Khái niệm dự trữ bắt buộc, vai trò của dự trữ bắt buộc trong kinh tế. So sánh dự trữ bắt buộc với các loại dự trữ khác trong kinh tế.......................................................................................................................
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
BÀI TẬP TIỂU LUẬN MÔN NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI I
Đề tài: Tìm hiểu về dự trữ bắt buộc và vai trò của dự trữ bắt buộc So sánh dự trữ bắt buộc với các loại dự trữ khác trong kinh tế
Họ và tên: Mạc Thị Ngọc Loan
MSV:A30991
Lớp: QB30h1
Khoa: Tài chính – Ngân Hàng
Trang 2MỤC LỤC
Chương I: Phần mở đầu 3
1.1: Đề tài tiểu luận 3
1.2: Mục đích nghiên cứu 3
Chương II: Nội dung 3
1 Khái niệm dự trữ bắt buộc 3
2 So sánh dự trữ bắt buộc với các dạng dự trữ khác trong nền kinh tế 4
2.1 Các loại dự trữ trong nền kinh tế 4
2.2 So sánh các loại dự trữ 4
2.3.Vai trò của dự trữ bắt buộc 5
2.3.1.DTBB với tiềm năng tín dụng của các ngân hàng: 5
2.3.2.DTBB và lãi suất: 5
2.3.3DTBB và khối lượng tiền cung ứng 6
2.3.4.Tạo thu nhập cho NHTW 6
2.3.5.Bình ổn lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng 7
2.3.6.Kiểm soát tăng tưởng tiền tệ 7
Trang 3Chương I: Phần mở đầu
1.1: Đề tài tiểu luận
Tiểu luận tìm hiểu về nội dung của dự trữ bắt buộc, và vai trò của dự trữ bắt buộc
1.2: Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích làm rõ vè nội dung, ý nghĩa của dự trữ bắt buộc Sự giống và khách nhau cơ bản của dự trữ bắt buộc và các loại dự trữ khác Tìm hiểu và làm rõ các vai trò của dự trữ bắt buộc.
Chương II: Nội dung
1 Khái niệm dự trữ bắt buộc
- Dự trữ (reserves) là số tiền gửi mà các ngân hàng thương mại giữ lại để
đáp ứng yêu cầu dự trữ của ngân hàng trung ương (thường gọi là dự trữ bắt buộc) và nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng.
- Dự trữ bắt buộc (reserve requirements) là lượng tiền tính theo tỷ lệ
quy định của NHNH trong từng thời kỳ bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn của cả đồng nội tệ và ngoại tệ Và NHTM phải duy trì trên tài khoản của NHNN.
- Nếu có ngân hàng thương mại nào bị phạm việc dự trữ thấp hơn tỷ lệ DTBB sẽ phải chịu phạt theo quy định.
- Trước đây, DTBB nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho TCTD trước nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng và do đó hạn chế rủi ro thanh khoản cho cả
hệ thống Tuy nhiên, theo thời gian ý nghĩa này giảm dần vì cho dù TCTD có duy trì một mức DTBB lớn bao nhiêu thì khi rủi ro thanh khoản xảy ra, mức dự trữ này cũng không thể giúp TCTD chống đỡ được nguy cơ phá sản Mặt khác, TCTD cũng không thể duy trì một mức DTBB quá lớn vì đặc điểm của DTBB
là không sinh lời, DTBB càng cao thì lợi nhuận của TCTD càng giảm, điều này
đi ngược lại mục tiêu hoạt động vì lợi nhuận của TCTD Bên cạnh đó, sự phát triển của công nghệ ngân hàng luôn cho phép Các TCTD có thể sử dụng đa dạng các hình thức bảo hiểm rủi ro mà không cần phụ thuộc quá nhiều vào dự trữ tiền mặt Chính vì vậy hiện nay các nước thường duy trì một tỷ lệ DTBB thấp.
Trang 42 So sánh dự trữ bắt buộc với các dạng dự trữ khác trong nền kinh tế 2.1 Các loại dự trữ trong nền kinh tế
-dự trữ vượt mức là số tiền dự trữ vượt quá mức dự trữ bắt buộc do ngân
hàng trung ương quy định mà các ngân hàng thương mại phải chấp hành Thông thường, các ngân hàng thương mại giữ lại một phần dự trữ này để đáp ứng nhu cầu rút tiền mặt hàng ngày của khách hàng và tìm cách cho vay hết số còn lại Nếu các ngân hàng không cho vay hết vì không tìm được người vay, chúng ta nói họ có dự trữ dư thừa.
- Dự trữ ngoại hối nhà nước, thường gọi tắt là dự trữ ngoại
hối hoặc dự trữ ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà ngân hàng trung ương hoặc cơ
quan có trách nhiệm về tiền tệ của một quốc gia hay lãnh thổ nắm giữ Đây
là một loại tài sản của Nhà nước được cất giữ dưới dạng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh như: Dollar Mỹ, Euro, Yên Nhật, v.v ) nhằm mục
đích thanh toán quốc tế hoặc hỗ trợ giá trị đồng tiền quốc gia.
2.2 So sánh các loại dự trữ
Dự trữ bắt buộc Dự trữ vượt mức Dự trữ ngoại hối Định nghĩa Là lượng tiền tệ
mà NHTM phải duy trì trong tài khoản của ngân hàng nhà nước theo quy định
Là số tiền dự trữ vượt mức dự trữ bắt buộc do ngân hàng trung ương quy định mà các ngân hàng
thương mại phải chấp hành.
Là lượng ngoại thệ mà ngân hàng trung ương hoặc cơ quan có trách nhiệm về tiền tệ quốc gia hay lãnh thổ nắm dữ
là Dollar Mỹ, Euro, Yên nhật, )
2.3.1.DTBB với tiềm năng tín dụng của các ngân hàng:
Khi tỷ lệ DTBB thay đổi, nó trực tiếp tác động đến nguồn vốn khả dụng của mỗi ngân hàng Với tổng số nguồn tiền gửi huy động được, tỷ lệ DTBB càng thấp thì phần chênh lệch còn lại - vốn khả dụng của bản thân ngân hàng này càng cao, khả năng cho vay ra của ngân hàng càng lớn và ngược lại Bên cạnh đó, mỗi động tác cấp
Trang 5tín dụng cho một đối tượng nào đó thông qua chuyển khoản của ngân hàng , hoạt động này mở ra một nguồn vốn mới cho một ngân hàng kế tiếp, sự tiếp tục của quá trình này chính là quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng làm cho tổng nguồn có thể cho vay của toàn hệ thống được nhân lên nhiều lần so với số tiền gửi ban đầu, mức độ được nhân lên chính là hệ số nhân tiền Qua đó cho thấy, tỷ lệ DTBB có quan hệ chặt chẽ với nguồn vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, vốn khả dụng chỉ thể hiện được tiềm năng tín dụng, còn thực sự nó có làm cho khối lượng tín dụng tăng lên hay không lại phụ thuộc vào thái độ sẵn sàng cấp tín dụng của các ngân hàng và nhu cầu tín dụng của nền kinh tế
2.3.2.DTBB và lãi suất:
NHTW tăng tỷ lệ DTBB thì vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng giảm Khả năng cho vay đối với nền kinh tế của các tổ chức tín dụng giảm dẫn đến cung vốn giảm Khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng giảm dẫn đến MS giảm
NHTW giảm tỷ lệ DTBB thì vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng tăng làm cho cung vốn tăng, MS tăng tác động này làm cho lãi suất thị trường giảm
Thứ nhất, do DTBB có thể thu mở rộng hay thu hẹp tiềm năng tín dụng cho nên lãi suất thị trường cũng vì thế mà có thể giảm xuống hoặc tăng lên
Thứ hai, hiệu ứng của tác động trên càng tăng lên khi phần DTBB của các ngân hàng ở NHTW không được tính lãi hoặc mức lãi không đáng kể Khi DTBB tăng lên thì lãi thu được từ hoạt động cho vay giảm xuống làm giảm lợi nhuận của các NHTM Điều này được các ngân hàng khắc phục bằng cách điều chỉnh tăng lãi suất cho vay trên thị trường tín dụng
2.3.3DTBB và khối lượng tiền cung ứng
Trong điều kiện các yếu tố không đổi nếu:
Trang 6NHTW giảm các yêu cầu về DTBB (giảm tỷ lệ DTBB) dẫn đến vốn khả dụng của các TCTD tăng làm cho hệ số nhân tiền tệ tăng, cơ sở tiền tệ không thay đổi làm cho lượng tiền cung ứng tăng
NHTW tăng yêu cầu về DTBB (tăng tỷ lệ DTBB) dẫn đến vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng giảm kéo theo hệ số nhân tiền tệ giảm, cơ số tiền tệ không thay đổi, lượng tiền cung ứng m giảm
Khối lượng tiền cung ứng thay đổi là kết quả tất yếu của việc thay đổi tiềm năng tín dụng, thay đổi lãi suất trên thị trường, nó cũng là mục tiêu cuối cùng mà NHTW muốn đạt được khi điều chỉnh DTBB Tỷ lệ DTBB sẽ được nâng lên nếu NHTW thực hiện việc thắt chặt tiền tệ, hướng đến mục tiêu kiểm soát lạm phát và ngược lại, để mở rộng tiền tệ nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo thêm công ăn, việc làm cho người lao động thì NHTW sẽ hạ tỷ lệ DTBB
2.3.4.Tạo thu nhập cho NHTW
Vì tiền gửi DTBB là không được trả lãi hay trả lãi rất thấp cho các ngân hàng nên nó đã tạo ra thu nhập cho NHTW Nguồn thu từ DTBB của NHTW có thể được dùng để bù đắp vào chi phí phát hành tiền hay hoạt động của NHTW Nhìn chung khoản thu từ DTBB khá nhỏ , chỉ có những quốc gia có tỷ lệ DTBB cao mới đem lại thu nhập lớn cho NHTW và mới bù đắp được chi phí của ngân hàng
Có thể nói sự tác động của DTBB đối với khối lượng tiền trong nền kinh tế là khá toàn diện, nó tác động không chỉ đén quy mô, khối lượng tín dụng mà cả đói với lãi suất tín dụng Mức độ tác dụng không chỉ tăng hay giảm mà là thay đổi theo số lần
về tiền trong lưu thông qua công thức số nhân tiền
2.3.5.Bình ổn lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng.
Để đáp ứng các yêu cầu của công tác quản lý, các ngân hàng sẽ lập một mức dự trữ phù hợp dưới hình thức dự phòng trung bình Mức dự trữ này sẽ được quyết định trên cơ sở mức dự trữ trung bình hàng ngày của một ngân hàng Mức dự phòng cho phép các ngân hàng có thể điều hoà được những biến động về vốn khả dụng Sự thiếu cân bằng tức thời về nhu cầu tiền mặt trong chi trả có thể được bù đắp bằng một phần trong lượng dự phòng ngay trong kỳ duy trì, giảm áp lực đối với lãi suất trên thị trường Dự trữ cho thanh toán nhiều khi có thể bị thiếu hụt và lượng dự phòng trung bình sẽ bù đắp cho những thiếu hụt này Đó chính là cơ chế bình ổn lãi suất qua đêm trên thị trường tiền tệ
Trang 72.3.6.Kiểm soát tăng tưởng tiền tệ.
Trong điều kiện các công cụ gián tiếp và trực tiếp khác không phát huy được hiểu quả thì chức năng này phát huy được tác dụng của nó Nó cho phép NHTW có thể kiểm soát được khối lượng tiền gửi có thể phát hành séc mà các ngân hàng có thể tạo
ra theo mong muốn