1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản Lí Giáo Dục Giới Tính Cho Học Sinh Ở Các Trường Trung Học Cơ Sở Huyện Phú Lương

112 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một thực tế hiện nay, nội dung chương trình giáo dục giới tính trong trường phổ thông bị coi nhẹ, nội dung chương trình chưa mang tính hệ thống, nếu nhận được chỉ đạo của các nhà quản l

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

MAI NHƯ TOÀN

QUẢN LÍ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH

Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN PHÚ LƯƠNG,

TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

MAI NHƯ TOÀN

QUẢN LÍ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH

Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN PHÚ LƯƠNG,

TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Tính

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019

Tác giả luận văn

Mai Như Toàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới Lãnh đạo trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các Thầy giáo Cô giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại nhà trường

Đặc biệt, với tấm lòng thành kính, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến

PGS.TS Nguyễn Thị Tính, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình

giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn trường THCS…., cùng bạn bè, người thân đã tạo điều kiện cả về thời gian, vật chất, tinh thần cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù bản thân em đã luôn cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy, các Cô và các bạn đồng nghiệp

Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019

Tác giả luận văn

Mai Như Toàn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết nghiên cứu 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 5

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 8

1.2 Một số khái niệm cơ bản 11

1.2.1 Giới tính 11

1.2.2 Giáo dục giới tính 12

1.2.3 Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở 14

1.3 Những vấn đề cơ bản về giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở 15

1.3.1 Một số nét về đặc điểm tâm sinh lý học sinh trung học cơ sở 15

Trang 6

1.3.2 Mục tiêu của giáo dục giới tính 16

1.3.3 Các nguyên tắc giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS 18

1.3.4 Nội dung giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở 21

1.3.5 Các hình thức giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS 22

1.3.6 Các lực lượng tham gia giáo dục giới tính cho HS ở trường THCS 25

1.3.7 Đánh giá kết quả giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 26

1.3.8 Các phương pháp giáo dục giới tính cho học sinh 27

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS 28

1.4.1 Lập Kế hoạch hoạt động giáo dục giới tính cho HS ở trường THCS 28

1.4.2 Tổ chức hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS 29

1.4.3 Chỉ đạo hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS 30

1.4.4 Kiểm tra đánh giá kết quả kế hoạch hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS 31

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS 32

1.5.1 Các yếu tố chủ quan 32

1.5.2 Các yếu tố khách quan 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN 37

2.1 Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng 37

2.1.1 Một vài nét về các trường THCS ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 37

2.1.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 38

2.2 Thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 39

2.2.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS 39

Trang 7

2.2.2 Thực trạng nội dung giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường

THCS ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 42

2.2.3 Thực trạng các hình thức và phương pháp giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 46

2.2.4 Các lực lượng tham gia giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 50

2.3 Thực trạng quản lí giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 51

2.3.1 Lập kế hoạch tổ chức giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 51

2.3.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 53

2.3.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 55

2.3.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 56

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lí giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 58

2.5 Đánh giá chung 60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÍ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN 64

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 64

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 64

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 64

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 65

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 65

Trang 8

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 65

3.2 Các biện pháp quản lí giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 66

3.2.1 Nâng cao nhận thức về giáo dục giới tính cho cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ HS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 66

3.2.2 Bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo dục giới tính cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các trường THCS ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 68

3.2.3 Phát triển chương trình giáo dục giới tính cho học sinh thông qua các môn học và hoạt động giáo dục ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 71

3.2.4 Huy động nguồn lực để tổ chức giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 77

3.2.5 Xây dựng cơ chế giám sát của Hiệu trưởng đối với hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS 80

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 82

3.4 Khảo nghiệm các biện pháp quản lí giáo dục giới tính ở các trường THCS ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 83

3.4.1 Những vấn đề chung về khảo nghiệm 83

3.4.2 Phân tích kết quả khảo nghiệm 84

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87

1 Kết luận 87

2 Khuyến nghị 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHẦN PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng HS THCS trên toàn huyện Phú Lương 37Bảng 2.2 Nhận thức của CBQL, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng

của giáo dục giới tính trong nhà trường 39Bảng 2.3 Nhận thức của CBQL, giáo viên và học sinh về mục tiêu GDGT 40Bảng 2.4 Nội dung giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS

huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 42

Bảng 2.5 Thực trạng thực hiện chương trình GDGT cho học sinh ở các

trường THCS ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 45Bảng 2.6 Thực trạng các hình thức giáo dục giới tính cho học sinh ở các

trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 46Bảng 2.7 Thực trạng phương pháp giáo dục giới tính cho học sinh ở các

trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 48Bảng 2.8 Các lực lượng tham gia giáo dục giới tính cho học sinh ở các

trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 50Bảng 2.9 Thực trạng lập kế hoạch tổ chức giáo dục giới tính cho học sinh

ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 51Bảng 2.10 Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính cho học

sinh ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 53Bảng 2.11 Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính cho học

sinh ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 55

Bảng 2.12 Thực trạng thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện kế

hoạch giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS huyện

Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 57Bảng 2.13 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lí giáo dục giới tính cho học sinh

ở các trường THCS huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 59

Trang 11

Bảng 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của biện pháp quản lí GDGT cho HS

THCS ở các trường THCS ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 84Bảng 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của biện pháp quản lí GDGT cho HS

THCS ở các trường THCS ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 85

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục giới tính không còn là vấn đề mới mẻ mà được đề cập, nghiên cứu từ lâu Một thực tế hiện nay, nội dung chương trình giáo dục giới tính trong trường phổ thông bị coi nhẹ, nội dung chương trình chưa mang tính hệ thống, nếu nhận được chỉ đạo của các nhà quản lí giáo dục sẽ tạo nên hiệu quả về mặt

xã hội, giúp thế hệ trẻ, đặc biệt là trẻ vị thành niên nhận thức rõ ràng và có trách nhiệm hơn với cuộc sống của mình để tránh những hậu quả đáng tiếc về mặt tâm lý Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận, ngành giáo dục và các chuyên gia, giáo viên đã rất nổ lự để giáo dục giới tính mang lại hiệu quả nhất định như cách giảng dạy để học sinh dể hiểu, dễ chia sẻ, giáo viên gần gũi và đồng hành với học sinh

Giáo dục giới tính cho học sinh THCS là rất quan trọng, đây là độ tuổi

mà sự thay đổi cả về tinh thần và thể chất diễn ra mạnh mẽ Lứa tuổi này có những xao động về tình cảm, băn khoăn về các mối quan hệ bạn bè khác giới,

về hình ảnh bản thân, những áp lực có tính xung năng, trong đó có xung năng tính dục khiến HS hoang mang, lo lắng, thậm chí mất phương hướng Vì vậy, nhà trường kết hợp với gia đình để GDGT cho HS nhằm cung cấp kiến thức về giới tính cho HS là rất cần thiết Tuy nhiên, thực tế tại các trường THCS hiện nay, GDGT chưa được đưa vào chương trình một cách có hệ thống, GDGT chưa được coi là một môn học mà được lồng ghép trong các môn học như Sinh học, Đạo đức, Kỹ năng sống và Giáo dục công dân Thời lượng tiết giảng GDGT chiếm rất ít trong chương trình các môn học này, nội dung GDGT còn

sơ sài, chưa có tính hệ thống Bên cạnh đó, trong gia đình, đối với kiến thức về giới tính một số cha mẹ HS còn hiểu biết chưa đầy đủ và khoa học, cha mẹ e ngại hoặc lảng tránh khi đề cập đến vấn đề giới tính Đây là những nguyên nhân khiến HS THCS thiếu kiến thức về giới tính và GDGT, một số HS có hiểu biết lệch lạc nên gây ra hậu quả không mong muốn

Trang 13

Một thực tế ở các trường THCS hiện nay, các giáo viên giảng dạy các môn học Giáo dục công dân, sinh học, kỹ năng sống và giáo viên chủ nhiệm kiêm nhiệm giảng dạy nội dung giáo dục giới tính Quản lí GDGT ở một số trường THCS bị xem nhẹ như việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch chưa sát sao, chỉ chú trọng tới việc học văn hóa Trong khi đó, nhu cầu của HS về tìm hiểu kiến thức về giới tính, nhu cầu GDGT như xây dựng các chuyên đề GDGT có ảnh hưởng tới HS để hình thành cho HS kỹ năng sống và nhân cách tốt đẹp

Vì vậy, khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục giới tính và quản lí giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở là điều hết sức cần thiết.… Chính vì

vậy tác giả chọn đề tài: Quản lí giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên làm đề tài nghiên cứu

của mình Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lí giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lí hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở, đề xuất các biện pháp quản

lí hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp quản lí nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

4 Giả thuyết nghiên cứu

Quản lí hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tuy đã có những kết quả tích cực nhưng

Trang 14

còn một số thiếu sót về việc thực hiện lập kế hoạch GDGT, GV trẻ thiếu kiến thức và kỹ năng tổ chức GDGT cho HS, nguồn kinh phí… để tổ chức thực hiện Vì vậy, nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lí hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên thực hiện đúng quy trình quản lý, nội dung chương trình giáo dục giới tính sẽ góp phần nâng cao năng lực quản lí hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở

5.2 Nghiên cứu thực trạng quản lí giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh

ở các trường trung học cơ sở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu quản lí hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

- Thời gian khảo sát: từ tháng 5/2018 đến tháng 3/ 2019

- Địa bàn nghiên cứu: các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú

Lương, tỉnh Thái Nguyên

- Khách thể khảo sát: CBQL, giáo viên, học sinh và phụ huynh các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

- Khách thể thực nghiệm: CBQL, giáo viên các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa

và khái quát hóa các vấn đề về lý luận quản lý giáo dục từ các văn bản, tài liệu

Trang 15

khoa học về quản lý hoạt động giáo dục nói chung và quản lý hoạt động giáo dục giới tính nói riêng

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp quan sát: đối với tiết học GDGT, người nghiên cứu quan sát để đánh giá về việc thực hiện chương trình GDGT và hiệu quả của nội dung GDGT

Phương pháp điều tra viết: xây dựng các phiếu điều tra để thu thập các ý kiến đánh giá từ các đối tượng cần khảo sát

Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn các CBQL, giáo viên, cha mẹ HS, học sinh nhằm mục đích thu thập thông tin về các biện pháp quản lí GDGT cho

7.3 Phương pháp xử lý số liệu

Dùng thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu

8 Cấu trúc luận văn

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lí giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở

Chương 2 Thực trạng quản lí giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Chương 3 Các biện pháp quản lí giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC

SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

A.X.Makarenko nghiên cứu về giáo dục giới tính đã nhấn mạnh đến việc học tập của thanh niên “học tập cách yêu đương, phải học tập để hiểu biết tình yêu, phải học tập cách sống hạnh phúc, học tập để biết tự trọng, học tập để biết cái vinh hạnh được làm người” [dẫn theo 19] A.X.Makarenko khẳng định đạo đức giới tính liên quan đến đạo đức xã hội, liên quan đến nghĩa vụ, trách nhiệm

về mối quan hệ giữa con người với con người trong gia đình, xã hội: “ Đạo đức

xã hội đặt ra những vấn đề về giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên Sinh hoạt giới tính của con người liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia đình tức là mối quan hệ giữa nam và nữ, mối quan hệ dẫn tới mục đích hạnh phúc của con người, không thể quên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó về giới tính.”[dẫn theo 19]

I.X.Kon cho rằng giáo dục giới tính nhằm chuẩn bị cho nam nữ bước vào đời sống hạnh phúc gia đình và cuộc sống hôn nhân : “Chuẩn bị cho nam

nữ thanh niên bước vào cuộc sống gia đình đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống giáo dục đạo đức và giáo dục giới tính”[dẫn theo 19]

Trên thế giới, ở nước Anh, giáo dục giới tính cho trẻ em bắt đầu khi đứa trẻ trong giai đoạn độ tuổi mầm non, Pháp luật Anh quy định rất rõ rằng trẻ khi

đủ 5 tuổi sẽ bắt đầu học về giới tính một cách bắt buộc Chương trình với tên

gọi “Khóa học Nhà nước yêu cầu” được áp dụng cho tất cả học sinh tại các

trường công lập hay tư thục cho đến khi tốt nghiệp trung học cơ sở Chương trình học được chia làm 4 phần tương ứng với 4 độ tuổi Từ năm 2010 trở đi, ngay cả các em 5 tuổi cũng sẽ được giảng dạy những điều căn bản về khoa học giải phẫu cũng như quan hệ nam nữ Sở dĩ việc giáo dục giới tính được đưa vào

Trang 17

giảng dạy sớm như vậy ở Anh là vì so với tất cả các nước châu Âu, quốc gia này hiện phá kỷ lục về số thiếu nữ vị thành niên mang thai Thông qua các hoạt động giáo dục giới tính vị thành niên và việc sử dụng hình ảnh tương tác, phương pháp này được áp dụng nhằm hạn chế tệ nạn và tình trạng xâm phạm tình dục ở vị thành niên, giúp vị thành niên có kỹ năng phòng chốn lạm dụng tình dục [30]

Thụy Điển lại áp dụng giáo dục giới tính qua truyền hình, đây là một trong những quốc gia tiên phong trong việc giáo dục giới tính cho trẻ em Từ năm 1942, Thụy Điển đã yêu cầu và áp dụng giáo dục giới tính cho HS, trong

đó có chương trình được công nhận đầu tiên tại một trường học, đó là “Giáo

dục phòng tránh thai”, nhằm trang bị kiến thức mang thai và sinh con, chương

trình này được giảng dạy cho trẻ em từ 7 tuổi trở lên Các học sinh sẽ được học

về đặc tính sinh lý của nam và nữ khi lên bậc trung học Một bước đột phá diễn

ra vào năm 1966, “Giáo dục phòng tránh thai” được Thụy Điển đã chính thức

đưa lên truyền hình để giúp phụ huynh giáo dục giới tính cho con, ngay từ nhỏ các em đã được trang bị kiến thức về phòng tránh thai Qua chương trình này, trẻ em Thụy Điển sẽ biết cách tự bảo vệ mình để không bị lạm dụng về tình dục cũng như mang thai ngoài ý muốn

Ở Mỹ, giáo dục giới tính được phân theo các cấp học HS được giới

thiệu về sự khác nhau giữa nam và nữ ở bậc tiểu học, đến cấp trung học cơ sở trở lên, kiến thức về tình dục, giới tính, các căn bệnh truyền nhiễm, việc mang thai…được giới thiệu cho HS một cách hệ thống Trong giáo dục của nước Mỹ, các nhà giáo dục đã lồng ghép nội dung giáo dục nhân cách cho HS, đó là nội dung biết quý trọng mạng sống và yêu quý người khác giới Nội dung “tình dục

an toàn” và các biện pháp tránh thai hiệu quả được các nhà giáo dục đưa vào nội dung chương trình lớp 6, lớp 7 Theo Hội đồng thông tin và giáo dục giới tính Mỹ, 93% người lớn được khảo sát ủng hộ giáo dục giới tính ở trường trung học phổ thông và 84% ủng hộ tại các trường trung học cơ sở Vì bằng phương

Trang 18

pháp này, họ cảm thấy dễ dàng và thoải mái hơn khi trò chuyện với con mình

về tình dục [30]

Malaysia, phổ cấp giáo dục giới tính được chính phủ quan tâm và tiến hành đối với trẻ em lứa tuổi mầm non, theo đó, từ khi 4 tuổi trẻ em đã

đượchọc GDGT Bộ Giáo dục, Bộ Phát triển Phụ nữ, Gia đình và Cộng đồng

phụ trách chương trình giáo dục giới tính, nội dung biên soạn chương trình giáo dục giới tính do những chuyên gia và các tổ chức phi chính phủ tiến hành Những nội dung chính của chương tình này là các khóa học về phát triển con người, kiến thức sinh sản, kỹ năng giao tiếp, hôn nhân và gia đình

và quan hệ tình dục an toàn

Đối với Hà Lan, giáo dục giới tính được giảng dạy ở bậc tiểu học, HS tiểu học được học những bài học về tôn trọng những người chuyển đổi giới tính, lưỡng tính hay đồng tính Thậm chí, các phụ huynh của quốc gia này còn

trao đổi về chủ đề giới tính trong bữa ăn của gia đình Do vậy, giáo dục Hà Lan

được các nước trên thế giới ca ngợi về phương pháp giáo dục tiên tiến này, do

có tỉ lệ mang thai tuổi vị thành niên thấp nhất trên thế giới (khoảng 0,5%) [30]

Ở Đức, nội dung giáo dục giới tính được triển khai từ những năm 1960, đến năm 1974, đã xây dựng chi tiết, có kế hoạch về một chương trình giáo dục giới tính, các HS từ lớp 8 bắt đầu học chương trình này với 15 chủ đề khác nhau và trên 20 sách tham khảo được qui định

Ở Nhật Bản, chính sách giáo dục giới tính truyền thống của Nhật Bản được gọi là “giáo dục thuần khiết” Trong các năm 1947, 1949, 1955 Bộ Giáo Dục Nhật Bản ra văn bản “ Về việc thực thi giáo dục thuần khiết”, “ Những điều cơ bản về giáo dục thuần khiết”, “Đề án thí điểm thực thi giáo dục thuần khiết” Đến năm 1966, “giáo dục giới tính” mới bắt đầu triển khai sử dụng, HS lớp 6 được phổ biến chương trình này Đến năm 1985, Nhật Bản phát hiện tường hợp đầu tiên nhiễm AIDS, vì vậy, các tờ rơi liên quan đến phòng chống AIDS được nhà nước và các tổ chức phi chính phủ khác đã phát hành trên cả nước, trong đó có đối tượng HS THCS [dẫn theo 19]

Trang 19

J.P MA-SƠ-LÔ-VA (Tiệp Khắc) đã nghiên cứu các vấn đề về giới tính cho rằng: ''Nhiều người trong chúng ta biết rằng không nên để con cái phải tự lần mò tìm hiểu lấy chuyện tình dục, song lại không biết hướng dẫn, tác động, không biết khi nào cần nói và nói như thế nào Thế hệ trẻ ngày nay khác rất xa thế hệ chúng ta Vì vậy, phải dẫn dắt họ theo kiểu khác.”, “Mục đích của toàn

bộ chương trình giáo dục tình dục từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành không chỉ

là trang bị kiến thức, xây dựng ý thức tình dục mà điều quan trọng là xây dựng những quan niệm đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của người đàn ông và phụ

nữ trong cuộc sống vợ chồng, trong gia đình và trong xã hội'' [dẫn theo 19]

Các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận giới tính và giáo dục giới tính

ở một số khía cạnh như: đạo đức giới tính liên quan đến đạo đức xã hội, liên quan đến nghĩa vụ, trách nhiệm về mối quan hệ giữa con người với con người trong gia đình, xã hội hay giáo dục giới tính nhằm chuẩn bị cho nam nữ bước vào đời sống hạnh phúc gia đình và cuộc sống hôn nhân Một số nước như Thụy Điển lại áp dụng giáo dục giới tính qua truyền hình; Ở Mỹ, giáo dục giới tính được phân theo các cấp học Đối với Hà Lan, giáo dục giới tính được giảng dạy ở bậc tiểu học Các công trình nghiên cứu này là tài liệu tham khảo để tác giả triển khai nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở với các nội dung như mục tiêu, nguyên tắc giáo dục giới tính, nội dung và hình thức, phương pháp giáo dục giới tính

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Bùi Ngọc Oánh nghiên cứu về tâm lý học giới tính và giáo dục học giới tính đã xác định các đặc điểm của giới và giới tính, những nội dung cần quan tâm trong giáo dục giới tính cho học sinh [21]

Nguyễn Thanh Thủy đã trình bày cơ chế quá trình hình thành giới, các phương pháp xét nghiệm để chẩn đoán xác định giới tính trong trường hợp mơ

hồ về giới tính và đề xuất nội dung giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên [25]

Dự án VIE/97/P12 đã nghiên cứu về giáo dục SKSS-VTN cho rằng: ''Vị thành niên và thanh niên là một giai đoạn trong cuộc đời con người Lớp thanh

Trang 20

niên này được thông tri giáo dục về SKSS -VTN sẽ trưởng thành lên người lớn Lại có một lớp VTN mới cần được thông tri giáo dục về SKSS - VTN Và vì vậy, nhu cầu về thông tin giáo dục SKSS-VTN cho vị thành niên là một nhu cầu thường xuyên, liên tục'' [6, tr.192]

Bùi Ngọc Oánh khẳng định sự cần thiết của GDGT trong nhà trường, ông nêu lên các vấn đề cần tập trung trong GDGT cho HS, như phong tục tập quán của nước ta, nhiều người chưa biết về GDGT, GV không có thời gian để dạy và GV chưa trải qua quá trình tập huấn… Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra khó khăn trong GDGT, đó là sự e ngại khi nói tới các vấn đề có tính chất nhạy cảm

về GDGT, ông đưa ra các giải pháp đề xuất về sự chấp nhận GDGT của HS trong nhà trường [16]

Huỳnh Văn Sơn nghiên cứu nhận thức của học sinh, sinh viên về giới tính, giáo dục giới tính khẳng định sự hiểu biết kiến thức về giới và giới tính của HS còn hạn chế, HS còn e ngại với các vấn đề về tình dục và sinh sản Vì vậy, trong đề tài này, tác giả đưa ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả GDGT

1994, đề tài luận văn thạc sĩ : “Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh

THPT ở một số trường nội thành thành phố Hồ Chí Minh đối với một số nội dung GDGT” [23]

Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị Doan (1997) nghiên cứu về giáo dục giới tính và vai trò của gia đình trong việc giáo dục giới tính cho học sinh, nội dung phương pháp giáo dục giới tính cho trẻ trong gia đình đã nhấn mạnh đến vị trí, vai trò của GDGT cho thế hệ trẻ, GDGT nhằm hình thành những hành vi và thái độ, phẩm chất, tính cách cần thiết, trong quan hệ với người khác giới cần xây dựng mối quan hệ đúng đắn, tình cảm nam nữ trong sáng [18]

Đào Xuân Dũng nghiên cứu về giáo dục giới tính với sự phát triển của vị

thành niên đã đề xuất sự cần thiết phải cung cấp kiến thức một cách tổng quát

về GDGT cho trẻ vị thành niên như khái niệm, mục tiêu, nội dung và phương pháp GDGT Trong đó, nhấn mạnh vai trò của gia đình đến việc hình thành nhân cách cho trẻ vị thành niên và giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên [9]

Trang 21

Phan Thị Bích Ngọc trong luận án “Một số biện pháp giáo dục giới tính

cho sinh viên Đại học Sư phạm” trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề về giới tính

và GDGT, tác giả khảo sát thực trạng sử dụng biện pháp GDGT và đưa ra các biện pháp, nội dung GDGT dành cho sinh viên đại học sư phạm [20] với đề tài

“Giáo dục giới tình cho trẻ vị thành niên qua sách giáo khoa dành cho học sinh

trung học”, Luận văn thạc sĩ văn hóa học, trường Đại học văn hóa

Phạm Thị Lệ Hằng, (2009), nghiên cứu về nhu cầu giáo dục giới tính cho học sinh THCS đã nghiên cứu về nhu cầu GDGT của HS ở nhận thức, thái độ, mong muốn, sự say mê, hứng thú của HS về GDGT Tác giả đề xuất một số

giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDGT cho HS THCS ở Hòa Bình [15]

Hà Thị Trang, (2014) nghiên cứu về giáo dục giới tính cho học sinh trung học đã xây dựng cơ sở lý luận của giáo dục giới tính cho học sinh trung học, khảo sát thực trạng GDGT cho HS trung học, đánh giá những kết quả đạt được và những khó khăn trong công tác này, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên [28]

Đỗ Hà Thế Bình với đề tài “Thực trạng việc quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường THCS tại huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương và một số giải pháp” [1], trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn nhằm

đánh giá thực trạng giáo dục giới tính, phát hiện nhu cầu bồi dưỡng, nhu cầu người học ở các trường THCS trong huyện Thuận An - tỉnh Bình Dương và các kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ quản lý và giáo dục giới tính Từ đó đề nghị những biện pháp có tính khả thi góp phần nâng cao hiệu quả của việc giáo dục giới tính các trường THCS trong huyện Thuận An.

Cao Thị Tuyết Mai với đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại các trường trung học cơ sở thuộc quận 4 thành phố Hồ Chí Minh” [19], trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn quản lý hoạt

động giáo dục giới tính tại các trường trung học cơ sở thuộc quận 4 thành phố

Hồ Chí Minh Từ đó đề nghị những biện pháp có tính khả thi góp phần nâng

Trang 22

cao hiệu quả của việc giáo dục giới tính các trường trung học cơ sở thuộc quận

4 thành phố Hồ Chí Minh

Các công trình nghiên cứu trên đã bàn về các đặc điểm của giới và giới tính, những nội dung cần quan tâm trong giáo dục giới tính cho học sinh, sự cần thiết của GDGT trong nhà trường Có công trình khẳng định sự hiểu biết kiến thức về giới và giới tính của HS còn hạn chế, từ đó nhấn mạnh đến vị trí, vai trò của GDGT cho thế hệ trẻ, GDGT nhằm hình thành những hành vi và thái độ, phẩm chất, tính cách cần thiết Có công trình đánh giá những kết quả đạt được và những khó khăn trong công tác này, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả việc giáo dục giới tính Từ những công trình nghiên cứu này là nguồn tài liệu tham khảo để tác giả triển khai nội dung nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong luận văn như: nội dung giáo dục giới tính và quản lý giáo dục giới tính

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Giới tính

Khái niệm giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường được sử dụng dùng chung với nhiều thuật ngữ khác như: giới, tính dục, tình dục, sinh dục… Nhiều tác giả quan niệm giới tính đồng nghĩa với tình dục hoặc đồng nghĩa với tính dục Những quan niệm đó thường chưa thật sự đầy

đủ, tiếp cận một cách đơn giản theo một mặt nào đó của giới tính

Giới tính cần được hiểu một cách toàn diện hơn:

+ Giới tính có thể được hiểu là những đặc điểm của giới, bao gồm những thuộc tính về sinh học và những thuộc tính về tâm lí xã hội

+ Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên những đặc trưng của giới, giúp cho chúng ta phân biệt giới này với giới kia, phân biệt giữa nam và nữ

Giới tính là những yếu tố xác định sự khác biệt giữa giới này và giới kia hay còn gọi là sự khác biệt giữa giới nam và giới nữ Có thể định nghĩa,

Trang 23

giới tính là toàn bộ những đặc điểm ở con người, tạo nên sự khác biệt giữa

nam và nữ

Như vậy, khái niệm về giới tính cần được hiểu một cách đầy đủ, toàn

diện về nhiều mặt sinh lí và tâm lí, cá nhân và xã hội, hôn nhân và gia đình,

tình yêu và tình bạn, sự giao tiếp nam nữ…

Vì vậy, có thể khẳng định: “Giới tính là những đặc điểm riêng biệt về

giải phẫu sinh lí cơ thể và những đặc trưng về tâm lí (nhận thức, tình cảm, năng

lực, tính cách…) tạo nên sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới” [20]

1.2.2 Giáo dục giới tính

A.G Khrivcova, D.V Kolexev, “Giáo dục giới tính là một quá trình

hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng cũng

như khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết

của con người đối với người khác.”[Dẫn theo 27]

Giáo dục giới tính là một bộ phận hữu cơ của phức hợp các vấn đề giáo

dục nhân cách, giáo dục con người mới, con người phát triển toàn diện, kết hợp

một cách hữu cơ hài hoà sự phong phú về tinh thần, sự thuần khiết về đạo đức

và sự hoàn thiện về thể xác Theo A.X Makarenko, “ khi giáo dục cho đứa trẻ

tính ngay thẳng, khả năng làm việc, tính chân thật, tôn trọng người khác, tôn

trọng những cảm xúc và hứng thú của họ là chúng ta đã đồng thời giáo dục nó

về quan hệ giớitính” .”[Dẫn theo 27]

Bách khoa toàn thư y học phổ thông (Pêtrôpxki chủ biên) lại đưa ra định

nghĩa, theo đó, “GDGT là hệ thống các biện pháp y khoa và sư phạm nhằm

giáo dục cho nhi đồng, thanh niên và thiếu niên có thái độ đúng đắn đối với các

vấn đề giới tính” [dẫn theo 17] Như vậy, giáo dục giới tính vừa được xem xét

ở góc độ y học lại vừa được xem xét ở góc độ giáo dục, trong mối quan hệ giữa

nam và nữ, định nghĩa này giúp điều chỉnh hành vi và nhân cách của con người

Trần Trọng Thuỷ cho rằng, giáo dục giới tính có phạm vi rất rộng lớn,

tác động toàn diện đến tâm lí, đạo đức con người, “là hình thành tiêu chuẩn đạo

Trang 24

đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vực thầm kín của đời sống con người, hình thành những quan niệm đạo đức lành mạnh giữa em trai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự “kiềm chế có đạo đức”, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của các em” [26]

Phạm Hoàng Gia, giáo dục giới tính phải được xem xét như một bộ phận hợp thành của nền giáo dục xã hội Nó có mối liên hệ mật thiết với giáo dục dân số, kế hoạch hoá gia đình, hôn nhân-gia đình và với các mặt giáo dục khác trong nhà trường phổ thông Do vậy cần phải tiến hành công tác giáo dục giới tính một cách đồng thời, đồng bộ trong mối quan hệ có tính chất hệ thống với các mặt giáo dục khác.Ngoài ra còn rất nhiều quan niệm của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về tâm lí học giới tính [dẫn theo 27]

Huỳnh Văn Sơn, “giáo dục giới tính là quá trình giáo dục con người (thanh thiếu niên), nhằm làm cho họ có nhận thức đầy đủ, có thái độ đúng đắn

về giới tính và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hóa giới tính, hướng hoạt động của họ vào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính, giúp cho họ biết tổ chức tốt nhất cuộc sống riêng cũng như xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội phát triển” [23, tr.25]

Phan Bích Ngọc, “GDGT là một quá trình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng và khuynh hướng phát triển của nhân cách nhằm xác định thái độ xã hội cần thiết của con người đối với những thuộc giới khác” [20, tr.15] Với cách đưa ra khái niệm này, bên cạnh việc giáo dục cho nam và nữ thấy mối quan hệ của mình trong đời sống, thì trong học tập, lao động, nghỉ ngơi, giải trí… giáo dục giới tính còn giáo dục nhân cách để tu dưỡng những phẩm chất nhân cách giới tính lành mạnh, văn minh, mục đích nhằm khơi dậy tiềm năng, lợi thế của giới tính

Các công trình nghiên cứu đều chỉ ra rằng giáo dục giới tính phải gắn liền với giáo dục đạo đức, tư tưởng, kỹ năng sống và phải tiến hành trên cơ sở của giáo dục đạo đức tư tưởng Giáo dục giới tính cũng phải gắn bó mật thiết với các mặt giáo dục khác trong nền giáo dục toàn diện

Trang 25

Các kết quả nghiên cứu đều có thể khẳng định giáo dục giới tính là hệ thống các biện pháp y khoa và sư phạm của cơ quan chuyên biệt nhằm giáo dục cho thế hệ trẻ có nhận thức, thái độ, hành vi phù hơp với các vấn đề giới tính

Từ những quan niệm trên chúng tôi hiểu: Giáo dục giới tính là quá trình

giáo dục con người, nhằm làm cho họ có nhận thức đầy đủ, có thái độ đúng đắn về giới tính và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hoá giới tính, hướng hoạt động của họ vào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính, hướng hoạt động của các em vào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính và biết tổ chức cuộc sống cá nhân

1.2.3 Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở

Quản lý là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm huy động nguồn lực, điều hành mọi hoạt động của đối tượng và khách thể quản lý làm cho toàn thể các thành viên hoạt động theo kế hoạch chung nhằm đạt tới mục tiêu nhất định

Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức, một đơn vị diễn ra với những nội dung thực hiện đa dạng, phong phú trên nền tảng chung chính là những tác động có tính hướng đích, nhằm thực hiện hoàn thiện mục tiêu của tổ chức theo chức năng, nhiệm vụ được giao

Quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS thuộc nội dung

của quản lý hoạt động giáo dục trong trường học Quản lý giáo dục giới tính

cho học sinh ở trường THCS là những tác động động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhà trường tới quá trình giáo dục giới tính, giáo viên, học sinh và những lực lượng liên đới nhằm tổ chức và điều hành có hiệu quả mục tiêu, nội dung giáo dục giới tính đề ra góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách học sinh

Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS như các hoạt động quản lý khác trong nhà trường, việc quản lý hoạt động giáo dục giới tính thường bao gồm các nội dung sau: Lập kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh, tổ chức, chỉ đạo thực hiện nội dung, chương trình giáo dục giới

Trang 26

tính cho học sinh THCS, kiểm tra, đánh giá quá trình giáo dục giới tính cho học sinh nhằm thực hiện có hiệu quả hoạt động này

1.3 Những vấn đề cơ bản về giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở

1.3.1 Một số nét về đặc điểm tâm sinh lý học sinh trung học cơ sở

HS bậc trung học cơ sở, là những HS trong độ tuổi từ 12 đến 15-16 tuổi,

là lứa tuổi có giai đoạn tâm sinh lí phức tạp HS trong độ tuổi này có một vị trí

xã hội có thể gọi là thời kỳ quá độ, giai đoạn không hoàn toàn là trẻ con và cũng chưa hẳn là người lớn Giai đoạn này, tự ý thức của HS phát triển, HS cho rằng mình đã lớn, không thích cách chăm sóc của cha mẹ như thời thơ ấu, các

em cho rằng mình đã trưởng thành, do vậy, cách kiểm soát của cha mẹ khiến

HS khó chịu, các em muốn độc lập kiểm soát bản thân, có những hành động để chứng tỏ đã là người trưởng thành Vì thế, sự xung đột giữa cha mẹ và HS thường xảy ra xung đột và tạo ra khoảng cách Giai đoạn này là giai đoạn đặc trưng của tuổi dậy thì, sự khởi đầu phát dục khiến cho các em quan tâm đến bản thân và giới tính, các em quan tâm đến những vấn đề thầm kín, khó nói, tế nhị của bản thân và người khác giới Do vậy, CBQL, GV và cha mẹ HS hãy nhạy cảm và thông cảm với những trải nghiệm của HS, cảm thông với cảm xúc

và ý nghĩ của HS, tư vấn, hướng dẫn để học sinh có nhận thức, thái độ và hành

vi phù hợp trong quan hệ giới tính và thực hành đạo đức giới tính

Sự phát triển về mặt cơ thể hay sự cải tổ về mặt giải phẫu sinh lí độ tuổi giai đoạn này dẫn đến sự phát dục còn gọi là dậy thì, HS cũng có thay đổi về mối quan hệ ứng xử trong hoạt động giao tiếp với người lớn và bạn bè cùng lứa tuổi Ở tuổi dậy thì, cơ thể của HS có những thay đổi cực kì mạnh mẽ, tâm sinh

lí phát triển và có khả năng sinh sản Tuyến nội tiết hoạt động mạnh dẫn đến về mặt cảm xúc, các em dễ kích động, cáu giận và muốn tự khẳng định mình, tuy nhiên nhận thức còn non nớt, chưa chín muồi do hệ thần kinh chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh, đơn điệu, vì vậy, một số HS có hiện tượng

uể oải, ức chế, lơ đễnh, thờ ơ, thậm chí có hành vi xấu

Trang 27

- Giai đoạn này, nhu cầu giao tiếp của HS với bạn bè phát triển mạnh, các em tìm được những người bạn để tâm tình và mở rộng mối quan hệ bạn bè Đối với HS lứa tuổi THCS, bạn bè trở thành một phần trong cuộc sống của các

em, vì thế, giai đoạn này các em xây dựng được tình bạn bền vững, sâu sắc, tuy nhiên, các mối quan hệ bạn bè này có thể gây ảnh hưởng tiêu cực và tác động tích cực Những xúc cảm tình yêu, những rung động của tình yêu đầu đời xuất hiện ở độ tuổi 14, 15 tương đương với học sinh khối lớp 8,9 HS quan tâm, chú

ý, chăm chút đến dáng vóc, HS nữ đứng trước gương ngắm vuốt, trang điểm, đọc truyện mà nội dung liên quan đến tình yêu, xem những bộ phim tình cảm Chính những điều này tạo nên ở HS cảm xúc về tình yêu, có HS bị ảnh hưởng dẫn đến xao nhãng học tập Những áp lực có tính xung năng, đặc biệt là xung năng tính dục chi phối tới đời sống của lứa tuổi này Những băn khoăn, lo lắng về bản thân, thậm chí có em còn hoang mang, mất phương hướng cũng ảnh hưởng đến nhiệm vụ học tập của HS Nhiệm vụ của nhà sư phạm giai đoạn này là rất cần thiết, đó là GDGT để định hướng tình cảm, lý trí cho HS, định hướng HS vào nhiệm vụ học tập

Để GDGT hiệu quả, CBQL và GV bên cạnh việc giảng dạy, cần nắm bắt diễn biến và đặc điểm của HS về tâm sinh lí, CBQL và GV nhận biết những hành vi lệch lạc, lệch chuẩn của HS THCS, hiểu được tâm tư, tình cảm, nguyện

vọng của HS THSC để có những tham vấn tâm lý kịp thời, đúng đắn

1.3.2 Mục tiêu của giáo dục giới tính

Bản chất của giáo dục giới tính cho học sinh ở trường phổ thông là định hướng cho thế hệ trẻ có suy nghĩ, thái độ, cách sống, làm việc, hành động đúng của con người có giới tính [27]

Giáo dục giới tính là một bộ phận của giáo dục nhân cách, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách con người Vì vậy giáo dục giới tính cần được tiến hành từ khi con người mới sinh ra và có thể tiến hành trong suốt cuộc đời, thự hiện ở mọi nơi, mọi chỗ như ở gia đình, nhà trường và các tổ

Trang 28

chức xã hội vv… Mục tiêu của giáo dục giới tính là hình thành cho con người các phẩm chất giới tính : Giúp học sinh có nhận thức, thái độ và hành vi phù hợp với giới và giới tính [27]

- Giúp học sinh có những hiểu biết cần thiết về giới tính

- Giúp học sinh có những kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong quan hệ với người khác giới; khả năng làm chủ bản thân, làm chủ quá trình sinh sản; kỹ năng lao động phù hợp với nghề nghiệp mang đặc thù giới

- Giáo dục cho học sinh có thái độ tích cực, lịch sự trong quan hệ với người khác giới và tự hoàn thiện những phẩm chất thuộc giới mình

Để thực hiện mục tiêu giáo dục giới tính cho học sinh THCS có hiệu quả, đòi hỏi nhà trường phổ thông phải tiến hành các các nhiệm vụ sau:

Trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức về giới tính Như có thái độ, hành vi phù hợp với các vấn đề sinh lý học và giải phẫu cơ quan sinh dục của người; các giai đoạn phát triển sinh lý giới tính của con người đặc biệt là giai đoạn tuổi mới lớn; tâm lý đời sống tình dục; sự thụ tinh, sự phát triển của bào thai; các biện pháp phòng tránh thai; hiện tượng vô sinh v.v Giáo dục nhu cầu tình dục, nhu cầu giới tính và đạo đức giới tính cho học sinh THCS; giáo dục các vấn đề về sức khỏe sinh sản vị thành niên Giáo dục cho học sinh vấn đề kế hoạch hóa gia đình và hạnh phúc gia đình Giáo dục các vấn đề bình đẳng giới, định kiến giới và phân biệt giới

Giáo dục cho học sinh ý thức, thái độ và trách nhiệm trước các vấn đề về giới và giới tính, ý thức tôn trọng con người, giao tiếp lịch sự với người khác giới, biết quan tâm đến những đặc điểm giới tính của người khác trong quá trình hoạt động chung Giáo dục cho học sinh có thái độ đúng và trách nhiệm cao đối với sức khỏe của bản thân và sức khỏe của người khác; ý thức về tác hại, nguy hiểm do quan hệ tình dục gây nên Giáo dục cho học sinh có kỹ năng hành vi ứng xử phù hợp với giới và giới tính ; khả năng tự đánh giá hành vi của mình trong quan hệ với người khác; biết phân biệt tốt xấu, đúng sai trong quan

hệ với người khác giới

Trang 29

1.3.3 Các nguyên tắc giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học

cơ sở

1.3.3.1 Nguyên tắc đảm bảo sự tin cậy trong giáo dục giới tính

Đảm bảo sự tin cậy trong giáo dục giới tính là giáo viên tạo ra một sự tiếp xúc tốt, bền vững với học sinh, nhằm giúp học sinh bộc lộ thực những băn khoăn, suy nghĩ ở những thời điểm quan trọng của cuộc sống hay những tình huống cụ thể Trên cơ sở đó giúp học sinh giải tỏa những băn khoăn suy nghĩ

đó một cách tế nhị và có những hành vi ứng xử phù hợp trong các tình huống khác nhau Để thực hiện tốt nguyên tắc này đòi hỏi giáo viên phải hết sức khéo léo tế nhị, không được dùng uy quyền của mình để ép buộc học sinh nói ra những điều mà học sinh chưa muốn nói hoặc chưa tự giác nói ra Giáo viên cần hiểu học sinh về mọi mặt như hiểu tâm tư, tình cảm, nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của các em, hiểu những băn khoăn, vướng mắc của các em trong cuộc sống, trong tình bạn, tình yêu để hướng cho các em có nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử phù hợp

Giáo viên cần phải có thái độ cởi mở, chân tình, gần gũi, thông cảm, chia sẻ với học sinh những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống hàng ngày và phải thực sự là người bạn lớn của các em để học sinh có thể chia sẻ những khó khăn tâm lý

1.3.3.2 Đảm bảo chuẩn bị tích cực cho sự phát triển của học sinh

Đảm bảo chuẩn bị tích cực cho sự phát triển của học sinh đòi hỏi giáo viên phải lựa chọn những tác động giáo dục giới tính phù hợp với năng lực trình độ và đặc điểm tâm lý của học sinh nhằm định hướng cho quá trình phát triển giới tính ở học sinh Giúp các em chuẩn bị về mặt thể lực, tâm lý, trí tuệ, phẩm chất đạo đức giới tính v.v để thích ứng với những thay đổi của cuộc sống hàng ngày

- Đảm bảo chuẩn bị tích cực cho sự phát triển của học sinh, giáo viên cần tạo ra sự phát triển trong tâm lý con người, đi trước thúc đẩy sự phát

Trang 30

triển tâm lý giới tính của con người nói riêng và phát triển nhân cách con người nói chung

Để đảm bảo chuẩn bị tích cực cho sự phát triển của học sinh giáo viên phải hiểu tâm lý học sinh về mọi mặt: Hiểu hoàn cảnh của các em và những diễn biến tâm lý thay đổi ở các em, những vướng mắc về tâm lý giới tính của học sinh cần tháo gỡ nhằm giúp học sinh phát triển đúng hướng

Giáo viên cần xác định thời gian, địa điểm thuận lợi cho việc cung cấp những thông tin giáo dục giới tính cho học sinh một cách phù hợp Những thông tin giáo dục giới tính phải là những thông tin có sức thuyết phục và hấp dẫn cao đối với các em và có tác dụng ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực của những thông tin sai lệch tư bên ngoài

1.3.3.3 Đảm bảo tôn trọng sự thật và sự tế nhị trong giáo dục giới tính

Đảm bảo tôn trọng sự thật và tế nhị trong giáo dục giới tính là giáo viên phải trình bày các vấn đề về giới và giới tính một cách chân thật, trong sáng

và giản dị, dễ hiểu đối với các em Tránh lối nói mập mờ, cũng như trình bày một cách trần truồng, tục tĩu, kích thích tính tò mò ở học sịnh Yêu cầu đối với giáo viên trong quá trình quán triệt nguyên tắc phải thực hiện tốt những yêu cầu sau đây:

+ Giáo viên phải có cách trình bày nội dung một cách tế nhị, không lảng tránh sự thật nhưng cũng không phải là trình bày toàn bộ sự thật với trẻ em một cách trần tục mà tùy theo đặc điểm tâm lý của trẻ để lựa chọn cách trình bày, tác động và thể hiện cho phù hợp Giáo viên phải giải thích các hiện tượng giới tính dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn không nên nói sai sự thật để dẫn đến

sự tò mò ở học sinh

1.3.3.4 Nguyên tắc thức tỉnh cá nhân trong giáo dục giới tính

Thức tỉnh cá nhân trong giáo dục giới tính là bằng những phương pháp

và hình thức tổ chức giáo dục giới tính khác nhau giáo viên giúp học sinh hiểu

Trang 31

rằng: Khi con người đã trưởng thành về mặt sinh học thì đó cũng là lúc xã hội đòi hỏi họ phải chịu trách nhiệm về những hành vi cá nhân của mình trong mối quan hệ giới tính Quan hệ của cá nhân trong mối quan hệ giới tính bao gồm: Trách nhiệm cá nhân đối với sức khỏe của bản thân và với tương lai của chính mình Trách nhiệm cá nhân đối với bạn khác giới Trách nhiệm cá nhân đối với gia đình và tương lai của con cái

1.3.3.5.Nguyên tắc đảm bảo tính kế tiếp và tính liên tục

Giáo dục giới tính cho học sinh THCS cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, có hệ thống và không ngừng được nâng cao phù hợp với mức độ tâm sinh lý của lứa tuổi để đáp ứng những thắc mắc nảy sinh trong quá trình tiếp nhận kiến thức, kỹ năng mới về giới và giới tính, qua những kiến thức mới mà rút ra những kết luận cần thiết trong đời sống giới tính Trong quá trình giáo dục giới tính cho học sinh THCS những phẩm chất vừa mới được hình thành thường chưa có tính bền vững nó dễ bị mất đi do tác động của môi trường sống

và do thiếu ý thức rèn luyện của bản thân vì vậy đòi hỏi giáo viên đi đôi với việc hình thành phẩm chất giới tính mới phải củng cố phẩm chất giới tính đã hình thành, nội dung giáo dục giới tính phải được xây dựng theo kiểu vòng tròn, đồng tâm

1.3.3.6 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong giáo dục giới tính

Trong quá trình giáo dục giới tính cho học sinh THCS, giáo viên cần phải trang bị cho học sinh một hệ thống những tri thức về giới và giới tính đồng thời giúp học sinh nắm vững những tri thức về chuẩn mực giá trị đạo đức giới tính, nhu cầu giới tính để học sinh biết phân biệt cái đúng cái sai, cái tốt, cái xấu, cái thiện, cái ác, điều nên làm và điều không được làm Trong quá trình giáo dục giới tính cho học sinh THCS, giáo viên sử dụng tổng hợp các kiến thức về chính trị, xã hội, sinh lý, tình dục; tâm lý học; đạo đức giới tính; vệ sinh

y học, pháp luật v.v Để học sinh hiểu các vấn đề về giới và giới tính, trên cơ sở

đó vận dụng vào thực tiễn để tự giáo dục

Trang 32

1.3.4 Nội dung giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở

Để xây dựng nội dung giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở, nhà giáo dục hay giáo viên phải dựa vào các căn cứ sau đây : Năng lực và trình

độ phát triển chung và khả năng nhận thức, tiếp nhận và xử lý thông tin của học sinh THCS ; Sự quan tâm có chủ định hay do tình cờ hoặc ngẫu nhiên trong việc tiếp nhận những thông tin nhất định về giới của học sinh ; Dựa vào những đặc điểm về hành vi của học sinh trong quan hệ với người khác giới Dựa vào mức độ trưởng thành về thể chất, tinh thần; những biến đổi về sinh lý của học sinh THCS Dựa vào quy luật chung của việc hình thành tập thể lớp và đặc điểm của lớp học và những ảnh hưởng của nó đến tâm lý giới tính của học sinh

Nội dung giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS gồm:

(1) Hệ thống những tri thức về giới, giới tính và phân biệt các đặc điểm

về giới và giới tính Vai trò của giới và giới tính; Các giai đoạn phát triển của con người và đặc điểm giới tính qua từng giai đoạn; Những biến đổi về tâm lý, sinh lý ở tuổi dậy thì, các hiện tượng kinh nguyệt, vệ sinh kinh nguyệt ở nữ hay các vấn đề về xuất tinh lần đầu ở nam và vệ sinh bộ phận sinh dục của nữ giới

và nam giới; những biện pháp giữ gìn sức khỏe sinh sản Những tri thức về thụ thai, mang thai, nạo phá thai và phòng chống bệnh lây lan qua đường tình dục Những tri thức về sức khỏe sinh sản và bảo vệ sức khỏe sinh sản vị thành niên, các vấn đề về đạo đức giới tính, nhu cầu giới tính v.v

(2) Hệ thống thái độ tích cực trước các vấn đề giới tính: Ý thức trách nhiệm của thiếu niên trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội; Ý thức trách nhiệm đối với hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt sao cho phù hợp với những đặc điểm của giới cho học sinh Thái độ tích cực trong việc thực hiện bình đẳng giới, phân biệt giới, định kiến về giới Thái độ tích cực trong quan hệ với người khác giới và biết bảo vệ giới tính của mình Tính tự chủ trong làm chủ hành vi của bản thân, tự trọng biết bảo vệ mình trong mọi tình huống

Trang 33

(3) Hệ thống kỹ năng hành vi phù hợp với giới tính: Các kỹ sống, kỹ năng giao tiếp phù hợp với chuẩn mực của giới và giới tính; Kỹ năng biết bảo

vệ bản thân chống xâm phạm tình dục Kỹ năng giữ khoảng cách trong tình bạn khác giới, tình yêu; Kỹ năng giữ gìn và bảo vệ sức khỏe sinh sản; Kỹ năng phòng chống bệnh lây lan qua đường tình dục vv

1.3.5 Các hình thức giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở

1.3.5.1 Tích hợp nội dung giáo dục giới tính vào các môn học chiếm ưu thế

Hiệu trưởng nhà trường cần chỉ đạo giáo viên lựa chọn các nội dung bài học chiếm ưu thế trong các môn Giáo dục công dân, Sinh học; Ngữ Văn và các môn học khác để tích hợp nội dung giáo dục giới tính cho học sinh Lựa chọn hình thức tích hợp phù hợp trong các hình thức sau: Tích hợp hoàn toàn nội dung giáo dục giới tính vào nội dung bài học của các môn học chiếm ưu thế; Tích hợp nội dung giáo dục giới tính vào một phần nội dung của bài học và trở thành một bộ phận hữu cơ của bài học; Liên hệ nội dung bài học với một nội dung giáo dục giới tính, rút ra ý nghĩa thực tiễn của vấn đè nhằm giúp học sinh lĩnh hội vấn đề đó một cách tự giác

Việc thực hiện lồng ghép nội dung GDGT ở hai môn Giáo dục công dân

và môn Sinh học, nội dung chương trình GDGT theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục

và Đào tạo hiện nay được thực hiện thông qua các hoạt động trải nghiệm, hoạt động dạy học, hoạt động ngoại khóa Từ đó, cung cấp kiến thức về GDGT, rèn luyện kỹ năng sống cho HS, giáo dục thái độ đúng đắn cho HS

Với môn Sinh học ở cấp THCS, nội dung GDGT lồng ghép trong nội

dung của chương “Sinh sản” hoặc được tích hợp trong nội dung của các bài

học Trên cơ sở những kiến thức đã được cung cấp, giúp học sinh có ý thức tự tìm hiểu về sức khỏe sinh sản vị thành niên

Nội dung chương trình sinh học lớp 8 nội dung GDGT lồng ghép “Giáo dục giới tính cho học sinh khối 8 về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn bè trong tuổi dậy thì” Đối với nội dung GDGT lớp 9, cung cấp tri thức cho HS để

Trang 34

phân biệt sự khác nhau giữa tình bạn và tình yêu, những tác động xấu khi tảo hôn hoặc quan hệ tình dục sớm Giáo dục cho HS nam phải tôn trọng, bảo vệ bạn gái, đối với HS nữ, nội dung GDGT về kỹ năng chống xâm hại tình dục, kỹ năng phòng vệ

Đối với môn Giáo dục công dân cấp THCS, nội dung GDGT tập trung vào các bài học về giáo dục pháp luật, trong đó lồng ghép giáo dục cho HS về tình bạn khác giới: đặc điểm của tình bạn khác giới, sự khác biệt giữa tình bạn khác giới và tình yêu; Tình yêu tuổi học trò: đặc điểm của tình yêu tuổi học trò, nên hay không nên yêu ở tuổi học trò; trong hôn nhân HS hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của vợ hoặc chồng; các nội dung về phòng chống nhiễm HIV-AIDS, đối với người bị nhiễm HIV-AIDS HS tránh thái độ kỳ thị, các tệ nạn xã hội… Trên cơ sở nội dung GDGT đã cung cấp, HS có ý thức tự hoàn thiện bản thân,

ý thức tự điều chỉnh hành vi của mình để thực hiện bổn phận, quyền và nghĩa

vụ cũng như trách nhiệm công dân của HS

Với nội dung GDGT học lồng ghép vào môn Sinh và môn GDCD để hình thành và phát triển cho HS thái độ, kỹ năng sống và nhận thức đúng đắn Từ đó, HS bước vào giai đoạn mới của cuộc đời - tuổi trưởng thành

1.3.5.2 Tích hợp nội dung giáo dục giới tính với các nội dung hoạt động giáo dục trải theo chủ đề

Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên tổ chức các hoạt động giáo dục trải nghiệm theo chủ đề giáo dục để giáo dục giới tính cho học sinh THCS:

+ Tổ chức thi tìm hiểu các vấn đề về sức khỏe sinh sản, giới , giới tính; bình đẳng giới; định kiến giới; phân biệt giới vv

+ Tổ chức các hoạt động: Câu lạc bộ theo chủ đề, tọa đàm, nghe nói chuyện… + Tổ chức trải nghiệm khám phá về bản thân và giới tính

+ Tổ chức hoạt động rèn luyện kỹ năng hành vi thông qua các hoạt động trải nghiệm thực tiễn có tích hợp nội dung giáo dục giới tính

Trang 35

1.3.5.3 Giáo dục giới tính cho học sinh thông qua hoạt động truyền thông và sinh hoạt tập thể

Thông qua các hoạt động truyền thông, hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm lớp và các lực lượng giáo dục nâng cao nhận thức cho học sinh THCS về giới và giới tính; các vấn đề sức khỏe sinh sản và bảo vệ sức khỏe sinh sản; phòng chống lạm dụng tình dục, phòng chống các bệnh lây lan qua đường tình dục; đạo đức giới tính và rèn luyện đạo đức giới tính, vấn đề tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của học sinh trung học cơ sở trước những vấn đề trên Trên cơ sở đó có biện pháp giáo dục các em tự nhận thức về bản thân và giới, tích cực rèn luyện các phẩm chất đạo đức của giới và giới tính

Thông qua sinh hoạt tập thể tạo môi trường để học sinh THCS rèn luyện phẩm chất đạo đức giới tính của mình một cách phù hợp, giúp các em tự tin về bản thân và giới của mình và lựa chọn phong cách thể hiện một con người có giới tính

1.4.5.4 Giáo dục giới tính thông qua con đường hoạt động xã hội

Tổ chức các hoạt động xã hội như hoạt động vì cuộc sống cộng đồng, từ thiện với những người nhiễm HIV; chăm sóc những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, chăm sóc em nhỏ ở các làng trẻ mồ côi; chia sẻ với những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo tại các bệnh viện Thông qua những hoạt động đó rèn luyện cho các em các phẩm chất đạo đức của người có giới tính, đồng thời giáo dục ý thức trách nhiệm về hành vi giới tính của mình Đồng thời có thể giáo dục cho học sinh về vấn đề sức khỏe sinh sản, làm chủ quá trình sinh sản

và biết cách phòng vệ trong việc giữ gìn sức khỏe sinh sản của bản thân

Tổ chức các hoạt động xã hội như hoạt động tuyên truyền, quảng bá, cổ động để giáo dục cộng đồng và học sinh hiểu về chính sách kế hoạch hóa gia đình, vấn đề sinh con theo kế hoạch, vấn đề phòng chống tệ nạn xã hội, vấn đề phòng tránh thai, tác hại của nạo phá thai và sinh con ngoài ý muốn

Trang 36

1.3.6 Các lực lượng tham gia giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS

Nhà trường là cơ quan chuyên trách công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, nhà trường chịu trách nhiệm trước nhà nước, trước cha mẹ học sinh về công tác giáo dục thế hệ trẻ Mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục của nhà trường

đã được luật pháp phê chuẩn Giáo dục giới tính trong nhà trường được thực hiện thông qua nguyên tắc tích hợp nội dung giáo dục giới tính vào các môn học và nội dung các hoạt động giáo dục trong nhà trường

Trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên bộ môn, các tổ chức đoàn thể trong giáo dục giới tính cho học sinh ở nhà trường là v.v là người tổ chức, điều chỉnh, điều khiển quá trình thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục giới tính cho học sinh Ban giám hiệu có nhiệm vụ quản lý quá trình hoạt động nêu trên để đạt được mục tiêu xác định

Cơ quan y tế học đường là cơ quan chuyên môn tham gia giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh, giúp học sinh nhận thức đúng về giới nam và giới nữ, những đặc điểm sinh học của giới và vệ sinh thân thể, phòng tránh bệnh lây lan qua đường tình dục vv…

Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và là môi trường giáo dục suốt đời đối với sự hình thành và phát triển các phẩm chất giới tính của con người, cha mẹ là những người chịu trách nhiệm trước xã hội về chăm sóc và giáo dục con trẻ Cuộc sống của cha mẹ, tình yêu và cách ứng xử của cha mẹ dành cho nhau là tấm gương sinh động tạo nên những ảnh hưởng giáo dục giới tính sâu sắc tới trẻ thơ, không một bài giảng nào có thể thay thể được.…Con trai học được từ cha những phẩm chất cương nghị, mạnh mẽ, quyết đoán; quảng đại, vị tha; hào hoa; dũng cảm vv Con gái lại học được ở người mẹ đức tính dịu dàng, tấm lòng nhân hậu, vị tha, sự nhường nhịn, đức tính tần tảo lao động quên mình vì sự thành đạt của chồng, con Cha mẹ là những người đầu tiên giáo dục giới tính cho trẻ, là người đặt những nền tảng vững chắc, tạo điều kiện tốt cho những phẩm chất giới tính khi trẻ chuẩn bị bước vào tuổi dậy thì và tuổi trưởng thành sau này

Trang 37

Cha mẹ học sinh còn là những người phối hợp với nhà trường, với các tổ chức đoàn thể của xã hội để giáo dục giới tính cho trẻ

1.3.7 Đánh giá kết quả giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

Mục tiêu của đánh giá kết quả giáo dục giới tính cho học sinh THCS là đánh giá được nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh THCS về giới và giới tính:

Nội dung đánh giá:

(1) Đánh giá nhận thức của học sinh về giới, giới tính: Đặc điểm giới, giới tính; vai trò của giới; sức khỏe sinh sản; giữ gìn sức khỏe sinh sản vị thành niên vv Phương pháp đánh giá qua phiếu hỏi để thực hiện đánh giá nhận thức của HS tiến hành xây dựng các phiếu điều tra bằng các loại câu hỏi đóng, mở Nội dung đánh giá bao gồm: Đặc điểm giới, giới tính; vai trò của giới; sức khỏe sinh sản; giữ gìn sức khỏe sinh sản vị thành niên vv

(2) Đánh giá thái độ của học sinh trước các vấn đề về giới và giới tính: Bình đẳng giới, phân biệt giới, định kiến về giới, quan hệ nam nữ, tình yêu, tình bạn khác giới, tình dục vv…; Phương pháp đánh giá qua phiếu hỏi để thực hiện đánh giá nhận thức của HS tiến hành xây dựng các phiếu điều tra bằng các loại câu hỏi đóng, mở Nội dung đánh giá bao gồm: Bình đẳng giới, phân biệt giới, định kiến về giới, quan hệ nam nữ, tình yêu, tình bạn khác giới, tình dục vv…;

(3) Đánh giá về kỹ năng hành vi của học sinh trong quan hệ với người khác giới: kỹ năng làm chủ hành vi, kỹ năng phòng tránh lạm dụng tình dục; phòng chống bệnh lây lan qua đường tình dục, kỹ năng giữ gìn sức khỏe sinh sản vv…Phương pháp đánh giá qua phiếu hỏi để thực hiện đánh giá nhận thức của HS tiến hành xây dựng các phiếu điều tra bằng các loại câu hỏi đóng, mở Nội dung đánh giá bao gồm: kỹ năng làm chủ hành vi, kỹ năng phòng tránh lạm dụng tình dục; phòng chống bệnh lây lan qua đường tình dục, kỹ năng giữ gìn sức khỏe sinh sản vv…

Trang 38

1.3.8 Các phương pháp giáo dục giới tính cho học sinh

Phương pháp đàm thoại: Là phương pháp đặt học sinh vào môi trường học tập (nghiên cứu, thảo luận…) theo các nhóm học sinh Đàm thoại được sử dụng rộng rãi nhằm giúp HS tham gia một cách tích cực, chả động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết vấn đề có liên quan đến nội dung bài học giáo dục giới tính

Sử dụng sách giáo khoa, tài liệu GV cung cấp: Nhằm giúp HS nghiên cứu sách giáo dkhoa, tài liệu giáo viên cung cấp về tình huống, thường là nghiên cứu một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình huống thật để minh chứng một vấn đề hay một loạt vấn đề

Phương pháp xử lý tình huống: Đây là kỹ năng cơ bản nhất cần phát triển

ở HS Đó là khả năng xem xét, phân tích điều đang xảy ra và các bước nhằm cải thiện tình hình Khi biết cách sử dụng phương pháp xử lý tình huống, chúng

ta có thể tìm ra cách giải quyết cho từng vấn đề cụ thể gặp phải trong cuộc sống hàng ngày

Phương pháp thuyết trình: Là phương pháp dạy học phổ biến nhất thường được GV vận dụng trong quá trình dạy học Phương pháp này được hiều là GV trình bày bài giảng trên lớp bằng cách giới thiệu khát quát bài, giải thích các điểm chính của bài và giao bài cho HS

Trang 39

Phương pháp nghiên cứu trường hợp: nghiên cứu trường hợp điển hình là phương pháp sử dụng một câu chuyện có thật hoặc chuyện được viết dựa trên những trường hợp thường xảy ra trong cuộc sống thực tiễn để minh chứng cho một vấn đề hay một số vấn đề Đôi khi nghiên cứu trường hợp điển hình có thể được thực hiện trên video hay một băng catset mà không phải trên văn bản viết

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học

cơ sở

1.4.1 Lập Kế hoạch hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở

Để lập kế hoạch GDGT ở cấp THCS, CBQL phân tích thực trạng GDGT dành cho HS cấp THCS, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của nhà trường,

tổ chuyên môn và GV về GDGT Đánh giá thực trạng năng lực của GV trong giảng dạy GDGT, đánh giá điều kiện nguồn lực và khả năng của nhà trường, của tổ chuyên môn cho nhiệm vụ GDGT ở cấp THCS

Hiệu trưởng nhà trường hàng năm phải lập kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh trong nhà trường; nội dung kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh phải thể hiện qua các nội dung và con đường giáo dục giới tính do đó Hiệu trưởng cần phải lập các kế hoạch giáo dục giới tính sau đây:

Kế hoạch hoạt động giáo dục giới tính thông qua môn học chiếm ưu thế trong chương trình giáo dục THCS

Kế hoạch giáo dục giới tính thông qua tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm ở trường THCS

Kế hoạch giáo dục giới tính thông qua hoạt động truyền thông và sinh hoạt tập thể ở trường THCS

Kế hoạch giáo dục giới tính thông qua các hoạt động xã hội ở trường THCS

Kế hoạch huy động nguồn lực từ các lực lượng sau để thực hiện giáo dục giới tính cho học sinh: Giáo viên, chuyên gia giỏi về giáo dục giới tính; huy động cha mẹ học sinh và các lực lượng khác tham gia giáo dục giới tính

Trang 40

Hiệu trưởng cần thể hiện rõ trong kế hoạch về nội dung, hình thức, con đường, phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh và đánh giá kết quả giáo dục giới tính cho học sinh THCS

Kế hoạch GDGT được giao cho tổ chuyên môn Khoa học - xã hội chủ trì xây dựng kế hoạch, cụ thể tổ trưởng chuyên môn dự thảo kế hoạch, tổ chức các thành viên đóng góp, chỉnh sửa kế hoạch, hoàn thiện kế hoạch để trình lên nhà trường và cuối cùng phổ biến kế hoạch GDGT đã được nhà trường phê duyệt

1.4.2 Tổ chức hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học

cơ sở

Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh ở cấp THCS

là quá trình sắp xếp, phân bổ CB, GV vào công việc, phân bổ trách nhiệm và nguồn tài chính để thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh Cụ thể,

có các nội dung sau:

Thành lập ban tổ chức giáo dục giới tính cho học sinh THCS do hiệu trưởng làm trưởng ban, thành viên là các giáo viên trong trường Cụ thể hóa nhiệm vụ của Ban chỉ đạo trong việc hướng dẫn và chỉ đạo giáo viên thực hiện nhiệm vụ, nội dung giáo dục giới tính cho học sinh CBQL tổ chức hình thành mối quan hệ giữa các bộ phận và cá nhân phụ trách liên quan đến GDGT như phối hợp với Tổng phụ trách Đội, lực lượng giáo viên chủ nhiệm, Chi Đoàn… cùng phối hợp GDGT Bên cạnh đó, CBQL cần tổ chức bồi dưỡng cho các lực lượng tham gia GDGT những kiến thức, hình thức và phương pháp giáo dục giới tính phù hợp

Ban chỉ đạo và hội đồng giáo dục xác định nội dung, chương trình giáo dục giới tính cho học sinh nói chung và nội dung chương trình giáo dục giới tính cho học sinh qua các môn học chiếm ưu thế Xác định nội dung, chương trình giáo dục giới tính qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, qua sinh hoạt tập thể và hoạt động truyền thông, hoạt động xã hội ở trường THCS

Hiệu trưởng phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên tham gia giáo dục giới tính, tổ chức các buổi tập huấn, chuyên đề về kiến thức tâm lí, kĩ năng

Ngày đăng: 31/03/2020, 08:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w