1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực Hiện Pháp Luật Về Quốc Phòng Của Ủy Ban Nhân Dân Cấp Xã Từ Thực Tiễn Thành Phố Đà Nẵng

69 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 848 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân,

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THÀNH LONG

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUỐC PHÒNG CỦA

ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THÀNH LONG

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUỐC PHÒNG CỦA

ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI, NĂM 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Võ Thành Long

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUỐC PHÒNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm của thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã 8 1.2 Các nội dung của thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã 16 1.3 Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUỐC PHÒNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 26

2.1 Thực trạng của các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã ở thành phố Đà Nẵng 26 2.2 Thực trạng các qui định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân cấp xã trong lĩnh vực quốc phòng 30 2.3 Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã ở thành phố Đà Nẵng 36 2.4 Đánh giá về thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quốc phòng của

Uỷ ban nhân dân cấp xã ở thành phố Đà Nẵng 43

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUỐC PHÒNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP

XÃ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 49

3.1 Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng 49

Trang 5

3.2 Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng 52

KẾT LUẬN 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quốc phòng là vấn đề hệ trọng đối với mọi quốc gia độc lập có chủ quyền Trong quá trình hình thành và phát triển của nhân loại, giai cấp giữ địa

vị thống trị xã hội nào cũng đều coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng nền quốc phòng, chăm lo phòng thủ quốc gia và giữ vững độc lập chủ quyền của đất nước Qúa trình xây dựng và phát triển đất nước của dân tộc ta khẳng định: “Dựng nước phải đi đôi với giữ nước” Ngày nay, quan niệm đó được thể hiện ở sự kết hợp thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt đối với quân đội, đây là nguyên tắc cốt lõi, Nhà nước điều hành và quản lý đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân

Nhiệm vụ quốc phòng và an ninh trong những năm tới được khẳng định rất rõ trong Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XII đó là “ Phát huy mạnh

mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa

sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo

vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa Đây là mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh nước ta hiện nay, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lực lượng bảo vệ Tổ quốc là toàn dân, trong đó lực lượng

vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt Sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của các yếu tố: Chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, đối ngoại; Sức mạnh của toàn bộ nhân dân trong nước và kiều bào Việt Nam định cư ở nước ngoài; Là sự kết hợp chặt chẽ sức

Trang 7

2

mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Cùng với việc khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ Tổ quốc cũng cần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế Đây là một trong những kinh nghiệm lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của đất nước ta, nhất là trong điều kiện bối cảnh quốc tế hiện nay”, “Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới Xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, có số lượng hợp lý, có sức chiến đấu cao; Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp, chủ động chuẩn bị lực lượng và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể, khoa học, đủ khả năng bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia trong mọi tình huống…”, “Phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”

Chương IV Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 đã

đề ra các nguyên tắc cơ bản làm cơ sở pháp lý cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Trong đó, “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là

sự nghiệp của toàn dân Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh” (Điều 64)

“Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của Nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; xây dựng

Trang 8

3

công nghiệp quốc phòng, an ninh; bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh; thực hiện chính sách hậu phương quân đội; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sỹ, công nhân, viên chức phù hợp với tính chất hoạt động của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc” (Điều 68)

Để tăng cường thực hiện của Ủy ban nhân dân (UBND) xã trong việc triển khai và thực hiện pháp luật về quốc phòng trong giai đoạn phát triển hiện nay, nhằm đạt được các mục tiêu và theo các quy định của Hiến pháp, cần có sự thống nhất về các vấn đề chung như: khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức, phương pháp, nguyên tắc quản lý đối với quốc phòng, thực trạng quản lý nhà nước về quốc phòng hiện nay

Trong thực tế hiện nay, do chưa có nhận thức thống nhất về khái niệm, nội dung, phương pháp, chưa thấy rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành nên công tác triển khai thực hiện pháp luật về quốc phòng còn chưa được quan tâm đúng mức Cũng vì chưa có sự thống nhất trong việc soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật nên đã gặp nhiều vướng mắc Trong quá trình soạn thảo những nội dung quản lý về quốc phòng như: Pháp lệnh dự bị động viên, cụ thể chương quy định quản lý nhà nước, vẫn chưa đề cặp đến những nội dung quản chặt chẽ nhà nước về quốc phòng, trách nhiệm của các ngành,

… Qua hoạt động thực tiễn chức năng chỉ đạo chưa phân định rõ rang giữa hành chính nhà nước với hành chính quân sự, do đó việc quy trách nhiệm, chức năng , nhiệm vụ nên quá trình quy định chức năng nhiệm vụ không rõ ràng nên khi chỉ đạo chưa thống nhất

Do vậy, việc nghiên cứu “Thực hiện pháp luật về quốc phòng của

UBND cấp xã từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” là yêu cầu cấp thiết với mong

Trang 9

4

muốn đóng góp một phần nhỏ trong việc đề xuất những cơ sở lý luận, thực tiễn và kiến nghị những giải pháp nâng cao việc thực hiện pháp luật về quốc phòng trước yêu cầu thực tế hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thực hiện pháp luật về quốc phòng của UBND cấp xã là một trong những nội dung trọng tâm trong tổ chức thực hiện của nhà nước đối với lĩnh vực quốc phòng, được sự quan tâm đặc biệt trong lý luận thực tiễn hiện nay Việc tổ chức nghiên cứu nội dung xây dựng củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc theo quan điểm của Đảng ta và vận dụng tư tưởng quân sự của Chủ tịch

Hồ Chí Minh vào nghệ thuật quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc được thực hiện nghiêm túc trên những nét chung nhất gắn liền với việc phân tích, luận giải thực thi hiệu quả những công trình nghiên cứu như:

- Quan điểm cơ bản bảo vệ Tổ quốc XHCN [20] của Đại tướng Đoàn

Khuê

- Một số chuyên đề của Học viện Quốc phòng

Tuy vậy, trong những công trình nghiên cứu đó, vấn đề quốc phòng chủ yếu được xem xét từ góc độ chính trị xã hội, cũng chưa có tác phẩm riêng biệt nghiên cứu xem xét một cách toàn diện vấn đề quản lý nhà nước nói chung,

về thực hiện pháp luật của UBND cấp xã nói riêng đối với quốc phòng, đặc biệt từ góc độ Luật Hiến pháp và Luật hành chính Trong quá trình hoạt động thực tiễn lý luận và thực tiễn, nội dung, chủ thể hình thức, phương pháp, khái niệm, vấn đề quản lý bằng pháp luật đối với quốc phòng…vẫn còn những vấn

đề được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp khác nhau và là vấn đề chưa thống nhất, cần được nghiên cứu xem xét

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực trạng thực hiện

Trang 10

5

pháp luật về quốc phòng của UBND cấp xã và việc quản lý nhà nước đối với quốc phòng ở cấp xã, trên cơ sở đó đưa ra những quan điểm, giải pháp thực hiện có hiệu quả trong thực hiện pháp luật về quốc phòng đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới của nước ta nói chung của thành phố Đà Nẵng nói riêng trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhằm thực hiện được mục đích nói trên, nội dung của luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về quốc phòng của UBND cấp xã;

- Phân tích, đánh giá thực trạng của UBND cấp xãtrong việc thực hiện pháp luật về quốc phòng và việc quản lý nhà nước đối với quốc phòng ở thành phố Đà Nẵng hiện nay;

- Kiến nghị một số quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong thực hiện pháp luật về quốc phòng ở thành phố Đà Nẵng hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật về quốc phòng của UBND cấp xã ở Đà Nẵng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Không gian nghiên cứu của luận văn là cấp xã của thành phố Đà Nẵng

- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu, khảo sát là từ 2008 đến 2018

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Từ thực tiễn nghiên cứu hệ thống chính quyền cấp xã trong thực thi Pháp luật về quốc phòng, trên cơ sở phương pháp luận biện chứng khoa học

Trang 11

6

của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chính sách của

Đảng, Nhà nước về quốc phòng Luận văn được xây dựng trên nền tảng hệ

thống lý luận khoa học và thực tiễn quản lý nhà nước về quốc phòng trong giai đoạn hiện nay

Luận văn có kế thừa và phát triển những vấn đề lý luận về quốc phòng, quản lý nhà nước bằng pháp luật về quốc phòng… của các công trình khoa học có liên quan

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu bằng phương pháp luận duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng cùng các phương pháp cụ thể khác như: phương pháp xã hội học, phân tích, tổng hợp, hệ thống, so sánh pháp luật … để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn làm sáng tỏ một cách có hệ thống, khoa học về thực hiện pháp luật về quốc phòng của UBND cấp xã Từ thực tiễn ở Đà Nẵng, đề xuất một số giải pháp nâng cao thực hiện pháp luật về quốc phòng của UBND cấp

xã trong giai đoạn hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy tại các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức…

Những kết luận và giải pháp rút ra từ luận văn có thể được làm tài liệu tham khảo cho quá trình thực hiện pháp luật về quốc phòng của UBND cấp xã

ở thành phố Đà Nẵng hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Nội dung luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu

Trang 12

7

tham khảo thì gồm có 3 chương

Chương 1 Những vấn đề lý luận về việc thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã

Chương 2 Thực trạng thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã ở thành phố Đà Nẵng

Chương 3 Quan điểm và giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Trang 13

8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ

QUỐC PHÒNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ

1.1 Khái niệm, đặc điểm của thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã

1.1.1 Khái niệm về thực hiện pháp luật về quốc phòng

“Quốc phòng” là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt Để làm sáng tỏ khái niệm trên, chúng ta xác định rõ đặt thù nền quốc phòng của mỗi quốc gia Thực tiễn hiện nay trên thế giới, mỗi quốc gia đều có khái niệm cụ thể và những nội dung về quốc phòng để thực thi nhiệm

vụ khác nhau Đối với Việt Nam nó bắt nguồn từ truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông ta, truyền thống ấy được hun đúc bởi lòng yêu nước nồng nàn, được đúc kết bởi tinh thần kiên cường, dũng cảm, tự lực tự cường, đoàn kết một lòng Do đó, nền quốc phòng của Việt Nam khác với nền quốc phòng của các quốc gia khác Đó là công cuộc dựng nước và giữ nước: gồm những nội dung như đối nội, đối ngoại cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ Mục đích của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là xây dựng khu vực phòng thủ rộng khắp, tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh từ trung ương đến địa phương, trong đó xây dựng quân đội chính quy tinh nhuệ, từng bước hiện đại là lực lượng trung thành, phát huy sức mạnh tổng hợp đặt trưng của quân đội anh hùng bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nhân dân trong mọi tình huống

Theo quan niệm của Cộng hòa liên Bang Nga, thuật ngữ “Quốc phòng” nêu trong luật Quốc phòng 1992 được hiểu là hệ thống các biện pháp chính

Trang 14

9

trị, kinh tế, quân sự, xã hội hợp hiến, nhằm mục đích tạo ra mức độ sẵn sàng của đất nước, để bảo vệ, chống cuộc tiến công vũ trang, cũng như bảo vệ tài sản công dân, bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền của liên Bang Nga xác định các

cơ sở và tổ chức quốc phòng của liên Bang Nga, các quyền và trách nhiệm của các cơ quan quản lý và quyền Nhà nước, các cơ quan quản lý địa phương, các tổ chức, các quan chức và công dân trong lĩnh vực phòng thủ; cấu trúc và

tổ chức của các lực lượng vũ trang liên Bang Nga, trách nhiệm đối với những

vi phạm pháp luật của liên Bang Nga về vấn đề quốc phòng [21]

Đối với Nhà nước Trung Hoa, Luật Quốc phòng năm 1997 xác định

“Quốc phòng là bảo đảm an ninh cho việc sinh tồn và phát triển quốc gia” (Điều 3) Trong luật Quốc phòng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngoài chương nguyên tắc chung và chương nguyên tác phụ, có 10 chương đề cập đến những vấn đề hết sức cơ bản như: Chức trách và quyền hạn quốc phòng trong cơ cấu Nhà nước; lực lượng vũ trang; Phòng vệ biên giới, phòng thủ biển và phòng không; Nghiên cứu sản xuất quốc phòng và đặt hàng quân sự; Kinh phí quốc phòng và tài sản quốc phòng; Giáo dục quốc phòng; Động viên Quốc phòng và trạng thái chiến tranh; Nghĩa vụ và quyền lợi của quân nhân; Quan hệ đối ngoại quân sự Có tài liệu của Trung Quốc chỉ ra khái niệm

“Quốc phòng là sự đảm bảo quan trọng cho an toàn sinh tồn và an toàn phát triển của quốc gia” Do đó, Luật quốc phòng có phạm vi điều chỉnh rất rộng,

nó đề cập tới các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục của quốc gia Theo quy định của luật này, Nhà nước phải sử dụng thích đáng Luật Quốc phòng để tiến hành các hoạt động quân

sự, các mặt hoạt động có liên quan đến quân sự như chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học kỹ thuật, giáo dục… để phòng thủ và chống xâm lược, ngăn chặn lật đổ vũ trang, bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an

ninh quốc gia [28, tr.12]

Trang 15

10

Như vậy khái niệm “quốc phòng” và “an ninh” được hiểu như thế nào?

An ninh quốc gia được hiểu theo nghĩa rộng đó chính là sự ổn định, phát triển bền vững của một chế độ và nhà nước đó, sự bất khả xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Như vậy ở nước ta, lý tưởng chính trị, quan điểm chính trị, các chuẩn mực chính trị và pháp quyền, đạo đức… thể hiện ý chí nguyện vọng của giai cấp công nhân, được thể chế hóa thành Hiến pháp và pháp luật

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ, sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược đó là nhiệm vụ hàng đầu của quân đội nhân dân Việt Nam; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn

xã hội là nhiệm vụ của công an, do đó quân đội và công an phải dựa vào sức mạnh của quần chúng nhân dân thì lực lượng vũ trang mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ được giao

Trong thực tiễn hiện nay, vấn đề an ninh quốc gia và theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về an ninh quốc gia đã được nhận thức lại, nội dung bao hàm cả an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa tư tưởng

và an ninh xã hội, trong đó an ninh chính trị có ý nghĩa quan trọng hàng đầu

và xuyên suốt trong quá trình tực hiện Như vậy, chúng ta khẳng định rằng bảo vệ an ninh quốc gia ở đây là bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa tư tưởng và an ninh xã hội, mà thực tế chính là bảo vệ Đảng, bảo

vệ chế độ XHCN, gắn chặt với bảo vệ Tổ quốc vững chắc trong mọi tình huống Vậy “quốc phòng” và “an ninh” không đồng nhất nhưng có cùng mục đích chung nhất và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Xuyên suốt hơn 4000 năm lịch sử, nước ta đã nhiều lần đứng lên chống chiến tranh xâm lược từ phương Bắc và hai đế quốc hùng mạnh Do vậy, khi

đề cặp đến nội dung quốc phòng có nhiều quan điểm nhận thức đơn giản về quân sự, việc xây dựng khu vực phòng thủ để đề phòng chiến tranh xâm lược

Trang 16

“Quân sự” là một trong những mặt hoạt động cơ bản của quân đội, cùng các mặt khác (chính trị, hậu cần, kỹ thuật…) tạo nên sức mạnh chiến đấu của

quân đội [22] Theo cách định nghĩa trên, ta thấy khái niệm “quân sự” hiểu

theo nghĩa rộng đó là những mặt hoạt động của xã hội có liên quan đến đấu tranh vũ trang và quân đội, bảo đảm cho đấu tranh vũ trang giành thắng lợi Theo nghĩa hẹp, khái niệm quân sự là một trong những mặt hoạt động của quân đội như tác chiến, huấn luyện quân sự… Hoạt động quân sự là hoạt động mang tính chính trị rõ rệt và cũng chính là hoạt động bảo vệ Tổ quốc Đây là nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của quân đội ta

Theo C.Mác và Ăng Ghen khẳng định, chiến tranh là một hiện tượng chính trị, xã hội mang tính lịch sử Chiến tranh là sự thử thách đối với các lực lượng vũ trang và thử thách nghiêm khắc đối với một chế độ xã hội Khi kẻ thù xâm lược đất nước, muốn giành thắng lợi chúng ta phải huy động sức mạnh toàn dân tộc, trong đó quân đội là lực lượng chính phát huy sức mạnh tổng lực trong đó việc dùng vũ lực là thủ đoạn chính trị sau cùng

Trong lời nói đầu của Hiến pháp 1946 khẳng định “nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ”, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ Hiến pháp 1959, khi đề cập đến nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Chính phủ, đã quy định Chính phủ lãnh đạo việc xây dựng lực lượng vũ trang của Nhà nước (Điều 74)

Trang 17

12

Về nội hàm của khái niệm “quốc phòng”, đã có sự kế thừa và phát triển mới Hiến pháp 1992 xác định “Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, nòng cốt là các lực lượng vũ trang nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc” (Điều 44) Đến Hiến pháp 2013 xác định “Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.” (Điều 64)

Đối với nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các nhà hoạch định chiến lược về luật đã làm rõ hơn khái niệm về “quốc phòng” đó là sự chủ động phòng thủ, giữ gìn an ninh quốc gia ổn định trong mọi tình huống

Quốc gia được cấu thành bởi bốn yếu tố cơ bản: Có lãnh thổ được xác định; một cộng đồng dân cư ổn định; có chính phủ với tư cách là người dại diện cho quốc gia trong quan hệ quốc tế; có khả năng độc lập tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế Hiến pháp 2013 nước ta quy định “Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời” (Điều 1) Quốc gia là nước có chủ quyền và quyền tài phán, hoàn toàn được độc lập, hoàn toàn được tự do và hạnh phúc, đời sống nhân dân được ấm no, bảo đảm được lợi ích quốc gia trên cơ sở các lợi ích về chính trị, lợi ích kinh

tế và an ninh Đó là lợi ích sinh tồn và lợi ích phát triển

Nếu chúng ta mất cảnh giác và không có tiềm lực quốc phòng, quân sự

đủ mạnh để bảo vệ hòa bình thì nguy cơ bị thôn tính, xâm lược cũng khó

tránh khỏi [20, tr.13] Từ đó, ngày nay bảo vệ Tổ quốc trước hết là phải đánh

thắng chiến lược phá hoại toàn diện, thủ đoạn diễn biến hòa bình của địch hòng xóa bỏ CNXH, và như vậy, để bảo vệ Tổ quốc XHCN, chúng ta phải gắn chặt bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước với bảo vệ nền

Trang 18

13

độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng Cộng sản; phải

chống cả thù trong, giặc ngoài [20, tr.14]

Trong gia đoạn cách mạng hiện nay, Đảng , Nhà nước, nhân dân quan tâm chăm lo xây dựng nền quốc vững mạnh, đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam nên “quốc phòng” được hiểu là tổng hòa các hoạt động của quốc gia, lực lượng vũ trang làm nòng cốt để bảo đất nước đây là yêu cầu cấp bách, nhằm duy trì cục diện ổn định, hòa bình, là điều kiện tiên quyết để xây dựng đất nước, phát triển kinh tế - xã hội Đây là “thượng sách” bảo vệ chế độ

và bảo vệ Tổ quốc – bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà không phải tiến hành chiến tranh Đẩy lùi nguy cơ xung đột vũ trang, nguy cơ chiến tranh xâm lược, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống

Xây dựng nền quốc phòng phải vững mạnh toàn diện, nhưng có lộ trình như quan điểm của Đảng, Nhà nước ta đã triển khai thực hiện đó là: Xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và tiến đến hiện đại một số quân, binh chủng phục vụ cho phòng thủ đất nước Củng cố quốc phòng theo quan điểm sức mạnh tổng hợp, mạnh về “quốc lực” chứ không chỉ “quân lực” Sức mạnh quốc phòng được nhìn nhận thông qua tiềm lực quốc phòng, thực lực quốc phòng, thế trận quốc phòng và hoạt động quốc phòng Trong đó:

Hoạt động quốc phòng bao gồm xây dựng tiềm lực thực lực, thế trận

quốc phòng và tổ chức đấu tranh chống lại các hoạt động của địch [3]

Tiềm lực thực lực quốc là lực lượng vật chất và tinh thần của quốc gia

(quân đội thường trực, dân quân tự vệ, vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự…) đang được sử dụng trực tiếp phục vụ các yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng

Thế trận quốc phòng là tiềm lực, thực lực quốc phòng được tổ chức bố

trí căn cứ vào ý đồ chiến lược trong phòng thủ quốc gia và đặc điểm địa hình địa thế của đất nước, tạo thành sức mạnh tổng hợp nhằm ngăn chặn mọi âm

Trang 19

14

mưu, ý đồ và đánh bại hành động của các thế lực thù địch

Tổ chức đấu tranh chống lại các hoạt động của địch: Xây dựng quân

đội vững mạnh toàn diện, xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc, xây

dựng lực lượng vũ trang đủ biên chế, bảo dảm cho hoạt động bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống

Những nội dung trên có mối quan hệ biện chứng, mục đích là nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, khả năng phỏng thủ của toàn dân tộc Việt

Nam Qua đó, khẳng định “quốc phòng” theo nghĩa hẹp là “công cuộc giữ

nước của toàn dân tộc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, đặc trưng là sức mạnh quân sự” Theo nghĩa rộng “quốc phòng” “là tổng thể của các hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa khoa học của Nhà nước và nhân dân, tổng thể các nguồn lực để tạo ra mức

độ sẵn sàng phòng thủ đất nước”

1.1.2 Đặc điểm của thực hiện pháp luật về quốc phòng

Một là, quốc phòng Việt Nam là nền quốc phòng của dân, vì dân và do toàn thể nhân dân tiến hành Hiến pháp 2013 đã quy định “Bảo vệ Tổ quốc

Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới” (Điều 64) Như vậy sức mạnh quốc phòng là tổng hòa lực lượng vũ trang và sức mạnh tổng hợp của đất nước Sức mạnh tổng hợp quốc gia để bảo vệ Tổ quốc XHCN là khả năng của cả hệ thống chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hóa tư tưởng tác động tới các thế lực thù địch

Hai là, quốc phòng có sức mạnh tổng hợp do nhiều yếu tố tạo thành, được huy động từ nội lực, kết hợp giữa truyền thống với hiện tại

Sức mạnh tổng hợp của quốc phòng được tạo thành bởi rất nhiều yếu tố

Trang 20

15

như chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, tâm lý khoa học… cả trong nước và ngoài nước, của dân tộc và của thời đại, trong đó những yếu tố bân trong của dân tộc bao giờ cũng giữ vai trò quyết định Muốn xây dựng đất nước vững mạnh về quốc phòng phải có định hướng tầm chiến lược và đề xuất những nội dung, giải pháp phù hợp với đặc điểm tình hình đất nước, trên

cơ sở đó lựa chọn nội dung và giải pháp phù hợp Mặt khác, để đất nước ổn định tập trung mọi nguồn lực để phát triển kinh tế bền vững thì nhiệm vụ bảo

vệ Tổ quốc phải đặt lên hàng đầu cho công cuộc xây dựng đất nước, mục tiêu quan trọng vẫn là bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống nhằm tạo điều kiện cho đất nước đề ra những chiến lược phù hợp với tình hình đất nước trong từng giai đoạn lịch sử

Ba là, quốc phòng được xây dựng toàn diện và từng bước hiện đại

Trong quá trình xây dựng nền quốc phòng, Đảng Nhà nước ta đã khẳng định xây dựng quân đội ta vững mạnh toàn diện, từng bước hiện đại, một số quân, binh, chủng tiến lên thẳng hiện đại Nhiệm vụ phòng thủ quốc gia không chỉ phòng thủ về mặt quân sự mà phải “phòng thủ” cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao Việc tạo ra sức mạnh quốc phòng không chỉ ở sức mạnh quân sự mà còn phải huy động được sức mạnh của về mọi mặt như: kinh tế, văn hóa, khoa học, chính trị, quân sự …; phải kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với ngoại giao và các mặt hoạt động xây dựng đất nước

Việc xây dựng quốc phòng toàn diện và mang tính hiện đại phải luôn đi đôi với nhau Đó cũng là một tất yếu khách quan Như chúng ta đã biết các thế lực thù địch đã sử dụng các loại vũ khí công nghệ cao, tính chính xác cao, các phương tiện vũ khí, khí tài đều rất hiện đại mà thực tiễn đã chứng minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của quân và dân Việt Nam anh hùng Cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học 4.0, Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ và các thế lực thù địch đã tận

Trang 21

16

dụng triệt để và phát huy tối đa vũ khí công nghệ cao trong các cuộc chiến tranh xâm lược IRAQ, AFGHANISTAN Việc hiện đại hóa đất nước là một tất yếu, nhưng không phải bằng mọi giá để phát triển khoa học theo hướng phục vụ cho quân sự mà kế thừa, phát huy những thành tựu khoa học ứng dụng vào để xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội đạt hiệu quả cao nhất Tùy thuộc vào điều kiện thực tế của đất nước mà vận dụng sáng tạo để phát triển kinh tế và khoa học – công nghệ xây dựng dất nước giàu mạnh Đồng thời hướng đến việc áp dụng các thành tựu khoa học vào xây dựng lực lượng vũ trang theo yêu cẩu của một cuộc chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao

1.2 Các nội dung của thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã

1.2.1 UBND xã trong bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam

Chính quyền địa phương ở nước ta theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 được tổ chức thành 4 cấp tương ứng với các đơn vị hành chính gồm cấp tỉnh (bao gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (gồm huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương), cấp xã (gồm xã, xã, thị trấn) và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Đối với cấp xã bộ máy thực thi quyền lực nhà nước là HĐND và UBND ở các khu vực đô thị có chính quyền phường, tại khu vực nông thôn có chính quyền xã, thị trấn Cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương là HĐND do nhân dân trên địa bàn xã, phường, thị trấn trực tiếp bầu cử theo đúng Hiến Pháp và Pháp luật nhà nước UBND do các đại biểu HĐND bầu ra, để quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội Từ đó có thể khẳng định “chính quyền xã” là một bộ phận hợp thành của chính quyền địa phương ở nông thôn

Vị trí, tính chất pháp lý của UBND xã được Điều 8 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 qui định là cơ quan chấp hành của HĐND

Trang 22

17

do HĐND bầu ra, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Chính quyền xã có những vai trò cơ bản như: Triển khai các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống của nhân dân ở xã, phải được thực hiện ở cấp xã thành phong trào hành động của nhân dân, thông qua những sáng kiến và nổ lực của nhân dân

Chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức quản lý điều hành các công việc hành chính ở xã và trực tiếp thi hành pháp luật, Đây cũng là hệ thống chính trị giải quyết trực tiếp các ý kiến với nhân dân, là cấp sát dân, gần gủi nhân dân Đây cũng là cấp chính quyền có khả năng phát hiện và ngăn chặn sớm nhất các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh trật tự, trật tự an toàn xã hội, vệ sinh môi trường

Chính quyền xã có vai trò quyết định trong việc bảo đảm thực hiện việc phát huy dân chủ Để đảm bảo nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân, thì chính quyền xã liên hệ trực tiếp với dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, tiếp thu giải quyết đúng luật, có tình, có lý đáp ứng đúng nguyện vọng của nhân dân Đồng thời, nhân dân thực hiện quyền tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước

UBND cấp xã do HĐND cấp xã bầu gồm có Chủ tịch UBND, các Phó Chủ tịch UBND và các Ủy viên ủy ban nhân dân và phải được Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp phê chuẩn UBND làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách và chịu trách nhiệm Trong quá trình tổ chức thực hiện quản lý nhà nước ở cấp xã UBND có bộ phận chuyên môn tham mưu, giúp và chịu sự chỉ đạo của cơ quan chuyên môn cấp trên Từ những nội dung trên khẳng định nguyên tắc kết hợp giữa quản lý theo

Trang 23

ủy kiêm nhiệm; Chính trị viên phó do đồng chí Bí thư Đoàn phường kiêm nhiệm, Chỉ huy trưởng là thành viên Ủy ban nhân dân và 02 Chỉ huy phó

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quân sự có tính chất đặc thù riêng

so với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND Tất cả các ngành thuộc UBND

là cơ quan tham mưu giúp việc cho UBND trong triển khai thực hiện thắng lợi những nội dung, chủ trương mà cấp ủy Đảng đã ban hành Đây không phải là

cơ quan Hiến định nhưng nó được tổ chức theo luật tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015 Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước và điều hành ở địa phương cần bảo đảm sự thống nhất của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở đều tuân thủ theo Hiến Pháp và Pháp Luật Để UBND thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước đối với các ngành và lĩnh vực ở địa phương cần thông qua các cơ quan chuyên môn của mình; Đồng thời trực tiếp chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế đối với các ngành UBND nghe Trưởng đầu ngành báo cáo công việc và chịu trách nhiệm trước UBND và cơ quan chuyên môn cấp trên về những nhiệm vụ mình được giao Ban chỉ huy quân sự xã là cơ quan tham mưu giúp cho Đảng ủy, UBND lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương trên cơ sở Chỉ thị,Nghị quyết của Huyện ủy, kế hoạch của UBND huyện, Mệnh lệnh của Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện, đồng thời chỉ huy lực lượng vũ trang xã sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ đột xuất khác

Trang 24

19

như (phòng chống: bão lụt, thiên tai, cháy nổ ) do UBND xã; Ban chỉ huy quân sự huyện triệu tập và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn như các cơ quan chuyên môn thuộc UBND xã

- Ban chỉ huy quân sự xã là cơ quan Tham mưu giúp cho Đảng ủy, UBND cấp xã lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện toàn diện nhiệm vụ quân

sự, quốc phòng địa phương trên các lĩnh vực công tác như: Huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng lực lượng lực lượng Dân quân, Lực lượng dự bị động viên, tuyển chọn công dân nhập ngũ theo đúng Pháp luật của nhà nước Công tác Đảng công tác chính trị, Hậu cần, kỹ thuật và các nhiệm vụ khác

- Trên cơ sở Chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên, Ban chỉ huy quân sự phường tham mưu cho UBND xây dựng hệ thống kế hoạch như: kế hoạch công tác quân sự, quốc phòng địa phương; kế hoạch chiến đấu phòng thủ xã,

kế hoạch phòng thủ dân sự Trên cơ sở đó Ban chỉ huy quân sự tiến hành xây dựng kế hoạch xây dựng lực lượng, huấn luyện và hoạt động của dân quân; và các kế hoạch thực hiện nhiệm vụ khác

- Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương thì Ban chỉ huy quân sự xã làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương đồng thời phối hợp với ban, ngành, đoàn thể tổ chức thực hiện nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh, kế hoạch, hướng dẫn của Đảng ủy, UBND cùng cấp và những nội dung chuyên môn do Ban chỉ huy quân sự huyện ban hành

- Thường xuyên làm tốt công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho lực lượng vũ trang và nhân dân; tổ chức xây dựng lực lượng dân quân, dự bị động viên tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, thực hiện chính sách hậu phương quân đội; công tác tuyển quân

- Xây dựng kế hoạch trình Ban chỉ huy quân sự cấp trên phê duyệt, tiến hành tổ chức huấn luyện theo đúng tiến trình biểu đã được phê duyệt, giáo dục chính trị, pháp luật cho dân quân; chỉ huy dân quân thực hiện nhiệm vụ

Trang 25

20

quy định tại Điều 8 của Luật này;

- Tiến hành tổ chức đăng ký, quản lý, bảo quản và sử dụng vũ khí, trang bị của các đơn vị dân quân thuộc quyền theo quy định của pháp luật; quy định của quân đội

- Chủ động tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần, kỹ thuật tại chổ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương;

- Tham mưu cho UBND kiểm tra, sơ kết, tổng kết công tác quốc phòng, quân sự địa phương, công tác tổ chức và hoạt động của dân quân thuộc quyền

Thực hiện pháp luật thể hiện dưới các hình thức sau:

- Tuân thủ pháp luật: không thực hiện những gì pháp luật cấm;

- Chấp hành pháp luật: thực hiện các nghĩa vụ pháp lý một cách tích cực;

- Sử dụng pháp luật: thực hiện các hành vi pháp luật cho phép;

- Áp dụng pháp luật: Thông qua các quyết định của mình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện các quyết định của mình

1.2.2 Thực hiện pháp luật về quốc phòng của UBND cấp xã

Trong tiếng Việt, thực hiện pháp luật, trong khoa học pháp lý được hiểu hành vi (bao gồm hành động hoặc không hành động) của chủ thể pháp luật nhất định phù hợp với các quy định của pháp luật Dưới góc độ pháp lý thực hiện pháp luật là các hành vi hợp pháp, không trái, không vượt quá phạm vi cho phép của pháp luật Thực tiễn chứng minh việc chấp hành pháp luật nghiêm túc và đúng đắn sẽ giúp nhận thức con người sẽ tốt hơn và thực hiện

có mục đích, ý nghĩa đồng thời đưa các quy định của pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống, tạo nên hành vi đúng đắn hợp pháp của các chủ thể pháp luật

UBND vận dụng linh hoạt việc áp dụng pháp luật sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của

Trang 26

21

mình UBND xã ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền và các văn bản có tính chất quan trọng, còn những nội dung như: tuyên truyền giáo dục pháp luật về quốc phòng, công tác tuyển quân, tập huấn được xem như hoạt động có tính chất khác Tóm lại, đối với UBND xã việc nhận thức thực hiện pháp luật về quốc phòng là chức năng của UBND xã trên cơ sở quyết định ra các văn bản quy phạm pháp luật với chức năng, nhiệm vụ của mình để điều hành sát thực tiễn địa phương về các hoạt động quốc phòng nói

riêng cũng như các hoạt động khác nói chung

Hiện nay chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền xã được điều chỉnh chủ yếu trong Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

Mọi hoạt động xây dựng và phát triển mọi mặt ở địa phương đều nhằm nâng cao chất lượng đời sống, vật chất tinh thần đối với nhân dân Do đó, việc

đề ra những chủ trương, biện pháp quan trọng để lãnh đạo, chỉ đạo ở địa phương đều phải được thông qua tại các kỳ họp HĐND và ban hành Nghị quyết để có cơ sở pháp lý UBND điều hành thực hiện Những hoạt động của

tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và mọi công dân ở địa phương đều phải thực hiện đúng Nghị quyết HĐND và chịu sự giáp sát chặt chẽ của HNND, bởi vì đây là cơ quan giám sát mọi hoạt động của các tổ chức thuộc UBND HĐND quyết định các vấn đề quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực do UBND điều hành và tiến hành chức năng giám sát các cơ quan, tổ chức và công dân ở xã tuân theo pháp luật và nghị quyết của HĐND

Đối với UBND xã có chức năng chấp hành hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của HĐND xã, đồng thời thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương Chức năng của UBND xã được thể hiện thông qua những nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã trong việc tổ chức thực hiện pháp luật, nghị quyết của HĐND xã trên các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,

Trang 27

22

thủy lợi và tiểu thủ công nghiệp, xây dựng giao thông vận tải giáo dục, y tế,

xã hội, văn hóa và thể dục thể thao, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thi hành pháp luật ở địa phương, trong việc thực hiện chính sách dân tộc

và chính sách tôn giáo cũng như trong quản lý đô thị trên địa bàn xã

Để nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi hành pháp luật ở địa phương hoạt động nề nếp và hiệu quả UBND phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương Do đó, thường xuyên tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương nâng cao nhận thức, tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân, làng xã chiến đấu trong khu vực phòng thủ địa phương vững chắc có chiều sâu; tổ chức thực hiện xây dựng lực lượng, tuyển quân theo kế hoạch đúng, bảo đảm đủ chỉ tiêu trên giao; việc đăng ký, quản lý quân nhân dự bị động viên chặt chẽ, huấn luyện đúng nội dung, chương trình, sử dụng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương đúng luật; đồng thời, xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc vững mạnh; thực hiện biện pháp phòng ngừa và chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật ở địa phương; quản

lý hộ khẩu; tổ chức việc đăng ký tạm trú, tạm vắng, quản lý việc đi lại của người nước ngoài ở địa phương một cách chặt chẽ

1.3 Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về quốc phòng của

Uỷ ban nhân dân cấp xã

1.3.1 Sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo của cấp trên

Đảng lãnh đạo quân đội tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt, đây là nhân tố quyết định sự trưởng thành, phát triển, chiến đấu của Quân đội ta Trở thành nguyên tắc bất di, bất dịch của Đảng cộng sản Việt Nam đối với quân đội Ở địa phương cấp ủy đảng các cấp thực hiện chức năng trực tiếp lãnh đạo mọi mặt công tác quân sự, quốc phòng, địa phương Định hướng những chủ

Trang 28

23

trương, biện pháp lãnh đạo sát đúng tình hình địa phương Các ngành, hội đoàn thể phối hợp với Ban chỉ huy quân sự thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu trên giao, Chủ động nắm chắc tình hình, âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xử lý các tình huống nảy sinh trên địa bàn Chủ trì thông qua kế hoạch tác chiến phòng thủ

UBND xã là cơ quan chỉ đạo trực tiếp về mặt nhà nước đối với Ban chỉ buy quân sự xãm, Ban chỉ huy quân sự xã căn cứ vào chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, hướng dẫn của cơ quan quân sự huyện, nghị quyết của HĐND cấp mình để quản lý và điều hành mọi hoạt động công tác quốc phòng địa phương theo đúng qui định của pháp luật Cho nên, sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo của cấp trên là nhân tố quyết định đến việc thực hiện pháp luật về quốc phòng của UBND xã

1.3.2 Sự hoàn thiện của pháp luật về quốc phòng

Trong lĩnh vực quốc phòng cũng như trong các lĩnh vực khác, yêu cầu pháp luật phải hoàn thiện và hoàn thiện như thế nào? Nhiệm vụ quốc phòng rất quan trọng Yêu cầu đề ra là các cấp, các ngành, các lực lượng phải có nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ quốc phòng đồng thời tham gia vào công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân một cách có hiệu quả, việc hoàn thiện pháp luật về quốc phòng là cần thiết để UBND xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, có sự tác động lớn đến hiệu quả hoạt động của UBND

xã trong lĩnh vực quốc phòng Sự hoàn thiện pháp luật ở đây chính là tính khoa học, tính đồng bộ, tính pháp lý cao Xây dựng kế hoạch hoạt động quốc phòng phải phối hợp chặt chẽ với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội - quốc phòng an ninh của địa phương Trên cơ sở đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước; thực tế của địa phương đồng thời phải có

Trang 29

24

sự phân công, phân cấp quản lý đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành Do tính chất, đặc thù nghiêm ngặt của quốc phòng, cần xác định cụ thể, rõ ràng trách nhiệm, thẩm quyền quản lý của địa phương; cơ chế lãnh đạo, điều hành, chỉ huy trong từng nhiệm vụ cụ thể… đảm bảo quá trình quản lý nhà nước về lĩnh vực quốc phòng được liên tục, vững chắc…

1.3.3 Nhận thức và tính tích cực của cán bộ, công chức UBND xã trong việc thực hiện vai trò của mình trong lĩnh vực quốc phòng

Tuy nhiên, việc nhận thức chưa đúng về giá trị, vị trí, vai trò quốc phòng của cán bộ, công chức đã tác động không nhỏ đến việc thực thi chức năng quản lý nhà nước của UBND xã trong việc thực hiện pháp luật về quốc phòng

Trong thực hiện pháp luật về quốc phòng của cán bộ, công chức UBND cấp xã có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, nhưng đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; thiếu nhận thức sâu sắc, tất yếu dẫn đến coi nhẹ vai trò của pháp luật, không nhìn thấy nhu cầu hoàn thiện pháp luật quốc phòng và không quan tâm đến hiệu quả điều chỉnh của nó, ảnh hưởng xấu đến khả năng sử dụng tối ưu của pháp luật làm cho tính tích cực của cán bộ, công chức giảm

Vì vậy việc nâng cao nhận thức về pháp luật quốc phòng đối với đội ngũ cán

bộ, công chức UBND xã vẫn là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong thực thi Pháp luật

1.3.4 Ngân sách và điều kiện vật chất cho thực hiện pháp luật về quốc phòng của UBND cấp xã

Bảo đảm ngân sách cho quốc phòng là nhiệm vụ rất quan trọng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ ở địa phương Vì vậy, để xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thì nhận thức của đội ngủ cán bộ và nhân dân được nâng lên, xây dựng lực lượng đủ chỉ tiêu, bảo đảm ngân sách, bảo

Trang 30

25

đảm hậu cần tại chỗ cho nhiệm vụ quốc phòng địa phương

Trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng ở địa phương đòi hỏi phải tuân thủ và chấp hành nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật về quốc phòng Hệ thống chính sách này có quan hệ trực tiếp đến việc tổ chức và động viên mọi lực lượng, mọi đối tượng, tổ chức ở địa phương tự giác, hăng hái tham gia các hoạt động xây dựng, củng cố quốc phòng Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản và hướng dẫn thực hiện các chế độ chính sách trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng Do đó, cùng với việc chấp hành nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, cấp ủy và chính quyền các địa phương cần phát huy tính năng động, sáng tạo trong vận dụng thực hiện các chủ trương, chính sách đó tại địa phương nhằm đạt hiệu quả cao nhất, phù hợp nhất

Kết luận Chương 1

Thực hiện pháp luật về quốc phòng của UBND xã là thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn: tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thực hiện công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ; đăng ký, quản lý quân nhân dự bị; xây dựng khu vực phòng thủ ở địa phương, thực hiện công tác xây dựng, huấn luyện, hoạt động của lực lượng dân quân tự ở địa phương; phối hợp với các lực lượng bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương; xây dựng phong trào quần chúng bảo

vệ an ninh Tổ quốc

Chương 1 đã làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã Đây là cơ sở để đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã ở thành phố

Đà Nẵng

Trang 31

26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUỐC PHÒNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 Thực trạng của các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã ở thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng thành phố trực thuộc trung ương, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, tài chính, khoa học và công nghệ, du lịch, giáo dục - đào tạo, y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung và Tây Nguyên Đà Nẵng là thành phố quan trọng nhất miền Trung, đồng thời cũng là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương ở Việt Nam, đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, cùng với Hải Phòng và Cần Thơ, Đà Nẵng có nền kinh tế khá đa dạng bao gồm

cả công nghiệp, nông nghiệp cho tới dịch vụ, du lịch, thương mại, trong đó dịch vụ, du lịch chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nền kinh tế thành phố Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, công nghiệp và giảm tỷ trọng nông nghiệp, cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh Thành phố Đà Nẵng có những đặc điểm sau:

Về vị trí địa lý, thành phố có diện tích tự nhiên là 1.284,9 km2, trong

đó, các quận nội thành chiếm diện tích 243,5 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.012,07 km2 Đà Nẵng có vị trí đặc biệt quan trọng cả kinh tế lẫn quân sự ở khu vực Miền Trung, nằm ở giữa 3 di sản văn hóa thế giới là Cố

đô Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn

Về hành chính, mặc dù Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương; là

trung tâm kinh tế, chính trị ở khu vực Miền Trung và Tây Nguyên, nhưng diện tích nhỏ, có 06 quận, 02 huyện (kể cả huyện Hoàng Sa) với 45 phường

và 11 xã; với 2.903 thôn, TDP; tính đến tháng 6 năm 2019, dân số toàn thành phố đạt 1.231.074 người Năm 2009 thành phố Đà Nẵng thực hiện Nghị quyết

Trang 32

27

số 725/2009/UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

về điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy định nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bộ máy của UBND huyện, quận, xã nơi không tổ chức HĐND huyện, quận, xã và đến năm 2016 cũng như các tỉnh và thành phố khác của Việt Nam, Hội đồng Nhân dân các cấp đã được tổ chức lại theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và do người dân thành phố trực tiếp bầu lên với nhiệm kỳ 5 năm Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và thi hành pháp luật tại địa phương thì UBND xã thực hiện theo điều 31 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (Điều 8, NQ 725)

Về kinh tế, từ năm 2008 đến nay, tình hình kinh tế - xã hội thành phố có

bước phát triển tương đối toàn diện, đạt tốc độ tăng trưởng khá, hiệu quả và sức cạnh tranh được nâng lên một bước Tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố luôn đạt bình quân 11%/năm GDP bình quân đầu người trên địa bàn thành phố luôn được tăng lên, bảo đảm thu nhập cho người dân

Trong các năm qua, thành phố đã xây dựng và triển khai có hiệu quả nhiều chương trình, chính sách như chương trình “Thành phố 5 không”,

“Thành phố 3 có”, phối hợp giúp đỡ gia đình đặc biệt nghèo, học sinh bỏ học… theo Chỉ thị số 24-CT/TU ngày 10/8/2009 của Thành ủy; Chương trình xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Qua đó, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của các đối tượng chính sách, đối tượng xã hội và các tầng lớp nhân dân thành phố Số hộ nghèo theo chuẩn mới của thành phố tính đến cuối năm 2018 còn 1,91%/tổng số hộ dân cư Các ngành hoạt động chuyên môn trên lĩnh vực văn hóa, chăm sóc sức khỏe nhân dân được cải thiện; trình độ dân trí của nhân dân ngày càng được nâng cao

Trang 33

28

Quán triệt và thực hiện nghiêm túc nghị quyết của Đảng các cấp về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng quân sự địa phương Đặc biệt trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội theo đường lối đổi mới của Đảng và nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ương, tăng cường quốc phòng gắn liền với quá trình thực hiện đường lối đổi mới là vấn đề được quan tâm Đối với các ngành, các địa phương đối với công tác quân sự đều có văn bản pháp quy tương đối đầy đủ để thực hiện theo chức năng của mình

Ở thành phố Đà Nẵng, trong thực hiện các nhiệm vụ về lĩnh vực quốc phòng đều ban hành nhiều văn bản, hướng dẫn để các địa phương có cơ sở tổ chức thực hiện các nhiệm vụ Để cụ thể hóa thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, pháp lệnh Dự bị động viên, UBND thành phố đã ban hành quyết định số 40/2007/QĐ-UBND ngày 16/7/2007 ban hành quy định về công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ; Quyết định số 7709/QĐ-UBND ngày 26/9/2007

về việc ban hành đề án xây dựng lực lượng dự bị động viên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Thành ủy, UBND thành phố đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị định 74/2015/NĐ-CP của Chính phủ; quyết định số 1336/QĐ-UBND ngày 11/7/2016 về công tác phòng không nhân dân Tháng 9/2008 Bộ chính trị ban hành Nghị quyết 28-NQ/TW “về tiếp tục xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới” Thành ủy đã tổ chức sơ kết thực hiện nghị quyết 02-NQ/TW ngày 30/7/1987 của Bộ chính trị (khóa IX) và nghị quyết 02-NQ/TU của thành ủy

Đà Nẵng về xây dựng thành phố thành khu vực phòng thủ “cơ bản, liên hoàn, vững chắc”; trên cơ sở đó, ngày 25/12/2008 đã ban hành chương trình hành động số 35-Ctr/TU về thực hiện nghị quyết số 28-NQ/TW; UBND thành phố ban hành kế hoạch số 57/KH-UBND về tiếp tục xây dựng thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới và ngày 13/3/2012 UBND

Trang 34

Qua các nội dung nêu trên, có thể thấy đối với mỗi quốc gia, dân tộc quốc phòng là vấn đề rất hệ trọng UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước tiến hành chỉ đạo giám sát, hướng dẫn, kiểm tra như đã quy định trong hiến pháp và luật đối với thực hiện pháp luật về quốc phòng Do đó, muốn tạo

ra được sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân thì cần cụ thể hóa các quan hệ ấy, càng rõ ràng, hợp lý Đặc biệt là mối quan hệ giữa UBND với các ban ngành và cơ quan quân sự địa phương trong lĩnh vực quốc phòng

Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện kinh tế thị trường có nhiều vấn đề nảy sinh liên quan đến lĩnh vực quốc phòng cần được giải quyết

Ví dụ như, có địa phương, doanh nghiệp khi liên doanh với nước ngoài, hoặc đầu tư các công trình đầu tư lớn, thường không trao đổi thông tin với cơ quan quân sự địa phương về việc quản lý, đăng ký công trình dân sinh sẵn sàng phục vụ cho quốc phòng

Để UBND các cấp đạt kết quả tốt về tổ chức, triển khai thực hiện pháp luật về quốc phòng đạt hiệu quả thì cơ quan quân sự là cơ quan có chức năng hết sức quan trọng; đây là cơ quan đồng thời thực hiện hai chức năng vừa chỉ huy đơn vị thường trực vừa là cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng Tuy nhiên, đối với cơ quan quân sự quận, thành phố là nơi tổ chức

Ngày đăng: 30/03/2020, 22:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm