn giúp các nhà quản lý thực hiện việc kiểm tra tình hình thực hiện các mục tiêu thuận lợi và dễ dàng [7, tr.10]

Chức năng tổ chức: nhằm thiết lập một hệ thống các vị trí cho mỗi cá nhân và

bộ phận sao cho các cá nhân và bộ phận đó có thể phối hợp với nhau một cách tốt nhất

để thực hiện mục tiêu của tổ chức [7, tr.10]

Chức năng chỉ đạo: chủ thể sử dụng quyền lực quản lý của mình ra quyết định

và tổ chức cho các phần tử trong tổ chức thực hiện quyết định để đạt mục tiêu quản lý

đã đề ra [7, tr.11]

Chức năng kiểm tra đánh giá: là việc giúp nhà quản lý phát hiện các sai sót, khiếm khuyết của tổ chức trong hoạt động để có giải pháp xử lý, điều chỉnh, tận dụng các nguồn lực để sớm đưa tổ chức đạt đến mục tiêu [7, tr.11]

Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý, mỗi chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Trong quá trình quản lý, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện để tạo điều kiện cho chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý và đưa ra các quyết định quản lý Đối với giáo dục ở nhà trường thì người quản lý giáo dục cần nghiên cứu nắm chắc các chức năng quản lý để duy trì bảo đảm cho hoạt động giáo dục của nhà trường diễn ra một cách nhịp nhàng và đạt kết quả mong đợi

1.1.2 Quản lý giáo dục

1.1.2.1 Khái niệm quản lý giáo dục

Bàn về quản lý giáo dục, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng “Quản lý giáo dục là

hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục tiến tới mục

Trang 18

tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [15, tr.12]

Tác giả Bùi Minh Hiền (2011) cho rằng: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp, huy động các lực lượng giáo dục và xã hội nhằm thực hiện có hiệu quả công việc giáo dục; không chỉ là sự nghiệp của các nhà trường, của ngành GD&ĐT mà

là sự nghiệp chung của cả xã hội [17, tr.11]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang, cho rằng: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [33, tr.35]

Từ cách tiếp cận về quản lý và quản lý giáo dục của các nhà khoa học, theo tác

giả: Quản lý giáo dục là quá trình tác động của chủ thể quản lý giáo dục thông qua

hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra đến đối tượng quản lý giáo dục nhằm đạt được mục tiêu quản lý đặt ra

1.1.2.2 Chức năng quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một dạng của hoạt động quản lý và có đầy đủ 04 chức năng của hoạt động quản lý:

Kế hoạch hóa chính là hoạch định các công việc cần thực hiện một cách chủ động và khoa học Đó cũng chính là chức năng đầu tiên của quản lý giáo dục và quan trọng nhất của việc lãnh đạo, soạn thảo và thông qua những quyết định quản lý quan trọng nhất Chức năng kế hoạch hóa bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động đồng thời xác định từng bước đi những điều kiện cũng như phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý và bị quản lý trong nhà trường Đối với việc lập kế hoạch tốt sẽ giúp nhà quản lý giáo dục có kế hoạch khả năng ứng phó với sự bất định và sự thay đổi đồng thời cho phép nhà quản lý tập trung chú ý vào các mục tiêu để tìm cách tốt nhất và tiết kiệm nguồn lực Tạo hiệu quả hoạt động cho

Trang 19

toàn bộ tổ chức để đạt được mục tiêu và giúp nhà quản lý dễ dàng kiểm tra trong quá trình thực hiện [17]

Chức năng tổ chức trong quản lý giáo dục: Đây là một trong những 4 chức năng của quản lý giáo dục Chức năng tổ chức trong quản lý giáo dục là thiết kế cơ cấu, phương thức cũng như quyền hạn hoạt động của các bộ phận hoặc cơ quan quản lý giáo dục sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức Đây chính là chức năng phát huy vai trò, nhiệm vụ và sự vận hành cũng như sức mạnh của tổ chức thực hiện Nhiệm vụ của nó càng chuyên sâu thì khả năng hoạt động có hiệu quả càng cao Sản phẩm của một tổ chức chỉ tồn tại bên ngoài nó, một tổ chức phải có chức năng cũng như nhiệm

vụ rõ ràng như quy chế, quy định, nội quy…Chúng tôi coi đây là điều kiện để tổ chức hoạt động có hiệu quả Tổ chức giáo dục phải có sự bình đẳng trong quan hệ [17]

Chức năng điều khiển, chỉ đạo thực hiện: Các chức năng của quản lý giáo dục

sẽ thể hiện năng lực của người quản lý Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người cán bộ quản lý phải điều khiển cũng như chỉ đạo cho hệ thống hoạt động theo đúng kế hoạch nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra Người cán bộ quản lý giáo dục phải là người có tri thức, có kỹ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định Quyết định là công cụ chính để điều khiển hệ thống và ra quyết định trong quá trình xác định vấn đề và lựa chọn một phương án tối ưu trong số nhiều phương án có thể lựa chọn Việc đưa ra quyết định được thực hiện xuyên suốt trong quá trình quản lý, từ việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, điều khiển, chỉ đạo thực hiện cho đến việc kiểm tra đánh giá [17]

Chức năng kiểm tra trong quản lý giáo dục: đây là một trong những 4 chức năng của quản lý giáo dục, thiếu chức năng này, tức không có kiểm tra, sẽ không có quản lý Kiểm tra là chức năng xuyên suốt trong quá trình quản lý đồng thời cũng là chức năng của mọi cấp quản lý, nhằm xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định có phù hợp hay không, đánh giá mức dộ hoàn thành nhiệm vụ theo kế hoạch Khi chức năng này hoạt động thường xuyên sẽ phát hiện ra sai lầm, uốn nắn, giáo dục và ngăn chặn để xử lý Mục đích của kiểm tra là xem xét hoạt động của cá nhân và tập thể có phù hợp với nhiệm vụ hay không và tìm ra ưu nhược

Trang 20

điểm, nguyên nhân Qua kiểm tra người quản lý cũng thấy được sự phù hợp giữa thực

tế, nguồn lực và thời gian, phát hiện những nhân tố mới, những vấn đề đặt ra Nhà quản

lý có thể kiểm tra các vấn đề như: ( kiểm tra kế hoạch, tài chính hay chuyên môn…) [17]

1.1.2.3 Chủ thể quản lý giáo dục

Chủ thể quản lý giáo dục là những người thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động giáo dục ở các cấp trong hệ thống giáo dục Chủ thể quản lý giáo dục ở các cấp khác nhau là khác nhau Bộ Giáo dục và Đào tạo là đơn vị chủ trì và thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở cấp quốc gia Sở Giáo dục và đào tạo các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được giao trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo tại địa phương Trong hệ thống giáo dục phổ thông, Sở giáo dục quản lý các trường THPT và các phòng giáo dục Tiếp đến, Phòng Giáo dục các huyện, thị xã, quận, thành phố là đơn vị thực hiện chính các nhiệm vụ quản lý giáo dục các trường từ mầm non đến THCS [18] Tại các trường học, ban giám hiệu nhà trường là chủ thể quản lý cao nhất, quản lý hoạt động giáo dục chung của toàn trường Tiếp đó, các chủ nhiệm khoa là người chịu trách nhiệm quản lý khoa, tổ trưởng bộ môn quản lý các bộ môn [18]

1.2 Hoạt động giáo dục kỹ năng múa

1.2.1 Khái niệm kỹ năng múa

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng Từ điển Từ và ngữ Hán Việt, giải thích “Kỹ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn” [25, tr.390] Tác giả Trần Thị Bích Liễu, quan niệm “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng” [26, tr.49]

Theo tác giả Vũ Dũng, kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng [9] Từ những cách tiếp cận về kỹ năng cho thấy: tri thức là cơ sở nền tảng để hình thành kỹ năng Kỹ năng là sự chuyển hoá tri thức thành năng lực hành động; kỹ năng gắn với một hành động hoặc hoạt động nhằm đạt được mục đích đã định

Trang 21

Múa là một trong những loại hình nghệ thuật Múa được ra đời từ rất sớm của loài người Múa phản ánh các hiện tượng của cuộc sống con người (văn hóa, xã hội) Múa không lập lại nguyên xi động tác như kịch, điện ảnh mà phải được cách điệu hóa

và phải tuân theo quy luật của cái đẹp Múa là loại hình nghệ thuật không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người Nghệ thuật múa của dân tộc sẽ phát triển không ngừng, từng bước tiến tới đỉnh cao của nghệ thuật muáthế giới và ngày càng xâm nhập vào đời sống của quần chúng nhân dân Múa là loại hình nghệ thuật biểu diễn có lịch

sử lâu đời Nó là sự kết hợp hoàn hảo giữa các động tác của cơ thể và sự cảm thụ âm nhạc, tư duy thẩm mỹ đỉnh cao Trong lĩnh vực giáo dục mầm non, nó là bộ môn năng khiếu giúp trẻ thư giãn, rèn luyện thể chất và hoàn thiện về mọi mặt Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu được tầm quan trọng của múa trong chương trình giảng dạy ở các trường mầm non

Kỹ năng múa là năng lực vận dụng tri thức về phương thức múa đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện hoạt động múa một cách có hiệu quả

1.2.2 Vai trò của kỹ năng múa đối với học sinh mầm non

Kỹ năng múa có những vai trò sau:

Thứ nhất, học kỹ năng múa góp phần hình thành ở trẻ một số phẩm chất nhân

cách và đạo đức Khi học múa, trẻ sẽ cần phối hợp với các bạn một cách nhịp nhàng để hoàn thành màn biểu diễn một cách tốt nhất Có nghĩa là, trẻ phải học cách kết hợp với bạn, quan sát, nhường nhịn nhau trong mỗi động tác, không chen lấn, xô đẩy Quá trình này sẽ có những tác động tích cực đối với tư tưởng của trẻ, giúp trẻ biết cảm thông, chia sẻ với mọi người hơn, hình thành tình cảm đạo đức, đối nhân xử thế hợp lý Nói theo cách của các chuyên gia nghiên cứu thì học múa là điều kiện thiết để hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức của trẻ

Thứ hai, học múa giúp trẻ phát triển trí tuệ: Múa và những môn nghệ thuật biểu

diễn nói chung đều được đánh giá cao về khả năng hỗ trợ sự phát triển trí tuệ của con người Khi học múa, trẻ cần tập trung quan sát, vận dụng khả năng ghi nhớ, vận động theo những giai điệu riêng.Đây chính là bộ môn lý tưởng giúp trẻ có thể kết hợp được

Trang 22

các cơ quan vận động, gồm thính giác, thị giác và chuyển động cơ thể, nâng cao năng lực cảm thụ âm nhạc, từ đó hoàn thiện về mặt tư duy

Thứ ba, học múa giúp trẻ phát triển thể chất: Bạn có thể thấy những nghệ sĩ học

múa từ nhỏ có cơ thể hết sức dẻo dai và đẹp chuẩn Khi học múa, trẻ được vận động toàn thân theo nhịp điệu của từng bản nhạc Điều này giúp cơ thể phát triển một cách toàn diện, đồng thời kích thích hoạt động của hệ hô hấp và hệ tuần hoàn, giúp cải thiện sức khỏe thể chất cho trẻ

Thứ tư, học múa giúp trẻ phát triển năng lực thẩm mỹ: Múa là bộ môn nghệ

thuật điển hình cho cái đẹp Sự kết hợp giữa động tác của cơ thể, với giai điệu sống động và các trang phục nhiều màu sắc… tất cả gợi cho trẻ những tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ, giúp trẻ có nền tảng nhất định về nghệ thuật Mặc dù vậy, cha mẹ cũng cần hiểu rằng, múa chỉ có thể phát huy được vai trò thực sự hữu ích khi được giảng dạy bởi giáo viên có trình độ, có trách nhiệm với nghề, với trẻ Bên cạnh đó, điều quan trọng là phải khiến trẻ cảm thấy vui vẻ, hứng thú với môn học này, để mỗi ngày đi học là một ngày vui

1.2.3 Giáo dục kỹ năng múa

1.2.3.1 Khái niệm giáo dục kỹ năng múa

Giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non là quá trình tác động, dạy dỗ, chỉ bảo, hướng dẫn, làm mẫu từ nhiều động tác, kỹ thuật khác nhau, phối hợp với sự cảm thụ

âm nhạc nhằm xây dựng và hình thành cho trẻ những kỹ năng múa phù hợp với từng

độ tuổi và từng thể loại Kết quả của giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non là trẻ có được những kỹ năng múa tốt, trẻ mạnh dạn, tự tin, phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần

Quá trình giáo dục kỹ năng múa giống như các quá trình giáo dục khác là có sự tham gia của chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục Chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục kỹ năng múa cho học sinh là thầy cô giáo, cha mẹ học sinh và những lực lượng giáo dục khác trong nhà trường, ngoài xã hội Trẻ mầm non là đối tượng của quá trình giáo dục, chịu tác động của giáo viên và các lực lượng giáo dục khác Trẻ còn là

Trang 23

chủ thể tích cực, tự giác tiếp thu các động tác, kỹ năng và tham gia các hoạt động giao lưu để thể hiện các kỹ năng múa một cách tích cực

1.2.3.2 Nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng múa

(1) Nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ

Nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng lứa tuổi, hoạt động giáo dục và điều kiện cụ thể Ngoài các kỹ năng múa cơ bản, tùy theo đặc điểm vùng, miền, địa phương, giáo viên có thể lựa chọn các nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non cụ thể được thể hiện qua các kỹ năng sau:

- Kỹ năng mô phỏng: Kỹ năng mô phỏng còn gọi là kỹ năng bắt chước, tiếp thu múa chủ yếu bằng cách bắt chước, nghĩa là nhìn người khác múa rồi làm theo Kỹ năng này phụ thuộc một phần vào yếu tố bẩm sinh Kỹ năng này quan trọng nhất trong quá trình học múa

- Kỹ năng khống chế: Là điều khiển cơ bắp, hình thể cho hòa nhập với âm nhạc Động tác, tư thế múa có hồn hay không chính là nhờ kỹ năng khống chế Muốn có được kỹ năng khống chế phải rèn luyện cách điều khiển cơ bắp theo ý muốn và mục đích thể hiện

- Kỹ năng mềm dẻo: Kỹ năng này được quan niệm như thuộc tính của múa, kỹ năng mềm dẻo cũng có 1 phần yếu tố bẩm sinh Kỹ năng này khi múa phải biết cách điều khiển cơ bắp, khớp để đáp ứng với mục đích biểu hiện Nhưng trong khi múa không phải lúc nào cũng đòi hỏi phải có kỹ năng mềm dẻo

- Kỹ năng mở: Là hoạt động linh hoạt về biên độ của các khớp

- Kỹ năng nhảy: Nâng toàn bộ trọng lượng thân hình lên khỏi mặt đất Kỹ năng này đòi hỏi phải biết cách lấy đà, nhún đầu gối, dồn sức khống chế vào bắp chân, bàn chân rồi sau đó bậc lên trong 1 tư thế nhất định, Người thẳng, đầu thẳng và kế hoạch rơi xuống nhẹ nhàng, cân bằng Sức bật là yếu tố quyết định kỹ năng này

- Kỹ năng quay xoay: Xác định hướng và biên độ xoay cả vòng, nửa vòng, ¼ vòng, xoay tại chỗ hay di chuyển Khi quay xoay phải kết hợp tay, chân, vai và toàn bộ thân hình

Trang 24

(2) Phương pháp giáo dục kỹ năng múa cho trẻ

Phương pháp giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non gồm có nhóm phương pháp trực quan, nhóm phương pháp dùng lời, nhóm phương pháp thực hành Với phương pháp trực quan bao gồm phương pháp làm mẫu, phương pháp làm cùng, phương pháp làm gương (những phương pháp này giúp trẻ quan sát, bắt chước/tập thử, thực hành thường xuyên những kỹ năng múa cần hình thành); nhóm phương pháp dùng lời bao gồm các phương pháp trò chuyện, giảng giải ngắn (những phương pháp này giúp trẻ huy động tối đa những kinh nghiệm đã có, giải thích và khích lệ trẻ vui vẻ, hào hứng thực hiện kỹ năng múa: nhóm phương pháp thực hành bao gồm các phương pháp trải nghiệm, đóng vai, giao việc (những phương pháp này giúp trẻ bắt chước, tập thử và tích cực thực hành thường xuyên các kỹ năng múa)

(3) Hình thức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ

Giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non thông qua các hình thức hoạt động như vui chơi, giao tiếp, hoạt động phát triển ngôn ngữ và nhận thức Ngoài ra còn có thể sử dụng những hình thức giáo dục khác như hoạt động lao động, âm nhạc, làm quen với văn học, khám phá thế giới xung quanh, thể dục Đối với trẻ mầm non giáo dục kỹ năng múa thông qua hoạt động vui chơi Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ Nội dung chơi của trẻ phản ánh những sinh hoạt hàng ngày trong gia đình, làng xóm gắn với các bài hát, bài múa theo chủ đề Tổ chức các hoạt động cô và trẻ cùng làm tại nhóm lớp, lồng ghép các hoạt động giáo dục khác tại trường vào chương trình giáo dục trong các hoạt động học, hoạt động hàng ngày của trẻ ở mọi lúc, mọi nơi với giáo dục

kỹ năng múa

1.3 Quản lý giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập

1.3.1 Khái niệm học sinh các trường mầm non công lập

Theo quy định tại Điều lệ Trường mầm non thì trường mầm non, trường mẫu giáo (sau đây gọi chung là nhà trường), nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập được tổ chức theo các loại hình: công lập, dân lập và tư thục Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp

Trang 25

mẫu giáo công lập do cơ quan Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên [5]

Theo Thông tư số 19/2017/TT-BGDĐT ngày 28/7/2017 của Bộ Giáo dục và đào tạo về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành giáo dục thì Trẻ em mẫu giáo bao gồm trẻ em đi học ở các lớp mẫu giáo của trường mẫu giáo, trường mầm non, lớp mẫu giáo độc lập, lớp mẫu giáo ở các nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở cơ quan, xí nghiệp và

ở các trường phổ thông [6]

Trên cơ sở các khái niệm nêu trên, luận văn đề xuất khái niệm học sinh các trường mầm non công lập là trẻ em đi học các trường mầm non do cơ quan Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên

1.3.2 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh các trường mầm non công lập

(1) Đặc điểm của sự phát triển các phẩm chất nhân cách

Về đời sống tình cảm: đây là lứa tuổi dễ xúc cảm, xúc động và khó kiềm chế xúc cảm của mình Trẻ rất dễ xúc động trước thiên nhiên, động vật, chưa biết kiểm tra những biểu hiện bên ngoài của tình cảm Những xúc cảm của lứa tuổi này thường gắn liền với những tình huống cụ thể, trực tiếp mà ở đó trẻ hoạt động hoặc gắn với những đặc điểm trực quan; đời sống tình cảm của trẻ bắt đầu có nội dung phong phú hơn và bền vững hơn; thể hiện ở tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ và tình cảm thẩm mĩ Tuy nhiên, do tình cảm của trẻ đang trong quá trình hình thành, phát triển nên tình cảm ở lứa tuổi này còn mỏng manh chưa bền vững, chưa sâu sắc

Đặc điểm về ý chí và tính cách

Về ý chí: các phẩm chất ý chí đang được hình thành và phát triển, tuy nhiên những phẩm chất này chưa ổn định và chưa trở thành các nét tính cách của cá nhân trẻ Năng lực tự chủ còn yếu, đặc biệt khả năng chịu đựng và kiên nhẫn chưa cao, nhanh thích với các đồ vật nhưng cũng chóng chán, khó giữ trật tự trong quá trình học tập và sinh hoạt

Về tính cách: ở lứa tuổi mẫu giáo, tính cách của trẻ đang được hình thành trong mọi hoạt động học tập, lao động, vui chơi Cụ thể ở trẻ hình thành những nét tính cách

Trang 26

mới như tính hồn nhiên, tính hay bắt chước những hành vi, cử chỉ của người lớn, tính hiếu động, tính trung thực và tính dũng cảm

(2) Đặc điểm quá trình nhận thức

Đối với trẻ 3-4 tuổi, ở giai đoạn này đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ được thể hiện ở khả năng tư duy trực quan - hành động: trẻ thường thích các hoạt động chân tay và khám phá bằng các giác quan; trẻ có thể nắm các thông tin thông qua giao tiếp

và các sách đơn giản, dễ hiểu; trẻ rất hay đặt câu hỏi nhưng không phải lúc nào trẻ cũng

có thể hiểu được câu trả lời; trong cuộc sống, sinh hoạt, vui chơi trẻ bắt đầu nhận ra các mối quan hệ nhân quả đơn giản dưới dạng các câu hỏi đơn giản như tại sao? để làm gì? như thế nào?; thông qua các hoạt động trẻ từng bước móc nối các sự kiện khi thảo luận nhưng có thể gặp khó khăn trong phát âm, diễn đạt bằng lời nói Trẻ cần được người lớn chú ý nghe và nói lại rõ ràng hơn những gì trẻ nói; trong lớp trẻ có thể học tốt nhất trong những tình huống cụ thể có ý nghĩa với bản thân chúng và khi có sự tin tưởng, khích lệ của người lớn như cô giáo, cha mẹ và người thân trong gia đình…

Đối với trẻ ở lớp mẫu giáo từ 4 - 5 tuổi, ở giai đoạn này đặc điểm phát triển nhận thức trẻ phát triển tư duy trực quan - hình tượng: đây là giai đoạn trẻ hay sử dụng các trò chơi đóng vai (chơi giả vờ) để xử lý thông tin mới và để hiểu các khái niệm phức tạp; trẻ bắt đầu hiểu thí nghiệm là gì và trở nên có chủ định cũng như sáng tạo hơn trong việc khám phá; trong quá trình học tập và vui chơi, trẻ thường thích các thí nghiệm do chúng tạo ra hơn là các thí nghiệm do người lớn hướng dẫn; trẻ bắt đầu suy nghĩ lập kế hoạch cho một hoạt động, chẳng hạn như nghĩ về việc gieo hạt trước khi trẻ thực hiện hành động thực tế này; bắt đầu đưa ra những dự đoán dựa trên những gì trẻ được trải nghiệm; trẻ thích nghĩ ra những lời giải thích về những gì quan sát được, thường thêm các chi tiết tưởng tượng vào các sự việc; trẻ thích nói chuyện với những trẻ khác khi chơi và thử nghiệm; bắt đầu sử dụng các hình vẽ để trình bày và diễn đạt ý kiến và trẻ thích nói để người lớn ghi lại và thử tự viết

Đối với trẻ ở lớp mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi, ở độ tuổi này, đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ biểu hiện ở khả năng tư duy lôgic: Có nhiều thông tin về một số sự vật, hiện tượng nào đó nhưng chưa có hiểu biết đầy đủ về sự vật, hiện tượng đó; ở lứa tuổi

Trang 27

từ 5 - 6 tuổi trẻ có thể tự tạo ra các thí nghiệm để xem việc gì sẽ xảy ra và nghĩ ra lời giải thích cho những gì trẻ quan sát được, mặc dù trẻ vẫn chưa đủ khả năng sử dụng suy luận logic và trừu tượng Đồng thời, trẻ có thể làm một số thí nghiệm do cô hướng dẫn và có thể giải thích theo nhiều cách khác nhau; trong hoạt động hàng ngày trẻ thường dành nhiều thời gian và chú ý hơn vào các hoạt động mà trẻ thích; trẻ thích chơi theo nhóm từ 5-6 bạn và thích trao đổi các nội dung quan sát được trong từng nhóm nhỏ; trẻ đã có khả năng nắm bắt các khái niệm trừu tượng nhưng vẫn cần các sự việc có thực để giải thích các khái niệm đó, cũng như thích vẽ và viết để ghi lại các sự việc đang diễn ra trong cuộc sống và hoạt động trẻ quan sát được

Từ những đặc điểm tâm lý cơ bản của trẻ, đặt ra cho CBQL giáo dục, giáo viên khi tiến hành giáo dục kỹ năng múa cho trẻ, cần hướng vào việc làm thay đổi hành vi của trẻ từ thói quen sống thụ động, chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân trẻ và góp phần phát triển bền vững cho xã hội

1.3.3 Khái niệm quản lý giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập

Quản lý giáo dục kỹ năng múa là hoạt động của CBQL nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, trẻ mầm non và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối

đa các nguồn lực xã hội để nâng cao giáo dục kỹ năng múa trong nhà trường Quản lý giáo dục kỹ năng múa chính là những công việc của nhà trường mà người CBQL trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác giáo dục

kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non

Quản lý giáo dục kỹ năng múa là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động giáo dục kỹ năng múa trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục

và dạy kỹ năng múa cho trẻ

Từ những luận giải trên, tác giả cho rằng: Quản lý giáo dục kỹ năng múa cho

học sinh ở các trường mầm non công lập là một hệ thống những tác động sư phạm hợp

lý và có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện các nội

Trang 28

dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ theo đúng mục đích đề ra, giúp trẻ phát triển toàn diện về nhân cách theo mục tiêu giáo dục mầm non

Chủ thể quản lý giáo dục kỹ năng múa ở các trường mầm non công lập là ban giám hiệu nhà trường

Đối tượng quản lý giáo dục kỹ năng múa là tập thể giáo viên, trẻ mầm non và những nguồn lực xã hội tại các trường mầm non công lập

1.3.4 Các nội dung quản lý giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập

Quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non được tiếp cận và phân tích theo chức năng quản lý giáo dục trong nhà trường nói chung đó là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

(1) Lập kế hoạch về giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập

Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non cần xác định rõ mục tiêu sẽ đạt được của từng nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ như:

Về kiến thức, phải trực tiếp góp phần nâng cao hiểu biết cho trẻ về hình thức, phương pháp và cách thức múa, từng bước tiếp thu, củng cố, mở rộng hiểu biết những nội dung

đã học trên lớp, hình thành ý thức tự học múa cho trẻ; về kỹ năng, kỹ xảo, củng cố vững chắc các kỹ năng cơ bản trong hoạt động múa tại các trường mầm non như kỹ năng nhảy, xoay

Kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non cần được xây dựng cụ thể đến từng tuần, phải chỉ rõ nội dung giáo dục, thời gian tiến hành, nội quy, nền nếp giáo dục học tập, đó là những quy định chung có tính bắt buộc được duy trì đều đặn, thường xuyên theo kỷ luật nhất định

Bên cạnh đó, kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non cần thể hiện rõ

sự phân công, phối hợp thực hiện của các lực lượng giáo dục, kinh phí và thời gian thực hiện các nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non

Khi xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho trẻ, cần bảo đảm tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm Kế hoạch phải vạch ra được

Trang 29

chiều hướng phát triển KNS ở trẻ mầm non; kế hoạch phản ánh được mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, thời gian, hình thức tổ chức, biện pháp, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ

(2) Tổ chức giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập

Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non là chỉ huy, chỉ đạo cho các bộ phận trong nhà trường thực hiện những nhiệm vụ để bảo đảm việc giáo dục kỹ năng múa diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục sao cho đạt hiệu quả Việc tổ chức thực hiện giáo dục

kỹ năng múa sẽ đạt hiệu quả cao nếu trong quá trình chỉ đạo, nhà quản lý biết kết hợp giữa sử dụng uy quyền và thuyết phục, động viên kích thích, tôn trọng, tạo điều kiện cho người dưới quyền được phát huy năng lực và tính sáng tạo của họ

Tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non có liên quan mật thiết đến việc tổ chức hoạt động dạy học, tổ chức vui chơi để giáo dục nhân cách cho trẻ ngay trong nhà trường Quá trình triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng múa gồm: thành lập ban chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng múa cho trẻ thông qua hoạt động học, vui chơi theo các chủ đề đã được xác định, do hiệu trưởng làm trưởng ban; xây dựng các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng múa cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày; đề ra mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho trẻ và tổ chức thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng múa

Sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất,

kỹ thuật phục vụ cho hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non Khi sắp xếp bố trí lực lượng giáo dục kỹ năng múa cho trẻ, hiệu trưởng phải biết được phẩm chất và năng lực của từng giáo viên, nhân viên, mặt mạnh, mặt yếu, nếu cần có thể phân công theo từng “ê kíp” nhằm bảo đảm cho công việc được tiến hành một cách thuận lợi và có hiệu quả

Tổ chức bồi dưỡng giáo viên thực hiện nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng múa thông qua dự giờ, kiến tập, sinh hoạt chuyên môn để nâng cao năng lực cho giáo viên về phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động nhằm giáo dục kỹ năng múa cho trẻ đạt hiệu quả

Trang 30

(3) Chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập

Trong quản lý, chỉ đạo là hướng dẫn cụ thể theo một đường lối chủ trương nhất định Chỉ đạo thực hiện hoạt đông giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non là chỉ huy phải ra lệnh cho các bộ phận trong nhà trường thực hiện những nhiệm vụ Bảo đảm việc giáo dục kỹ năng múa diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp với các lực lượng giáo dục sao cho hiệu quả cao nhất Cán bộ quản lý chỉ đạo thực hiện các việc sau:

- Chỉ đạo thực hiện các nội dung giáo dục kỹ năng múa của giáo viên chủ nhiệm lớp và các lực lượng giáo dục khác Quy định nhiệm vụ, các tiêu chuẩn thi đua cụ thể đối với giáo viên, tham gia giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non và động viên khen thưởng kịp thời Bồi dưỡng cho giáo viên kĩ năng tổ chức hoạt động

về giáo dục kỹ năng múa thông qua hoạt động trải nghiệm Quản lý nội dung chương trình giáo dục kỹ năng múa cho cho trẻ cần được xác định từ đầu năm học, đầu mỗi học kỳ và của từng tháng Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT cũng như của Phòng GD&ĐT, Hiệu trưởng phân công cho phó hiệu trưởng xây dựng và quản lý chặt chẽ các thành tố như mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện, giáo viên giảng dạy và kết quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non

- Đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non thông qua hoạt động trải nghiệm Tất cả các hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non phải phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất hiện có của nhà trường, tránh đặt ra các hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ quá cao mà điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật hạn chế sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục kỹ năng múa của trẻ tại nhà trường Bảo đảm cơ sở vật chất cho quá trình giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non bao gồm các đồ dùng học cụ, những vật dụng phục vụ trực tiếp cho công tác thực hành giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non, các hoạt động dã ngoại và các mặt bảo đảm khác

Trong quá trình chỉ đạo Ban giám hiệu cần kiểm tra giám sát việc thực hiện

kế hoạch bằng cách thu thập thông tin chính xác, phân tích, tổng hợp, xử lý thông

Trang 31

tin để có những quyết định đúng đắn Đó có thể là những quyết định để điều chỉnh, sửa sai (nếu kế hoạch có vấn đề chưa phù hợp với thực tiễn) để hoạt động giáo dục

kỹ năng múa diễn ra đúng theo kế hoạch Việc chỉ đạo giáo dục kỹ năng múa sẽ đạt hiệu quả cao nếu trong quá trình chỉ đạo Ban giám hiệu biết kết hợp giữa sử dụng quyền, sự thuyết phục, động viên, kích thích, tôn trọng, tạo điều kiện cho mọi người dưới quyền được phát huy năng lực và tính sáng tạo của mình

(4) Kiểm tra, đánh giá giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập

Trong quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non, việc kiểm tra đánh giá có ý nghĩa không chỉ đối với nhà quản lý giáo dục mà còn có ý nghĩa đối với cả cha, mẹ của trẻ Qua kiểm tra đánh giá, giáo viên, cha, mẹ trẻ sẽ hiểu rõ hơn về những hoạt động của mình, khẳng định được mình trong thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ Quá trình kiểm tra có thể thực hiện định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp hoặc gián tiếp, song kiểm tra dù thực hiện ở cách thức nào cũng cần xây dựng chuẩn đánh giá cho phù hợp với đặc điểm của nhà trường thì việc kiểm tra đánh giá mới khách quan, công bằng

Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó những tác động quản lý giáo dục của ban giám hiệu, giáo viên có ảnh hưởng mạnh mẽ tới quá trình giáo dục, rèn luyện kỹ năng múa cho trẻ Vì vậy, khi kiểm tra, đánh giá quá trình giáo dục kỹ năng múa cho trẻ phải xác định rõ mục đích, bảo đảm tính khách quan, toàn diện, công khai Đây vừa yêu cầu, vừa là nguyên tắc cao nhất trong kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non

Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ phải gắn liền với nội dung đánh giá kết quả phát triển của trẻ về nhận thức, nhân cách mvà thể lực Để thực hiện các nhiệm vụ kiểm tra kết quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ trong quá trình dạy học, giáo dục ở nhà trường, nhà quản lý giáo dục cần: lập kế hoạch kiểm tra (kế hoạch kiểm tra cần xác định rõ mục tiêu, nội dung kiểm tra, đánh giá, chuẩn đánh giá, phương pháp, hình thức đánh giá); xây dựng các lực lượng kiểm tra, đánh giá; xây dựng công cụ kiểm tra, đánh giá; tổ chức kiểm tra, đánh giá;

Trang 32

phân tích kết quả kiểm tra, đánh giá và phản hồi thông tin đến giáo viên và các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng múa cho trẻ

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập

và quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non Nhận thức của các lực lượng quản lý và giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non, được đánh giá bởi các vấn đề như nhận thức về sự cần thiết phải giáo dục kỹ năng múa cho trẻ; hiểu thế nào là kỹ năn múa; ý nghĩa vai trò của giáo dục kỹ năng múa cho trẻ, nhất là trước sự phát triển và hội nhập của đất nước; vai trò chức năng nhiệm vụ và mối quan

hệ giữa Ban giám hiệu, CBQL, giáo viên, vai trò trách nhiệm của gia đình và các tổ chức ngoài xã hội trong việc giáo dục kỹ năng múa cho trẻ; mối quan hệ giữa nhà trường - gia đình - các tổ chức ngoài xã hội đối với việc giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non hiện nay

Nhận thức của các lực lượng quản lý và giáo dục phù hợp với mục tiêu quản lý

sẽ thúc đẩy cho hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ nhanh chóng đạt hiệu quả tối

ưu và ngược lại khi nhận thức lệch lạc, chưa đúng với yêu cầu tổ chức giáo dục kỹ năng múa cho trẻ sẽ trở thành lực cản việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ của các trường mầm non Do vậy, nhận thức của các lực lượng quản lý và thực hành giáo dục đúng sẽ tạo nên sự đồng thuận trong việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng múa cho trẻ cũng như hiểu được sự cần thiết của việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ để thúc đẩy cho hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ đạt kết quả theo sự kỳ vọng của các lực lượng tham gia tổ chức giáo dục

Trang 33

(2) Tác động từ năng lực của cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên

Đội ngũ CBQL giáo dục, giáo viên là lực lượng chủ đạo quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường Do vậy, trong giai đoạn phát triển của đất nước hiện nay, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang đặt ra yêu cầu cấp bách là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài nhằm tạo ra những mẫu nhân cách phù hợp với xã hội Từ đó đòi hỏi đội ngũ CBQL và giáo viên phải đáp ứng các yêu cầu về trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức nhằm có thể tiếp thu những kiến thức mới hội nhập để có thể truyền đạt cho thế hệ mai sau Nhận thức được sự ảnh hưởng năng lực của CBQL và đội ngũ giáo viên đến chất lượng công tác giáo dục kỹ năng múa, mỗi nhà trường đều tạo điều kiện cho đội ngũ học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đào tạo lực lượng giảng dạy vừa hồng vừa chuyên

(3) Tác động từ môi trường gia đình và xã hội

Dưới góc độ giáo dục, gia đình, xã hội không chỉ là lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục mà còn là môi trường giáo dục quan trọng Trong lĩnh vực giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non, môi trường gia đình và môi trường xã hội có thể tác động theo hướng tích cực hoặc không tích cực đối với quá trình hình thành và phát triển kỹ năng múa của trẻ Do kỹ năng múa thuộc phạm trù năng lực nên sự trải nghiệm có ý nghĩa quan trọng đòi hỏi quá trình giáo dục kỹ năng múa cho trẻ cần phát huy tốt sức mạnh của các yếu tố gia đình và xã hội Trong gia đình, cha mẹ là những người đầu tiên dạy dỗ, truyền đạt cho con cái những phẩm chất nhân cách cơ bản, tạo nền tảng cho quá trình phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể lực, thẩm mỹ… đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội Nền kinh tế thị trường hiện nay đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của mỗi gia đình và trẻ nhỏ Các tệ nạn xã hội tạo ra nhiều thách thức và khó khăn trong việc lựa chọn các giá trị chân, thiện, mỹ trong giáo dục gia đình Cha mẹ cũng cần dành thời gian để tìm hiểu những tâm tư, nguyện vọng của con, gần gũi và chia sẻ với con về ước mơ về hoạt động học tập, vui chơi trên nhà trường

1.4.2 Các yếu tố khách quan

(1) Tác động từ mục tiêu, yêu cầu đổi mới nội dung chương trình giáo dục ở bậc mầm non

Trang 34

Đây chính là yếu tố đầu tiên có tính định hướng cho công tác giáo dục và rèn luyện kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non Quá trình giáo dục kỹ năng múa cho trẻ, nếu không bám sát mục tiêu giáo dục ở bậc mầm non và không xác định được yêu cầu của việc giáo dục kỹ năng múa cho trẻ thì công tác quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục, rèn luyện kỹ năng múa cho trẻ ở các trường mầm non sẽ không đạt hiệu quả Vì thế, giáo dục ở các cấp học, bậc học phải hướng tới đổi mới toàn diện, sâu sắc hơn cả về quy mô và chất lượng giáo dục Do vậy, việc giáo dục kỹ năng múa cho trẻ nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục ở bậc mầm non, đó là giúp trẻ phát triển toàn diện về trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho trẻ bước vào thời kỳ học tập ở bậc tiểu học và các bậc học tiếp theo Đây chính là yếu tố tác động có ý nghĩa định hướng cho công tác giáo dục nói chung, giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non nói riêng

(2) Tác động từ cơ sở vật chất của các trường mầm non

Cơ sở vật chất là một bộ phận rất quan trọng của nhà trường là thành tố không thể thiếu được trong công tác giáo dục trẻ, nó góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục Xây dựng cơ sở vật chất trường mầm non, chính là tạo ra một môi trường sư phạm có đầy đủ phòng học, phòng chức năng, phòng làm việc, trang thiết bị, đồ dùng, sân chơi

đó chính là tạo ra môi trường sư phạm có đủ diện tích cho trẻ hoạt động, có cảnh quan đẹp, hấp dẫn mang tính giáo dục cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giáo dục Chính vì vậy, yếu tố vật chất có vai trò quan trọng, góp phần bảo đảm cho giáo dục kỹ năng múa đạt hiệu quả

Tiểu kết chương

Giáo dục kỹ năng múa ở trường mầm non là một quá trình giáo dục bộ phận trong tổng thể quá trình giáo dục Nó có quan hệ biện chứng với các bộ phận giáo dục khác giúp trẻ hình thành và phát triển toàn diện về Đức - Trí - Thể - Mĩ Ngoài những hoạt động học tập các môn học, trẻ còn tham gia những hoạt động ngoài giờ để thoả mãn những nhu cầu sống của cá nhân hoặc để đáp ứng những nhu cầu của xã hội Quản

lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non thể hiện các chức năng quản lý giáo dục: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá Kế hoạch hóa là chức năng quan trọng

Trang 35

hàng đầu trong công tác quản lý vì nó hoạch định từ những vấn đề chung nhất đến những vấn đề cụ thể, từ những vấn đề mang tính chiến lược đến những vấn đề mang tính chiến thuật trong mỗi giai đoạn Từ đó, CBQL tổ chức, chỉ thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho học sinh như sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản

lý, ra lệnh cho các bộ phận trong nhà trường thực hiện những nhiệm vụ, huy động cơ

sở vật chất, kinh tế phục vụ cho công tác giáo dục Bảo đảm việc giáo dục kỹ năng múa diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục sao cho đạt hiệu quả Trong quản lý giáo dục kỹ năng múa, việc kiểm tra đánh giá rất quan trọng vì nó giúp nhà quản lý biết được tiến độ thực hiện kế hoạch, đối tượng được phân công thực hiện kế hoạch Từ đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời và có hướng bồi dưỡng sử dụng cán bộ tốt hơn

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MÚA

CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP

HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu và quá trình tổ chức khảo sát

2.1.1 Khái quát về kinh tế - xã hội, giáo dục mầm non huyện Ba Vì, thành phố

Hà Nội

2.1.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Ba Vì

Ba Vì là huyện tận cùng phía Tây Bắc của Hà Nội, trên địa bàn huyện có một phần lớn của dãy núi Ba Vì chạy qua phía Nam huyện, phía Đông giáp thị xã Sơn Tây, phía Đông Nam giáp huyện Thạch Thất Phía Nam giáp các huyện Lương Sơn (về phía Đông Nam huyện) và Kỳ Sơn của Hòa Bình (về phía Tây Nam huyện) Phía Bắc giáp thành phố Việt Trì, Phú Thọ, với ranh giới là sông Hồng (sông Thao) nằm ở phía Bắc Phía Tây giáp các huyện Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thủy của Phú Thọ Phía Đông Bắc giáp huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc, ranh giới là sông Hồng [38]

Huyện Ba Vì là một huyện bán sơn địa, diện tích tự nhiên là 428,0 km², lớn nhất Thủ đô Hà Nội Huyện có hai hồ khá lớn là hồ Suối Hai, và hồ Đồng Mô (tại khu du lịch Đồng Mô) Các hồ này đều là hồ nhân tạo và nằm ở đầu nguồn sông Tích, chảy sang thị xã Sơn Tây, và một số huyện phía Tây Hà Nội, rồi đổ nước vào sông Đáy [38]

Trên địa bàn huyện có vườn quốc gia Ba Vì Ở ranh giới của huyện với tỉnh Phú Thọ có hai ngã ba sông là: ngã ba Trung Hà giữa sông Đà và sông Hồng (tại xã Phong Vân) và ngã ba Bạch Hạc giữa sông Hồng và sông Lô (tại xã Tản Hồng, đối diện với thành phố Việt Trì) [38]

Trong giai đoạn 2015 đến tháng 6/2019, Ba Vì đã có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, xã hội Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt trên 15%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực: giá trị sản xuất ngành dịch vụ - du lịch tăng nhanh, chiếm 40,6% Ngành nông, lâm nghiệp giảm dần còn 37,8%; Công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp, xây dựng có bước phát triển mạnh, chiếm 21,6 %; Chăn nuôi được đẩy mạnh, nhất là đàn bò sữa, đến nay đã có 8.000 con Duy trì phát huy giá trị thương hiệu sản phẩm Sữa Ba

Trang 37

Vì, Chè Ba Vì, Miến dong Minh Hồng, Khoai lang Đồng Thái, gà đồi Ba Vì, Thuốc nam đồng bào dân tộc Dao [38]

Đặc biệt, công tác xóa đói giảm nghèo đạt được nhiều thành tích rất ấn tượng

Từ một huyện có tỷ lệ đói nghèo cao, đến nay tỷ lệ hộ nghèo ở Ba Vì giảm hàng năm từ 2,5 - 3%, đào tạo nghề theo Quyết định 1956 của Chính phủ, được triển khai tích cực, góp phần đưa số lao động của huyện qua đào tạo đạt 34,2%, hàng năm tạo việc làm mới cho trên 3.700 lao động [38]

2.1.1.2 Tình hình giáo dục mầm non huyện Ba Vì

Năm học năm 2018 - 2019, huyện Ba Vì có 113 trường học, trong đó bậc mầm non có 43 trường; tiểu học 35 trường; phổ thông cơ sở có 35 trường Tổng số có 1.997 nhóm lớp với hơn 64.300 học sinh [32]

Với giáo dục mầm non, 100% nhà trường tổ chức ăn bán trú cho trẻ; tỷ lệ tham gia uống sữa học đường đạt 98% Tỷ lệ suy dinh dưỡng, nhẹ cân đều giảm, nhà trẻ còn 2,5%, mẫu giáo còn 3,4% Bên cạnh việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học; tuyên truyền, động viên cha mẹ có con ở độ tuổi mầm non đưa các bé ra lớp, các trường Mầm non trong Huyện cũng không ngừng chú ý nâng cao chất lượng học tập của các bé [32]

Tỷ lệ các cháu nhà trẻ đến với cấp học mầm non còn thấp so với mặt bằng chung của thành phố; tình trạng mất cân đối và thiếu giáo viên cục bộ trong các trường học vẫn tồn tại; một bộ phận cán bộ quản lý còn hạn chế về năng lực, thụ động trong công việc nên chưa theo kịp được tiến trình đổi mới, quản lý giáo dục Nhiều trường còn thiếu phòng học chức năng, phòng học bộ môn, phòng đồ dùng thiết bị dạy học; tỷ

lệ trường chuẩn quốc gia trên địa bàn còn thấp; phòng học còn thiếu, vẫn còn không ít phòng học cấp 4 và đặc biệt vẫn còn lớp học tạm

Trang 38

Bảng 2.1 Thực trạng các trường mầm non và học sinh mầm non trên địa bàn

(Nguồn: Kế hoạch 134/KH-UBND huyện Ba Vì ngày 11/4/2019 về tuyển sinh vào các

trường mầm non, lớp 1, lớp 6 năm học 2019 - 2020 trên địa bàn huyện Ba Vì)

Trong những năm qua, ngành giáo dục huyện Ba Vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học, “bội thu” những thành tích Quy mô của ngành giáo dục tiếp tục phát triển, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ tại các trường mầm non, chất lượng giáo

Trang 39

dục đại trà và mũi nhọn ở bậc tiểu học, trung học cơ sở được giữ vững Việc thực hiện các cuộc vận động và phong trào thi đua tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao Ngành giáo dục luôn chú trọng đến chất lượng dạy và học, bên cạnh đó cũng đề cao các chương trình giáo dục ngoại khóa, giao lưu quốc tế nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện Đó là cách “dạy chữ, dạy người” mà thầy trò ngành giáo dục Cầu Giấy đã làm rất hiệu quả nhiều năm nay Chính sự ủng hộ và tâm huyết của lãnh đạo huyện Ba Vì trong đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, sự tham mưu của phòng giáo dục và sự vào cuộc của các trường trên địa bàn là những yếu tố quyết định cho những bước thành công ban đầu của ngành giáo dục Cầu Giấy

2.1.2 Khái quát về quá trình tổ chức khảo sát

2.1.2.1 Mục đích khảo sát

Mục đích khảo sát nhằm đánh giá thực trạng giáo dục và quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì; làm rõ hạn chế và nguyên nhân hạn chế; đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì đạt hiệu quả tối ưu

2.1.2.2 Nội dung khảo sát

Khảo sát thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Khảo sát thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

2.1.2.3 Đối tượng khảo sát

Để thực hiện nghiên cứu đề tài liên quan đến quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non, đề tài cần thực hiện khảo sát ở tất cả các lực lượng tham gia vào quá trình thực hiện việc quản lý này Bao gồm: 20 CBQL giáo dục ở trường mầm non, chuyên viên của Phòng GD&ĐT huyện Ba Vì; 70 giáo viên tại các trường mầm non và 100 cha, mẹ trẻ

2.1.2.4 Phương pháp khảo sát

Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng phiếu hỏi

Phương pháp trao đổi, phỏng vấn

Trang 40

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm giáo dục

2.1.2.5 Địa bàn, thời gian khảo sát

Tác giả tiến hành khảo sát 10 trường mầm non của huyện Ba Vì, đó là: Trường mầm non Cổ Đô; Trường mầm non Cầm Lĩnh A; Trường mầm non Minh Quang A; Trường mầm non Phú Châu; Trường mầm non Phú Sơn; Trường mầm non Tây Đằng; Trường mầm non Vân Hòa A; Trường mầm non Vạn Thắng; Trường mầm non Vật Lại; Trường mầm non Yên Bài A Thời gian khảo sát: từ tháng 02 đến tháng 4 năm 2019

2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập huyện Ba Vì

2.2.1 Nhận thức của cán bộ, giáo viên và phụ huynh về vai trò của giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập huyện Ba Vì

Nhận thức về vai trò của giáo dục kỹ năng múa cho trẻ là rất quan trọng, đặc biệt với những người làm công tác quản lý giáo dục ở nhà trường nói chung, trường mầm non nói riêng Nếu CBQL giáo dục, giáo viên, phụ huynh có nhận thức đúng đắn

về hoạt động giáo dục kỹ năng múa thì đó chính là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức, tiến hành các hoạt dộng giáo dục ở nhà trường và gia đình và xã hội có liên quan đến giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non hiện nay

Qua khảo sát và xử lý kết quả điều tra về nhận thức của CBQL giáo dục, giáo viên, phụ huynh về vai trò của giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non, được biểu hiện cụ thể ở bảng 2.2

Bảng 2.2 Ý kiến CBQL giáo dục, giáo viên, phụ huynh về vai trò của giáo dục kỹ

năng múa cho trẻ

KS

Mức độ cần thiết Rất cần

thiết Cần thiết

Không cần thiết

Ngày đăng: 31/03/2020, 08:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w