Mục tiêu quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập Các ĐVSNCL thường cần một nguồn kinh phí đảm bảo cho hoạt động ổn định và có tích lũy để thực hiện các mục tiêu phát triển củ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LÊ HOÀNG LINH
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI VĂN PHÕNG ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LÊ HOÀNG LINH
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI VĂN PHÕNG ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Trung Thành
Hà Nội – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả nghiên cứu, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả luận văn
Lê Hoàng Linh
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG 6
DANH MỤC SƠ ĐỒ 6
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 4
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.2 Những vấn đề chung về đơn vị sự nghiệp công lập 6
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập 6
1.2.2 Phân loại các đơn vị sự nghiệp: 10
1.2.3 Vai trò của đơn vị sự nghiệp công lập 12
1.3.Quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập: 13
1.3.1 Khái niệm quản lý tài chính 13
1.3.2 Quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập 14
1.3.3 Mục tiêu quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập 15
1.3.4 Nội dung quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập 16
1.3.5 Công cụ quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập 25
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập 27
1.4.1 Chế độ, chính sách của Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập 27
1.4.2 Đặc điểm của ngành 28
1.4.3 Năng lực quản lý tài chính của ĐVSNCL 29
CHƯƠNG 2PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Phương pháp thu thập thông tin 32
2.2 Phương pháp phân tích thông tin 32
Trang 52.2.1 Phương pháp so sánh 33
2.2.2 Phương pháp thống kê và phân tích dữ liệu thống kê 34
2.2.3 Phương pháp phân tích tổng hợp 34
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI VĂN PHÕNG ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM 36
3.1.Tổng quan về Văn phòng Đài Tiếng Nói Việt Nam 36
3.1.1 Khái quát về Đài TNVN 36
3.1.2 Khái quát về Văn phòng Đài TNVN 38
3.2 Phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Văn phòng Đài Tiếng Nói Việt Nam 39
3.2.1 Thực trạng quản lý thu của Văn phòng Đài Tiếng Nói Việt Nam 40
3.2.2 Thực trạng quản lý chi của Văn phòng Đài Tiếng Nói Việt Nam 50
3.3 Đánh giá công tác quản lý tại Văn phòng Đài TNVN 81
3.3.1 Kết quả đạt được 81
3.3.2 Những mặt còn hạn chế 85
3.3.3 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính tại Văn phòng Đài TNVN 89
Chương 4MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI VĂN PHÕNG ĐÀI TNVN 93
4.1 Định hướng phát triển của Đài Tiếng Nói Việt Nam đến năm 2020 93
4.1.1 Định hướng chung trong sự nghiệp phát thanh 93
4.1.2 Định hướng trong công tác quản lý tài chính 94
4.2.1 Củng cố và mở rộng nguồn thu 95
4.2.2 Cải thiện chất lượng quản lý chi 98
4.2.3 Nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư : 99
4.2.4 Đổi mới bộ máy, cán bộ quản lý tài chính 101
4.2.5 Đầu tư cơ sở vật chất nâng cao công tác quản lý tài chính: 102
Trang 64.3 Một số kiến nghi ̣ 102
4.3.1 Kiến nghị đối với Chính Phủ và các bộ, ngành liên quan 102
4.3.2 Kiến nghị với Đài TNVN 103
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa
1 ĐVSNCL Đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 Tổng hợp nguồn thu của Văn phòng Đài TNVN 41
2 Bảng 3.2 Tổng hợp nguồn thu sự nghiệp và hoạt động sản
xuất kinh doanh của Văn phòng Đài TNVN 47
3 Bảng 3.3
Danh mục các cơ sở nhà, Văn Phòng Đài TNVN đang quản lý, sử dụng cho thuê tính đến hết 31/12/2018
49
4 Bảng 3.4
Danh mục một số hợp đồng cho thuê cơ sở vật chất của Văn Phòng Đài TNVN đang thực hiện tính đến 31/12/2018
49
5 Bảng 3.5 Tổng hợp chi thường xuyên của Văn phòng Đài
6 Bảng 3.6
Số lượng cán bộ công chức viên chức và lao động hợp đồng nhận lương tại Văn Phòng Đài TNVN tính đến 31/12/2018
55
7 Bảng 3.7
Tổng hợp lương, thù lao quản lý phí và thu nhập tăng thêm Văn phòng Đài TNVN đã chi trả trong giai đoạn 2014-2018
58
8 Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả tinh giảm bộ máy của Văn
phòng Đài TNVN giai đoạn từ năm 2015 – 2018 60
9 Bảng 3.9
Tổng hợp một số nội dung chi thường xuyên khác tại Văn phòng Đài TNVN đã chi trả trong giai đoạn 2014-2018
65
10 Bảng 3.10 Tổng hợp các dự án đầu tư trong giai đoạn 2006–
Trang 9Kế hoạch giải ngân vốn đầu tƣ của các dự án đầu
tƣ nổi bật tại Văn phòng Đài TNVN trong giai đoạn 2006 – 2018
78
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
2 Sơ đồ 3.2 Cơ cấu tổ chức quản lý thực hiện các dự án của
3 Sơ đồ 3.3 Mối quan hệ trong xây dựng kế hoạch vốn đầu tƣ 71
Trang 11LỜIMỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) là cơ quan trực thuộc Chính phủ, có chức năng thông tin, tuyên truyền các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Đó là nhiệm vụ chính trị vô cùng quan trọng đồng thời đây cũng là nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng và Nhà nước giao cho Đài TNVN
Toàn bộ công tác quản lý tài chính, mua sắm tập trung, xây dựng cơ bản,… của khối quản lý đangđược Lãnh đạo ĐàiTNVN giao cho Văn phòng Đài TNVN trực tiếp phụ trách Văn phòng Đài TNVN là đơn vị có chức năng tham mưu giúp Lãnh đạo Đài về công tác QLTC, sử dụng vốn ngân sách nhà nước
Với chủ trương xóa bỏ cơ chế quản lý bao cấp nhằm phát huy quyền chủ động, tính sáng tạo, khai thác tối đa nguồn lực tài chính của các đơn vị trong khối hành chính sự nghiệp tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội Cơ chế QLTC mới gắn trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ khi sử dụng nguồn lực của Nhà nước, huy động nội lực để bù đắp nguồn ngân sách Nhà nước ở một số lĩnh vực hoạt động sự nghiệp Xuất phát từ yêu cầu này của Nhà nước, Văn Phòng Đài TNVN đang trong quá trình nâng cao công tác QLTC, tuy nhiên công tác QLTC vẫn còn một số tồn tại như nguồn thu của Văn Phòng Đài vẫn còn ở mức rất thấp, các khoản chi vẫn còn bị trùng lặp, các DAĐT chưa hoàn thiện đúng tiến độ thi công làm tăng chi phí phát sinh…
Với những lý do trên, trong thời gian làm việc thực tế tại Văn phòng Đài TNVN cùng với kiến thức đã học và qua nghiên cứu tài liệu, tác giả đã lựa
chọn đề tài: “Quản lý tài chính tại Văn phòng Đài Tiếng Nói Việt Nam” làm
đề tài luận văn thạc sỹ
Trang 122 Câu hỏi nghiên cứu
1 Khái niệm, nội dung quản lý tài chính
2 Thực trạng quản lý tài chính tại Văn Phòng Đài TNVN hiện nay ra sao?
3 Làm thế nào để tăng cường quản lý tài chính của Văn Phòng Đài TNVN?
3 Mục tiêu nghiêncứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn được thực hiện nhằm đưa ra giải pháp tăng cường quản lý tài chính của Văn phòng Đài Tiếng Nói Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những lý luận chung về quản lý tài chínhtại một đơn vị sự nghiệp công lập
Phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Văn phòng Đài TNVN trong thời gian qua Từ đó, đánh giá công tác quản lý tài chính của Văn phòng nhằm phát hiện những hạn chế và nguyên nhân khắc phục
Đưa ra các giải pháp nhằmtăng cường quản lý tài chính tại Văn phòng Đài TNVN trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiêncứu: Quản lý tài chính
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập như quản
lý thu và chi
Về không gian: Tại Văn phòng Đài TNVN
Về thời gian: Đề tài phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính từ năm 2014-2018
5.Kết cấu của luậnvăn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục bảng biểu và đồ thị, kết cấu của luận văn gồm 4
Trang 13chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cở sở lý luận về quản
lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý tài chính tại Văn phòng Đài Tiếng Nói Việt Nam
Chương 4: Giải pháp tăng cường quản lý tài chính tại Văn phòng Đài Tiếng Nói Việt Nam
Trang 14Chương1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀQUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
“Cơ chế quản lý tài chính tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương” của Th.s Nguyễn Thị Hạnh, năm 2015, trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN Đề tài nghiên cứu về cơ chế quản lý tài chính đặc thù, các nguồn kinh phí đảm bảo và các khoản cho chi cho đơn vị sự nghiệp công lập có thu và vấn đề đổi mới cơ chế QLTC tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung Ương Đề tài chũng đưa ra các kiến nghị đề xuất trong công tác hoàn thiện cơ chế QLTC đối với đơn vị
“Đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động khoa học xã hội ở Việt Nam”,ThS Đỗ Diệu Hương, năm 2018, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Đề tài nghiên cứu về sự cần thiết phải tiến hành đổi mới chính sách và
cơ chế QLTC trong quá trình phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam Đề tài
đề xuất định hướng và giải pháp nhằm đổi mới chính sách và cơ chế QLTCcho các ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ
“Hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường đại học công lập tự chủ tài chính trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của Th.s Nguyễn Tấn Lượng,
Trang 15năm 2011, trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu: Tác giả đã đưa ra các nội dung quản lý tài chính trong các trường đại học công lập như là:
- Quản lý các nguồn lực tài chính;
- Quản lý sử dụng các nguồn lực tài chính;
- Quản lý trích lập và sử dụng các quỹ
Thêm vào đó, tác giả còn đưa ra được kinh nghiệm QLTC tại một số trường đại học trên thế giới Từ thực trạng trong việc QLTC tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế QLTC như sau:
- Hoàn thiện phương thức giao ngân sách cho giáo dục đại học;
- Nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác QLTC như thường xuyên cho đi bồi dưỡng các khóa nghiệp vụ nâng cao, tham quan học hỏi kinh nghiệm QLTC của các trường đại học trên thế giới;
- Tăng cường công tác hạch toán kế toán đi đôi với công khai tài chính Qua nghiên cứu luận văn này, tôi tham khảo được cách phân tích thực trạng QLTC tại đơn vị có nguồn thu từ ngân sách nhà nước
Từ đó, đánh giá cơ cấu phân bổ ngân sách trong đơn vị thực sự hợp lý hay không và đưa ra các kiến nghị
“Quản lý tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học“, luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hương, năm 2014 Luận án
đề cập đến những vấn đề lý thuyết cơ bản về QLTC đối với các ĐVSNCL nói chung và các trường đại học công lập nói riêng Luận án phân tích đánh giá thực trạng QLTC tại Đại học Quốc gia Hà Nội và đề xuất các định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả QLTC tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học
Các công trình nghiên cứu nói trên đều nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau về tài chính công, quản lý tài chính công, cải cách tài chính công;
Trang 16chính sách và cơ chế quản lý tài chính công trong các đơn vị sự nghiệp công lập Mỗi đơn vị khác nhau lại có phương thức QLTC khác nhau Chẳng hạn như, QLTC trong doanh nghiệp nhà nước lại khác với QLTC trong cơ quan hành chính nhà nước Hay QLTC trong các cơ quan hành chính nhà nước cũng lại có sự khác biệt rõ rệt với QLTC trong ĐVSNCL Do đó, các đơn vị cần có những giải pháp QLTC cho riêng mình, phụ thuộc vào đặc thù của từng đơn vị, điều kiện môi trường, các yếu tố văn hóa, xã hội ở địa phương…
1.2 Những vấn đề chung về đơn vị sự nghiệp công lập
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập
1.2.1.1 Khái niệm:
Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị được cơ quan nhà có thẩm quyền quyết định thành lập, để thực hiện một số chức năng nhiệm vụ do Nhà nước giao, trong đó chủ yếu là cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho xã hội Trong quá trình hoạt động, ĐVSNCL được Nhà nước cho phép thu một số loại phí, lệ phí, được tiến hành hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức
Đơn vị sự nghiệp công lập có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng Hoạt động của ĐVSNCL có những điểm khác với cơ quan hành chính nhà nước
Cơ quan hành chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của mình, cung ứng các dịch vụ hành chính công Đây là trách nhiệm và nghĩa vụ của bộ máy Nhà nước với nhân dân và chỉ có Nhà nước mới có đủ thẩm quyền thực hiện chức năng đó Nhà nước với tư cách là một tổ chức công quyền phải có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ này cho nhân dân, còn người dân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước dưới hình thức thuế
Quan hệ trao đổi các dịch vụ hành chính công không phản ánh quan hệ thị trường một cách đầy đủ: người sử dụng dịch vụ có thể trả một phần hoặc không phải trả tiền cho việc sử dụng dịch vụ đó khi hưởng thụ
Trang 17Trong khi đó, do dịch vụ của ĐVSNCL cung ứng có thể có sự tham gia cạnh tranh của khu vực tư nhân nên các đơn vị này được phép khai thác và
mở rộng nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của mình, người sử dụng dịch
vụ có thể phải chi trả cho việc sử dụng dịch vụ nên hình thành quan hệ mua bán, trao đổi
1.2.1.2 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập
Hoạt động của các ĐVSNCL có những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Hoạt động sự nghiệp có xu hướng cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ công cộng:
Hoạt động sự nghiệp chủ yếu hướng tới nâng cao kiến thức, kỹ năng, các giá trị văn hóa, khoa học, nghệ thuật Những kết quả đó thường rất khó đánh giá được giá trị bằng tiền, nhưng lại mang ý nghĩa góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế - xã hội nói chung, tăng năng lực sản xuất của đất nước, nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân, tăng phúc lợi xã hội, tạo hiệu ứng tích cực cho các lĩnh vực khác
Hơn nữa, những lợi ích đó không chỉ phục vụ cho người hưởng thụ trực tiếp mà còn dành cho cả những người khác Nhiều sản phẩm, dịch vụ của các ĐVSNCL có giá trị sử dụng tăng thêm khi người sử dụng tăng lên trong khi chi phí không thay đổi, chẳng hạn như hệ thống chiếu sáng công cộng, các chương trình phát thanh, truyền hình
Các hàng hóa, dịch vụ công cộng một khi đã được cung cấp ra thì thường khó hoặc không thể ngăn cản một hoặc một số người nào đó tiếp cận những hàng hóa, dịch vụ đó, nghĩa là bất kỳ ai cũng có thể tiếp cận với chúng nếu muốn
Do vậy, nhà nước cần phải đứng ra cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cộng với số lượng và chất lượng ngày một cao hơn để đảm bảo công bằng và tiến bộ cho xã hội Nhờ những sản phẩm, dịch vụ công cộng do hoạt
Trang 18động sự nghiệp tạo ra mà quá trình sản xuất của cải vật chất của xã hội được thuận lợi và hiệu quả hơn
Hoạt động sự nghiệp y tế, giáo dục - đào tạo, thể dục - thể thao giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Hoạt động sự nghiệp khoa học, văn hóa, văn nghệ mang lại những hiểu biết cho người dân về tự nhiên, xã hội, làm phong phú thêm đời sống tinh thần, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống
- Hoạt động sự nghiệp không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp Trong con mắt của các nhà quản lý tài chính, chi tiêu của các đơn vị này là mất
đi, không thu hồi lại được, mặc dù các đơn vị này vẫn tính khấu hao tài sản cố định Trong quá trình hoạt động, các ĐVSN được nhà nước trang trải kinh phí đáp ứng nhu cầu chi tiêu hoặc được bổ sung kinh phí từ các nguồn khác
- Hoạt động của các ĐVSNCL rất đa dạng, bắt nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế thị trường Mục đích hoạt động của các ĐVNS là phục vụ lợi ích của xã hội Trong quá trình cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cho xã hội, các ĐVSNCL được phép tạo lập nguồn thu thông qua các khoản thu phí và các khoản thu từ cung ứng dịch vụ công do nhà nước quy định để bổ sung nguồn kinh phí trang trải cho các khoản chi tiêu
Quản lý tài chính ở các ĐVSNCL phải tuân thủ theo những quy định pháp lý của nhà nước Tùy theo đặc điểm tạo lập nguồn thu của các ĐVSNCL, nhà nước áp dụng các cơ chế tài chính thích hợp để ĐVSNCL thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Trong xu hướng cải cách khu vực công hiện nay, nhà nước thực hiện đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các ĐVSNCL theo hướng nâng cao quyền tự chủ tài chính của họ nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công phục vụ xã hội
- ĐVSNCL có những đặc điểm khác với cơ quan hành chính:
Trang 19Cơ quan hành chính là những tổ chức cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho người dân khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình Các dịch vụ hành chính công được cung cấp theo luật định, với chất lượng đồng nhất cho mọi người tiêu dùng và được chi trả trực tiếp bằng NSNN
Dịch vụ hành chính công là chức năng của cơ quan hành chính nhà nước, là trách nhiệm và nghĩa vụ của bộ máy nhà nước với nhân dân và chỉ có nhà nước có đủ thẩm quyền thực hiện chức năng đó Nhà nước với tư cách là
tổ chức công quyền phải có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ này cho người dân, còn người dân có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước dưới hình thức thuế
Quan hệ trao đổi các dịch vụ hành chính công không phản ánh quan hệ thị trường mà phản ánh quan hệ nghĩa vụ của nhà nước, phương tiện thực hiện nghĩa vụ do xã hội công dân cung cấp Người sử dụng dịch vụ có thể trả một phần hoặc không phải trả tiền cho việc sử dụng dịch vụ công đó, nhưng phải đóng thuế để chi trả cho chúng
Chính vì vậy, các cơ quan hành chính chỉ được tự chủ tài chính trong phần kinh phí NSNN cấp, không được tự do mở rộng dịch vụ và nguồn thu Trong khi đó, dịch vụ của ĐVSNCL cung cấp có thể cạnh tranh với khu vực
tư nhân và cung ứng theo nhu cầu nên các đơn vị này được phép khai thác và
mở rộng nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của mình Đặc điểm này cho phép ĐVSNCL có thể hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính
- ĐVSNCL có những điểm khác với doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ nói chung:
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tuân thủ nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận bằng cách tự bù đắp chi phí và có lãi Doanh nghiệp phải hoạt động theo quy luật thị trường ĐVSN không đặt nặng nguyên tắc tối
đa hóa lợi nhuận và không hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường
Trang 20Lĩnh vực sự nghiệp công tạo ra những sản phẩm đặc biệt vừa mang tính phục vụ chính trị - xã hội, vừa mang tính hàng hóa đòi hỏi phải bù đắp chi phí Những đơn vị tạo ra các sản phẩm, dịch vụ đó càng không thể hạch toán
lỗ, lãi đơn thuần bởi sản phẩm, dịch vụ đó thuộc chức năng phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội Mặt khác, mỗi sản phẩm, dịch vụ này đều mang trong nó giá trị đã hao phí để tạo ra nó Để tái sản xuất giản đơn, các ĐVSNCL phải thu từ NSNN và từ chi trả của người thụ hưởng sản phẩm, dịch vụ
Hiệu quả hoạt động của các ĐVSNCL không đơn thuần đo lường được bằng tiền, mà thường được tính bằng các giá trị phi tiền tệ Chính vì vậy, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ĐVSNCL thường rất khó khăn
1.2.2 Phân loại các đơn vị sự nghiệp:
Dựa vào các tiêu thức khác nhau đơn vị sự nghiệp cũng được phân thành nhiều loại khác nhau:
1.2.2.1 Căn cứ vào cấp quản lý đơn vị sự nghiệp gồm:
- Đơn vị sự nghiệp có thu ở Trung Ương như:
+ Đài tiếng nói Việt Nam
+ Đài truyền hình Việt Nam
+ Các bệnh viện, trường học do cáccơ quan ở Trung Ương quản lý
- Đơn vị sự nghiệp có thu ở địa phương như:
+ Đài phát thanh truyền hình ở các địa phương, các bệnh viện trường học
do địa phương quản lý
1.2.2.2 Căn cứ vào từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cụ thể, đơn vị sự nghiệp
có thu bao gồm
- Đơn vị sự nghiệp giáo dục, đào tạo
- Đơn vị sự nghiệp y tế (bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân)
- Đơn vị sự nghiệp văn hoá, thông tin
- Đơn vị sự nghiệp phát thanh truyền hình
Trang 21- Đơn vị sự nghiệp dân số - trẻ em, kế hoạch hoá gia đình
- Đơn vị sự nghiệp thể dục, thể thao
- Đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ, môi trường
- Đơn vị sự nghiệp kinh tế (duy tu, sửa chữa đê điều, trạm, trại)
- Đơn vị sự nghiệp có thu khác
1.2.2.3 Căn cứ vào chủ thể thành lập thì đơn vị sự nghiệp gồm:
- Đơn vị sự nghiệp có thu công lập:
Đơn vị sự nghiệp có thu công lập được xác định bởi các căn cứ cơ bản sau: + Do các cơ quan Nhà nước thành lập Căn cứ vào vị trí và phạm vi hoạt động mà các đơn vị sự nghiệp có thu có thể do Thủ tướng Chính phủ, hoặc Bộ trưởng Bộ quản lý ngành, hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực tiếp ra quyết định thành lập
+ Trong quá trình hoạt động được Nhà nước cho phép thu các loại phí
để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức và bổ sung tái tạo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị + Nhằm cung cấp dịch vụ công cho xã hội (thực hiện hoạt động sự nghiệp được nhà nước uỷ quyền) không nhằm mục đích sinh lợi Dịch vụ công là những hoạt động vì lợi ích chung
Dịch vụ công có những đặc điểm cơ bản sau:
Là những hoạt động phục vụ lợi ích tối cần thiết cho xã hội, đảm bảo các quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người, đảm bảo cuộc sống bình thường
và an toàn Những hoạt động này về cơ bản do các tổ chức được Nhà nước uỷ quyền đứng ra thực hiện, song Nhà nước vẫn chịu trách nhiệm cuối cùng về những hoạt động này
Đối tượng thụ hưởng dịch vụ này không phân biệt hoàn cảnh cụ thể về
xã hội, chính trị hay kinh tế Về nguyên tắc dịch vụ công không phải là dịch
vụ thương mại, do đó không tồn tại trong môi trường cạnh tranh và cũng
Trang 22không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ Có tư cách pháp nhân, có con dấu
và tài khoản riêng
Đơn vị sự nghiệp có thu đáp ứng đầy đủ 4 tiêu chí:
Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận
Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ
Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và chịu trách nhiệm bằng các tài sản đó
Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập
- Đơn vị sự nghiệp có thu ngoài công lập như bán công, dân lập, tư nhân: được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, đăng ký
1.2.3 Vai trò của đơn vị sự nghiệp công lập
Hiện nay, khi đánh giá một quốc gia giàu hay nghèo, lạc hậu hay phát triển người ta không chỉ dựa vào khối lượng hàng hóa mà người dân có được do trao đổi trên thị trường, mà còn dựa vào khối lượng phúc lợi xã hội mà người dân được hưởng do các ĐVSN cung cấp
Ngoài ra, tiềm năng phát triển trong tương lai của một quốc gia không chỉ tác động bởi số lượng lao động, tài nguyên thiên nhiên hay vốn tích lũy được,
mà chủ yếu là do khả năng phát huy tiềm năng sáng tạo của người dân quốc gia đó Tiềm năng sáng tạo của con người được tác động bởi các yếu tố trình
độ văn hóa, tri thức khoa học, đạo đức, lối sống, cách giao tiếp của mỗi cá nhân và xã hội Đa phần các yếu tố cấu thành tiềm năng sáng tạo của con người là do ĐVSNCL cung cấp dịch vụ trong quá khứ, hiện tại và tương lai Hoạt động của ĐVSNCL là nguồn lực to lớn giúp đất nước bảo tồn và phát triển văn hóa, truyền thống Nghị quyết Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đã khẳng định: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội"
Trang 23Hoạt động sự nghiệp đóng vai trò quan trọng trong cải cách, đổi mới, phát triển nền giáo dục - đào tạo của nước nhà; bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của người dân, nâng cao năng suất lao động xã hội
1.3.Quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập:
1.3.1.Khái niệm quản lý tài chính
Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải
xã hội dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định Tài chính có một số chức năng chủ yếu như:
Một là: chức năng huy động, tạo lập các nguồn tài chính, thể hiện khả
năng tổ chức khai thác các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế.;
Hai là: chức năng phân phối, là một khả năng khách quan của phạm trù
tài chính Con người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan đó để tổ chức việc phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Khi đó, tài chính được sử dụng với tư cách một công cụ phân phối, nhờ đó, các nguồn tài lực của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau để sử dụng cho những mục đích khác nhau, đảm bảo những nhu cầu, những lợi ích khác nhau của đời sống xã hội Kết quả phân phối tài chính là sự hình thành hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định cho các mục đích khác nhau của các chủ thể trong xã hội
Ba là: chức năng giám sát, kiểm tra sự vận động của các nguồn tài
chính trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Qua đó để kiểm tra
và điều chỉnh các quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi thời kỳ
Trang 24Quản lý tài chính là việc sử dụng các công cụ nhằm phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị, thông qua đó lập kế hoạch quản lý sử dụng các nguồn tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
Quản lý tài chính đòi hỏi các chủ thể quản lý phải lựa chọn , đưa ra các quyết định tài chính và tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đặt được mục tiêu hoạt động QLTC của đơn vị
Quản lý tài chính thường chủ yếu hướng vào quản lý thu chi các hoạt động của đơn vị
1.3.2 Quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Từ khái niệm chung về quản lý tài chính, có thể thấy QLTC tại ĐVSNCL là hệ thống các công cụ, chính sách về bộ máy tổ chức và con người mà đơn vị sử dụng để quản lý một cách có hiệu quả việcphân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính ở các ĐVSNCL
Trong quản lý tài chính đối với ĐVSNCL, Nhà nước là chủ thể quản lý cao nhất, các ĐVSNCL là đối tượng quản lý Nhà nước QLTC đối với ĐVSNCL thông qua ban hành các bộ luật, chính sách trong lĩnh vực tài chính đòi hỏi các ĐVSNCL phải thực hiện đúng Ngoài ra, Nhà nước còn tạo ra cơ chế để các ĐVSNCLphát huy tính độc lập, chủ động sáng tạo trong việc huy động, khai thác, sử dụng các nguồn lực tài chính một cách có hiệu quả nhất, góp phần đảm bảo và nâng cao thu nhập cho người lao động và nhu cầu phát triển của đơn vị
Cùng với quản lý của Nhà nước thì quản lý tài chính của ĐVSNCL còn
có QLTC trong nội bộ của ĐVSNCL Tùy theo quy mô, tính chất hoạt động của từng ĐVSNCLthì nội dung QLTC, bộ máy QLTC có thể khác nhau Nhưng hầu hết các ĐVSNCL đều có mục đích, nhiệm vụ QLTC chung như khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị và nâng cao thu nhập cho người lao động trên cơ sở tuân thủ các chính sách quy định tài chính của ĐVSNCL và Nhà nước
Trang 251.3.3 Mục tiêu quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập
Các ĐVSNCL thường cần một nguồn kinh phí đảm bảo cho hoạt động
ổn định và có tích lũy để thực hiện các mục tiêu phát triển của đơn vị Do đó, mục tiêu QLTC tại ĐVSNCL cũng nhằm hướng tới phát triển nguồn thu, đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động, sử dụng nguồn kinh phí tiết kiệm, hiệu quả và kiểm soát hoạt động, nâng cao tính tự chủ hướng tới các mục tiêu phát triển của đơn vị; cụ thể một số mục tiêu như:
Một là: đảm bảo nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu phát triển của ĐVSNCL
Để thực hiện tốtcác nhiệm vụ chính trị được giao, các ĐVSNCL rất cần
có nguồn lực tài chính ổn định Nguồn tài chính hiện nay của các ĐVSNCL chủ yếu bao gồm các nguồn thu từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác
Đối với nguồn NSNN cấp xu hướng giảm dần, trong khi đó các nguồn thu hợp pháp khác của các ĐVSNCL đa phần đều không ổn định
Vì vậy, mục tiêu của QLTC tại các ĐVSNCL hiện nay hướng tới phát triển nguồn thu, đảm bảo nguồn kinh phí thực hiện hoàn thành các mục tiêu chính trị được Nhà nước giao
Hai là: tổ chức sử dụng tiết kiệm nguồn ngân sách nhà nước và tăng cường quản lý nguồn kinh phí
Tăng cường quản lý nguồn kinh phí của cácĐVSNCL là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ quản lý, xây dựng kế hoạch, tổ chức quản lý chi phí
và chất lượng dịch vụ cung cấp của ĐVSNCL Công tác lập kế hoạch chiến lược hoạt động của ĐVSNCL để xác định mục tiêu đầu tư đúng đắn; các khoản chi được tính toán cân đối, phù hợp với định hướng chiến lược và mục tiêu phát triển của đơn vị Việc chi trả các khoản chi cũng phải được thực hiện một cách hợp lý, tiết kiệm, không thất thoát, lãng phí
Trang 26Tăng cường quản lý tài chính còn được thể hiện là tăng thu nhập cho người lao động và trích lập các quỹ cơ quan cho mục tiêu của đơn vị
Tăng cường sử dụng nguồn kinh phí cũng được đánh giá trên góc độ xã hội, mang lại các dịch vụ tiện ích phù hợp, thông qua việc cung cấp các dịch vụ tương ứng với chi phí hợp lý, đảm bảo nâng cao chất lượng dịch vụ cho xã hội
Ba là: Kiểm soát và giám sát chặt chẽ các mặt hoạt động
Quản lý tài chính cần thực hiện việc kiểm tra thường xuyên, liên tục thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính như: chỉ tiêu về kết cấu tài chính, chỉ tiêu về khả năng thanh toán, sử dụng các nguồn lực tài chính… Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép ĐVSNCL có căn cứ quan trọng để đề
ra kịp thời các giải pháp tối ưu trong công tác xây dựng kế hoạch và chiến lược phát triển của đơn vị
1.3.4 Nội dung quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập
1.3.4.1 Quản lý thu của đơn vị sự nghiệp công lập
a) Nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp
Các nguồn kinh phí do NSNN cấp bao gồm:
- Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên nhằm hoàn thành chức năng, nhiệm vụ ở các ĐVSNCL tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động (hỗ trợ phần chi phí chưa kết cấu trong giá, phí dịch vụ sự nghiệp công) và ĐVSNCL do Nhà nước đảm bảo chi thường xuyên (trên cơ sở số lượng người làm việc và định mức phân bổ dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt); được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp
có thẩm quyền phê chuẩn
- Nguồn ngân sách nhà nước cấp để thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên bao gồm:
+ Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với các ĐVSNCL không phải là đơn vị khoa học và công nghệ);
Trang 27+ Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng công chức viên chức; + Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
+ Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, các nhiệm vụ khác);
+ Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; + Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có);
+ Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;
+ Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
+ Kinh phí khác (nếu có)
b) Các nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp:
- Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công, bao gồm cả nguồn ngân sách nhà nước đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính
đủ chi phí;
- Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí);
- Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị, cụ thể:
+ Sự nghiệp giáo dục và đào tạo: nguồn thu từ các hợp đồng đào tạo với những tổ chức trong và ngoài nước; nguồn thu từ các hoạt động sản xuất, tiêu thụsản phẩm thí nghiệm; nguồn thu từ các hợp đồng dịch vụ khoa học và công nghệ và các khoản thu khác đúng theo quy định của pháp luật
+ Sự nghiệp y tế, đảm bảo xã hội: nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ
về khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, y tế dự phòng, đào tạo, nghiên cứu
Trang 28khoa học với các tổ chức; cung cấp các chế phẩm trong y tế; nguồn thu từ các hoạt động cung ứng dịch vụ trong bệnh viện; thu từ các dịch vụ bào chế thuốc, dịch truyền, sàng lọc máu và các khoản thu khác đúng theo quy định của pháp luật
+ Sự nghiệp văn hóa, thông tin: nguồn thu từ bán vé các buổi biểu diễn
ca múa nhạc, vé xem phim; nguồn thu từ các hợp đồng biểu diễn với những tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; nguồn thu từ cung ứng dịch vụ in tráng lồng tiếng, phục hồi phim; thu từ các hoạt động đăng, phát quảng cáo trên báo, tạp chí, xuất bản, phát thanh truyền hình; nguồn thu từ biên phiên dịch các tài liệu văn hóa, thông tin nước ngoài; thu phát hành báo chí, thông tin cổ động và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
+ Sự nghiệp kinh tế: nguồn thu từ dịch vụ tư vấn, thiết kế, quy hoạch, xây dựng, địa chính, địa chất; dịch vụ nông lâm, thuỷ lợi, thuỷ sản, giao thông, công nghiệpvà các ngành khác; các khoản thu khác đúng theo quy định của pháp luật
+ Sự nghiệp thể dục, thể thao: nguồn thu từ hoạt động dịch vụ quảng cáo, bản quyền phát thanh truyền hình, cho thuê sân bãi và các khoản thu khác theo đúng quy định của pháp luật
- Lãi của các khoản thu được chia từ những hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng trong hoạt động dịch vụ
c Nguồn vốn viện trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật
ĐVSN là người được thừa hưởng các nguồn thu đó và được phép chi tiêu theo quy định của nhà nước
d Nguồn vốn vay và các nguồn khác
ĐVSNCL được nhà nước cho phép vay vốn của các tổ chức tín dụng và cán bộ trong đơn vị nhưng phải hạch toán rõ ràng và sử dụng theo chế độ của Nhà nước
Trang 29Ngoài ra, ĐVSNCL được thu lợi từ nguồn vốn tham gia liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
1.3.4.2.Quản lý chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
a) Nội dung chi
Các ĐVSNCL được phép chi theo các nội dung sau đây:
- Các khoản chi thường xuyên gồm
+ Chi hoạt động thường xuyên theo chức năng nhiệm vụ được cấp có
thẩm quyền giao, gồm: tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; kinh phí công đoàn theo quy định; dịch vụ công cộng; văn phòng phẩm; các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn; sửa chữa thường xuyên tài sản cố định và các khoản chi khác theo chế
+ Chi cho các hoạt động dịch vụ (không bao gồm hoạt động liên doanh,
liên kết thành lập tổ chức riêng), gồm: tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định; nguyên, nhiên vật liệu, lao vụ mua ngoài, khấu hao tài sản cố định, sửa chữa tài sản cố định; chi trả lãi tiền vay, lãi tiền huy động theo hình thức vay của cán bộ, viên chức (trường hợp huy động vốn theo hình thức cán bộ viên chức cùng tham gia góp vốn với đơn vị và được hưởng lãi phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp thì lãi tiền huy động không được tính vào chi phí); chi các khoản thuế phải nộp theo quy định của pháp luật và các khoản chi khác (nếu có)
Trang 30- Các khoản chi không thường xuyên gồm
+ Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ;
+ Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức; + Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;
+ Chi thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác) theo giá hoặc khung giá do nhà nước quy định;
+ Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định;
+ Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; + Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có);
+ Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
+ Chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài;
+ Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết;
+ Các khoản chi khác theo quy định (nếu có)
b) Định mức chi
Các ĐVSNCL được phép xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, trong đó quy định những định mức chi bắt buộc phải thực hiện theo quy định của nhà nước, đồng thời xây dựng cụ thể những định mức chi thuộc thẩm quyền quyết định của đơn vị để chủ động sử dụng kinh phí hoạt động thường xuyên được giao đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả Quy chế chi tiêu nội bộ của ĐVSNCL là căn cứ để cán bộ, viên chức thực hiện và KBNN thực hiện kiểm soát chi
Quy chế chi tiêu nội bộ phải tuân thủ một số nguyên tắc, nội dung sau:
Về nguyên tắc, quy chế chi tiêu nội bộ phải do Thủ trưởng ĐVSNCL ban hành sau khi tổ chức thảo luận rộng rãi dân chủ, công khai trong đơn vị
và có ý kiến thống nhất của tổ chức công đoàn đơn vị
Trang 31Sau đó quy chế chi tiêu nội bộ phải gửi cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan tài chính cùng cấp để theo dõi, giám sát thực hiện, gửi KBNN nơi đơn vị
mở tài khoản giao dịch để làm căn cứ kiểm soát chi Trường hợp có các quy định không phù hợp với quy định của Nhà nước thì trong thời gian 15 ngày kể
từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan quản lý cấp trên có ý kiến yêu cầu đơn vị phải điều chỉnh lại cho phù hợp Quy chế chi tiêu nội bộ cũng được gửi cho
cơ quan tài chính cùng cấp và KBNN nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch
Nội dung quy chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức, mức chi thống nhất trong đơn vị sao cho vừa đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao, phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị vừa sử dụng kinh phí tiết kiệm có hiệu quả và tăng cường công tác quản lý
- Đối với nội dung chi thuộc phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ (chi quản lý, chi nghiệp vụ thường xuyên), Thủ trưởng ĐVSNCL được quyền:
+ Đối với ĐVSNCL tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư và ĐVSNCL tự đảm bảo chi thường xuyên:
Đối với các nội dung chi đã có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Căn cứ vào khả năng tài chính, đơn vị được quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
Đối với các nội dung chi chưa có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Căn cứ tình hình thực tế, đơn vị xây dựng mức chi cho phù hợp theo quy chế chi tiêu nội bộ và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình
+ Đối với ĐVSNCL tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, Thủ trưởng đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
Trang 32+ Đối với ĐVSNCL do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động: Thủ trưởng Đơn vị được quyết định mức chi nhưng tối đa không vượt quá mức chi
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
- Chi nhiệm vụ không thường xuyên: ĐVSNCL chi theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và pháp luật hiện hành đối với từng nguồn kinh phí không thường xuyên
- Một số tiêu chuẩn, định mức và mức chi sau đây ĐVSNCL phải thực hiện đúng các quy định của nhà nước:
+ Tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô;
+ Tiêu chuẩn, định mức về nhà làm việc;
+ Tiêu chuẩn, định mức trang bị điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động;
+ Chế độ công tác phí nước ngoài;
+ Chế độ tiếp khách nước ngoài và hội thảo quốc tế ở Việt Nam;
+ Chế độ quản lý, sử dụng kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; + Chế độ sử dụng kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
+ Chế độ chính sách thực hiện tinh giản biên chế (nếu có);
+ Chế độ quản lý, sử dụng vốn đối ứng dự án, vốn viện trợ thuộc nguồn vốn NSNN;
+ Chế độ quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Riêng kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp nhà nước, cấp bộ, ngành theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ
- Thủ trưởng ĐVSNCL căn cứ tính chất công việc, khối lượng sử dụng, tình hình thực hiện năm trước, quyết định phương thức khoán chi phí cho
Trang 33từng cá nhân, bộ phận, đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc sử dụng như: sử dụng văn phòng phẩm, điện thoại, xăng xe, điện, nước, công tác phí; kinh phí tiết kiệm do thực hiện khoán được xác định là chênh lệch thu, chi và được phân phối, sử dụng theo chế độ quy định
Khi thực hiện Quy chế chi tiêu nội bộ, đơn vị phải bảo đảm có chứng
từ, hoá đơn hợp pháp, hợp lệ theo quy định, trừ các khoản thanh toán văn phòng phẩm, thanh toán công tác phí được đơn vị thực hiện chế độ khoán theo quy chế chi tiêu nội bộ, khoản thanh toán tiền cước sử dụng điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động hàng tháng theo hướng dẫn của Bộ Tài chính
ĐVSN không được dùng kinh phí của đơn vị để mua sắm thiết bị, đồ dùng, tài sản trang bị tại nhà riêng hoặc cho cá nhân mượn dưới bất kỳ hình thức nào (trừ điện thoại công vụ tại nhà riêng theo chế độ quy định)
c) Sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm
Theo quy định của Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ, các ĐVSNCL thực hiện tự chủ tài chính được phân phối kết quả tài chính trong năm như sau:
- Hàng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình
tự như sau:
+ Trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp mức tối thiểu: 25% đối với đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên; 15% đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên
và 5% đối với đơn vị do Nhà nước đảm bảo chi thường xuyên;
+ Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tăng thêm theo quy định tại phần d của Mục này;
Trang 34+ Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá: 03 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm đối với Đơn vị loại 1 và loại 2; 02 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm đối với Đơn vị loại 3 và 01 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm đối với Đơn vị loại 1
+ Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật;
+ Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp + Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm, đơn vị được quyết định mức trích vào các quỹ cho phù hợp theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
- Mức trích cụ thể của các quỹ và việc sử dụng các quỹ do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ và phải công khai trong đơn vị
- Sử dụng các Quỹ:
+ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; phát triển năng lực hoạt động sự nghiệp; chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ; đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho người lao động trong đơn vị; góp vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (đối với đơn
vị được giao vốn theo quy định) để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và các khoản chi khác (nếu có)
+ Quỹ bổ sung thu nhập (thu nhập tăng thêm): Để chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong năm và dự phòng chi bổ sung thu nhập cho người lao động năm sau trong trường hợp nguồn thu nhập bị giảm Việc chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác Hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công tối đa không quá 2 lần hệ số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện của người lao động trong đơn vị
Trang 35+ Quỹ khen thưởng: Để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị (ngoài chế độ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua khen thưởng) theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
+ Quỹ phúc lợi: Để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi; chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động thực hiện tinh giản biên chế
1.3.5 Công cụ quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập
1.3.5.1 Chính sách quản lý tài chính của Nhà nước
Chính sách quản lý tài chính của Nhà nước là công cụ quản lý vĩ mô quan trọng của Nhà nước đối với các ĐVSNCL, đây là công cụ pháp lý rất quan trọng để các ĐVSNCL xây dựng được cơ chế chính sách quản lý tài chính nội bộ, đảm bảo sự tuân thủ đúng quy định của pháp luật trong hoạt động tài chính Khi cơ chế chính sách của Nhà nước về ĐVSNCL thay đổi như: đẩy mạnh cơ chế tự chủ tài chính, đổi mới cơ chế về tiền lương, các định mức kinh tế kỹ thuật trong đầu tư công, cắt giảm nguồn ngân sách; thì tất cả những thay đổi đó đã tác động trực tiếp đến công tác QLTC tại ĐVSNCL về
cơ chế quản lý sử dụng nguồn kinh phí, nguồn thu và chiến lược phát triển trong tương lai của đơn vị
1.3.5.2 Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị sự nghiệp công lập
Quy chế chi tiêu nội bộ của ĐVSNCL là hệ thống các văn bản quy phạm mang tính bắt buộc về hoạt động tài chính trong đơn vị, bao gồm hệ thống các quy định về nội dung thu, mức thu; nội dung chi, mức chi và các quy định về quy trình thủ tục thu- chi; các quy định về quản lý tài chính trong hoạt động của đơn vị
Trang 36Đây là những quy định các mang tính bắt buộc mọi người trong đơn vị phải tuân thủ thực hiện Quy chế chi tiêu nội bộ được xem là công cụ pháp lý chính trong đơn vị sự nghiệp công lập Vì vậy, công tác xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ phải đảm bảo đầy đủ nguyên tắc công khai, dân chủ và minh bạch; lấy ý kiến rộng rãi của tất cả cán bộ tham gia xây dựng quy chế và tuân thủ thực hiện quy chế
vị, giúp lãnh đạo đơn vị xác định được các mục tiêu tài chính đề ra; đồng thời
là căn cứ để đánh giá, kiểm tra hoạt động tài chính của đơn vị Vai trò quan trọng của công tác lập dự toán tài chínhđược thể hiện:
- Dự toán tài chính là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch và mục tiêu phát triển trong tương lai của đơn vị
- Lập dự toán tài chính giúp đơn vị tăng khả năng dự tính được những thay đổi về tài chính, cũng như dự báo được những thuận lợi và khó khăn trong tương lai để lãnh đạo đơn vị có thể đưa ra những cân nhắc trong công tác quản lý tài chínhphù hợp
- Lập dự toán tài chính làm giảm sự chồng chéo và các hoạt động làm lãng phí nguồn lực tài chính của đơn vị
- Lập dự toán tài chính sẽ lên kế hoạch được những tiêu chuẩn cho công tác kiểm soát nội bộ từ đó đưa ra đánh giá kết quả và những điều chỉnh phù hợp cho đơn vị
Tóm lại, chức năng lập dự toán là chức năng đầu tiên, là xuất phát điểm
của mọi quá trình quản lý trong đơn vị Bất kể là cấp quản lý nào, lập dự
Trang 37toáncũng là chiếc chìa khoá cho việc thực hiện hiệu quả những mục tiêu, kế hoạch phát triển trong tương lai của đơn vị
1.3.5.4 Kiểm tra, kiểm soát và giám sát
Kiểm tra, kiểm soát và giám sát giúp đơn vị phát hiện kịp thời những yếu kém trong hoạt động, xác định nguyên nhân, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan; chủ động ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực về tài chính trong hoạt động thu chi của đơn vị Đồng thời phát hiện ngăn chặn các hình vi sai trái, tiêu cục trong quản lý Công cụ sử dụng để kiểm tra, giám sát đó là các quy chế, quy định của Nhà nước và của đơn vị, hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch, các tiêu chuẩn định mức Đây là công cụ để đảm bảo các quyết định được thực thi theo đúng kế hoạch phát triển của đơn vị để đạt hiệu quả cao Vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát cần phải được thực hiện một cách thường xuyên nhằm giúp công tác quản lý tài chính đạt hiệu quả cao nhất
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính củađơn vị
sự nghiệp công lập
1.4.1 Chế độ, chính sách của Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Hệ thống chế độ, chính sách của Nhà nước nói chung, Luật NSNN nói riêng quy định nội dung cũng như phương thức quản lý tài chính ở các ĐVSNCL
Trước hết, Luật NSNN quy định các khoản mục chi và chế độ chi mà
theo đó các ĐVSNCL phải thực hiện đúng theo các định mức của Nhà nước
Thứ hai, chế độ lương, bảo hiểm xã hội và các chế độ khác liên quan
đến người lao động trong các ĐVSNCL phải tuân thủ đúng các quy định chung trong chế độ, chính sách của Nhà nước
Thứ ba, quyền hạn, trách nhiệm của ĐVSNCL lập được quy định tại
chế độ tổ chức của hệ thống chính trị quốc gia cũng như được quy định trong chế độ phân cấp đối với từng cấp cụ thể
Trang 38Có thể nói, chế độ chính sách của Nhà nước tác động trực tiếp đến công tác quản lý tài chính của các ĐVSNCL Nếu chế độ, chính sách của Nhà nước đầy đủ, đồng bộ, hợp lý thì công tác quản lý tài chính của ĐVSNCL có thể thực hiện công khai mình bạch Nếu chế độ, chính sách của Nhà nước bất cập thì công tác quản lý tài chính của ĐVSNCL sẽ chắp vá, rời rạc và khó thực hiện
1.4.2 Đặc điểm của ngành
Đặc điểm hoạt động của ngành là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiến đến công tác quản lý tài chính của ĐVSNCL Do đặc điểm hoạt động của mỗi đơn vị là khác nhau dễn đến mô hình quản lý tài chính của đơn vị cũng sẽ khác nhau
Các ĐVSNCL nằm trong từng ngành sẽ được đơn vị chủ quản ngành
đó thiết lập cho những cơ chế quản lý tài chính nội bộ phù hợp với hệ thống định mức thu - chi áp dụng riêng trong ngành Cơ chế quản lý này vừa phải cụ thể hóa bằng các văn bản pháp quy của Nhà nước, vừa phải đáp ứng các yêu cầu riêng của ngành, phù hợp với những yêu cầu quản lý đặc thù mà Nhà nước đã quy định, sao cho công tác quản lý tài chính của ĐVSNCL được chặt chẽ hơn
Một số ngành có những chính sách quản lý tài chính đặc thù tăng tính
tự chủ, năng động, sáng tạo về quản lý tài chính của ĐVSNCL trong ngành
đó Một số ngành lại có xu hướng hạn chế quyền tự chủ về tài chính cho các ĐVSNCL trực thuộc ngành mình
Hơn nữa, môi trường ngành chính là nơi diễn ra các hoạt động của ĐVSNCL, đó cũng là nơi tiếp nhận các sản phẩm, dịch vụ do ĐVSNCL cung cấp Do vậy môi trường ngành cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ĐVSNCL nói chung và việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính nói riêng
Đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ độc quyền như các đài phát thanh - truyền hình, văn hóa, nghệ thuật, thể thao thì quản lý tài chính theo chế độ
Trang 39nhà nước có thuận lợi hơn, tuy nhiên thường vấp phải vấn đề lạc hậu của định mức, chính sách do các cơ quan ban hành chính sách
Đối với các ĐVSNCL cung cấp dịch vụ và sản phẩm chịu sự cạnh tranh của cơ sở tư nhân như giáo dục, y tế thì quản lý tài chính buộc phải thay đổi nhanh hơn theo cơ chế thị trường, nếu không ĐVSNCL sẽ không thể tồn tại được Bởi vậy, các ĐVSNCL cung ứng sản phẩm, dịch vụ có tính cạnh tranh phải thực hiện cải cách, nâng cao công tác quản lý tài chính để có thể tồn tại
và phát triển hiệu quả trong nền kinh tế thị trường hiện nay
1.4.3 Năng lực quản lý tài chính của ĐVSNCL
1.4.3.1 Năng lực của bộ máy quản lý tài chính tại ĐVSNCL
Năng lực của bộ máy quản lý tài chính trong các ĐVSNCL được quyết định bởi sức mạnh tổ chức bộ máy, trình độ chuyên môn nghiệp vụ vàkỹ năng quản lý của các cán bộ quản lý tài chính tại ĐVSNCL
Bộ máy quản lý tài chính tại ĐVSNCLcần được tổ chức đồng bộ, tinh gọn ở tất cả các khâu sao cho mức độ chuyên môn hóa được thực hiện hợp lý
sẽ tạo điều kiện tiền đề cần thiết để thực hiện tự chủ tài chính hiệu quả Ngược lại, bộ máy quản lý tài chính tại ĐVSNCL không chuyên môn hóa, thiếu sự phối hợp, thiếu đồng bộ sẽ cản trở quá trình thực hiện công tác QLTC
ở các ĐVSNCL không hiệu quả
Con người là nhân tố quan trọng nhất của bộ máy QLTC, là khâu trọng yếu trong việc xử lý thông tin và đề ra các quyết định QLTC Trình độ cán bộ quản lý là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các quyết định QLTC, qua đó quyết định đến sự thành, bại của công tác QLTCtại đơn vị
Đối với cơ quan quản lý cấp trên, nếu cán bộ QLTC có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn thì sẽ đưa ra được những biện pháp QLTC phù hợp, kịp thời và chính xác, làm cho hoạt động QLTC đạt hiệu quả hơn Ngược lại, nếu cán bộ quản lý cấp trên trình độ yếu kém thì công tácQLTC sẽ kém hiệu quả
Trang 40Đối với đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác tài chính, nếu đội ngũ này
có năng lực, trình độ chuyên môn tốt, có kinh nghiệm thì công tácQLTC sẽ được tuân thủ nghiêm túc đúng với các quy địnhQLTC của Nhà nước Nếu các ĐVSNCL không có một đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính chuyên nghiệp, thì sẽ phải đối mặt với việc sử dụng nguồn lực tài chính của đơn vị kém hiệu quả, lãng phí
1.4.3.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ của ĐVSNCL
Hệ thống kiểm soát nội bộ là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo công tác quản lý tài chính tuân thủ đúng các quy định pháp luật, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện sai sót nhằm thực hiện quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn và tài sản của đơn vị
Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị bao gồm môi trường kiểm soát,
hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát
Môi trường kiểm soát là những nhận thức, quan điểm, sự quan tâm và
hoạt động của lãnh đạo đơn vị đối với hệ thống kiểm soát nội bộ Môi trường kiểm soát được đề cao sẽ giúp ĐVSNCL giảm thiểu những sai phạm trong công tác QLTC
Hệ thống kế toán là những quy định về tài chính kế toán và các thủ tục
liên quan mà đơn vị áp dụng để thực hiện công tác kế toán Hệ thống kế toán
là công nghệ mà hoạt động QLTC ở ĐVSNCL phải tuân thủ nghiêm ngặt, đảm bảo đúng các chuẩn mực theo quy định của Nhà nước
Thủ tục kiểm soát là các quy định do lãnh đạo đơn vị thiết lập và chỉ đạo
thực hiện nhằm đạt mục tiêu quản lý hiệu quả Thủ tục kiểm soát được tuân thủ
sẽ giúp cho cán bộ QLTC phát hiện kịp thời các sai lầm để khắc phục
ĐVSNCL có hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ, hữu hiệu thì công tác quản lý tài chính sẽ được thuận lợi Hệ thống kiểm soát nội bộ đảm bảo cho