1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt Động Giám Sát Của Hội Đồng Nhân Dân Cấp Tỉnh Từ Thực Tiễn Tỉnh Gia Lai

92 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 574,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giám sát của HĐND tại kỳ họp được tập trung vào các hoạt động cụ thể như xem xét và thảo luận báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân,Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TƯỜNG LINH

HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH TỪ THỰC TIỄN

TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

ĐẮK LẮK – Năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TƯỜNG LINH

HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH TỪ THỰC TIỄN

TỈNH GIA LAI

Ngành: Luật Hiến pháp – Luật Hành chính

Mã số: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN VĂN DUY

ĐẮK LẮK – Năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân tôi

Nội dung cũng như các số liệu trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ các công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Tường Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Học viện khoa học xã hội, các quý Thầy Cô đã trang bị tri thức cho tôi, tạo môi trường thuận lợi, điều kiện tốt nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới TS Trần Văn Duy đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã động viên, hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Tường Linh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn 5

6 Ý nghĩa đóng góp mới về khoa học của luận văn 5

7 Kết cấu của luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH 7

1.1 Khái niệm, vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 7

1.1.1 Khái niệm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 7

1.1.2 Vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 11

1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 14

1.2.1 Yếu tố thể chế pháp luật 14

1.2.2 Yếu tố ý thức pháp luật của những cán bộ, công chức được tham gia hoạt động giám sát 17

1.2.3 Yếu tố sự tham gia ủng hộ của các chủ thể chịu sự giám sát 18

1.2.4 Yếu tố khác 20

1.3 Chủ thể, đối tượng, hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh 20

1.3.1 Chủ thể giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 20

1.3.2 Đối tượng giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 21

1.3.3 Hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 23

Trang 6

Tiểu kết chương 1 27 Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI 28 2.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai 28 2.2 Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai 30 2.3 Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai trong thời gian qua 32 2.3.1 Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh 32 2.3.2 Thực trạng hoạt động giám sát của Thường trực, các Ban, các Tổ đại biểu và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh 42 2.4 Đánh giá chung về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai trong thời gian qua 46 2.4.1 Những ưu điểm về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai trong thời gian qua 46 2.4.2 Những tồn tại vướng mắc trong hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Gia Lai trong thời gian qua 49 2.4.3 Những nguyên nhân dẫn đến những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Gia Lai trong thời gian qua 53 Tiểu kết chương 2 58 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH 59

TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI 59 3.1 Quan điểm tăng cường chất lượng hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh 59 3.1.1 Đổi mới và tăng cường hiệu quả giám sát của HĐND cấp tỉnh 59 3.1.2 Nâng cao vai trò của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh, thúc đẩy pháp chế xã hội chủ nghĩa và là công cụ quản lý quan trọng của chính quyền địa phương 62

Trang 7

3.1.3 Tiếp thu có chọn lọc pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh, kinh nghiệm giám sát của cơ quan dân cử địa phương một số nước trên thế giới 63 3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh phải phù hợp với xu hướng phát triển pháp luật toàn bộ hệ thống pháp luật, đặc biệt hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động hệ thống chính trị 64 3.2 Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 65 3.2.1 Nhóm giải pháp thể chế 65 3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực các chủ thể thực hiện chức năng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai 71 3.2.3 Nhóm giải pháp khác nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai 74 Tiểu kết chương 3 75 KẾT LUẬN CHUNG 76 DANH MỤC TÀI LIỆU KHAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhằm thực hiện vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương , thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì hoạt động giám sát Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng nhất của (HĐND)

Quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương và hoạt động giám sát là hai chức năng chủ yếu và cơ bản nhất của HĐND cấp tỉnh Trong hai chức năng đó, giám sát có một vị trí, vai trò rất quan trọng bảo đảm HĐND thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thực hiện đúng nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Thực hiện tốt chức năng giám sát là một trong những yêu cầu cơ bản để nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND

Trong những năm gần đây, HĐND tỉnh Gia Lai đã không ngừng đổi mới nâng cao phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng để ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế- xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh Gia Lai; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân cũng như ngày càng củng cố niềm tin, thu hút sự quan tâm, theo dõi và tham gia tích cực của nhân dân vào các hoạt động giám sát của HĐND, góp phần đảm bảo cho hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tích đạt được thì bên cạnh đó hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Gia Lai cũng còn bộc lộ những bất cập hạn chế nhất định; trong thực tiễn, năng lực giám sát đối với việc tổ chức triển khai thực hiện các quyết định quan trọng của HĐND tỉnh trên từng lĩnh vực vẫn chưa thật sự hiệu quả, vẫn còn hạn chế; việc xây dựng chương trình, cách thức tổ chức giám sát chưa thật sự khoa học;một số vụ việc tiêu cực của các

Trang 10

cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương chưa được phát hiện kịp thời; phương thức, nội dung giám sát chưa được đổi mới toàn diện, khả năng phát hiện vấn

đề trong quá trình giám sát của đại biểu HĐND tỉnh còn yếu Việc theo dõi, đôn đốc các cơ quan chức năng liên quan trong việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát của HĐND tỉnh thiếu tính quyết liệt, chưa có sự theo đuổi đến cùng, thiếu hẳn chế tài dẫn đến vẫn còn hiện tượng sau giám sát đâu lại vào đấy; kỹ năng giám sát của đại biểu HĐND tỉnh còn nhiều bất cập…Chính vì vậy, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND hiện nay còn thấp

Việc ra đời Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015 là yêu cầu cần đặt ra nhằm xây dựng nội dung cụ thể quy định chặt chẽ về hoạt động giám sát của HĐND theo tinh thần bản Hiến pháp 2013 Đặt ra yêu cầu hoạt động giám sát HĐND ngày càng phải hiệu lực, hiệu quả

là một đòi hỏi tất yếu và quan trọng trong giai đoạn hiện nay

Chính vì vậy, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của HĐND nói chung, của HĐND cấp tỉnh nói riêng là nhu cầu cấp thiết Đặc biệt, việc đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động giám sát của HĐND tại một địa bàn như tỉnh Gia Lai - tỉnh nghèo, có nhiều đồng bào dân tộc, có diện tích lớn thứ 2 Việt Nam và là một tỉnh miền núi nằm ở khu vực phía bắc của vùng Tây Nguyên lại càng có ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng Chính vì

thế, tôi lựa chọn đề tài: “Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân tỉnh từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” làm luận văn thạc sỹ luật học Để góp phần nâng cao

hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề giám sát và nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát của HĐND cấp tỉnh ở nước ta đã được đề cập nhiều trên sách báo, tạp chí, có những đề tài, công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể như:

Trang 11

- Nâng cao năng lực giám sát của HĐND cấp tỉnh trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, luận văn của Thạc sĩ Luật học Lê Minh Hậu, Học

viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2018 [15]

- Quyền giám sát của HĐND và kỹ năng giám sát cơ bản, TS Phạm

Ngọc Ký (2011), Nxb Tư pháp, Hà Nội.[20]

- Năng lực thực hiện chức năng giám sát của HĐND tỉnh Hải Dương đối với quản lý hành chính nhà nước về đất đai, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Nguyễn

Quang Hưng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2017 [18]

- Trần Lan Anh (2018), Nâng cao hiệu lực giám sát của HĐND cấp tỉnh trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, Đại học Luật thành phố Hồ

Tình hình trên cho thấy việc nghiên cứu hoạt động giám sát của HĐND các tỉnh trong những năm qua đã được chú trọng và có bước phát triển đáng

kể Nhìn chung, các đề tài dưới nhiều góc độ khác nhau đã đề cập đến các vấn

đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động giám sát của HĐND như chủ thể giám sát, đối tượng giám sát, hình thức giám sát Tuy nhiên, Các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp một lượng kiến thức và thông tin khá đồ sộ về HĐND từ góc độ tổ chức đến hoạt động Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên mới nêu ra những nhận định khái quát, chưa nêu được những giải pháp phù

Trang 12

hợp cho từng địa phương cụ thể vì tình hình kinh tế, xã hội của mỗi vùng là khác nhau Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Gia Lai

Như vậy, đề tài này tuy không phải là một lĩnh vực mới, song với việc

đi sâu tìm hiểu cụ thể tại một địa phương là tỉnh Gia Lai, đề tài này vẫn sẽ có những đóng góp về phương diện lý luận chung, cũng như về mặt quản lý nhà nước ở địa phương, thông qua việc đề xuất những giải pháp phù hợp trên địa bàn tỉnh Vì vậy, nghiên cứu đề tài này vẫn là cần thiết và thiết thực Đề tài sẽ phân tích toàn diện về thực tiễn hoạt động đồng thời nêu ra những nhận xét đánh giá và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh Gia Lai trong thời gian tới Do vậy, để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng là việc làm cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm ra những ưu điểm cũng như những hạn chế, bất cập của pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh Việt Nam và những vướng mắc trên thực tế để có thể đưa ra những phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như tăng cường

hiệu quả thực thi pháp luật hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh trên

thực tế

Với đề tài “Hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh từ thực tiễn tỉnh Gia Lai”, đề tài hướng tới mục đích nghiên cứu như sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật về hoạt động giám sát HĐND

- Qua đó, phân tích thực trạng quy định pháp luật và việc thực hiện pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh nói chung và ở tỉnh Gia Lai nói riêng

Trang 13

- Từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập trong những quy định pháp luật;

Đề ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, đại biểu HĐND cấp tỉnh tại Gia Lai

- Các quy định của Hiến pháp 1946 - 1959 - 1980 - 1992 - Hiến pháp sửa đổi 2002 và Hiến pháp hiện hành 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 và Quy chế hoạt động của HĐND các văn bản có liên quan đến tổ chức và hoạt động của HĐND cấp tỉnh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong các lĩnh vực sau:

- Các tài liệu, tư liệu, văn bản pháp lý liên quan đến tổ chức và hoạt động giám sát của HĐND từ khi ban hành Hiến pháp năm 2013

- Các báo cáo về hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Gia Lai và các loại văn bản khác có liên quan từ năm 2014 cho đến tháng 7 năm 2019

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn

- Về mặt cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về HĐND và chức năng giám sát của HĐND nói chung và HĐND cấp tỉnh nói riêng

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

+ Phương pháp biện chứng, lịch sử: Xem xét pháp luật về giám sát của HĐND theo từng thời kỳ Mỗi giai đoạn sẽ có pháp luật phù hợp Từ đó tìm

ra quy luật của sự phát triển pháp luật về hoạt động giám sát sao cho phù hợp với từng giai đoạn của thực tiễn lịch sử

Trang 14

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn kế thừa, tổng kết lại những kết quả của các công trình nghiên cứu về hoạt động giám sát HĐND

+ Phương pháp thống kê: Từ những kết quả số liệu thống kê, điều tra, khảo sát về thực trạng hoạt động để đề ra những giải pháp hợp lý

+ Phương pháp hội thảo và chuyên gia

Thông qua những kết quả thu được của các cuộc hội thảo về lĩnh vực liên quan đến đề tài và các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, là những nguồn tài liệu nghiên cứu có giá trị tham khảo lớn cho luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn đi sâu nghiên cứu những hoạt động liên quan đến hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Gia Lai, luận văn có những đóng góp mới sau:

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Gia Lai - một địa phương đặc thù về điều kiện phát triển văn hóa, chính trị, kinh tế

xã hội

- Đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Gia Lai sát với yêu cầu đặc thù, thực tiễn tại địa phương

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh

từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động giám sát củaHĐND cấp tỉnh từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT

CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

1.1.1 Khái niệm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Giám sát liên quan đến chức năng, nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan HĐND, của đại biểu HĐND nhằm bảo đảm cho các quy định pháp luật được triển khai, thực hiện đúng, đầy đủ và nghiêm túc Hình thức giám sát của HĐND gồm giám sát tại kỳ họp và giám sát trong thời gian giữa hai kỳ họp Giám sát của HĐND tại kỳ họp được tập trung vào các hoạt động cụ thể như xem xét và thảo luận báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân,Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; báo cáo của UBND về tình hình thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND; thực hiện chất vấn và trả lời chất vấn; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu; xem xét báo cáo tổng hợp ý kiến kiến nghị của cử tri ở địa phương Để nhận thức đúng đắn bản chất, vai trò, nội dung và hình thức thực hiện chức năng giám sát của HĐND nói chung, trước hết cần hiểu được khái niệm giám sát Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm giám sát

Trong ngôn ngữ tiếng Việt, “giám sát” được hiểu như một động từ chỉ

“sự theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không” [33, tr.305]

Quan niệm khác coi “giám sát” là việc theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không, là chức quan thời xưa trông nom, coi sóc một loại công việc nhất định [37,tr.389].Như vậy, khái niệm “giám

Trang 16

sát” dưới góc độ ngôn ngữ thông thường được hiểu là: việc theo dõi, xem xét, kiểm tra của chủ thể có quyền đối với chủ thể khác để qua đó có được nhận định về hoạt động của chủ thể này

Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Đặng Đình Tân quan niệm:giám sát mang tính quyền lực nhà nước là “sự theo dõi, quan sát hoạt động của một chủ thể quyền lực mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để bắt buộc và hướng hoạt động của các tổ chức quyền lực chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, đúng quy chế nhằm giới hạn quyền lực, đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ nghiêm minh” [26, tr.14,15]

Trong từ điển tiếng Việt, giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ [33, tr.728]

Có quan điểm cho rằng đưa ra định nghĩa: giám sát dưới góc độ ngôn ngữ thông thường được hiểu là: việc theo dõi, xem xét, kiểm tra của chủ thể

có quyền đối với chủ thể khác để qua đó có được nhận định về hoạt động của chủ thể này [32, tr.14]

Trong pháp luật Việt Nam, nội hàm thuật ngữ giám sát dần được cụ thể hóa Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1983 mới sử dụng thuật ngữ “giám sát” để quy định hoạt động giám sát của HĐND Đến Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, hoạt động này một lần nữa được quy định cụ thể hơn, góp phần nâng cao vị thế, vai trò của HĐND Tuy nhiên, Luật Tổ chức HĐND và UBND vẫn chưa giải thích một cách cụ thể, rõ ràng thuật ngữ này Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003

đã quy định trong chương III (từ điều 57 đến điều 81) về những vấn đề liên quan đến giám sát của HĐND HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương, giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết HĐND Luật tổ chức HĐND và UBND năm

2003 tuy không có điều khoản nào giải thích "giám sát của HĐND", nhưng

Trang 17

liên quan đến chức năng giám sát của HĐND, Luật có riêng một chương (Chương III từ Điều 57 đến Điều 81) để quy định về hoạt động giám sát của HĐND

Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương thì HĐND các cấp là cơ quan quyền lực tại địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng

và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương

và cơ quan nhà nước cấp trên Theo đó, HĐND các cấp có 3 chức năng cơ bản là: chức năng thứ nhất: Quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng của địa phương; chức năng thứ hai: Giám sát; chức năng thứ ba: Đại diện cho nhân dân Vì vậy, tại Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội

đồng nhân dân 2015 định nghĩa như sau: Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý

Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm: giám sát của Hội đồng nhân dân; giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân; giám sát của các Ban của Hội đồng nhân dân, giám sát của Tổ đại biểu HĐND và giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân

Do đó, việc tiếp cận này, khái niệm “giám sát” có nội hàm gồm hai yếu tốsau:(i) Hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra của một chủ thể nhất định; (ii)

Phương thức bảo đảm cho công việc hoặc hoạt động được thực hiện đúng

theo quy định [30] Như vậy, giám sát của HĐND cấp tỉnh là tổng thể các hoạt động của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu HĐND Nhằm xem xét, theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc chấp hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, các Nghị quyết của HĐND trên các lĩnh vực của địa phương đối với các đối tượng chịu

sự giám sát của HĐND Từ đó đưa ra các kết luận và phương án xử lý phù

Trang 18

hợp để khắc phục những tồn tại, hạn chế, phát huy mọi tiềm năng của địa phương

1.1.2 Đặc điểm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

(i) giám sát dùng để chỉ hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra đối tượng chịu sự giám sát, qua đó đưa ra nhận định về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hay sai so với các quy định hiện hành;

(ii) để tiến hành hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra thì giám sát luôn phải gắn với một hoặc một số đối tượng cụ thể;

(iii) để có thể tiến hành được hoạt động giám sát thì chủ thể hoạt động giám sát phải có những quyền hạn, nghĩa vụ nhất định đối với đối tượng chịu

sự giám sát;

(iv) để có thể đưa ra được nhận định về hoạt động của đối tượng chịu

sự giám sát thì việc giám sát phải được tiến hành dựa trên những quy định do chủ thể có quyền giám sát đặt ra;

(v) giám sát luôn là hoạt động có mục đích Mục đích của hoạt động giám sát là đưa ra những nhận định của chủ thể có quyền giám sát đối với hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát, qua đó có biện pháp xử lý đối với những việc làm trái quy định của đối tượng chịu sự giám sát, bảo đảm cho những quy định của chủ thể có quyền giám sát được chấp hành đúng

Như vậy, giám sát của HĐND cấp tỉnh là tổng thể các hoạt động của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu HĐND Nhằm xem xét, theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc chấp hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, các Nghị quyết của HĐND trên các lĩnh vực của địa phương đối với các đối tượng chịu sự giám sát của HĐND Từ đó đưa ra các kết luận và phương án xử lý phù hợp để khắc phục những tồn tại, hạn chế, phát huy mọi tiềm năng của địa phương

Như vậy, giám sát của HĐND thực chất là thực hiện sự ủy quyền của nhân dân để giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, là một hình thức thực

Trang 19

hiện quyền giám sát của nhân dân được thực hiện bằng pháp luật, thông qua

cơ quan quyền lực nhà nước là HĐND các cấp Hoạt động nhằm kiểm soát thực thi quyền lực nhà nước Giám sát chứa đựng những yếu tố thuộc tính của công tác kiểm tra, kiểm soát và thanh tra Trong quá trình giám sát, chủ thể giám sát có quyền tiếp cận mọi đối tượng, mọi văn bản, hồ sơ theo yêu cầu giám sát

1.1.3 Vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

- Đánh giá việc thi hành Hiến pháp, pháp luật nhà nước, nghị quyết HĐND của cơ quan nhà nước ở địa phương

Thông qua hoạt động giám sát mà HĐND kịp thời phát hiện những yếu kém, trì trệ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức, các ban ngành ở địa phương do HĐND thành lập ra Ví dụ: thông qua hoạt động giám sát, HĐND có quyền bãi bỏ các văn bản của UBND, Chủ tịch UBND cùng cấp trái pháp luật, trái nghị quyết HĐND nhằm bảo đảm trật tự pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức

và nhân dân ở địa phương Hoạt động giám sát của HĐND, trong nhiều trường hợp, góp phần quan trọng vào việc đấu tranh chống tham nhũng, chống những biểu hiện của thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền của những cán bộ, công chức, kịp thời loại ra khỏi các cơ quan công quyền ở địa phương những cán bộ, công chức thoái hoá, biến chất này để lấy lại niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước, đối với chính quyền

- Làm cơ sở thẩm tra báo cáo, dự thảo nghị quyết, tham mưu HĐND có những quyết sách khả thi, giải quyết bức xúc trong nhân dân, thể hiện trách nhiệm của người đại biểu dân cử

Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định: Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua cơ quan đại diện từ Quốc hội đến HĐND các cấp HĐND là cơ quan đại diện, cơ quan nhà nước ở địa phương, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực

Trang 20

nhà nước bằng cách căn cứ vào Hiến pháp, luật, tình hình thực tế địa phương

mà quyết định các biện pháp tổ chức thực hiện Hiến pháp, luật Nghị quyết của HĐND vừa mang tính đại diện vừa mang tính quyền lực nhà nước, có giá trị bắt buộc chung cho mọi cơ quan, tổ chức và công dân ở địa phương Như vậy, giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật của HĐND cấp tỉnh là một trong những biện pháp cần thiết và không thể thiếu, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Nếu mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ nhân viên nhànước được đặt dưới sự giám sát của cơ quan dân cử HĐND, thì khi ấy quyền lực nhà nước mới thực sự thuộc về nhân dân mới phát huy được sức mạnh dân chủ nhân dân ở địa phương Ngược lại, nếu quyền giám sát của Quốc hội, HĐND bị xem nhẹ hoặc chỉ coi là hình thức thì khi ấy quyền của nhân dân không được đảm bảo, nhân dân không được phát huy quyền làm chủ của mình

- Bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật, nghị quyết của HĐND được chấp hành, thực hiện nghiêm chỉnh trên phạm vi địa phương

Hiến pháp Việt Nam năm 2013, với những tư tưởng về nền pháp chế xã hội chủ nghĩa vẫn được thể hiện một cách đậm nét trong Hiến pháp ở quy định: Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản

lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ

Thông qua hoạt động giám sát của HĐND tỉnh giúp phát hiện kịp thời những việc làm trái quy định pháp luật của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức nhà nước làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, của tập thể và của công dân Từ đó kịp thời sửa chữa, khắc phục sai phạm, bảo đảm quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức, nhà nước, xã hội Bên cạnh đó, thông qua hoạt động giám sát của HĐND tỉnh kịp thời phát hiện những VBQPPL do chính quyền địa phương ban hành trái với Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của

Trang 21

HĐND tỉnh, phát hiện những mâu thuẫn chồng chéo giữa các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành, để đình chỉ việc thực hiện, sửa đổi, bãi bỏ, tạo ra sự thống nhất trong hệ thống các văn bản pháp luật do chính quyền địa phương ban hành

- Góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của đơn vị chịu sự giám sát

Hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh là một trong những phươngdiện đảm bảo cho mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội ở địa phương tiến hành trên cơ sở pháp luật, tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, từ đó mà Hiến pháp và pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh ở địa phương

Thông qua hoạt động giám sát mà HĐND tỉnh một mặt nắm bắt được thực tiễn thực hiện các nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội và các VBQPPL

do mình ban hành của các cơ quan nhà nước ở địa phương và qua đó cũng thấy được những hạn chế, thiếu sót trong các nghị quyết, văn bản, chính sách

do mình ban hành, nắm được tình hình thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn địa phương để đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND tỉnh Hoạt động giám sát các quyết định của HĐND có thêm những căn cứ khoa học vững chắc, phù hợp với những yêu cầu thực tế địa phương, đảm bảo tính khả thi của các quyết định, từ đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả của HĐND trong thực tế

Qua hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh phát hiện kịp thời những yếu kém, khuyết điểm trong hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội… ở địa phương Từ đó có biện pháp khắc phục, sửa chữa nhằm đảm bảo tính quyền lực nhà nước của HĐND

- Thông qua hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh mà góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước ở địa phương làm cho chính quyền địa phương trở nên trong sạch, vững mạnh

Trang 22

Hoạt động giám sát đưa ra được các biện pháp, cách thức để các đối tượng chịu sự giám sát làm tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình Nhằm kịp thời phát hiện những điểm chưa phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội, trong những quy định của pháp luật và kiến nghị những biện pháp khắc phục một cách có hiệu quả những điểm chưa hợp lý đó

Trong quá trình xây dựng các VBQPPL, các nhà hoạch định, cácchuyên gia làm công tác xây dựng luật đã tuân theo trình tự rất nghiêm ngặt và khoa học, nhưng khi áp dụng vào thực tiễn đời sống thì có những quy định còn bộc lộ những thiếu sót, những điểm chưa phù hợp hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đời sống xã hội cần phải được phát hiện và bổ sung kịp thời

Những kết quả của hoạt động giám sát, đặc biệt là những kết quả trong việc giám sát việc thi hành các văn bản pháp luật là một trong những nguồn thông tin quan trọng, cung cấp cơ sở thực tiễn của đời sống xã hội ở Việt Nam giúp cho các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia làm công tác xây dựng pháp luật trong quá trình soạn thảo ở tất cả các khâu từ việc xác định nhu cầu lập pháp, tức là nhu cầu cần thiết phải ban hành một văn bản luật đến việc xác định những mục đích cần đạt được của dự án và tính khả thi của dự

án luật đó

Như vậy, hoạt động giám sát không chỉ nhằm một mục đích duy nhất là theo dõi, giám sát, xem xét đánh giá tính hợp Hiến, hợp pháp trong hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát mà hoạt động giám sát cùng một lúc có thể đem lại nhiều kết quả cho công tác hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật, phục vụ cho việc không ngừng đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước

1.2 Chủ thể, đối tượng, hình thức, nội dung giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh

1.2.1.Chủ thể giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Trang 23

Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, đánh giá về một việc đã thực hiện đúng hoặc sai những điều đã quy định

Theo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm

2015, hoạt động giám sát của HĐND bao gồm: giám sát của HĐND tại kỳ họp; giám sát của Thường trực HĐND; giám sát của các Ban HĐND và giám sát của đại biểu HĐND:

+ Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp

+ Thường trực Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân

sự cùng cấp và Hội đồng nhân dân cấp dưới; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp; giúp Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của Hội đồng nhân dân

+ Ban của Hội đồng nhân dân giúp Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân

sự cùng cấp; giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Ban phụ trách

+ Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương

Trang 24

và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp hoặc về vấn đề do Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân phân công

+ Đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân ở địa phương

Như vậy, chủ thể thực hiện quyền giám sát của HĐND bao gồm:HĐND; Thường trực HĐND; Các Ban của HĐND; Đại biểu HĐND

1.2.2 Đối tượng giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Giám sát là một trong những chức năng trọng yếu của HĐND Xuất phát từ vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và theo Luật tổ chức Giám sát QH và HĐND năm 2015 và Luật TCCQĐP năm 2015, đối tượng giám sát của HĐND tỉnh rất đa dạng, luôn gắn với một đối tượng nhất định, tức là phải trả lời câu hỏi giám sát ai và giám sát việc gì? Chủ thể thực hiện việc theo dõi, xem xét, đánh giá luôn không thể đồng nhất với đối tượng chịu sự giám sát Giám sát của HĐND tỉnh cũng luôn gắn với đối tượng chịu

sự giám sát; đối tượng ấy rất phong phú và đa dạng

- Đối tượng giám sát của HĐND trước hết là UBND cùng cấp.Đây là

đối tượng giám sát thường xuyên, quan trọng nhất của HĐND,bởi UBND là

cơ quan có chức năng, nhiệm vụ thực hiện những nội dung mà HĐND đã quyết nghị Đó là những quy định, những chính sách, nội dung quan trọng đã được người đại diện của nhân dân bàn bạc, thảo luận và quyết định Những

nội dung đó cần được nghiêm túc tổ chức thực hiện

- Đối tượng mà HĐND cần phải giám sát tiếp theo đó là các cơ quan nhà nước ở trung ương đóng tại địa phương là cơ quan xét xử (Toà án), cơ quan kiểm sát, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và

Trang 25

của công dân ở địa phương như cơ quan thuế, hải quan, an sinh xã hội…

Pháp luật phân cấp giám sát giữa HĐND các cấp, điều đó không có nghĩa là HĐND mỗi cấp thực hiện thẩm quyền giám sát như nhau đối với mỗi hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát.Đối với các cơ quan Tư pháp do đối tượng, phạm vi, tính chất, mức độ giám sát của HĐND phụ thuộc vào vị trí, vai trò và sự phân cấp tính chất của mối quan hệ giữa HĐND với đối tượng chịu sự giám sát TAND, VKSND thì hoạt động giám sát của HĐND chủ yếu

ở việc xem xét tính pháp chế của bản án đã được giải quyết và sự phối hợp của Tòa án, Viện kiếm sát với địa phương trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, kết quả giám sát của HĐND với tòa án chỉ là hậu quả gián tiếp không xuất phát từ thẩm quyền của HĐND Do đó, đối tượng giám sát của HĐND cũng được quy định tương đối rõ, tuy nhiên còn một số đối tượng mà luật quy định HĐND có quyền giám sát như các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội đơn vị vũ trang địa phương Cần phải có những quy định cụ thể về hình thức, trình tự giám sát đối với các đối tượng giám sát giúp cho hiệu quả giám sát được nâng cao Mặc dù, Luật Giám sát của QH và HĐND năm 2015 quy định nhưng còn rất chung chung, theo đó, xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và các báo cáo khác theo quy định; xem xét việc trả lời chất vấn của những người bị chất vấn; xem xét quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát chuyên đề và lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu

1.2.3 Hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Trang 26

Hình thức giám sát là việc HĐND cấp tỉnh triển khai áp dụng để giám sát các đối tượng bị giám sát theo quy định của luật Hoạt động của HĐND thường được thực hiện bởi các hình thức kỳ họp, hoạt động của các cơ quan

do HĐND lập ra và hoạt động của chính các thành viên

Xem xét báo cáo của các cơ quan là đối tượng được giám sát, chất vấn

và xem xét trả lời chất vấn, xem xét VBQPPL, thành lập đoàn kiểm tra, giám sát, thực hiện bỏ phiếu tín nhiệm khi thấy cần thiết Mỗi loại hình giám sát đều có vai trò quan trọng, do đó cần phải được quy định chặt chẽ trong luật giám sát HĐND sắp tới:

Thứ nhất, xem xét và đánh giá báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND, cơ quan Thi hành sán dân sự cùng cấp

Đây là hình thức giám sát trực tiếp rất quan trọng của HĐND, HĐND xem xét thảo luận báo cáo công tác của thường trực HĐND, UBND, TAND

và VKSND cùng cấp tại kỳ cuối Tại kỳ họp giữa năm, cơ quan trên này phải nghĩa vụ báo cáo quá hình thực hiện nhiệm vụ công tác đến các đại biểu HĐND Tại kỳ họp cuối năm việc xem xét, thảo luận báo cáo hàng năm hoặc

6 tháng hay giữa năm của các đơn vị được giám sát được tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ do luật định

Theo quyết định của chủ tịch HĐND hoặc của người điều khiển phiên họp, báo cáo của các đối tượng giám sát được chuyển cho các Ban của HĐND thẩm tra, nghiên cứu trước cũng như khảo sát nắm tình hình Trên cơ sở ý kiến tham gia, thảo luận của các thành viên, các buổi khảo sát các Ban phải xây dựng báo cáo thuyết trình, thẩm tra trước HĐND

Việc xem xét, thảo luận các báo cáo theo luật định được diễn ra theo một trình tự nhất định, người đứng đầu cơ quan bị giám sát phải trình bày báo cáo kết quả cụ thể những công việc đã triển khai cũng như những tồn tại hạn chế, Trưởng các ban HĐND trình bày báo cáo thẩm tra; HĐND thảo luận người đứng đầu cơ quan bị giám sát có thể trình bày thêm những vấn đề có

Trang 27

liên quan mà HĐND quan tâm Việc xem xét báo cáo buộc chủ thể bị giám sát phải báo cáo về công tác của mình, là hình thức giám sát quan trọng, tăng cường trách nhiệm của cá nhân người đứng đầu UBND và các ban ngành về công tác của họ trước HĐND

Thứ hai, xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Viện trưởng VKSND, Chánh án TAND cùng cấp;

Giám sát thông qua hình thức chất vấn cần được phát huy để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giám sát, tất cả các câu hỏi chất vấn của đại biểu phải được lãnh đạo UBND và các cơ quan hữu quan giải trình làm rõ nhiều vấn đề đại biểu và cử tri đặt ra Không khí chất vấn, trả lời chất vấn thẳng thắn, dân chủ với tinh thần xây dựng cao, tăng cường tính đối thoại, nghiêm túc nhìn nhận trách nhiệm của đơn vị, đưa ra biện pháp khắc phục hạn chế, yếu kém, được đại biểu và cử tri đồng tình

Đối với các nội dung câu hỏi chất vấn, Đại biểu HĐND cần ghi rõ nội dung chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu ghi chất vấn và gửi đến Thường trực HĐND trước hoặc trong các kỳ họp HĐND để Thường trực HĐND chuyển đến người bị chất vấn và tổng hợp các chất vấn của đại biểu HĐND

để báo cáo HĐND Thường trực HĐND dự kiến danh sách những người có trách nhiệm trả lời chất vấn và báo cáo HĐND quyết định, ngoài câu hỏi chính có thể nêu các câu hỏi bổ sung liên quan đến nội dung đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm cũng như biện pháp khắc phục

Đối với việc trả lời các câu hỏi chất vấn, người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp về các nội dung mà đại biểu HĐND đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm cũng như biện pháp khắc phục Trong trường hợp không trả lời trực tiếp có thể trả lời bằng văn bản Thực chất của hoạt động chất vấn là việc đại biểu HĐND đưa ra các câu hỏi cho các đối tượng bị chất vấn, nội dung các câu hỏi này thường xoay quanh các vấn đề nóng bỏng mà nhân dân địa

Trang 28

phương quan tâm thuộc lĩnh vực quản lý trực tiếp hoặc có liên quan đến đối tượng bị chất vấn

Thứ ba; Xem xét Quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp khi có dấu hiệu trái với Hiến pháp và những văn bản QPPL của cơ quan Nhà nước cấp trên, Nghị quyết của HĐND cùng cấp;

HĐND giám sát tính hợp Hiến, hợp pháp của VBQPPL do các đối tượng, các cơ quan chịu sự giám sát của HĐND ban hành trong quá trình triển khai nhiệm vụ Để tiến hành tốt việc giám sát này, tại các kỳ họp HĐND cũng như giữa hai kỳ họp, Thường trực HĐND, các Ban và từng đại biểu HĐND phải thường xuyên theo dõi, thực hiện giám sát các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan ban hành nhằm có những ý kiến đề nghị, đề xuất kịp thời

Thứ tư, thành lập đoàn giám sát khi thấy cần thiết: khi xét thấy cần

thiết phải xác minh, làm rõ hoặc muốn biết một số thông tin cụ thể trong quá trình hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát thì HĐND thành lập Đoàn giám sát Khác với hoạt động thanh tra, kiểm tra những nội dung hoạt động của Đoàn giám sát bao giờ cũng được thông báo trước cho đối tượng giám sát trong thời hạn chậm nhất là bảy ngày trước khi Đoàn giám sát bắt đầu thực hiện các hoạt động giám sát Trong quá trình triển khai công việc giám sát, Đoàn có quyền xem xét, xác minh tất cả các vấn đề mà Đoàn xét thấy cần thiết Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Đoàn giám sát có quyền yêu cầu đối tượng bị giám sát xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật

Thứ năm,lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm với những người giữ chức vụ do HĐND bầu

HĐND bầu là một công cụ giám sát mới của HĐND Trong trường hợp không được quá nửa tổng số đại biểu HĐND tín nhiệm thì cơ quan hoặc

Trang 29

người đã giới thiệu để bầu người đó có trách nhiệm trình HĐND xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm người không được HĐND tín nhiệm

Có thể thấy, hình thức bỏ phiếu tín nhiệm chỉ áp dụng với các cá nhân chứ không áp dụng đối với tập thể, đây là một đặc thù giám sát quyền lực ở Việt Nam

Như vậy, các hình thức giám sát được Luật quy định tương đối chi tiết,

cụ thể Việc quy định theo hướng mở rộng các hình thức giám sát của HĐND

là một bảo đảm pháp lý quan trọng để HĐND bảo đảm cho việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được pháp luật quy định và bảo đảm cho việc thực hiện các nghị quyết của HĐND

1.2.4 Nội dung giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Thứ nhất, những nội dung Hội đồng nhân dân tỉnh trực tiếp giám sát tại kỳ họp thường lệ:

+ Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét báo cáo công tác của Thường trực

Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án

dân sự tỉnh;

+ Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh

về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội; thu - chi ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách nhà nước của địa phương; công tác phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; công tác phòng, chống tội phạm

và vi phạm pháp luật; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cử tri;

+ Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét quyết định của Ủy ban nhân dân

tỉnh, nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, thị xã, thành phố có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh theo đề nghị của Thường trực

Hội đồng nhân dân tỉnh;

Trang 30

+ Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân

tỉnh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, ủy viên Ủy ban nhân dân tỉnh, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh,

Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh

Thứ hai, những nội dung Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát thường xuyên:

+ Việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh;

+ Hoạt động của Thường trực Hội đồng nhận dân tỉnh, Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án dân sự tỉnh;

+ Việc ban hành và thực hiện quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh và nghị quyết của Hội đồng nhân dân các huyện, thị xã trong tỉnh;

+ Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của cử tri và việc thực hiện các kiến nghị của các Đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh

Thứ ba, những nội dung Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát theo chuyên

đề giữa hai kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh, ví dụ như:

+ Tình hình triển khai, thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân

tỉnh và hoạt động của Hội đồng nhân dân ,cấp dưới tại địa phương; việc trả lời

ý kiến, kiến nghị của cử tri

+ Tình hình hoạt động các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách trên

địa bàn tỉnh;Việc cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn tỉnh;Việc chấp hành pháp luật trong công tác quản lý, khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh;Việc lập, chấp hành dự toán, công khai, quyết toán ngân sách (một số huyện, thị

xã);

+ Tình hình quản lý, sử dụng vốn đầu tư công (nguồn hỗ trợ Trung

ương, trái phiếu Chính phủ, ngân sách tỉnh) giao các huyện, thị xã làm chủ

Trang 31

đầu tư dự án;Việc thực hiện các quy định về thu, nộp, quản lý và sử dụng phí

sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện trên địa bàn tỉnh;

+ Hoạt động quản lý, cấp phép, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật đối với các Công ty, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn tỉnh trong việc đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm;Hoạt động quản lý nhà nước trong việc giao đất, cho thuê đất đối với các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; việc giải quyết thu hồi đất, chính sách hỗ trợ, tái định cư giữa các công ty, doanh nghiệp với người dân, việc giải quyết và thực hiện các chính sách đối với các hộ dân bị thu hồi đất;

Ngoài ra còn thực hiện giám sát trên một số lĩnh vực văn hóa, xã hội; Lĩnh vực pháp chế, nội chính; Lĩnh vực dân tộc

Hội đồng nhân dân tỉnh giao Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh: Căn

cứ chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện; chỉ đạo việc thực hiện chương trình hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh; điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh Định kỳ hàng tháng, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh nghe báo cáo tổng hợp hoạt động giám sát của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh; báo cáo với Hội đồng nhân tỉnh kết quả việc thực hiện Chương trình giám sát năm Tổ chức Hội nghị chất vấn giữa hai kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh

và giải trình tại phiên họp của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh Nghiên cứu cải tiến một số vấn đề như: việc thành lập các đoàn giám sát và phương thức làm việc của đoàn giám sát; việc chỉ đạo, điều hòa, phối hợp trong hoạt động giám sát; thực hiện những biện pháp cần thiết để nâng cao chất lượng trong hoạt động giám sát; tích cực cải tiến phương thức giám sát tại kỳ họp và giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh Tiếp tục chú trọng, củng cố, tăng cường lực lượng tham mưu, tổng hợp phục vụ hoạt động giám sát; chỉ đạo tốt công tác bảo đảm phục vụ hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh

Trang 32

Các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh căn cứ chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh để xây dựng chương trình giám sát năm 2019 của Ban; báo cáo kết quả thực hiện chương trình giám sát của Ban với Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh theo quy định

Các Tổ đại biểu và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh căn cứ vào điều kiện và tình hình thực tế, chủ động lựa chọn nội dung hoặc các vấn đề do Hội đồng nhân dân tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh phân công để xây dựng chương trình, phối hợp và tiến hành hoạt động giám sát, báo cáo kết quả theo quy định của pháp luật

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh thông qua công tác tham gia xây dựng chính quyền, tham gia các đợt giám sát chuyên đề của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh và các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh; giám sát hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh đánh giá chất lượng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

1.3.1 Yếu tố thể chế pháp luật

Hệ thống hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là căn cứ

và tiền đề pháp lý cho các hoạt động quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước tại địa phương được nhịp nhàng, kiểm soát được những bất cập trong quá trình thực hiện việc quản lý nhà nước Hệ thống các quy định về tổ chức và hoạt động giám sát của HĐND tỉnh chủ yếu là xác định địa vị pháp lý, chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Phần lớn những quy định này được thể hiện trong các luật như Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, các nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ có liên quan và hệ thống các quy chế làm việc của các cơ quan, văn

Trang 33

bản có liên quan đến nội dung phân công, phân cấp quản lý nhà nước Theo quy định, thẩm quyền giám sát của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định, theo đó, Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp; thường trực Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và Hội đồng nhân dân cấp dưới; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp; giúp Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của Hội đồng nhân dân; Ban của Hội đồng nhân dân giúp Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp; giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương

và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp hoặc về vấn đề do Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân phân công và Đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp; trong phạm vi nhiệm

Trang 34

vụ, quyền hạn của mình giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân ở địa phương Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân tiến hành giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương

Tuy nhiên do số lượng các văn bản được giám sát thường rất lớn và nên cần thường xuyên có sự giám sát đáp ứng mục tiêu và yêu cầu quản lý phù hợp với sự biến động và tác động của các quan hệ khách quan Môi trường thể chế hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là điều kiện tiên quyết

để duy trì và bảo đảm sự vận hành của cả hệ thống giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Các quy định này thể hiện trong bốn loại quan hệ: giữa cơ quan HĐND tỉnh với cơ quan nhà nước nói chung (các cơ quan trong hệ thống lập pháp và tư pháp); giữa cơ quan HĐND với nhau trong các cấp từ tỉnh tới huyện, xã; giữa cơ quan HĐND với người dân và doanh nghiệp; giữa cơ quan HĐND và các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị HĐND tỉnh chỉ có thể hoạt động hiệu quả trong môi trường thể chế hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thuận lợi, gồm hệ thống văn bản chứa đựng các quy định được ban hành đúng thẩm quyền, kịp thời, phù hợp với yêu cầu quản lý và trình độ phát triển của các quan hệ kinh

tế - xã hội và bảo đảm sự bao quát toàn bộ các ngành, lĩnh vực quản lý phục

vụ cho việc thực hiện việc giám sát tại địa phương

Hệ thống các thiết chế hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân không hoàn toàn phụ thuộc vào hình thức, quy mô tổ chức mà chủ yếu và trước hết vào tính hoàn thiện của chúng xét trên các phương diện sau: vị trí, chức năng từng cơ quan phù hợp với tính chất tổ chức bộ máy cũng như nội dung, phạm vi yêu cầu giám sát đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn cụ thể; nội dung các nhiệm vụ được xác định bảo đảm tính bao quát, toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và đối với tất cả

Trang 35

các khâu của quá trình giám sát (như kế hoạch, tổ chức triển khai, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm…); cơ cấu tổ chức Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phù hợp với quy mô và trình độ quản lý, được phân công, phân cấp hợp lý, định rõ trách nhiệm của từng chủ thể đi liền với hệ thống các giải pháp hỗ trợ có hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; hệ thống các quy định, quy chế đầy đủ, bao quát quy trình vận hành và sự phối hợp, kết hợp giữa các cơ quan trong bộ máy HĐND tỉnh khi vận hành thực hiện hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân

Kinh nghiệm cho thấy, đây là những yếu tố cần và đủ bảo đảm sự vận hành thống nhất, thông suốt và tính hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát

của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

1.3.2 Yếu tố ý thức pháp luật của những cán bộ, công chức được tham gia hoạt động giám sát

Chất lượng nguồn nhân lực tham gia hoạt động giám sát của HĐND tỉnh luôn là yếu tố quyết định hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát tại địa bàn tỉnh Một cơ chế thực hiện việc kiểm soát quyền lực thông qua giám sát của HĐND chuyên nghiệp chỉ có thể hình thành trên cơ sở xây dựng và phát triển nguồn nhân lực tham gia hoạt động giám sát của HĐND tỉnh tương ứng mang tính chuyên nghiệp Nguồn nhân lực của tham gia hoạt động giám sát của HĐND tỉnh phải có tính chuyên nghiệp chủ yếu và trước hết dựa trên các

tiêu chí sau:

+ Trình độ, năng lực chuyên môn của người tham gia hoạt động giám sát Trình độ, năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn của từng loại đối

tượng phụ thuộc trước hết vào chất lượng và chuyên môn đào tạo

+ Kỹ năng, nghiệp vụ hành chính gắn với chuyên môn đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn làm việc Xuất phát từ tính đặc thù của hoạt động giám sát hành chính nhà nước, các kỹ năng cần thiết trong hoạt động công vụ được cụ thể hóa thành quy trình, quy phạm đòi hỏi phải được thực hiện một cách đồng

Trang 36

bộ Ngoài việc tinh thông nghiệp vụ, cần phải nắm vững các quy định của pháp luật quy định trình tự, thủ tục giải quyết công việc, cũng như khả năng thích nghi, giao tiếp, hợp tác thông qua phối hợp nhóm hoặc giải quyết mâu

thuẫn khi tiếp xúc với chủ thể bị giám sát,…

+ Ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương và đề cao văn hóa công vụ, nhất

là văn hóa giao tiếp, ứng xử Cũng như đối với các hình thức lao động quyền lực khác, ý thức tôn trọng và chấp hành kỷ luật, kỷ cương, việc gương mẫu thực hiện văn hóa công vụ là đòi hỏi khách quan, bắt nguồn từ tính chất của hoạt động giám sát, không chỉ là biểu hiện của đạo đức công vụ mà còn là thước đo tính chuyên nghiệp của ý thức pháp luật của những cán bộ, công

chức, viên chức được tham gia hoạt động giám sát

1.3.3 Yếu tố sự tham gia ủng hộ của các chủ thể chịu sự giám sát

Các đối tượng chịu sự giám sát phải thực hiện đầy đủ kế hoạch, nội dung, yêu cầu giám sát của chủ thể giám sát; cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình, trừ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước mà theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước thì chủ thể giám sát đó không thuộc diện được tiếp cận; báo cáo cho đoàn giám sát những nội dung yêu cầu của đoàn giám sát phải trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giám sát; nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm gửi nghị quyết mà mình

đã ban hành đến Ủy ban thường vụ Quốc hội chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày

ký văn bản

Ủy ban nhân dân có trách nhiệm gửi quyết định mà mình đã ban hành đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp có liên quan chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ký văn bản Cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát có trách nhiệm trực tiếp báo cáo, trình

Trang 37

bày những vấn đề mà chủ thể giám sát yêu cầu; trường hợp không thể trực tiếp báo cáo, trình bày được thì ủy quyền cho cấp phó của mình Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát có hành vi cản trở hoặc không thực hiện nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị của chủ thể giám sát thì chủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đó Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, chủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu

sự giám sát và người có liên quan

Tuy nhiên, chủ thể chịu sự giám sát tham gia đảm bảo tính khách quan trong công tác giám sát của HĐND, giúp chủ thể chịu sự giám sát hiện thực hóa địa vị pháp lý cũng như thể hiện nguyện vọng chính đáng, phát huy vai trò làm chủ của mình trong công tác quản lý nhà nước Chủ thể chịu sự giám sát không chỉ có chịu chấp hành trong quá trình giám sát mà họ còn được thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo thể hiện quyền lợi của mình

Điều này thể hiện vai trò đặc biệt của chủ thể chịu sự giám sát, đồng thời xác định những nhiệm vụ mà HĐND phải thực hiện trong việc đảm bảo những điều kiện để chủ thể chịu sự giám sát được tham gia vào quản lý hành chính nhà nước

1.3.4 Yếu tố khác

Các yếu tố văn hóa, lịch sử, tập quán, truyền thống… Vấn đề đặt ra là phải biết kế thừa, vận dụng, phát huy các yếu tố tích cực, nhất là các giá trị văn hóa, truyền thống đã được kết tinh qua nhiều thời kỳ và hạn chế những yếu tố tiêu cực, lạc hậu làm cản trở quá trình hiện đại hóa nền hành chính nhà nước Đặc biệt sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và quá trình hội nhập quốc tế Sự phát triển của khoa học, công nghệ và quá trình hội nhập quốc tế đang tạo ra những thay đổi trong tư duy và phương pháp tổ chức quản

lý trên quy mô toàn xã hội

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Ở chương 1 này, trên cơ sở phân tích làm rõ nội dung của giám sát ở nhiều lĩnh vực và ngành khác nhau, cùng với những phân tích chức năng nhiệm vụ nhất là quyền giám sát của HĐND tỉnh đã được quy định trong Luật

Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015

Bên cạnh đó, Luận văn đã cố gắng phân tích bám sát những được nội dung và bản chất giám sát của HĐND và những mục đích cần đạt được trong hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân, qua đó cũng đã phân tích một cách sâu sắc về những hình thức giám sát của HĐND tỉnh và cũng xác định để chủ thể giám sát thực hiện đúng nội dung và đạt được mục đích, yêu cầu đề ra thì trong giám sát của HĐND cấp tỉnh cần tuân thủ tốt các hình thức giám sát đó

Luận văn cũng đi sâu vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giám sát của HĐND tỉnh, qua đó làm sang tỏ hơn về nội dung và bản chất của giám sát của HĐND

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG

NHÂN DÂN TỈNH TẠI TỈNH GIA LAI

2.1 Khái quát về giới thiệu về kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội,

cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai

2.1.1 Khái quát về giới thiệu về kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai

Gia Lai là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở phía Bắc vùng Tây Nguyên, phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, phía Nam giáp tỉnh Đăk Lăk, phía Tây giáp nước bạn Campuchia, phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum Gia Lai có khí hậu nhiệt đới gió mùa Cao Nguyên, trong năm chia làm

2 mùa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Vùng Tây Trường sơn có lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.200 đến 2.500 mm, vùng Đông Trường Sơn từ 1.200 đến 1.750 mm ; Có nhiều sông hồ với trữ năng lý thuyết khoảng 10,5 đến 11 tỷ kwh, nhiệt độ trung bình năm từ 2200C đến 2500C, khí hậu Gia Lai nhìn chung thích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp, kinh doanh tổng hợp nông lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc

Tỉnh có diện tích tự nhiên 15.536,9 km2, với 7 nhóm đất khác nhau, phù hợp với nhiều loại cây trồng; trong đó nhóm đất Bazan có 386.000 ha Dân số trung bình là: 1.213.000 người, trong đó dân tộc kinh: 618.630 người chiếm 51%, các dân tộc khác: 594.370 người chiếm 49% Tốc độ tăng dân số tự nhiên: 1,75%, số người trong độ tuổi lao động : 624.931 người

Gia Lai có 17 đơn vị hành chính bao gồm: Thành phố Pleiku, thị xã An Khê, thị xã AyunPa và 14 huyện Trong đó, thành phố Pleiku là trung tâm

Trang 40

kinh tế, chính trị, văn hoá và thương mại của tỉnh, nơi hội tụ của 2 quốc lộ chiến lược của vùng Tây Nguyên là quốc lộ 14 theo hướng Bắc Nam và quốc

lộ 19 theo hướng Đông Tây, là điều kiện thuận lợi để giao lưu phát triển kinh tế-xã hội với vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, cả nước và quốc tế

Cơ sở hạ tầng: Gia Lai có 90km đường biên giới chung với Campuchia,

có cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh, sân bay pleiku, một số nhà máy thủy điện lớn: nhà máy thuỷ điện IaLy, Sê san 3A… đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.Gia Lai có vị trí khá thuận lợi về giao thông, với 3 trục quốc lộ: quốc lộ 14 nối Gia Lai với các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Tây Nguyên với Tp.Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ vùng Đồng bằng sông Cửu Long, quốc lộ 19 nối tỉnh với cảng Quy Nhơn và Campuchia, quốc lộ 25 nối Gia Lai với tỉnh Phú Yên và Duyên Hải Miền Trung

Gia Lai nằm ở vị trí trung tâm của khu vực, là cửa ngõ đi ra biển của phần lớn các tỉnh trong khu vực, nên đây là điều kiện để cùng các tỉnh bạn đẩy mạnh hợp tác phát triển và phát huy các lợi thế vốn có của mình nhằm tăng năng lực sản xuất và hạ tầng kinh tế-xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo khâu đột phá để thúc đẩy nền kinh tế phát triển đúng hướng, tạo thế cho Gia Lai trở thành vùng kinh tế động lực trong khu vực thúc đẩy các tỉnh khác trong vùng cùng phát triển Với vị trí nằm trong khu vực tam giác phát triển kinh tế Việt Nam, Lào, Campuchia cũng là lợi thế rất lớn cho Gia Lai

Với đặc điểm về vị trí địa lý trên, Gia lai có điều kiện để phát triển một nền kinh tế toàn diện Song, Gia Lai là tỉnh miền núi, người dân tộc thiểu số chiếm đa phần nên nó cũng gây những khó khăn nhất định trong việc phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh trên địa bàn Do vậy, đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên và người dân Gia Lai nói chung và tổ chức HĐND

Ngày đăng: 30/03/2020, 21:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w