VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN VIỆT DŨNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN THẾ CHẤP ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NH
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VIỆT DŨNG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN THẾ CHẤP
ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VIỆT DŨNG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN THẾ CHẤP
ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH PHÚ THỌ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng ai công bố trình bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Việt Dũng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN THẾ CHẤP ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG BẰNG PHƯƠNG THỨC TÒA ÁN 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng 71.2 Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng bằng phương thức Tòa án 131.3 Pháp luật về giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng bằng phương thức Tòa án 17
Chương 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN THẾ CHẤP BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH PHÚ THỌ 27
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế-xã hội và Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ 272.2 Khái quát chung về tình hình giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ 30
2.3 Thực trạng giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền
vay Ngân hàng tại Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ 342.4 Kết luận chung rút ra từ thực trạng giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ 44
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN THẾ CHẤP ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG 50
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án 503.2 Giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án 54
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tại Việt Nam, trước nhu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triền kinh
tế, việc tạo lập, vận hành một thị trường tài chính tiền tệ lành mạnh thông qua
hệ thống Ngân hàng, hiệu quả là một nhu cầu tất yếu Ngày nay, các Ngân hàng ở Việt Nam có nhiều loại hình hoạt động với những tên gọi khác nhau Đến cuối năm 2018, hệ thống các Ngân hàng, tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đang có tổng cộng 20 (chi nhánh Cấp 1) và 39 quỹ tín dụng nhân dân
Những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã có bước phát triển, đáng ghi nhận Hệ thống Ngân hàng và hoạt động tín dụng có những bước phát triển đột phá, góp phần quan trọng trong nền kinh tể của nước ta Mặc dù vậy, gần đây, trong hoạt động của mình, Ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn Những năm gần đây, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường nên đời sống xã hội cũng như kinh tế của người dân ngày càng được đảm bảo và nâng cao Song, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến nhiều người sống buông thả, coi trọng vật chất, xem nhẹ tình cảm Điều đó làm cho những tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng có tính quyết liệt, căng thẳng hơn, nên việc giải quyết cũng gặp nhiều khó khăn
Ở tỉnh Phú Thọ, những năm gần đây, số lượng các vụ án nói chung tại địa bàn, đặc biệt là vụ án giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án tăng nhanh về số lượng, phức tạp về nội dung, nhiều vụ tranh chấp rất gay gắt, khiếu nại kéo dài gây nhiều khó khăn cho các
cơ quan tiến hành tố tụng cũng như những người tham gia tố tụng Hầu hết các vụ án đều được giải quyết trong thời hạn luật định, thấu tình đạt lý, khách quan, được sự đồng tình của người dân Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng còn gặp nhiều vướng
Trang 6mắc, bất cập Nhằm đảm bảo tiền vay của Ngân hàng, Ngân hàng phải khởi kiện ra Tòa án nhân dân các cấp tại tỉnh Phú Thọ Trải qua quy trình tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự đó là khi chứng cứ trong các hợp đồng tín dụng đã rất cụ thể, rõ ràng Cũng cần thấy rằng, việc xét
xử của Tòa án từ cấp sơ thẩm, phúc thẩm, rồi khả năng giám đốc thẩm, tái thẩm và thi hành bản án có hiệu lực pháp luật là cả một khoảng thời gian rất dài
Nhằm có sự đánh giá tổng thể về cơ sở lý luận và thực tiễn trong hoạt động giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án ở tỉnh Phú Thọ và đánh giá những thuận lợi, khó khăn; vấn đề đảm bảo công bằng giữa lợi ích các bên trong quan hệ tín dụng; việc áp dụng pháp luật giải quyết trong việc giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng hiện nay gặp những vướng mắc gì là cần thiết và có ý
nghĩa thực tế Trước thực tế này tác giả đã lựa chọn đề tài: “Giải quyết tranh
chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn thạc sỹ là đáp ứng
yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn công tác giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân
ở tỉnh Phú Thọ cũng như hoạt động của các Ngân hàng
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian qua, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng ngày được cải cách cho phù hợp với thực tiễn Cùng với đó là việc giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng đã từng bước được xây dựng cả về cơ sở pháp lý và tổng kết thực tiễn áp dụng Với hệ thống các văn bản pháp luật về hợp đồng dân sự nói chung, hợp đồng tín dụng Ngân hàng nói riêng đã không ngừng được bổ sung, hoàn thiện Việc làm này đã giúp cho việc đảm bảo tiền vay của các ngân hàng từng bước có hiệu quả cao
Trang 7hơn, đáp ứng yêu cầu thực tế
Nhằm hạn chế sự gia tăng của tình trạng các khoản nợ không trả được, Quốc hội đã ban hành riêng một Nghị quyết về xử lý, thu hồi nợ theo Nghị quyết số 42/2017/NQ14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các Tổ chức tín dụng;
Đồng thời với đó là việc Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết
số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ tại Tòa án nhân dân
Liên quan đến việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay cho Ngân hàng, đã có nhiều công trình ở các cấp độ khác nhau nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Các công trình nghiên cứu có thể kể đến là:
- Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Hồng Yến, Đại học Luật Hà Nội, năm 2013
- Bảo đảm tiền vay ngân hàng, thực trạng và giải pháp, luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thu Hiền, Đại học Luật Hà Nội, năm 2013
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Thương về đề tài: “Xử lý nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương theo pháp luật Việt Nam” bảo vệ năm 2013 tại Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Quang Huy với đề tài: “Pháp luật
về nợ xấu trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông” bảo vệ năm 2015 tại Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Hoàn thiện pháp luật về quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng, luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Kim Thanh, Đại học Luật Hà Nội, năm 2008
Ngoài những công trình nghiên cứu ở trình độ tiến sỹ và thạc sĩ như
Trang 8đã nêu trên, có nhiều công trình nghiên cứu ở cấp độ thấp hơn, được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành luật hoặc chuyên ngành kinh tế
Đó là:
- Bài viết: “Giải quyết nợ xấu và ngăn chặn nợ xấu phát sinh” của tác giả Trần Đình Định, nguyên Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (đăng trong Tạp chí Ngân hàng 2013);
- Bài viết: “Trao đổi về giải pháp xử lý nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam
- Bài viết: “Pháp luật Việt Nam về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại: Những bất cập và hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Kiên Bích Tuyền – giảng viên Đại học Ngân hàng TP HCM, nghiên cứu sinh tại Đại học Luật TP HCM (đăng trong tạp chí Tòa án nhân dân số 18/2018)
- Bài viết: “Thế chấp tài sản – biện pháp bảo đảm thông dụng và một số vấn đề cần lưu ý” của tác giả Tưởng Duy Lượng – Nguyên Phó Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao (đăng trong tạp chí Tòa án nhân dân số 05/2019)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, pháp luật về giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp, thực tiễn giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để đảm bảo tiền Ngân hàng tại Tòa án từ thực tiễn của Tòa án nhân dân ở tỉnh Phú Thọ; từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết lĩnh vực này
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề cơ bản nhất về tranh chấp về tài sản thế
chấp và giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng bằng phương thức Tòa án;
Thứ hai, đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của những ưu
điểm, hạn chế trong thực hiện giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo
Trang 9đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân ở tỉnh Phú Thọ;
Thứ ba, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và
đảm bảo thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo
đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án; Đồng thời là các hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng khi giải quyết các vụ án
4.2.Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo
đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2015 đến nay
- Phạm vi không gian: Tòa án nhân dân ở tỉnh Phú Thọ
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
dựng nhà nước pháp quyền và về cải cách tư pháp
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tác giả vận dụng tổng hợp phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành và chuyên ngành, trong đó chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê toán học và xin ý kiến chuyên gia
Trang 106 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, luận văn góp phần phân tích đã phân tích, hệ thống hóa, làm
sáng tỏ khái niệm, đặc điểm tranh chấp về tài sản thế chấp và giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án
Về thực tiễn, trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết tranh
chấp qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ Từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng bằng phương thức Tòa án
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể vận dụng làm kinh nghiệm cho các địa phương khác, tổng kết kinh nghiệm xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân Đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các cơ sở đào tạo luật và các cơ sở đào tạo chức danh tư pháp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, nội dung của Luận văn được kết cấu theo truyền thống gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp về tài sản
thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng bằng phương thức Tòa án
Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm
tiền vay Ngân hàng qua thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực thi
pháp luật về giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
VỀ TÀI SẢN THẾ CHẤP ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG
BẰNG PHƯƠNG THỨC TÒA ÁN
1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng
1.1.1 Khái niệm
Tranh chấp phát sinh từ tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng
là một loại tranh chấp hợp đồng tín dụng (HĐTD), là tình trạng pháp lý trong quan hệ HĐTD, mà ở đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ HĐTD Tranh chấp hợp đồng khác biệt với vi phạm hợp đồng Vi phạm hợp đồng là hành vi pháp lý của các bên đã xử sự trái với các điều khoản được cam kết trong hợp đồng Còn tranh chấp hợp đồng là ý kiến không thống nhất của các bên về hành vi vi phạm đó hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ sự vi phạm đó và được thể hiện
ra bên ngoài Như vậy, có thể hiểu khái quát, tranh chấp HĐTD là những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh từ quyền và nghĩa vụ trong HĐTD giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên vay (khách hàng) Đó là những tranh chấp về lãi suất, nợ gốc, nợ lãi, việc giải ngân, xử lý tài sản đảm bảo, thế chấp…
1.1.2 Một số đặc điểm trong quan hệ tranh chấp
Tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng cũng là
một loại tranh chấp hợp đồng tín dụng (HĐTD) nói chung, do đó có đầy đủ những đặc điểm vốn có của một tranh chấp hợp đồng Tuy nhiên, với bản chất
đặc thù của tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng, tranh chấp tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng mang một số đặc trưng riêng
biệt để có thể phân biệt với các loại tranh chấp hợp đồng khác Có thể khái
Trang 12quát đặc điểm của tranh chấp tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng bằng các ý sau:
- Thứ nhất, giá trị của tranh chấp tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay
Ngân hàng thường có giá trị lớn hoặc thậm chí là rất lớn
Khi kí kết hợp đồng thì thường là do bên đi vay có nhu cầu về vốn mà không thể tự mình xoay sở được Nhu cầu đó thường là để bổ sung vốn kinh doanh đối với tổ chức hoặc vay để phát triển kinh tế đối với cá nhân, hộ gia đình Do đó, số tiền này không phải là nhỏ và dễ dàng vay được từ các tổ chức, cá nhân ngoài xã hội mà không phải là Ngân hàng
Về phía bên cho vay là Ngân hàng, bên cạnh vai trò là chủ thể cung ứng vốn cho nền kinh tế thì Ngân hàng còn đóng vai trò là người đi vay của
các chủ thể khác để cho vay lại Để đạt được lợi nhuận cao thì các Ngân hàng
thường kí kết các HĐTD có giá trị lớn dựa trên định giá tài sản đảm bảo tại thời điểm cho vay Do bên vay vốn dùng khoản vay này phần lớn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên nếu bên vay không tuân thủ các cam kết trong hợp đồng, không trả nợ cho các Ngân hàng sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của Ngân hàng đó Thực tế không hiếm các trường hợp các Ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả do “nợ xấu’ Một khi khách hàng vay không thể thanh toán được nợ, tranh chấp xảy ra thì Ngân
hàng sẽ là chủ thể bị thiệt hại lớn vì nguồn vốn bị ứ đọng, phải thực hiện các
biện pháp khắc phục, mục đích lợi nhuận ban đầu không còn hoặc bị gián đoạn Đặc biệt, nếu tranh chấp HĐTD phải khởi kiện tại Tòa án thì càng gây khó khăn cho Ngân hàng khi muốn thu hồi vốn Bởi khi đã bị khởi kiện tại Tòa án thì thường là người đi vay không còn có khả năng trả nợ cho Ngân hàng Mặt khác, khi tranh chấp HĐTD xảy ra thì Ngân hàng sẽ mất lòng tin với khách hàng vay vốn, các HĐTD tiếp theo sẽ khó mà thực hiện, kể cả khi bên đi vay chứng minh lại được khả năng tài chính của mình Do đó, có thể nói tranh chấp HĐTD là loại tranh chấp có giá trị thiệt hại lớn, không chỉ ảnh
Trang 13hưởng đến bên cho vay mà còn cả đối với bên đi vay Thậm chí nếu tranh chấp xảy ra nhiều thì ảnh hưởng đó không chỉ ảnh hưởng đến một Ngân hàng
mà có thể ảnh hưởng dây chuyền đến các Ngân hàng khác trong nền kinh tế
- Thứ hai, tranh chấp HĐTD Ngân hàng được giải quyết dựa trên
nguyên tắc tự do thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật của các bên tham gia tranh chấp
Pháp luật Việt Nam tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, cụ thể, Bộ Luật dân sự 2015 ghi nhận :“cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng” HĐTD về bản chất là hợp đồng dân sự mà quan hệ dân sự là quan hệ mang tính thỏa thuận, tự định đoạt giữa các bên Do đó, kể cả đối với việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD thì các bên cũng có quyền thỏa thuận để đạt được hiệu quả tối ưu nhất trong trường hợp có tranh chấp xảy ra Việc tôn trọng quyền định đoạt này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì quan hệ dân sự giữa các bên mang tính bình đẳng, không phải là mối quan hệ mệnh lệnh - phục tùng như các quan hệ hành chính nhà nước khác Khi các bên tham gia tranh chấp có thể thỏa thuận được với nhau thì việc giải quyết tranh chấp sẽ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi hơn, đồng thời giảm thiểu được thiệt hại về thời gian, tiền bạc, công sức của các bên Về phía các cơ quan tài phán, thi hành án thì việc thỏa thuận này cũng có ý nghĩa trong việc giảm nhẹ khối lượng, áp lực công việc trong điều kiện các tranh chấp ngày càng xảy ra nhiều
và phức tạp như hiện nay
Đặc biệt, vấn đề thỏa thuận về phương thức giải quyết tranh chấp đối với các Ngân hàng là Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng nước ngoài có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Bởi các chủ thể này khác với các Ngân hàng trong nước, chịu sự điều chỉnh của cả pháp luật nước ngoài lẫn pháp luật Việt Nam và sự khác nhau trong quy định của pháp luật giữa Việt Nam và nước khác là điều không thể tránh khỏi Vì vậy, việc cho phép, tôn trọng quyền tự
Trang 14thỏa thuận của các bên khi có tranh chấp xảy ra sẽ giảm thiểu tối đa những xung đột pháp luật có thể xảy ra trong quá trình giải quyết các tranh chấp Tuy nhiên, nguyên tắc đối với các thỏa thuận này là phải phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam
Nguyên tắc tự do thỏa thuận khi giải quyết tranh chấp giữa các bên cũng được Bộ Luật tố tụng dân sự thể hiện ở chế định hòa giải Theo đó, hòa giải là trách nhiệm của cơ quan tài phán khi có tranh chấp xảy ra và khi đó các bên có thể thỏa thuận về việc giải quyết vụ án Ngay cả trước khi diễn ra hoặc tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bên cũng vẫn có quyền thỏa thuận
về việc giải quyết tranh chấp miễn sao thỏa thuận đó phù hợp với các quy định của pháp luật
- Thứ ba, tranh chấp HĐTD luôn có sự tham gia của một bên là Ngân
hàng và phần lớn các tranh chấp HĐTD thì nguyên đơn là tổ chức tín dụng cho vay, bị đơn là bên đi vay
Với đặc thù của hoạt động tín dụng là sự cung ứng nguồn vốn đến những tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn trên cơ sở huy động của các tổ chức, cá nhân có thừa nguồn vốn trong xã hội nên Ngân hàng luôn đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ này Sự tham gia của Ngân hàng là một dấu hiệu đặc trưng nhằm phân biệt giữa tranh chấp HĐTD và tranh chấp hợp đồng vay tài sản thông thường giữa các tổ chức, cá nhân khác mà không phải là
Ngân hàng Ngân hàng
Đồng thời, về mặt lý thuyết, khi tham gia ký kết HĐTD, các Ngân hàng
và khách hàng có địa vị ngang bằng nhau tham gia thỏa thuận Nhưng với tư cách là chủ thể có nguồn vốn dồi dào, việc áp đặt các điều kiện cho vay đối với khách hàng là điều không hiếm xảy ra Hơn nữa, khi tham gia kí kết hợp đồng thì hợp đồng thường do bên cho vay là các Ngân hàng soạn thảo với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn về mặt pháp lý nhất định Trong khi đó, chủ thể đi vay là khách hàng thường là các tổ chức, cá nhân, trình độ chuyên
Trang 15môn về mặt pháp lý của họ còn thấp và nhiều khi không được chú trọng đúng mức Và như vậy là hợp đồng được kí kết với các điều khoản chặt chẽ nhằm bảo đảm cho quyền lợi của Ngân hàng khi bên vay không trả nợ hay trả không đúng nghĩa vụ Do đó, khi tranh chấp xảy ra thì Ngân hàng luôn nắm đằng chuôi với các điều khoản được ghi nhận một cách chặt chẽ, rõ ràng trong hợp đồng được sự đồng thuận của cả hai bên Vì vậy, nếu có tranh chấp xảy ra thì là do bên đi vay vi phạm, chứ ít khi Ngân hàng lại vi phạm chính những điều khoản do chính mình soạn thảo
Mặt khác, trong mối quan hệ HĐTD, các nghĩa vụ chính của bên đi vay thường phát sinh sau thời điểm giải ngân Trong khi đó, tại thời điểm hoàn tất việc giải ngân cho khách hàng thì Ngân hàng đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình Các nghĩa vụ khác của bên cho vay như bảo mật thông tin, lưu trữ hồ
sơ tín dụng, nghĩa vụ thông báo, bảo quản tài sản bảo đảm, giải chấp tài sản đảm bảo là ít quan trọng và là nghĩa vụ phát sinh từ quyền của bên vay Vì lý
do đó nên nếu có tranh chấp xảy ra thì thường là do bên vay vi phạm nghĩa vụ của mình, rất hiếm gặp trường hợp bên đi vay khởi kiện Ngân hàng
- Thứ tư, đa phần các tranh chấp liên quan đến HĐTD Ngân hàng chính
là các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn, lãi của bên vay cho Ngân hàng, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong HĐTD
Có rất nhiều loại tranh chấp phát sinh từ HĐTD như: tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện HĐTD, tranh chấp liên quan đến bảo lãnh vay vốn, tranh chấp liên quan đến mục đích sử dụng vốn vay Tuy nhiên, tranh chấp xảy ra nhiều nhất là tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo đảm Sở dĩ như vậy là bởi vì những nghĩa vụ này chính là những nghĩa vụ chính nhất, đóng vai trò nòng cốt trong quá trình thực hiện HĐTD của các bên và việc thực hiện này có tác động trực tiếp đến quyền lợi của Ngân hàng Các tranh chấp khác cũng có tác động đến các
Trang 16Ngân hàng nhưng không phải là cơ bản nên ít xảy ra hơn so với tranh chấp về nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi hay tranh chấp về lãi suất, về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
- Thứ năm, tranh chấp HĐTD Ngân hàng thường là tiền đề làm phát
sinh và gắn liền với một quan hệ hợp đồng khác: hợp đồng bảo đảm tiền vay thông qua hình thức cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Các Ngân hàng khi tham gia vào HĐTD đều có mục đích lợi nhuận từ việc cho vay đó vì bản chất của Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền
tệ Để giảm thiểu rủi ro trong trường hợp bên vay không trả được nợ, thông thường Ngân hàng chỉ đồng ý cho bên đi vay được vay vốn khi họ có cầm cố, thế chấp bằng tài sản hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba Các biện pháp bảo đảm này đóng vai trò là phương pháp dự phòng của Ngân hàng khi rủi ro xảy
ra Khi đó, để đảm bảo cho nghĩa vụ được đảm bảo trong HĐTD thì các bên
kí kết hợp đồng bảo đảm cho khoản vay Tùy trường hợp mà đó có thể là hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp hay là dưới hình thức chứng thư bảo lãnh của bên thứ ba Những điều khoản về quyền và nghĩa vụ trong các hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn là để bảo đảm cho việc vay vốn, xuất phát từ hợp đồng tín dụng đã được kí kết và mục đích cuối cùng là bảo đảm cho việc trả nợ của bên đi vay
Như vậy, không có trường hợp nào, hợp đồng bảo đảm lại tách rời ra khỏi HĐTD với tư cách là một hợp đồng độc lập mà giữa chúng luôn có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau Có thể ví mối quan hệ này như là mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ Sự vô hiệu loại hợp đồng này
có ảnh hưởng đến loại hợp đồng kia tùy trường hợp “Trong trường hợp hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng thì giao dịch bảo đảm chấm dứt, nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Ngược lại, “giao dịch bảo đảm vô hiệu
Trang 17không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Như vậy, có thể khẳng định rằng tranh chấp HĐTD, với tư cách là hợp đồng chính, luôn gắn liền và làm cơ sở phát sinh tranh chấp hợp đồng bảo đảm - hợp đồng phụ trong quan hệ tín dụng giữa các bên
- Thứ sáu, tranh chấp HĐTD phát sinh từ sự xung đột về lợi ích giữa
các bên tham gia tranh chấp
Vì tranh chấp HĐTD cũng là một loại tranh chấp hợp đồng nên phải xuất phát từ xung đột lợi ích của các bên trong hợp đồng Mặc dù vậy trong quan hệ dân sự, pháp luật hiện hành quy định một số cơ quan đoàn thể có thể khởi kiện để đảm bảo quyền lợi cho tổ chức, cá nhân khác mà không phải là lợi ích của chính cơ quan, đoàn thể đó Tuy nhiên, đối với tranh chấp phát sinh từ HĐTD thì chỉ có chính các bên hay người đại diện hợp pháp của họ mới có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên đi vay hay Ngân hàng Không có trường hợp nào mà tranh chấp HĐTD phát sinh do
tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia HĐTD Như vậy, tranh chấp phát sinh từ HĐTD chỉ phát sinh khi các bên khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ tín dụng, hay nói cách khác, tranh chấp HĐTD thường gắn liền với lợi ích của các bên tranh chấp
1.2 Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp
để bảo đảm tiền vay Ngân hàng bằng phương thức Tòa án
1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp
Giải quyết tranh chấp, theo Từ điển Tiếng Việt (1992) được hiểu là làm cho các xung đột, bất đồng không còn thành vấn đề nữa Khi xảy ra tranh chấp các chủ thể thường lựa chọn, sử dụng một hoặc một số phương thức phù hợp để giải quyết tranh chấp của mình Việc chủ thể lựa chọn phương thức nào để giải quyết tranh chấp để đảm bảo phù hợp và mang lại kết quả như mong đợi còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Bởi đối với mỗi loại tranh chấp có
Trang 18các phương thức giải quyết khác nhau, bản thân mỗi phương thức lại có những đặc trưng riêng, được thực hiện bằng các quy tắc, hình thức và thủ tục của nó Chính vì vậy, mỗi phương thức giải quyết tranh chấp đều có những ưu điểm và hạn chế của mình
Để lựa chọn được phương thức giải quyết phù với với mục tiêu đạt được, bản chất tranh chấp, mối quan hệ làm ăn giữa các bên, thời gian và chi phí dành cho việc giải quyết tranh chấp đòi hỏi các bên phải hiểu rõ bản chất
và cân nhắc các ưu điểm, nhược điểm của từng phương thức Tuy nhiên, dù là phương thức giải quyết tranh chấp nào cũng phải đảm bảo quyền bình đẳng, quyền tự định đoạt của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật
1.2.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng bằng phương thức tòa án
Trên thế giới, tùy thuộc vào quan điểm, tư tưởng của các nhà lập pháp của từng quốc gia mà luật pháp mỗi nước có những quy định khác nhau về vấn đề giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD Ngân hàng Mặc dù vậy, hầu hết các quốc gia đều thừa nhận các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD Ngân hàng nói riêng bao gồm: thương lượng; hòa giải; trọng tài thương mại
và toà án
Thực tế cho thấy, mỗi hình thức giải quyết tranh chấp nói trên đều có những lợi thế và đồng thời cũng thể hiện những điểm hạn chế nhất định Tùy thuộc vào tính chất của tranh chấp, mức độ phức tạp của tranh chấp, khả năng
và điều kiện cụ thể của các bên mà các chủ thể tranh chấp có thể lựa chọn hình thức này hay hình thức khác, hoặc sử dụng phối hợp nhiều hình thức khác nhau nhằm giải quyết tranh chấp đạt hiệu quả cao nhất
Việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD thông qua khởi kiện tại Tòa án thường được xem là hình thức cuối cùng mà
Trang 19các bên lựa chọn trong trường hợp thương lượng hoặc hòa giải không thành công Việc phải nhờ đến quyền lực nhà nước để giải quyết mâu thuẫn là khi các bên đã áp dụng các hình thức giải quyết tranh chấp khác nhưng không đạt được kết quả và các bên không còn phương án lựa chọn nào khác
Toà án là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính cưỡng chế cao, được thực hiện tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Toà
án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước Chính điều này đã tạo nên ưu điểm hơn hẳn của phương thức này đối với các phương thức khác đó là tố tụng chặt chẽ và tính khả thi của hiệu lực phán quyết
Việc giải quyết tranh chấp bằng Tòa án không phụ thuộc thỏa thuận của các bên Luật quy định, Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở
có thẩm quyền giải quyết, trừ trường hợp các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn giải quyết tranh chấp theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 39
về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Ưu điểm:
- Ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án là: Do Tòa án là cơ quan xét xử của Nhà nước nên phán quyết của Tòa án có tính cưỡng chế cao nhất Nếu các bên không chấp hành bản án, quyết định của tòa
án thì sẽ bị cưỡng chế thi hành, quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo tuyệt đối nếu như bên thua kiện có tài sản để thi hành án
- Thông thường chi phí để giải quyết một tranh chấp hợp đồng của Tòa
án sẽ thấp hơn so với trọng tài
- Trình tự tố tụng nghiêm ngặt, chặt chẽ theo quy định của pháp luật
- Nguyên tắc xét xử công khai có tính răn đe đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật
Trang 20- Các Tòa án, đại diện cho chủ quyền quốc gia, có điều kiện tốt hơn các trọng tài viên trong việc tiến hành điều tra, có quyền cưỡng chế, triệu tập bên thứ
ba đến Tòa
- Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án có nhiều cấp xét xử cũng có cái hay
là khả năng sửa sai nếu bản án của một cấp xét xử có sai sót Ngược lại, một khi trọng tài đã ra phán quyết, cho dù có sai sót đi chăng nữa cũng chịu vì phán quyết đó có giá trị chung thẩm và có hiệu lực thi hành ngay
- Các bên không phải trả thù lao cho thẩm phán, ngoài ra chi phí hành chính rất hợp lý
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, hình thức giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án còn có những hạn chế như:
- Hạn chế của phương thức này là thủ tục tại Tòa án thường thiếu linh hoạt, trình tự tố tụng kéo dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh một cách bình thường của các bên chủ thể tranh chấp
- Bên cạnh đó, nguyên tắc xét xử công khai được xem là tiến bộ, mang tính răn đe nhưng lại là cản trở đối với doanh nhân và doanh nghiệp khi những bí mật kinh doanh bị tiết lộ Dù tranh chấp xuất phát từ bên cho vay hay từ bên vay thì việc bị công khai sai phạm là điều mà các bên chủ thể hoàn toàn không mong muốn
- Phán quyết của Tòa án có thể bị kháng cáo dẫn đến vụ tranh chấp bị kéo dài Quá trình tố tụng có thể bị trì hoãn và kéo dài, có thể phải qua nhiều cấp xét
xử, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, kinh doanh
- Đối với các tranh chấp HĐTD có yếu tố nước ngoài thì phán quyết của Tòa án thường khó đạt được sự công nhận quốc tế, vì luật các nước quy định khác nhau Phán quyết của Tòa án được công nhận tại một nước khác thường thông qua hiệp định song phương hoặc theo nguyên tắc rất nghiêm ngặt
Trang 21Mặc khác, mặc dù Thẩm phán quốc gia có thể khách quan, họ vẫn phải buộc sử dụng ngôn ngữ và áp dụng quy tắc tố tụng của quốc gia họ và thường cùng quốc tịch với một bên
1.3 Pháp luật về giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng bằng phương thức Tòa án
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thủ tục tố tụng
để giải quyết các vụ án dân sự nói chung và vụ án tranh chấp tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng nói riêng của Toà án được thực hiện theo trình
tự, thủ tục sau đây:
1.3.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án
Khởi kiện đó việc Ngân hàng, tổ chức tín dụng có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án về tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án
Sau khi nhận được đơn khởi kiện, Thẩm phán được Chánh án phân công tiến hành kiểm tra các vấn đề về quyền khởi kiện, phạm vi khởi kiện, hình thức, nội dung đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện theo quy định từ Điều 186 đến Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 Trường hợp cần sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện thì thông báo cho Ngân hàng biết để họ sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 193 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Trường hợp phải trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện cho Ngân hàng biết
Việc thụ lý vụ án là việc Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của chủ thể khởi kiện và ghi sổ thụ lý vụ án của Tòa án
Do vậy, thụ lý vụ án là hành vi tố tụng đầu tiên của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nói chung cũng như vụ án liên quan đến tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng Thụ lý vụ án là cơ sở để xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự Việc Tòa án thụ lý kịp thời vụ án sẽ
Trang 22tránh kéo dài hành vi trây ỳ, trốn tránh việc trả nợ, bảo vệ kịp thời, tối đa những lợi ích hợp pháp của Ngân hàng và những người liên quan
1.3.2 Tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ
Theo quy định tại Điều 91 và Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 thì trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự đặc biệt là vụ án về giải quyết tranh chấp tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng thì Ngân hàng, tổ chức tín dụng có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, nếu Ngân hàng, tổ chức tín dụng không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh Tuy nhiên, do trình độ hiểu biết pháp luật và dân trí của xã hội chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế nên nhiều đương sự chưa nắm bắt được các quy định của pháp luật về nghĩa vụ chứng minh hoặc vì nhiều lý do khách quan họ không thể tự mình thu thập chứng cứ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình Do vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ sau đây:
“a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng;
c) Trưng cầu giám định;
d) Định giá tài sản;
đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ;
e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự;
h) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú; i) Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật này” [2]
Trang 23Ngoài các biện pháp thu thập chứng cứ nêu trên, theo quy định từ Điều
111 đến Điều 142 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2014 trong trường hợp cần thiết theo yêu cầu của đương sự hoặc Tòa án có thể tự mình ra quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án
1.3.3 Thủ tục hòa giải và chuẩn bị xét xử
Hòa giải là để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ
án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 thì hòa giải là nguyên tắc cơ bản của việc giải quyết vụ án dân
sự, là chế định quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự Hòa giải trong giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng rất quan trọng Nếu việc giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng thì việc hòa giải trước tiên sẽ giúp cho các bên thỏa thuận được những vấn đề phát sinh về việc trả nợ gốc,lãi cho Ngân hàng hay việc không
bị lãi phạt Đồng thời giúp cho bên có tài sản thế chấp không phải bán hay có điều kiện lấy lại tài sản đã thế chấp
Khi tiến hành hòa giải Tòa án phải tuân thủ theo các nguyên tắc tiến hành hòa giải, trình tự theo quy định tại Điều 205, Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Thông qua việc tiếp cận, công khai chứng cứ, các đương sự thực hiện quyền của mình trong đó có việc tranh tụng Tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong vụ án dân sự là một thủ tục bắt buộc Khi Tòa án tiến hành hòa giải, đương sự có quyền và nghĩa vụ tham gia phiên hòa giải để trình bày ý kiến của mình về những nội dung tranh chấp liên quan đến tài sản thế chấp và đề xuất những vấn đề cần hòa giải Sau khi đương sự đã trình bày xong ý kiến của mình
Trang 24thì Thẩm phán sẽ xác định lại những vấn đề các bên đã thống nhất, vấn đề chưa thống nhất thì yêu cầu đương sự trình bày bổ sung, sau đó Thẩm phán kết luận cuối cùng Việc hòa giải phải lập biên bản, có chữ ký của các bên
Sau khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn
bộ vụ án thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành, biên bản này phải gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải Các đương sự có quyền thay đổi ý kiến
về vấn đề thỏa thuận trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, hết thời hạn 7 ngày nếu không có đương sự nào thay đổi ý kiến về việc thỏa thuận thì Thẩm phán sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Nội dung hòa giải chỉ có giá trị pháp lý đối với những đương sự có mặt tại phiên hòa giải Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự có hiệu lực pháp luật ngay không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Nếu việc hòa giải không thành, Thẩm phán sẽ ra quyết định đưa vụ án
ra xét xử
1.3.4 Xét xử tại phiên tòa
Nếu Tòa án hòa giải không thành, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về những vấn đề đang tranh chấp về việc trả tiền vay Ngân hàng thì Tòa án sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử
sơ thẩm các vụ án được quy định tại Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Tòa án nhân dân cấp huyện xét xử sơ thẩm các vụ án được quy
định tại Điều 35, Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng bao gồm các bước sau đây:
1.3.4.1 Phần khai mạc phiên toà
Khai mạc phiên tòa là thủ tục bắt buộc phải thực hiện trước khi Hội đồng xét xử tiến hành xét xử Việc thực hiện khai mạc phiên tòa được thực hiện theo quy định tại Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Trang 25+ Xem xét về đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch của đương sự nếu đương sự có yêu cầu và có căn cứ
để thay đổi người tiến hành tố tụng
+ Xem xét, quyết định việc hoãn phiên toà khi có người vắng mặt được thực hiện theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Điều
241 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án phải hoãn phiên tòa thì Chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu
có người đề nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định, có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận, trường hợp không chấp nhận phải nêu lý do
1.3.4.2 Phần thủ tục hỏi tại phiên toà
Khi bắt đầu thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán sẽ hỏi nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình hay không Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự vẫn có thể rút, thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ, việc thay đổi, bổ sung không được vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu
Theo quy định tại Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì sau khi đã hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung yêu cầu, chủ tọa phiên tòa sẽ hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án không, nếu họ tự nguyện thỏa thuận và sự thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra công nhận sự thỏa thuận đó Trường hợp nếu các đương sự không thỏa thuận được và vẫn giữ nguyên yêu cầu thì Hội đồng xét xử bắt đầu xét xử bằng việc yêu cầu đương sự trình bày ý kiến của mình theo thứ tự bắt đầu từ nguyên đơn, tiếp đến là bị đơn, cuối cùng là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nếu các đương sự có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp sẽ trình bày thay đương sự (phiên tòa sơ thẩm)
Thứ tự hỏi tại phiên tòa sơ thẩm như sau:
Trang 26a) Sau khi nghe lời trình bày của đương sự, việc hỏi từng người về từng vấn đề được thực hiện theo thứ tự: Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hỏi trước, tiếp đến bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, sau đó là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
b) Những người tham gia tố tụng khác;
c) Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân;
d) Kiểm sát viên tham gia phiên tòa
Sau khi đã hỏi các đương sự, Thẩm phán sẽ công bố các tài liệu, chứng
cứ của vụ án, cho nghe hoặc xem băng, đĩa ghi âm, ghi hình tại phiên tòa theo quy định của pháp luật
1.3.4.3 Phần thủ tục tranh luận tại phiên toà
Tranh luận là việc các bên trình bày, đưa ra quan điểm của mình về chứng cứ, pháp luật cần áp dụng và đề xuất đường lối giải quyết vụ án Trình
tự phát biểu tranh luận tại phiên toà sơ thẩm như sau:
Đầu tiên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn (Đối với vụ án có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn) sẽ phát biểu trước, sau đó là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, cuối cùng là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các đương sự có quyền bổ sung ý kiến Người tham gia tranh luận có quyền đối đáp lại ý kiến của người khác, chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận trừ trường hợp đương sự tranh luận những vấn đề không liên quan đến vụ án [17, Điều 260, Điều 261]
Sau khi kết thúc phần tranh luận nếu có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, xem xét chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận; sau khi hỏi xong phải tiếp tục tranh luận (Điều 263 và Điều 307 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) Quy định này nhằm khắc phục tình huống khi đã tranh luận xong nhưng có nhiều tình tiết của vụ án
Trang 27chưa được làm rõ Quy định này cũng khẳng định rằng Tòa án chỉ quyết định các vấn đề của vụ án khi các tình tiết, sự kiện của vụ án đã được làm sáng tỏ
Sau khi những người tham gia tố tụng tranh luận xong thì đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến quan điểm về việc giải quyết vụ án (Trên cơ sở về mặt thủ tục tố tụng và nội dung vụ án) Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án [17, Điều 262]
1.3.4.4 Nghị án và tuyên án
Nghị án là việc Hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án trên cơ sở kết quả hỏi và tranh luận tại phiên tòa.Việc nghị án được tiến hành theo quy định tại Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Khi nghị án mà thấy chứng cứ, tài liệu chưa đủ thì Hội đồng quyết định xét hỏi, tranh luận lại [17, Điều 265]
Khi tuyên án, có thể chủ tọa hoặc một thành viên Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án Khi tuyên đọc xong có thể giải thích thêm về quyền kháng cáo, về việc thi hành án và quyền được yêu cầu không công bố bản án trên cổng thông tin điện tử của Tòa án những nội dung liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh
1.3.5.Thủ tục phúc thẩm (Từ Điều 270 đến Điều 315 Bộ luật tố tụng
dân sự)
1.3.5.1 Tính chất của xét xử phúc thẩm và kháng cáo, kháng nghị bản
án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ
án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
bị kháng cáo, kháng nghị
1.3.5.2 Chuẩn bị để xét xử phúc thẩm
Thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm Sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và tài liệu chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành vào sổ và thụ lý vụ án
Trang 28Nhận tài liệu, chứng cứ do đương sự xuất trình mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yầu giao nộp nhưng đương sự chưa cung cấp, giao nộp vì có lý do chính đáng;
Mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm
Ra các quyết định: Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm; Đình chỉ xét xử phúc thẩm; Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm
1.3.5.3 Thủ tục phiên tòa phúc thẩm
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã kháng nghị sẽ trình bày trước, sau đó các đương sự có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trình bày [17, Điều 247, Điều 302]
Trình tự phát biểu tranh luận tại phiên toà phúc thẩm (chỉ được tranh luận về những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm và đã được hỏi tại phiên tòa phúc thẩm) theo Điều 305 Bộ luật Tố tụng dân sự, được thực hiện theo thứ tự:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo trình bày, người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tranh luận, đối đáp Đương sự có quyền bổ sung ý kiến
Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu các đương sự tranh luận về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án
Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phát biểu về tính hợp pháp, tính có căn cứ của kháng nghị Đương sự có quyền bổ sung ý kiến
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về những vấn đề mà người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự đã nêu
Sau khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn
Trang 29phúc thẩm Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án [17, Điều 306]
1.3.5.4 Nghị án và tuyên án
Nghị án là việc Hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án trên cơ sở kết quả hỏi và tranh luận tại phiên tòa.Việc nghị án được tiến hành theo quy định tại Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Khi nghị án mà thấy chứng cứ, tài liệu chưa đủ thì Hội đồng quyết định hỏi, tranh luận lại [17, Điều 307]
Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền:
1 Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
2 Sửa bản án sơ thẩm;
3 Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ
vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án lại theo thủ tục sơ thẩm;
4 Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án;
Khi tuyên án, có thể chủ tọa hoặc một thành viên Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án [17, Điều 313]
Ngoài ra tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ còn tiến hành thủ tục phúc thẩm đối với quyết định của 13 Tòa án cấp huyện, thành phố, thị xã bị kháng cáo, kháng nghị (Việc giải quyết được thực hiện theo Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015)
Trang 30Đối với Phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án còn thường xuyên tiến hành kiểm tra đối với những bản án, quyết định của 13 Tòa án cấp huyện, thành phố, thị xã đã có hiệu lực pháp luật Qúa trình kiểm tra nếu phát hiện thấy có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng thì làm văn bản trình Chánh
án tỉnh Phú Thọ kiến nghị lên Tòa án nhân dân cấp cao tiến hành xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm theo Thẩm quyền
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, luận văn tập trung luận giải những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp tài sản tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng Luận văn đã đưa ra khái niệm, đặc điểm tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng và khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp tài sản tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng
Đồng thời luận giải những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp tài sản tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng bằng phương thức Tòa án phải tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo đúng trình tự: Thụ lý vụ án và thông báo về việc thụ lý vụ án; Xác minh, thu thập chứng cứ; Thủ tục hòa giải, chuẩn bị xét xử; Xét xử tại phiên tòa (Khai mạc phiên toà; Thủ tục hỏi tại phiên toà; Thủ tục tranh luận tại phiên toà; Nghị án và tuyên án) Ngoài ra, còn có những vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm sau khi có kháng cáo của các đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát để giải quyết các vụ án giải quyết tranh chấp tài sản tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng khi chưa đảm bảo quyền lợi cho các đương
sự ở giai đoạn sơ thẩm Đây là cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng và
đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục giải quyết tranh chấp về tài sản tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án trong những chương tiếp sau
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN
THẾ CHẤP BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH PHÚ THỌ
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế-xã hội và Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ
Tỉnh Phú Thọ có diện tích tự nhiên 3533 km2 với vị trí nằm ở vùng tiếp giáp giữa miền núi và đồng bằng Bắc Bộ, nằm trên trục hành lang kinh tế Hải Phòng – Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh; phía Bắc giáp Tuyên Quang, Yên Bái; Đông giáp Vĩnh Phúc, Hà Nội; Tây giáp Sơn La; Nam giáp Hòa Bình Tỉnh Phú Thọ cách trung tâm thành phố Hà Nội 80 km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 50km, cách cảng Hải Phòng 160km và cách cửa khẩu Lào Cai và Hà Giang 240km
Về địa hình, tỉnh Phú Thọ nằm trong vùng trung du Bắc Bộ Có tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai thác khoảng sản và phát triển kinh tế trang trại
Về khí hậu, tỉnh Phú Thọ thuộc vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có nhiều đặc điểm gần với vùng đồng bằng Bắc Bộ, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ không khí trung bình 23,40 Lượng mưa ngày lớn nhất 701,2 mm, trung bình năm 1.800mm
Số giờ nắng trung bình năm 3000 giờ
Tổng dân số có mặt tại Tỉnh Phú Thọ khoảng 1.463.726 người (thời điểm 1/4/2019, dân số tạm trú bao gồm dân nhập cư, học sinh, sinh viên và lao động tại các nhà máy, xí nghiệp 769.400 người Cơ cấu dân số thành thị 18,1%, nông thôn chiếm 81,9% Lao động trong độ tuổi chiếm 58%; lao động tham gia vào nền kinh tế quốc dân qua đào tạo nghề có chứng chỉ trở lên chiếm 22,7% số lao động trong nền kinh tế quốc dân
Trang 32Trong giai đoạn 2015-2019, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh đạt mức 32,5%, cao hơn 11% so giai đoạn 2010-2015 và đạt mức cao nhất từ trước đến nay Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng Công nghiệp - Xây dựng, Thương mại - Dịch vụ Năm 2018, cơ cấu kinh tế các ngành Công nghiệp - Xây dựng là 37,86%; Thương mại - Dịch vụ: 40,57%; Nông lâm nghiệp và Thuỷ sản: 21,57%
Tỉnh Phú Thọ có 13 huyện, thành, thị bao gồm: Thành phố Việt Trì, thị
xã Phú Thọ, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Sơn, Tân Sơn, Thanh Thủy, Cẩm Khê, Yên Lập, Thanh Ba, Hạ Hòa, Đoan Hùng và Phù Ninh
Tỉnh hiện có gần 7.360 doanh nghiệp với hơn 769.400 lao động, có 02 trường Đại học, 03 viện nghiên cứu, 05 trường cao đẳng, 08 trường dạy nghề
Năm 2018 tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 7,4%, hoàn thành xoá xong nhà tạm cho hộ nghèo Giải quyết việc làm cho 16.261 người Có thêm 33 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia
Kết cấu hạ tầng được đầu tư và phát triển, 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm; 100% số xã có điện lưới quốc gia; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở ; 100%
số trạm y tế xã có bác sỹ và 100% thôn bản có cán bộ y tế; 93,6% hộ dân được dùng nước sạch
Tỉnh Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc đang vươn mình là một trung tâm về văn hoá, khoa học kỹ thuật và trung tâm văn hoá xã hội khu vực Tây Bắc
2.1.2 Khái quát về Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ
Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ trực thuộc hệ thống Tòa án nhân dân (Hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Phú Thọ gồm 13 đơn vị Tòa án nhân dân cấp huyện, thị, thành phố trực thuộc và 03 Tòa chuyên trách, 3 đơn vị giúp việc – bộ phận hành chính tư pháp thuộc Tòa án nhân dân tỉnh)
Trang 33Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ hiện có 48 công chức và người lao động, trong đó có 10 Thẩm phán trung cấp; có 96,7% cán bộ, công chức có trình độ Đại học trở lên (trong đó, 12,5% là trình độ trên đại học); 100% cán bộ lãnh đạo Tòa, Thẩm phán có trình độ cao cấp lý luận chính trị Thái độ, tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân và tính chuyên nghiệp trong tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, công chức ngày càng được nâng cao [22, tr.1]
Với chức năng, nhiệm vụ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm các vụ việc và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật Đồng thời thực hiện việc kiến nghị khi phát hiện bản án – quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có vi phạm lên Tòa án nhân dân cấp cao thực hiện quyền giám đốc thẩm, tái thẩm
Từ khi thành lập đến nay, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã không ngừng được xây dựng và hoàn thiện để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ xét xử và thực hiện quyền tư pháp, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo, chủ động, tích cực khắc phục mọi khó khăn, đổi mới toàn diện các mặt công tác, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, vì công lý, vì nhân dân
Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Phú Thọ hiện có 234 công chức và người lao động gồm có Tòa án nhân dân tỉnh và 13 đơn vị Tòa án nhân dân cấp huyện, thị, thành phố trực thuộc; Trong đó có 01 Thẩm phán cao cấp, 29 Thẩm phán trung cấp, 47 Thẩm phán sơ cấp Về trình độ chuyên môn thạc sỹ
là 29 người, cử nhân là 164 người; trình độ lý luận chính trị cao cấp là 46 người, trung cấp là 66 người, sơ cấp là 85 người; 100% cán bộ lãnh đạo Tòa, phòng, Thẩm phán thuộc Tòa án nhân dân tỉnh và Chánh án, Phó chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện có trình độ cao cấp lý luận chính trị Thái độ, tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân và tính chuyên nghiệp trong tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, công chức của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Phú Thọ ngày càng được nâng cao; nhiều Thẩm phán được công nhận là “Thẩm phán giỏi”, “Thẩm phán mẫu mực” [22, tr.1]
Trang 34Đối với Tòa án nhân dân cấp huyện chức năng, nhiệm vụ xét xử sơ thẩm các vụ việc và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật Từ khi thành lập đến nay, các Tòa án nhân dân cấp huyện đã không ngừng được xây dựng và hoàn thiện để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ xét xử và thực hiện quyền tư pháp, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo, chủ động, tích cực khắc phục mọi khó khăn, đổi mới toàn diện các mặt công tác, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, vì công lý, vì nhân dân
Với sự cống hiến, nỗ lực không ngừng cùng những thành tích đã đạt được, nhiều tập thể Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Phú Thọ cùng nhiều cá nhân
đã vinh dự được Chính phủ, Tòa án nhân dân Tối cao, Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Thọ trao tặng những danh hiệu cao quý như: Huân chương lao động hạng Nhất, Nhì, Ba, Cờ thi đua, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Cờ thi đua ngành, Cờ thi đua UBND tỉnh, Kỷ niệm chương Hùng Vương, ; Đối với Tòa
án nhân dân tỉnh Phú Thọ được Tỉnh ủy tỉnh Phú Thọ tặng bức trướng với 8 chữ vàng: "Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư"
2.2 Khái quát chung về tình hình giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ
Cùng với sự phát triển của kinh tế và quá trình hội nhập thì các vụ án dân sự nói chung trong đó có tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng ngày càng có chiều hướng gia tăng Do nhu cầu nguồn vốn để tạo động lực thúc đẩy nên kinh tế Việt Nam theo nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa của Nhà nước Dẫn đến, tranh chấp tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên
mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung Tranh chấp về tài sản tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng chủ yếu là xác định trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ thể đi vay vốn của Ngân hàng, xác định giá trị tài sản thế chấp, người bảo lãnh, quyền sử dụng đất và nhà ở Trong những năm gần đây, các vụ án dân sự về tranh chấp tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng
Trang 35mà Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết hàng năm tăng về
số lượng (khoảng hơn 450 vụ việc/năm) và rất phức tạp về nội dung tranh chấp Việc giải quyết với số lượng lớn tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng đòi hỏi sự cố gắng và nỗ lực không ngừng của đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án cùng toàn thể cán bộ công chức và
người lao động của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Phú Thọ
Tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án về dân sự nói chung và tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015-2018 thể hiện như sau:
Năm 2015, tổng số vụ việc Dân sự (dân sự, hôn nhân gia đình, kinh
doanh thương mại, lao động) thụ lý 3.948 vụ, 64 việc, đã giải quyết, xét xử
3.492 vụ, 47 việc của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Phú Thọ; trong đó tranh
chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng là 351 vụ việc, chiếm 8,75% tổng số vụ việc dân sự đã thụ lý; Đã giải quyết được 309 vụ, việc đạt
tỷ lệ 88,03%, trong đó hòa giải thành là 79 vụ, việc đạt tỷ lệ 19,09%
Đối với Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tổng số vụ việc là 215 vụ việc,
trong đó tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng là 27 vụ việc, chiếm 12,55% tổng số vụ việc dân sự đã thụ lý Trong đó án sơ thẩm là 07
vụ, việc và án phúc thẩm là 20 vụ, việc Đã giải quyết được 24 vụ, việc đạt tỷ lệ 88,9%, (Án sơ thẩm là 05 vụ và án phúc thẩm là 19 vụ) trong đó hòa giải thành
là 02 vụ; Kết quả xét xử phúc thẩm: Hủy án sơ thẩm 02 vụ, sửa án sơ thẩm 06
vụ, giữ nguyên án sơ thẩm là 11; Có 02 vụ kháng cáo và 05 vụ có khiếu nại lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội (Kết quả: Sửa 01 vụ án sơ thẩm và hủy cả bản án phúc thẩm và sơ thẩm theo trình tự giám đốc thẩm 03 vụ)
Năm 2016, tổng số vụ việc Dân sự (dân sự, hôn nhân gia đình, kinh
doanh thương mại, lao động) thụ lý 4.097 vụ, 79 việc, đã giải quyết, xét xử
3.689 vụ, 68việc của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Phú Thọ; trong đó tranh
chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng là 365 vụ việc, chiếm
Trang 368,74% tổng số vụ việc dân sự đã thụ lý, đã giải quyết được 315 vụ, việc đạt tỷ
lệ 86,3%, trong đó hòa giải thành là 69 vụ, việc đạt tỷ lệ 21,9%
Đối với Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tổng số vụ việc là 226 vụ việc, trong đó tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng là 29 vụ việc, chiếm 12,83% tổng số vụ việc dân sự đã thụ lý Trong đó án sơ thẩm là 11
vụ, việc và án phúc thẩm là 18 vụ, việc Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã giải quyết được 23 vụ, việc đạt tỷ lệ 79,3%, (Án sơ thẩm là 08 vụ và án phúc thẩm là
15 vụ) trong đó hòa giải thành là 03 vụ, việc đạt tỷ lệ 13,04%; Kết quả xét xử phúc thẩm: Hủy án sơ thẩm 01 vụ, sửa án sơ thẩm 04 vụ, giữ nguyên án sơ thẩm
là 10 vụ; Có 03 vụ kháng cáo và 06 vụ có khiếu nại lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội (Kết quả: Sửa 01 vụ án sơ thẩm, hủy án sơ thẩm 01 vụ và hủy cả bản
án phúc thẩm và sơ thẩm theo trình tự giám đốc thẩm 02 vụ)
Năm 2017, tổng số vụ việc Dân sự (dân sự, hôn nhân gia đình, kinh
doanh thương mại, lao động) thụ lý 4.133 vụ, 59 việc, đã giải quyết, xét xử
3.793 vụ, 46 việc của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Phú Thọ; trong đó tranh
chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng là 371 vụ việc, chiếm 8,85% tổng số vụ việc dân sự đã thụ lý, đã giải quyết được 319 vụ, việc đạt tỷ
lệ 85,98%, trong đó hòa giải thành là 63 vụ, việc đạt tỷ lệ 19,7%
Đối với Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tổng số vụ việc là 238 vụ việc, trong đó tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng là 31 vụ việc, chiếm 13,02% tổng số vụ việc dân sự đã thụ lý (Trong đó án sơ thẩm là 08
vụ, việc và án phúc thẩm là 23 vụ, việc) Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã giải quyết được 25 vụ, việc đạt tỷ lệ 80,6% (Án sơ thẩm là 06 vụ và án phúc thẩm là
19 vụ), trong đó hòa giải thành là 02 vụ, việc đạt tỷ lệ 6,45% Kết quả xét xử phúc thẩm: Hủy án sơ thẩm 01 vụ, sửa án sơ thẩm 08 vụ, giữ nguyên án sơ thẩm
là 10 vụ; Có 03 vụ kháng cáo và 06 vụ có khiếu nại lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội (Kết quả: Sửa 01 vụ án sơ thẩm, hủy án sơ thẩm 01 vụ và hủy cả bản
án phúc thẩm và sơ thẩm theo trình tự giám đốc thẩm 02 vụ)
Trang 37Năm 2018, tổng số vụ việc Dân sự (dân sự, hôn nhân gia đình, kinh
doanh thương mại, lao động) thụ lý 4.948 vụ, 81 việc, đã giải quyết, xét xử
4.193 vụ, 67 việc của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Phú Thọ; trong đó tranh
chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng là 374 vụ việc, chiếm 7,4% tổng số vụ việc dân sự đã thụ lý, đã giải quyết được 322 vụ, việc đạt tỷ
lệ 86,09%, trong đó hòa giải thành là 69 vụ, việc đạt tỷ lệ 18,44%
Đối với Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tổng số vụ việc là 316 vụ việc,
trong đó tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng là 34 vụ việc, chiếm 10,75% tổng số vụ việc dân sự đã thụ lý (Trong đó án sơ thẩm là
09 vụ, việc và án phúc thẩm là 25 vụ, việc Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã giải quyết được 27 vụ, việc đạt tỷ lệ 79,4% trong đó hòa giải thành là 03 vụ, việc đạt tỷ lệ 11,1% (Án sơ thẩm là 07 vụ và án phúc thẩm là 18 vụ), trong
đó hòa giải thành là 02 vụ, việc đạt tỷ lệ 5,88% Kết quả xét xử phúc thẩm: Sửa án sơ thẩm 04 vụ, giữ nguyên án sơ thẩm là 14 vụ; Có 03 vụ kháng cáo
và 07 vụ có khiếu nại lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội (Kết quả: Sửa
01 vụ án sơ thẩm, hủy án sơ thẩm 01 vụ và hủy cả bản án phúc thẩm và sơ thẩm theo trình tự giám đốc thẩm 02 vụ)
Như vậy, có thể thấy rằng, số lượng vụ việc dân sự mà Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết trong đó có tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng chiếm tỷ lệ khoảng 8,4% tổng số vụ việc dân sự (gồm dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động)
và ngày càng tăng Tuy nhiên, theo Báo cáo tổng kết hàng năm của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thì tỷ lệ hòa giải thành trong vụ án dân sự có tranh chấp về tài sản sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng đạt tỷ lệ thấp (năm
2015 là 19,09%; năm 2016 là 21,9%; năm 2017 là 19,7%; năm 2018 là 18,44% Điều này cho thấy những tranh chấp về tài sản sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng rất phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến người có tài sản thế chấp phải thi hành, nên tỷ lệ hòa giải thành không cao
Trang 382.3 Thực trạng giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm
tiền vay Ngân hàng tại Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ
Qua thực tiễn xét xử cho thấy, về cơ bản các Thẩm phán đã áp dụng đầy đủ những quy định pháp luật để giải quyết các tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng nên tỷ lệ giải quyết án dân sự nói chung đạt trên 86% (Năm 2015: 88,03%; Năm 2016: 86,3%; Năm 2017: 85,98%; Năm 2018: 86,09% [22, tr.4])
Trải qua quá trình Ngân hàng và các khách hàng đi vay cung cấp chứng
cứ cùng với việc thu thập chứng cứ của Tòa án thì việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là một bước quan trọng mà Tòa án phải thực hiện Nếu hòa giải thành, Tòa án sẽ không phải mở phiên tòa, giảm thời gian, chi phí cho các bên tranh chấp, ngoài ra hòa giải thành sẽ giúp hạn chế tới mức tối đa
sự mâu thuẫn trong quan hệ giữa Ngân hàng với các khách hàng đi vay dẫn đến khả năng thi hành án cao Phần lớn Thẩm phán hiểu được việc xác minh thu thập chứng cứ là một thủ tục quan trọng trong quyết định đến chất lượng của bản án, quyết định, còn hòa giải là một phương thức để giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng mang lại hiệu quả cao Tuy nhiên tỷ lệ hòa giải thành đối với các vụ án tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Phú Thọ chưa đạt kết quả cao chỉ khoảng hơn 19%: Cụ thể, năm 2015 có 79 vụ, việc hòa giải thành đạt tỷ lệ 19,09%; Năm 2016 có 69 vụ, việc hòa giải thành đạt tỷ lệ 21,9%; Năm 2017 có 63 vụ, việc hòa giải thành đạt tỷ lệ 19,7%; Năm 2018 có
69 vụ, việc đạt tỷ lệ 18,44% Do vậy việc đảm bảo tiền vay Ngân hàng bằng biện pháp hòa giải chưa thực sự có hiệu quả cao
Các vụ án tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng được đưa ra xét xử đều được thu thập đầy đủ chứng cứ, việc hòa giải cũng được các Thẩm phán tiến hành với mục đích bảo đảm tiền vay cho Ngân hàng Tuy nhiên có nhiều vụ án bị hủy, sửa hoặc sau khi khiếu nại dẫn đến
Trang 39hủy sửa cả án sơ thẩm và án phúc thẩm do sai sót về phần thu thập chứng cứ hoặc đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ chính xác cũng như việc đưa thiếu người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng, cụ thể như sau: Năm 2015 Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã phải hủy 01 vụ án sơ thẩm và sửa án sơ thẩm 03 vụ của Tòa án nhân dân cấp huyện; Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã sửa 01 vụ án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ và hủy cả bản
án phúc thẩm và sơ thẩm theo trình tự giám đốc thẩm 02 vụ Năm 2016 Tòa
án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã phải hủy 01 vụ án sơ thẩm và sửa án sơ thẩm 03
vụ của Tòa án nhân dân cấp huyện; Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã sửa 01 vụ án sơ thẩm, hủy án sơ thẩm 01 vụ của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ và hủy cả bản án phúc thẩm và sơ thẩm theo trình tự giám đốc thẩm 02
vụ Năm 2017 Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã hủy 01 vụ án sơ thẩm và sửa
án sơ thẩm 04 vụ của Tòa án nhân dân cấp huyện; Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã sửa 01 vụ án sơ thẩm, hủy án sơ thẩm 01 vụ của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ và hủy cả bản án phúc thẩm và sơ thẩm theo trình tự giám đốc thẩm 02 vụ Năm 2018 Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã sửa 04 vụ án sơ thẩm; Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã sửa 01 vụ án sơ thẩm, hủy án sơ thẩm 01 vụ của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ và hủy cả bản án phúc thẩm và
sơ thẩm theo trình tự giám đốc thẩm 02 vụ [22, tr.4]
Theo quy định tại Điều 68, Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 106, Điều 101 Bộ luật dân sự năm 2015 thì khi giải quyết tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của hộ gia đình Toà án cần phải đưa các thành viên trong gia đình tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản có tài sản bảo đảm (thường là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất) là tài sản chung của vợ chồng hoặc
là tài sản của hộ gia đình nhưng Tòa án chưa xác minh, làm rõ tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hộ gia đình này gồm những
Trang 40ai để đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không đúng các quy định nêu trên
Ví dụ: Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2016/KDTM-ST
ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Quân đội với bị đơn là ông Trương B, chủ Doanh nghiệp tư nhân Trương B
Theo quy định tại Điều Điều 68, Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 106, Điều 101 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 317, Điều 320 Bộ luật dân sự năm 2015, phải đưa người thế chấp tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và xem xét trách nhiệm của người thế chấp Đối với Hợp đồng thế chấp tài sản của người thứ ba để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự, khi giải quyết tranh chấp Hợp đồng tín dụng có tài sản bảo đảm Toà án không đưa người thế chấp tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không đúng với các quy định nêu trên
Khi giải quyết các vụ án liên quan đến tài sản thế chấp, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét thực tế có ai sinh sống trên đất là tài sản được thế chấp
để đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là có thiếu sót
Theo quy định tại Điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và
đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ
lý, giải quyết theo thủ tục chung.”