1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục cộng đồng trong phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ (nghiên cứu trường hợp tại xã sóc đăng, huyện đoan hùng, phú thọ)

128 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 770,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

---ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ Nghiên cứu trường hợp

Trang 1

-ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ

(Nghiên cứu trường hợp tại xã Sóc Đăng, Huyện Đoan Hùng, Phú Thọ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Hà Nội- 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ

(Nghiên cứu trường hợp tại xã Sóc Đăng, Huyện Đoan Hùng, Phú Thọ)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI THỊ XUÂN MAI

Hà Nội-2014

Trang 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 26

1.2.1.2 Phân loại bạo lực gia đình 31

1.2.1.3 Nguyên nhân của bạo lực gia đình 33

1.2.1.4 Ảnh hưởng của bạo lực gia đình 36

1.2.2.1 Một số khái niệm có liên quan 37

1.2.2.2 Đặc điểm của giáo dục cộng đồng 431.2.3 Giáo dục cộng đồng trong phòng chống BLGĐ đối với phụ nữ 44

1.2.3.2 Đặc điểm của GDCĐ trong PCBLGĐ đối với phụ nữ 45

1.2.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác GDCĐ trong PCBLGĐ đối với

1.2.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển công tác xã hội trong đó có phát triển cộng đồng, giáo dục cộng đồng trong PCBLGĐ 54

Chương 2: THỰC TRẠNG GDCĐ TRONG PHÒNG CHỐNG BLGĐ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TẠI XÃ SÓC ĐĂNG, HUYỆN ĐOAN HÙNG, PHÚ THỌ 57

Trang 4

2.1 Thực trạng BLGĐ đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng, huyện Đoan Hùng 552.1.1 Thực trạng BLGĐ đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 57

2.1.1.1 Hình thức bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 57

2.1.1.2 Đối tượng bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 59

2.1.1.3 Nguyên nhân của bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 63

2.1.1.4 Ảnh hưởng của bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 692.2 Thực trạng hoạt động giáo dục cộng đồng về PCBLGĐ đối với phụ nữ tại xã

2.2.1 Hình thức GDCĐ trong PCBLGĐ đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 72

2.2.1.1.Các hình thức GDCĐ trong PCBLGĐ đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 72

2.2.1.2.Hình thức can thiệp, trợ giúp và xử lý những hành vi BLGĐ đối với phụ nữ

2.2.2 Nội dung GDCĐ trong PCBLGĐ đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 812.2.3 Đối tượng hướng tới vào công tác giáo dục cộng đồng trong PCBLGĐ đối

2.2.3.1 Đối tượng hướng tới để tuyên truyền giáo dục về PCBLGĐ đối với phụ nữ

2.2.3.2 Đối tượng thực hiện các chương trình giáo dục cộng đồng về PCBLGĐ

đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 85

2.2.3.3 Đối tượng tổ chức các chương trình giáo dục cộng đồng về PCBLGĐ đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 862.2.4 Sự tham gia của người dân vào hoạt động GDCĐ trong PCBLGĐ đối với

Chương 3: MỘT SỐ KẾT QUẢ VÀ HẠN CHẾ CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG TRONG PHÒNG CHỒNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI

2.2.5 Kết quả công tác giáo dục cộng đồng trong phòng chống bạo lực gia đình

2.2.5.1 Đánh giá mức độ thông tin thu được từ hình thức giáo dục cộng đồng

trong PCBLGĐ đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 93

2.2.5.2 Đánh giá mức độ cần thiết của các hình thức giáo dục cộng đồng trong

PCBLGĐ đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 95

2.2.5.3 Đánh giá hiệu quả của các hình thức GDCĐ trong PCBLGĐ đối với phụ

2.2.5.4 Đánh giá mức độ hài lòng của người dân xã Sóc Đăng khi tham gia

GDCĐ trong PCBLGĐ đối với phụ nữ 982.2.6 Một số yếu tố ảnh hưởng tới công tác giáo dục cộng đồng trong PCBLGĐ

2.2.6.1 Quan niệm, nhận thức của người dân tại xã Sóc Đăng 100

2.2.6.2 Trình độ của cán bộ làm công tác GDCĐ tại xã Sóc Đăng 101

Trang 7

Bảng 1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội/nhân khẩu học của nhóm mẫu điều tra 23Bảng 2.1 Những hình thức bạo lực đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng (%) 57Bảng 2.2 Tìm hiểu thông tin, luật pháp chính sách của VN về PCBLGĐ 62Bảng 2.3 Nguyên nhân của bạo lực gia đình với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 64Bảng 2.4 Ảnh hưởng của BLGĐ đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 69Bảng 2.5 Tỷ lệ tham gia vào các hình thức trợ giúp, dịch vụ xã hội của người dân

Bảng 2.6 Các hình thức can thiệp BLGĐ đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 81Bảng 3.1 Mức độ thông tin thu được từ các hình thức GDCĐ trong PCBLGĐ đối

Bảng 3.2 Khó khăn của GDCĐ về PCBLGĐ với phụ nữ tại xã Sóc Đăng 100Bảng 3.3 Đặc điểm cán bộ xã Sóc Đăng trong công tác PCBLGĐ 101

80Biểu đồ 2.8 Nội dung giáo dục cộng đồng trong PCBLGĐ đối với phụ nữ tại xã

Biểu đồ 3.1 Kênh thông tin về phòng chống bạo lực gia đình người dân xã Sóc

Trang 8

Biểu đồ 3.2 Mức độ cần thiết của các hình thức GDCĐ trong PCBLGĐ đối với

Biểu đồ 3.5 Mức độ hài lòng của người dân khi tham gia GDCĐ trong PCBLGĐ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một vấn đề toàn cầu và xã Sóc Đăng, huyện Đoan Hùng, Phú Thọ không phải là ngoại lệ bởi nó xảy ra hàng ngày trong cuộc sống của nhiều người phụ nữ Vấn đề này gây ảnh hưởng và hậu quả rất lớn, nguy hại đến sức khỏe, tinh thần, vật chất và hạnh phúc của mỗi gia đình

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các khía cạnh của thực trạng công tác giáo dục cộng đồng về PCBLGĐ đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng (1) Về hình thức: Chưa linh hoạt giữa hình thức các kênh thông tin truyền thông: Tivi; báo, đài; sách tài liệu; phát tờ rơi; loa phóng thanh,… và các hình thức giáo dục cộng đồng trực tiếp: tập huấn, tọa đàm, họp dân, các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng (ca nhạc, kịch)… (2) Về nội dung: Chưa đa dạng, phong phú, mới chỉ tập trung thông tin về bạo lực gia đình và các văn bản luật pháp liên quan đến bạo lực gia đình và phòng chống bạo lực gia đình chứ chưa cung cấp cho người dân các kỹ năng xử lý, ứng xử khi xảy ra bạo lực (3) Về đối tượng hướng tới: Mới chỉ tập trung vào đối tượng phụ nữ (những người hay bị bạo hành) trong khi đối tượng nam giới (người đàn ông, người

Trang 9

chồng trong gia đình) những người có nguy cơ hành vi cao gây ra bạo lực gia đình thì chưa được hướng tới (4) Về sự tham gia của người dân: Công tác giáo dục cộng đồng về phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng chưa thu hút sự tham gia chủ động và tích cực của người dân.

Từ những phát hiện trên, nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác GDCĐ trong PCBLGĐ đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng, góp phần tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình ra quyết định những vấn đề về bạo lực gia đình, đồng thời nâng cao kiến thức cho người dân tại xã Sóc Đăng: kiến thức luật pháp về PCBLGĐ; kiến thức

về hôn nhân và gia đình; kỹ năng ứng xử khi xảy ra BLGĐ;…

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bạo lực gia đình nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng

đã và đang trở thành hiện tượng có tính phổ biến trong mọi tầng lớp dân cư và xảy ra ở mọi quốc gia trong đó có Việt Nam

Theo báo cáo của Bộ Công an năm 2005, 14% các trường hợp giết người liên quan đến bạo lực gia đình 1,011 bệnh nhân đã có dấu hiệu tự tử

vì bạo lực gia đình (Bộ Y tế, 2005) Bằng chứng cho thấy tỷ lệ bạo lực gia đình đã tăng lên trong những năm gần đây Kết quả điều tra của Ủy ban về các Vấn đề Xã Hội của Quốc hội tại 8 thành phố (2006) với 2.000 mẫu gồm người

dân, nạn nhân BLGĐ, người gây BLGĐ, cán bộ xã, cán bộ y tế, công an, phụ

nữ, tòa án nhân dân cấp huyện cho biết: 2,3% các gia đình có hành vi bạo lực

về thể chất (đánh đập), 25% số gia đình có hành vi bạo lực tinh thần và 30% số cặp vợ chồng có hiện tượng ép buộc quan hệ tình dục Điều tra gia đình Việt Nam do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê, Viện Gia đình

và Giới, UNICEF thực hiện năm 2006 với 9.300 mẫu đưa ra kết quả: Có khoảng 21,2% số cặp vợ/chồng xảy ra các hiện tượng bạo lực như: Đánh, mắng

Trang 10

chửi, chấp nhận quan hệ tình dục khi không có nhu cầu Tỷ lệ cặp vợ chồng có

1 trong số các hiện tượng bạo lực kể trên (tức là đối với cả vợ và chồng) chiếm khoảng 10,8% Tỷ lệ cặp vợ chồng xảy ra 2 hiện tượng bạo lực vào khoảng 7,3% Có 41,8% số cha/mẹ sử dụng hình thức “quát mắng” và 14% sử dụng hình thức “đánh đòn” khi vị thành niên nam có hành vi mắc lỗi [15, tr23]

Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Việt Nam năm 2010 do Tổng cục Thống kê - Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tiến hành với 4.838 mẫu là phụ nữ độ tuổi từ 18–60 trong cả nước, kết quả cho biết: Cứ

3 phụ nữ có gia đình hoặc đã từng có gia đình thì có 1người (khoảng 34%) cho biết họ đã từng bị chồng mình bạo hành thể xác hoặc tình dục Số phụ nữ

có hoặc từng có gia đình đang phải chịu một trong hai hình thức bạo lực này chiếm 9% Nếu xét đến cả 3 hình thức bạo lực: Thể xác, tình dục và tinh thần trong đời sống vợ chồng, thì có 58 % số phụ nữ Việt Nam cho biết đã từng là nạn nhân của ít nhất một hình thức bạo lực gia đình kể trên.[16]

Cũng theo nghiên cứu của Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên Hiệp quốc (UNODC) năm 2011 phụ nữ có thể là nạn nhân của 95% các

vụ bạo lực gia đình và các vụ bạo lực gia đình đối với phụ nữ thường được gọi là “bạo lực trên cơ sở giới” vì nảy sinh một phần do địa vị giới còn thấp của phụ nữ trong xã hội Nhiều nghiên cứu của Việt Nam cũng chỉ ra số nạn nhân bị bạo lực gia đình là phụ nữ cũng khá cao Báo cáo Điều tra Đánh giá Các Mục Tiêu Trẻ em và Phụ nữ (2006) đã chỉ ra rằng 64% phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến 49 coi việc bị chồng đối xử bằng bạo lực là bình thường Từ một bài báo trong Der Spiegel, Ngôi nhà của bà Thủy (8/2009) thì tại một bệnh viện ở Việt Nam, mỗi ngày có trung bình 5-6 phụ nữ nhập viện do hậu quả của bạo lực gia đình 50% các ca nhập viện là do chấn thương đầu; 40%

có viết thương khắp cơ thể; 15% bị bạo lực hơn 10 năm Theo bà Nguyễn Thị Thanh Hoà, ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch thường trực Hội

Trang 11

LHPNVN cho biết: “Phụ nữ hiện chiếm 50,8% dân số và 50,6% lực lượng

lao động của cả nước, họ đã có những đóng góp rất lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và phát triển đất nước Tuy nhiên, một thực tế mà không chỉ có phụ nữ Việt Nam phải đối mặt chính là thực trạng bạo lực trong gia đình Đây là vấn đề mang tính toàn cầu, làm tổn hại cả về thể chất và tinh thần của rất nhiều phụ nữ và làm mất ổn định cuộc sống, hạnh phúc gia đình Bạo lực xảy ra thường xuyên với tầng số cao thường làm giảm sự tự chủ, tính sáng tạo, gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn về thể chất và tinh thần người bị hại Những năm gần đây, bạo lực gia đình diễn ra với tính chất ngày càng nghiêm trọng, có gia tăng nhanh chóng đối tượng vi phạm cũng như nạn nhân ở khắp các vùng, miền trong cả nước” [7, tr.2] Bạo lực trong gia đình

đối với phụ nữ không những làm tổn thương, tổn hại đến sức khoẻ, thể xác, tinh thần của chính người phụ nữ mà còn ảnh hưởng đến cuộc sống của những người xung quanh như trẻ em, người thân khác trong gia đình và gây

ra nhiều hậu quả cho xã hội Bạo lực gia đình đối với phụ nữ có thể xuất phát

từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân bất bình đẳng giới, nhận thức sai lệch về vị thế của phụ nữ và nam giới cũng như những can thiệp chưa đầy

đủ của các cơ quan chức năng

Giáo dục cộng đồng là một trong những nội dung hoạt động chính của phát triển cộng đồng – một phương pháp quan trọng của công tác xã hội và đã được nhiều nước sử dụng như một công cụ quan trọng trong thay đổi nhận thức từ đó thay đổi hành vi của người dân cộng đồng nhằm giải quyết những vấn đề xã hội của cộng đồng như môi trường, bất bình đẳng, kỳ thị với nhóm yếu thế, trong đó có bạo lực gia đình Công tác xã hội như một nghề và những phương pháp của công tác xã hội được ứng dụng vào thực tiễn giải quyết những vấn đề xã hội ở Việt Nam mới thực sự được quan tâm trong những năm gần đây Quyết định 32/2010/QĐ-TTG của chính phủ về phát triển nghề

Trang 12

công tác xã hội được phê chuẩn vào 25/3/2010 là một minh chứng Hiện nay một số các chương trình như phát triển nông thôn, xóa đói gảm nghèo, dân số sức khỏe, phòng, chống bạo lực… đã có ứng dụng công tác tuyên truyền phổ biến nhằm hướng tới thay đổi nhận thức của người dân, cung cấp kiến thức cho người dân nhằm nâng cao năng lực Tuy nhiên, hình thức giáo dục cộng đồng với ý nghĩa của nghề công tác xã hội chưa thực sự được phát triển và ứng dụng rộng rãi Những hình thức tuyên truyền phổ biến chưa thu hút sự tham gia thực sự của người dân vào quá trình thay đổi Nhiều cuộc tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình đã được triển khai đặc biệt từ khi luật phòng, chống bạo lực ra đời năm 2007, tuy nhiên kết qủa chưa được bền vững

Xã Sóc Đăng, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ là một xã vùng ven, đời sống kinh tế một bộ phận người dân còn khó khăn dẫn đến dễ nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong gia đình, các giá trị truyền thống trong gia đình chưa được chú trọng Chính vì vậy, tình trạng bạo lực gia đình đang là một trong những vấn đề xã hội khá bức xúc ở xã Sóc Đăng Bạo lực gia đình ở xã Sóc Đăng được thể hiện ở nhiều dạng khác nhau: bạo lực về thể chất, bạo lực về tinh thần, bạo lực về kinh tế, bạo lực về tình dục,…Trong những năm gần đây, bạo lực gia đình tại địa bàn này đã và đang trở thành một trong những vấn đề xã hội được chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, do đặc điểm

là khu vực đông dân, trình độ dân trí còn thấp, tư tưởng của đại bộ phận người dân vẫn còn ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, quan niệm “trọng nam khinh nữ” còn khá phổ biến, vấn đề này đã tác động không ít tới sự gia tăng BLGĐ Vì vậy, để nâng cao nhận thức của cộng đồng về bình đẳng giới,

về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ cần có những biện pháp can thiệp phù hợp và bền vững hơn Để góp phần hạn chế bạo lực gia đình đối với phụ nữ một trong những biện pháp quan trọng đó là tăng cường công tác giáo

Trang 13

dục cộng đồng, giúp cộng đồng có nhận thức đúng đắn hơn về phòng chống bạo lực gia đình.

Với ý nghĩa trên tác giả lựa chọn đề tài “Giáo dục cộng đồng trong

phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ (Nghiên cứu trường hợp tại

xã Sóc Đăng, huyện Đoan Hùng, Phú Thọ)” nhằm đánh giá thực trạng công

tác giáo dục cộng đồng tại địa phương trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị giúp nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người dân trong cộng đồng liên quan tới phòng, chống bạo lực gia đình với phụ nữ tại xã Sóc Đăng, huyện Đoan Hùng, Phú Thọ nói riêng và Việt Nam nói chung

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Hiện nay, nhiều nghiên cứu quốc tế đã cho thấy bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình là hệ thống có tính toàn cầu, tác động trong khoảng 20-50% số phụ nữ trên thế giới (WHO, 1998)

Bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình đã trở thành một nội dung quan trọng trong Tuyên bố hành động của Hội phụ nữ thế giới lần thứ IV tại Bắc Kinh năm 1995 và trong các văn bản của tổ chức Liên hiệp quốc

Từ ngày 4 – 6/12/2001, tại Phnômpênh Campuchia đã diễn ra Hội nghị

về luật pháp phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình ở vùng tiểu Mêkông, Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam Hội nghị đã thống nhất trên một số quan điểm rằng: Bạo lực gia đình không phải là chuyện riêng của gia đình và phụ nữ đang bị coi là phụ thuộc vào nam giới trên phạm vi toàn cầu

Hiện nay có nhiều nước, đặc biệt là ở Châu Á có những phong tục, văn hoá, tôn giáo tạo điều kiện cho vấn đề bất bình đẳng nam, nữ và khuyến khích bạo lực gia đình kể cả một số Chính Phủ, cảnh sát chưa có hoạt động tích cực ngăn chặn bạo lực gia đình vì coi đấy là chuyện riêng của gia đình họ

Trang 14

Bạo lực gia đình trong bối cảnh văn hóa Việt Nam thường được hiểu là bạo lực trong gia đình, chủ yếu là do chồng hoặc một thành viên trong gia đình bạo hành vợ Bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình tuy mới được phát hiện và xem xét trong vài thập kỉ gần đây song nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới đã chứng tỏ tính chất nghiêm trọng của tệ nạn này Việc nghiên cứu đã góp phần giúp cho các nhà hoạch định chính sách các thể chế xã hội ở mỗi nước có biện pháp giải quyết tình trạng này.

Ở Việt Nam nghiên cứu về bạo lực gia đình muộn hơn so với các nước trên thế giới Vì vậy cần có các biện pháp can thiệp Có một số công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề này như:

Năm 1994, Ts Lê Thị Quý đã có bài viết “Bạo lực gia đình ở Việt Nam

hiện nay” đăng trên tạp chí Khoa học và phụ nữ Bài viết đã tập trung phân

tích nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực giới trong gia đình như: Nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân văn hóa, nguyên nhân nhận thức,…

Lê Thị Quý (1996) trong cuốn “Nỗi đau thời đại” đã cho thấy các dạng

bạo lực giới trong gia đình biểu hiện rất đa dạng Nhưng tựu chung lại, bạo

lực giới trong gia đình biểu hiện chủ yếu dưới hai dạng “Bạo lực không nhìn

thấy” và “bạo lực nhìn thấy” (hay còn gọi là bạo lực trực tiếp và bạo lực gián

tiếp) Dạng bạo lực không nhìn thấy xuất phát từ sự phân công lao động bất hợp lý giữa nam và nữ trong gia đình núp dưới các khái niệm “thiên chức” và

“hi sinh” của phụ nữ Vì thiên chức này mà nhiều phụ nữ chỉ là cái bóng của chồng con, phụ thuộc vào chồng con, không bộc lộ và phát huy nội lực cũng như khẳng định mình Rất nhiều phụ nữ đã không chỉ bị đánh đập, ngược đãi

mà còn là nạn nhân của “Bạo lực không nhìn thấy” Đây là một phát hiện về

các dạng bạo lực trong gia đình mà đến nay nhiều nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động xã hội đã sử dụng

Trang 15

Vũ Mạnh Lợi, Vũ Tuấn Huy, Nguyễn Hữu Minh (1999) đã có công

trình nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới” Nghiên cứu này, được tiến hành ở

ba tỉnh: thành phố Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh, các tác giả đã đi sâu xem xét thái độ của cộng đồng và các thể chế xã hội về bạo lực trên cơ sở giới cũng như các phản ứng của cá nhân, luật pháp và các thể chế đối với nạn nhân bạo lực gia đình Nghiên cứu cũng đưa ra nhận xét tình trạng bạo lực gia đình có chiều hướng tăng Nghiên cứu đưa ra 8 nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình và 7 kiến nghị nhằm hạn chế, ngăn chặn tình trạng bạo lực gia đình

Năm 2001, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực hiện đề tài “Bạo lực

gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam” Đề tài đã phân tích những hậu quả

nghiêm trọng của nạn bạo lực giới trong gia đình đối với phụ nữ và phản ứng của nạn nhân bị bạo lực trước những hành vi đó

Vũ Tuấn Huy (2003) trong nghiên cứu “Mâu thuẫn vợ chồng trong gia

đình và những yếu tố ảnh hưởng” đã chỉ ra mâu thuẫn giữa vợ và chồng trong

gia đình là một hiện tượng phổ biến Tác giả tìm ra sự khác nhau giữa mâu

thuẫn và bạo lực trong gia đình “Mâu thuẫn và xung đột mang tính bạo lực là

khác nhau” Không phải mâu thuẫn nào trong hôn nhân cũng trở thành xung

đột mang tính bạo lực Tác giả cho rằng nguyên nhân chính của bạo lực gia đình trong nhiều trường hợp cũng là nguyên nhân của mâu thuẫn giữa vợ và chồng Bản thân của hành vi bạo lực cũng là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn

vợ chồng trầm trọng hơn Theo tác giả, đặc điểm học vấn và nghề nghiệp khác nhau giữa các gia đình có thể dẫn đến hình thức bạo lực khác nhau khi

vợ chồng có mâu thuẫn

Hoàng Bá Thịnh (2005) trong nghiên cứu “Bạo lực giới trong gia đình

Việt Nam và vai trò của truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ” đã tổng hợp những bài viết của nhiều tác giả về vấn đề quan điểm

giải pháp bạo lực giới trong gia đình Việt Nam, xã hội hoá tại cộng đồng, vấn

Trang 16

đề chống bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình Trong nghiên cứu của mình tác giả cũng đã đề cập đến một phần của vấn đề giáo dục cộng đồng trong phòng, chống bạo lực gia đình đó là vai trò của truyền thông đại chúng trong

sự nghiệp phát triển phụ nữ

Trong Báo cáo của các tổ chức phi Chính phủ Việt Nam về thực hiện Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) của Mạng giới và phát triển (GENCOMNET) (2006) Công ước đó

đã đưa ra chương trình đầu tiên đề cập đến bạo lực trong gia đình và phân tích một số thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trước vấn nạn này trong thời gian sắp tới

Lê Thị Quý, Đặng Vũ Cảnh Linh (2007) đã phát hành cuốn sách “Bạo

lực gia đình - một sự sai lệch giá trị” Đây là kết quả của công trình nghiên

cứu thực tiễn tại ba tỉnh: Thái Bình, Phú Thọ và Thành phố Hà Nội Cuốn sách đã trình bày những vấn đề lý luận và phương pháp luận về bạo lực giới trong gia đình, tập trung nghiên cứu tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ

ở Việt Nam hiện nay, những nguyên nhân và hậu quả của bạo lực gia đình Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả cũng đã chỉ ra rằng bạo lực gia đình là một sự lệch chuẩn về mặt đạo đức xã hội, về những giá trị của thời đại mà chúng ta đang đề cao đồng thời cũng đề cập tới một số cách thức để thay đổi nhận thức về phòng, chống bạo lực gia đình của người dân

Trần Thị Vân Anh- Nguyễn Hữu Minh (2008) trong nghiên cứu “Bình

đẳng giới ở Việt Nam” đã góp phần nghiên cứu về vấn đề bạo lực gia đình ở

Việt Nam dưới góc độ giới, đồng thời dành hẳn một chương để đưa ra những quan niệm chung nhất về bạo lực gia đình và làm rõ các yếu tố tác động đến hành vi bạo lực

Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh, Đặng Bích Thuỷ (2009) trong

nghiên cứu “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam: Thực trạng, diễn

Trang 17

tiến và nguyên nhân” đã chỉ ra những vấn đề nhận diện bạo lực gia đình và cơ

sở pháp lý phòng chống bạo lực gia đình, mức độ phổ biến của bạo lực gia đình và các yếu tố ảnh hưởng- phân tích số liệu định lượng, thực trạng bạo lực gia đình, hậu quả và môi trường nảy sinh bạo lực gia đình, các yếu tố thúc đẩy

và hạn chế các hành vi bạo lực

Trong nghiên cứu “Các giải pháp hạn chế bạo lực gia đình đối với phụ

nữ và trẻ em” TS Bùi Thị Xuân Mai (2009) cùng các cộng sự đã nghiên cứu,

đề xuất các giải pháp khả thi để hạn chế bạo lực gia đình với phụ nữ và trẻ em hiện nay ở Việt Nam, trong đó có công tác truyền thông, giáo dục cộng đồng được xem như một giải pháp quan trọng

Năm 2009-2010, lần đầu tiên ở Việt Nam có một nghiên cứu khá quy

mô tại chín tỉnh của cả ba miền Bắc- Trung- Nam về phòng chống bạo lực gia đình từ góc độ cảnh sát và cán bộ tư pháp Nghiên cứu này do ba tổ chức tham gia là Trung tâm Nghiên cứu Giới và Phát triển (RCGAD), Tổng cục Thống kê và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam với sự trợ giúp của Liên hợp quốc (UNODC), Bộ Công an và tổ chức nghiên cứu Phần Lan (HEUNI) Báo cáo kết quả nghiên cứu đã nêu rõ tình trạng bạo lực gia đình ở Việt Nam và mức độ phòng chống của các cơ quan chức năng như cảnh sát và pháp lý, những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế của hai lực lượng này trong công tác phòng chống bạo lực gia đình sẽ là các bài học trong tương lai [9, Tr.27]

Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Việt Nam năm 2010 thu thập thông tin chi tiết về tỷ lệ bạo lực, tần suất, những yếu tố nguy cơ và hậu quả của bạo lực gia đình đối với phụ nữ Đây là nghiên cứu đầu tiên trên phạm vi toàn quốc cũng như 6 vùng kinh tế xã hội Ngoài ra nghiên cứu còn đánh giá các chiến lược đối phó, nhận thức về bạo lực gia đình đối với phụ nữ và kiến thức của phụ nữ về quyền pháp lý của họ Kết

Trang 18

quả của nghiên cứu này tạo điều kiện cho các cơ quan Chính phủ và các tổ chức xã hội dân sự nâng cao nhận thức và xây dựng những chính sách và chương trình nhằm ngăn ngừa và giải quyết vấn đề về bạo lực gia đình đối với phụ nữ một cách hiệu quả hơn.

Hoàng Hồng Hạnh và cộng sự (2012) với đề tài khoa học cấp Bộ “Bạo

lực gia đình dưới góc độ tiếp cận văn hóa học” đã nêu ra được thực trạng bạo

lực gia đình cùng với những nguyên nhân chủ quan, khách quan và tác động, ảnh hưởng đối với gia đình Việt Nam Nhóm tác giả đưa ra các nhóm giải pháp nhằm góp phần phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam: Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức của cá nhân và cộng đồng về gia đình và bạo lực gia đình; Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về phòng chống bạo lực gia đình; Nhóm giải pháp văn hóa giáo dục; Nhóm giải pháp kinh tế; Nhóm giải pháp tình huống Ở mỗi nhóm giải pháp đều xác định các nội dung cụ thể nhằm tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống bạo lực gia đình ở cá nhân, gia đình và xã hội Sự phối hợp đồng bộ giữa các nhóm giải pháp là một yêu cầu hóa giải các yếu tố có thể trở thành nguyên nhân bạo lực gia đình Trong các nhóm giải pháp, nhóm giải pháp yêu cầu xây dựng văn hóa gia đình có vai trò động lực, nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về phòng chống bạo lực gia đình giữ vai trò then chốt

Về tình hình bạo lực gia đình ở Việt Nam, Ts Trịnh Thị Hoài Đức-

Giám đốc trung tâm sức khỏe phụ nữ và gia đình khẳng định:”Ở Việt Nam,

bạo lực gia đình không phải là chủ đề mới, mà đã có từ lâu trong lịch sử Nguyên nhân sâu xa của bạo lực gia đình ở Việt Nam là do tàn dư của nền văn hóa phong kiến, của chế độ phụ hệ, tư tưởng trọng nam, khinh nữ của nho giáo từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Người đàn ông luôn cho rằng mình ở vị trí cao hơn phụ nữ, có quyền đối với phụ nữ Chính nền văn hóa phong kiến đã khuyến khích người phụ nữ thừa nhận tự nguyện về

Trang 19

quyền hành của nam giới và địa vị phụ thuộc của người vợ vào người chồng trong gia đình, từ đó chấp nhận những hành vi bạo lực của nam giới” [15]

Như vậy, có thể thấy vấn đề bạo lực trong gia đình đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Những số liệu chính thức về bạo lực gia đình,

dù hạn chế, song đã cung cấp những bằng chứng về mức độ nghiêm trọng của bạo lực mà người phụ nữ phải trải qua trong cuộc sống gia đình Tuy nhiên, những nghiên cứu về giáo dục cộng đồng như là một phương pháp của công tác xã hội, một kỹ thuật của phát triển cộng đồng còn chưa nhiều, chưa mang tính chất hệ thống Trong quá trình thực hiện đề tài này tác giả đã tiếp thu được rất nhiều luận điểm cho đề tài của mình Tuy nhiên, tác giả nhận thấy ở mỗi công trình nghiên cứu trên vẫn còn một số vấn đề chưa được đề cập hoặc

đề cập chưa sâu, đặc biệt là vấn đề giáo dục cộng đồng trong phòng, chống bạo lực gia đình với phụ nữ

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

3.1 Về mặt lý luận

Hệ thống hóa và bổ sung những lý luận về bạo lực gia đình, phương pháp giáo dục cộng đồng như một công cụ quan trọng của phát triển cộng đồng trong nghề công tác xã hội Trên cơ sở đó đưa ra khuyến nghị về giải pháp công tác giáo dục cộng đồng, thúc đẩy nghề công tác xã hội ở Việt Nam góp phần phòng, chống bạo lực gia đình ở địa phương

Trang 20

Đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục cộng đồng về phòng, chống bạo lực gia đình tại xã Sóc Đăng, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ từ đó đưa

ra những khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cộng đồng góp phần vào phòng, chống bạo lực gia đình ở địa phương

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận về bạo lực gia đình, phương pháp giáo dục cộng đồng trong phát trển cộng đồng của nghề công tác xã hội

Đánh giá thực trạng các hoạt động giáo dục cộng đồng của địa phương như hình thức, nội dung, đối tượng hướng tới và sự tham gia của người dân

Đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao hiểu biết về phòng, chống bạo lực gia đình cho cán bộ và người dân tại xã Sóc Đăng, huyện Đoan Hùng, Phú Thọ góp phần thúc đẩy công tác giáo dục cộng đồng nhằm hạn chế bạo lực gia đình với phụ nữ tại địa bàn nghiên cứu

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động GDCĐ trong phòng, chống bạo lực gia đình với phụ nữ

5.2 Khách thể nghiên cứu

Phụ nữ có gia đình đã từng bị bạo lực gia đình, từ 18 tuổi trở lên

Cán bộ ở địa phương (Chính quyền địa phương; Các tổ chức đoàn thể: hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên ; Các cơ quan chức năng: y tế, giáo dục, công an…)

Người dân ở địa bàn nghiên cứu (bao gồm cả nam giới và nữ giới)

6 Giả thuyết nghiên cứu

Giáo dục cộng đồng trong phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng, huyện Đoan Hùng, Phú Thọ đang diễn ra hết sức đa dạng và phong phú về cả hình thức và nội dung

Trang 21

Công tác giáo dục cộng đồng trong phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng, huyện Đoan Hùng, Phú Thọ đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận

Sự hài lòng của người dân khi tham gia vào các chương trình giáo dục cộng đồng ở địa phương là khá cao

7 Câu hỏi nghiên cứu

Giáo dục cộng đồng trong phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng, huyện Đoan Hùng, Phú Thọ diễn ra dưới các hình thức và nội dung như thế nào?

Để thu hút sự tham gia của người dân, các chương trình giáo dục cộng đồng ở địa phương đã diễn ra như thế nào?

Kết quả của công tác giáo dục phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại địa phương? Mức độ hài lòng của người dân địa phương khi tham gia vào các chương trình giáo dục cộng đồng trong phòng chống bạo lực gia

đình đối với phụ nữ?

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp định tính

8.1.1 Nghiên cứu tài liệu

Thu thập, rà soát, đánh giá và phân tích các tài liệu có sẵn từ:

Các thông tin trên các phương tiện truyền thông về các trường hợp bạo lực gia đình

Thống kê, báo cáo tổng hợp về tình hình kinh tế- xã hội của chính quyền địa phương nơi tiến hành nghiên cứu

Kết quả những tài liệu nghiên cứu, các công trình nghiên cứu khoa học

có liên quan đã được công bố ở Việt Nam cũng như một số quốc gia trên thế giới và khu vực

8.1.2 Thảo luận nhóm

Trang 22

Đối tượng tham gia thảo luận nhóm trọng tâm:

Nhóm phụ nữ có gia đình (ở nghiên cứu này chú tâm vào đối tượng phụ

nữ có gia đình bị bạo lực gia đình)

Đại diện người dân ở địa phương và đại diện cán bộ của các cơ quan có thẩm quyền, các tổ chức đoàn thể có liên quan đến vấn đề (9 thôn)

Để đảm bảo tính chính xác của thông tin, thảo luận nhóm đã được tiến hành riêng đối với từng nhóm đối tượng trên

Tổng số có 7 cuộc thảo luận nhóm, với 64 người được chọn

8.1.3 Phỏng vấn sâu

Phụ nữ và nam giới ở địa phương (14 nữ, 10 nam)

Nam giới có hành vi bạo lực gia đình ở địa phương (5 người)

Phụ nữ đã có chồng bị bạo lực gia đình ở địa phương (10 người)

Một số nhà quản lý của các cơ quan chức năng ở địa bàn nghiên cứu: Chính quyền địa phương- 5 người; Các tổ chức đoàn thể: hội phụ nữ, hội nông dân, cán bộ văn hóa xã hội- 5 người; Các cơ quan chức năng: y tế, giáo dục, công an- 5 người

Tổng số có 54 cuộc phỏng vấn sâu

Như vậy, tổng số có 54 cuộc phỏng vấn sâu và 7 cuộc thảo luận nhóm được tiến hành trên 9 thôn (từ thôn 1 đến thôn 9) của xã Sóc Đăng

8.2 Phương pháp định lượng

Nghiên cứu được tiến hành bằng cách khảo sát bằng bảng hỏi Nghiên

cứu thực hiện phỏng vấn theo trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi, theo hai bộ bảng hỏi: Bộ bảng hỏi dành cho người dân gồm có 22 câu hỏi và bộ bảng hỏi dành cho cán bộ cộng đồng gồm có 15 câu hỏi

Các đối tượng tham gia bao gồm:

Người dân địa phương, phụ nữ đã có gia đình (trong đó bao gồm cả nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình lẫn nhóm phụ nữ chưa bị bạo lực gia đình)

Trang 23

Nhóm đối tượng được lựa chọn phỏng vấn từ 18 tuổi trở lên- những đối tượng

đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam Tổng số có 120 người dân tham gia khảo sát bằng bảng hỏi

Cán bộ của các cơ quan chức năng ở địa bàn nghiên cứu: Chính quyền địa phương; Các tổ chức đoàn thể: hội phụ nữ, hội nông dân, cán bộ văn hóa

xã hội; Các cơ quan chức năng: y tế, giáo dục, công an Tổng số 20 cán bộ

 Khái quát mẫu điều tra

Kết quả nghiên cứu tại Bảng 2.1 cho thấy, mẫu điều tra nghiên cứu đồng đều ở các lĩnh vực: nghề nghiệp, tôn giáo, giới tính nam và nữ, với cả người dân bị bạo lực, hoặc chưa từng bị bạo lực để có thể có được bức tranh nghiên cứu toàn cảnh hơn về vấn đề bạo lực gia đình, vấn đề phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại xã Sóc Đăng

Bảng 1.1: Đặc điểm kinh tế xã hội/nhân khẩu học của nhóm mẫu điều tra

Trang 24

Nghề nghiệp: Đa số người dân được điều tra có nghề nghiệp là nông

dân (53.3%) chiếm trên ½ số điều tra Các nghề nghiệp còn lại được phân bố khá đồng đều, chênh lệch tỷ lệ không đáng kể: công nhân, viên chức (18.3%), kinh doanh (15%), làm thuê (10%) Tỷ lệ người dân thất nghiệp không có việc làm chiếm số nhỏ 3.4% tổng số người dân được điều tra

Tôn giáo: Đa số người dân ở địa bàn trong gia đình theo tôn giáo chủ yếu là Phật giáo (78.3%), một bộ phận người dân theo tôn giáo là thiên chúa giáo (14.2%) và có một số ít người dân trả lời họ không theo bất cứ tôn giáo nào mà chỉ theo tín ngưỡng dân tộc là thờ cúng tổ tiên (7.5%)

Tình trạng hôn nhân:Phần lớn người dân tham gia khảo sát là người

hiện có chồng/vợ (84.2%), 8.3% đang trong tình trạng ly thân hoặc ly hôn với chồng, 5.8% góa chồng/vợ, và 1.7% là các gia đình không kết hôn nhưng vẫn

có con Việc lựa chọn những người tham gia khảo sát đa số đều là những người đang hoặc đã từng kết hôn

Mức sống: Tỷ lệ gia đình có mức sống khá giả chiếm 7.5%, trung bình

là 81.7%, thấp là 13%; sự phân hóa về mức sống ít nhiều ảnh hưởng đến tình trạng bạo lực gia đình ở địa phương Gần 25% người dân đang sống trong gia

Trang 25

đình mở rộng nhiều thế hệ, 75% sống trong gia đình hạt nhân Các mối quan

hệ trong gia đình giữa vợ chồng, bố mẹ và con cái cũng có tác động không nhỏ tới vấn đề bạo lực gia đình ở địa phương

Tất cả các yếu tố phân tích trên đều góp phần dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình ở xã Sóc Đăng, huyện Đoan Hùng, Phú Thọ Theo nhận định

trong một nghiên cứu của Viện Xã hội học 1999 thì:”Bạo lực gia đình Việt

Nam diễn ra ở ở mọi vùng, cả đô thị lẫn nông thôn, và trong mọi gia đình thuộc mọi mức thu nhập” [3, tr.43].

8.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Toàn bộ số liệu điều tra định lượng được xử lý thô và số liệu được xử

lý bằng phần mềm spss

9 Phạm vi nghiên cứu

9.1 Địa điểm

Tại xã Sóc Đăng, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

Thời gian: Từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 12 năm 2013

9.2 Nội dung

Trong phạm vi của đề tài này thì công tác giáo dục cộng đồng nhằm chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ chứ không phải với nam giới Nghiên cứu tập trung vào:

Thực trạng các loại hình bạo lực gia đình với phụ nữ

Thực trạng hiểu biết của người dân về phòng, chống bạo lực gia đình với phụ nữ như: luật pháp, chính sách; kỹ năng ứng phó, kỹ năng tự bảo vệ bản thân khi xảy ra bạo lực gia đình

Các hình thức, nội dung, đối tượng thực hiện và sự tham gia của người dân nhằm phòng, chống bạo lực gia đình

Trang 26

Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng trong đề tài này, tác giả đã lựa chọn cách tiếp cận hệ thống sử dụng xuyên suốt trong nghiên cứu của mình.

Khái niệm: “Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc

cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất” [18, tr.434].

Góc độ công tác xã hội: “Hệ thống là một tập hợp các thành tố được

xắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất Con người phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu trực tiếp của mình trong cuộc sống” [18, tr.436]

Trang 27

Hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều thành tố tương tác và phụ thuộc lẫn nhau Quan điểm về hệ thống cung cấp cho chúng

ta một khung tổ chức gồm nhiều yếu tố, bộ phận liên quan và tác động qua lại với nhau trong môi trường xã hội

Thuyết hệ thống dựa trên quan điểm lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và đồng thời bản thân các tiểu hệ thống cũng như là một phần của hệ thống lớn hơn Thuyết hệ thống hoạt động tuân thủ theo nguyên tắc: a/ mọi tiểu hệ thống đều nằm trong hệ thống lớn hơn b/ mối quan hệ chặt chẽ giữa tiểu hệ thống này với hệ thống khác c/ mọi hệ thống đều có đầu vào và đầu ra d/ mọi hệ thống đều có xu thế tìm kiếm sự cân bằng với hệ thống khác.Thuyết hệ thống hoạt động tuân thủ theo nguyên tắc: Một là, mọi tiểu hệ thống đều nằm trong hệ thống lớn hơn Hai là, mối quan hệ chặt chẽ giữa tiểu hệ thống này với hệ thống khác Ba là, mọi hệ thống đều có đầu vào và đầu ra Bốn là, mọi hệ thống đều có xu thế tìm kiếm sự cân bằng với hệ thống khác

Lí thuyết hệ thống đã chỉ ra các mối liên kết tất yếu trong mạng xã hội giữa cá nhân với cá nhân, vời nhóm và ngược lại Nội dung này như là một căn cứ khoa học, để hiểu sự tương tác giữa các thành viên trong gia đình, giữa gia đình và các cơ quan tổ chức trong cộng đồng Theo đó, gia đình cũng là một hệ thống có sự tương tác, phụ thuộc và tác động qua lại giữa các thành viên, khi mà phụ nữ bị bạo lực thì không chỉ tác động đến tâm lý, tình cảm của cá nhân người phụ nữ đó, mà còn tác động đến các thành viên khác trong gia đình Nếu một cá nhân bị bạo lực có thể giúp gia đình thay đổi và sự thay đổi này sẽ tác động đến tất cả những thành viên theo hướng tích cực hay tiêu cực Tuy nhiên, nhân viên công tác xã hội cần phối hợp với các cơ quan ban ngành khác để hỗ trợ và làm sao giúp các cặp vợ chồng hay gia đình cân bằng trong thay đổi Đồng thời, phải tìm hiểu xem gia đình đó thuộc vào loại hệ

Trang 28

thống nào – đóng (closed) hay mở (open), xa cách (disengaged) hay không gắn bó (enmeshed); tìm hiểu sự phản hồi (feedback) trong gia đình; những ranh giới (boundaries) chức năng phân chia theo vai trò; và các qui tắc (rules) trong gia đình Chính vì, xung quanh gia đình có rất nhiều hệ thống: hệ thống công an, hệ thống phụ nữ, , nếu như các hệ thống này có quy định, can thiệp thì sẽ giúp cho hệ thống gia đình mạnh lên, giúp cho công tác phòng, chống bạo lực gia đình với phụ nữ đạt được kết quả cao nhất.

1.1.2 Thuyết nhận thức

Các lý thuyết nhận thức nghiên cứu quá trình nhận thức bên trong với

tư cách là một quá trình xử lý thông tin Bộ não xử lý các thông tin tương tự như một hệ thống kỹ thuật Quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc, và có ảnh hưởng quyết định đến hành vi Con người tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lý và đánh giá chúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử Trung tâm của các lý thuyết nhận thức là các hoạt động trí tuệ: xác định, phân tích

và hệ thống hóa các sự kiện và các hiện tượng, nhớ lại những kiến thức đã học, giải quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới

Albert Ellis (1977) cho rằng cách mà con người nhìn nhận thế giới sẽ chi phối hành vi của họ, những niềm tin không hợp lý sẽ dẫn đến những hành

vi không hợp lý, muốn thay đổi hành vi cần thay đổi nhận thức của con người Như vậy, có thể hiểu con người nhìn nhận thế giới như thế nào thì sẽ có hành

vi theo thế đó Nếu họ có cách nhìn nhận không hợp lý thì sẽ dẫn đến hành vi không hợp lý Xuất phát từ quan niệm nho giáo, người dân nhìn nhận người chồng/nam giới là trụ cột gia đình, họ đương nhiên có quyền được dạy vợ

“dạy con từ thủa còn thơ, dạy vợ từ thủa bơ vơ mới về”, và phụ nữ luôn nhìn

nhận kém hơn đàn ông thì sẽ dẫn đến bạo lực gia đình Muốn thay đổi hành vi thì phải thay đổi nhận thức Giáo dục cộng đồng chính là cách thay đổi nhận

Trang 29

thức, giúp cho người dân (nam giới, nữ giới) có cái nhìn đúng đắn hơn về vấn

đề bạo hành gia đình

1.1.3 Thuyết hành vi

Thuyết hành vi tiêu biểu: Arnold Lazarus, R E Albeti, F Skinner, Albert Bandura, Joseph Wolpe và Alan Kazdin, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hành công tác xã hội Đây là một trường phái tâm lý học giải thích

về hành vi chỉ dựa trên những quan sát hành vi thấy rõ hơn là dựa vào những quá trình nhận thức diễn ra bên trong não hay là những hành vi không thấy rõ

Khuynh hướng hành vi được phát triển trong những năm 50 và đầu những năm 60 như là sự cấp tiến thoát khỏi triển vọng của trị liệu phân tâm đang thịnh hành trước đó.Thuyết hành vi là cơ sở giúp đối tượng giảm hành vi không phù hợp và tăng cường hành vi đúng đắn Từ đó đem lại cho đối tượng cảm giác đúng đắn về bản thân và giúp họ tương tác một cách hài hòa về môi trường xung quanh

Như vậy, theo các nhà hành vi, thì hành vi con người hàm chứa yếu tố nhận thức kiến thức, niềm tin, thái độ, giá trị xã hội và hành động cụ thể của con người, các yếu tố này thường đan xen, kết hợp chặt chẽ với nhau khó có thể phân tách rõ ràng cho nên tư duy của con người giống như kĩ xảo, nó được hình thành theo cơ chế phản xạ và luyện tập chúng Các tác giả của học thuyết này cho rằng hành vi của con người có thể thay đổi được, điều chỉnh được qua học tập có điều kiện Lý thuyết này có giá trị to lớn trong việc áp dụng vào can thiệp, thông qua giáo dục cộng đồng như tuyên truyền (loa phát thanh, tivi, báo đài,….), tập huấn, hội thảo, tọa đàm,….có thể thay đổi, điều chỉnh được hành vi của người bạo lực và người bị bạo lực trong gia đình

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 Bạo lực gia đình

1.2.1.1 Khái niệm

Trang 30

Bạo lực

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): “Bạo lực là việc đe dọa hay dùng

sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người hay một cộng đồng người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát”.

Theo Từ điển Tiếng Việt (2003): “Bạo lực là sức mạnh dùng để trấn

áp, lật đổ Nó có thể là bạo lực chính trị, bạo lực vũ trang, trên phạm vi toàn

xã hội, giữa các quốc gia, trên lãnh thổ một đất nước, nó có thể là bạo lực gây thương tích, tổn thương về kinh tế, thể chất hay tinh thần của người này cho người khác trong các nhóm xã hội hay trong gia đình” [3, tr.14].

Còn theo từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học (1986): “Bạo lực là một

giai cấp (các nhóm chính trị- xã hội) nào đó áp dụng những hình thức cưỡng bức khác nhau, kể cả sự tác động bằng vũ trang, đối với các giai cấp (các nhóm chính trị- xã hội) khác nhau nhằm mục đích giành lấy hoặc duy trì sự thống trị về kinh tế, chính trị những quyền hay đặc quyền khác nhau” [17,

tr.121]

Tuy nhiên, không phải mọi hình thức bạo lực trong xã hội đều mang tính chính trị, đều chỉ hướng vào việc lật đổ các đảng và phe phái chính trị Người ta có thể dùng bạo lực để hành xử với nhau trong cuộc sống hàng ngày như: giải quyết sự bất hòa trong quan hệ xã hội, sự tranh chấp quyền lợi giữa hai người hàng xóm,…Như vậy, có thể gọi bạo lực là một hiện tượng xã hội

và là một phương thức hành xử trong các mối quan hệ xã hội

Bạo lực gia đình

Ở Việt Nam, 21/11/2007, trong kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa XII

đã thông qua bản dự thảo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và có hiệu lực

thi hành từ ngày 01/07/2008 thì:”Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành

Trang 31

viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” [13, tr.7]

Theo nghiên cứu của Bùi Thị Xuân Mai và cộng sự (2009) thì: “Bạo lực

gia đình là hành động làm tổn thương và sự đe dọa, cưỡng bức của các thành viên trong gia đình về thể chất, tinh thần, tình dục và kinh tế của các thành viên khác trong gia đình khiến họ bị đau đớn về thể xác, tổn hại về tinh thần và gặp khó khăn trong phát triển nhân cách Bản chất của bạo lực gia đình là sự lạm dụng quyền lực của thành viên nào đó trong gia đình để khống chế khuất phục

và kiểm soát những người khác trong gia đình” [3, tr.16]

Bạo lực gia đình là sự phản ánh cuộc khủng hoảng của gia đình, bất đồng trong quan điểm, sa sút về tình cảm và sự suy thoái về các chuẩn mực đạo đức

Bạo lực gia đình với phụ nữ

Bạo lực gia đình với phụ nữ được miêu tả trong Báo cáo Dân số Chấm

dứt Bạo lực đối với Phụ nữ (1999) như sau:”Nó thường được biết đến như là

bạo lực “trên cơ sở giới” bởi vì xuất phát một phần từ vị trí thấp kém hơn của người phụ nữ trong xã hội Phần khác, nhiều nền văn hóa có các niềm tin, chuẩn mực và thể chế xã hội làm chính đáng hóa bạo lực đối với phụ nữ và bởi vậy gây ra bạo lực đối với phụ nữ Cùng là những hành động như nhau nhưng nếu chúng xảy ra với người chủ lao động, người hàng xóm hoặc người quen thì sẽ bị trừng phạt, nhưng lại không có vấn đề gì nếu nam giới có các hành động đó đối với phụ nữ, đặc biệt trong phạm vi gia đình” [20, tr.14-15]

Theo Bùi Thị Xuân Mai và các cộng sự, 2009 thì: “Bạo lực gia đình với

phụ nữ là bất cứ những hành vi nào của người trong gia đình gây tổn thương cho người phụ nữ cả thể chất và tinh thần, nó gồm hành vi bạo lực gây tổn thương thể chất, lạm dụng tình dục, sự kiểm soát về kinh tế lẫn tinh thần” [3, tr.17].

1.2.1.2 Phân loại bạo lực gia đình

Thông thường chủ yếu phân chia theo hai cách

Trang 32

Dựa trên đối tượng bị bạo lực có:

Bạo lực với bạn tình hoặc vợ/chồng: đây là kiểu bạo hành chủ yếu

chiếm một phần khá lớn trong cuộc sống Hình thức bạo hành này chỉ tính chung vào nạn nhân của bạo hành là người tình, vợ/chồng Người bị bạo hành chịu nhiều hình thức bạo hành như: bị đánh đập, tát, kéo, ép phải quan hệ tình dục mà không muốn,…

Bạo lực với trẻ em: Bao gồm các hành vi sử dụng bạo lực với trẻ em như:

tát, đánh đập, các hành vi gây đau đớn về thể xác cũng như tinh thần của trẻ em

Bạo lực với người già: Là các hành vi như sử dụng sức khỏe để dọa nạt,

gây áp lực để làm theo ý của mình, các hành vi gây tác động đến thân thể và tinh thần…

Bạo lực xã hội: Ngăn không cho tiếp xúc với gia đình, bạn bè, bao vây

kinh tế nhằm hạn chế các hoạt động mang tính cộng đồng

Dựa trên tính chất hành vi bị bạo lực gia đình có:

Bạo lực thể chất: Là bất cứ hành vi cố ý gây thương tích trên cơ thể nạn

nhân, bao gồm hành vi bạo lực và thương tật nhỏ [4, tr11] Bao gồm những hành vi như đánh đập, ngược đãi, tra tấn hoặc các hành động cố ý khác làm nạn nhân bị thương tích, ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc bị thiệt mạng [4, tr27]

Bạo lực tình dục: là bất kỳ hành vi cố ý nào quấy rối tình dục, ép buộc

hay dùng thủ đoạn để lừa người khác có những hoạt động tình dục trái với mong muốn của họ, kể cả các trường hợp chưa thực hiện được hành vi tình dục, chưa có giao hợp, hay chưa có hậu quả xấu về sức khỏe tình dục Hành

vi ép buộc về tình dục có thể xảy ra cả trong hôn nhân – giữa vợ và chồng, kể

cả sau khi đã ly thân, ly hôn, và cả trong tình yêu – giữa hai người yêu nhau Bạo lực tình dục thường đi kèm cả cả bạo lực thể chất và/ hoặc bạo lực tinh thần, vì vậy cũng có thể xếp hành vi bạo lực tình dục vào nhóm hành vi bạo lực thể chất và nhóm hành vi bạo lực tinh thần

Trang 33

Bạo lực tinh thần: là bất kỳ hành vi cố ý nào làm tổn thương tinh thần

của đối phương, đây còn được gọi là bạo lực tình cảm/ tâm lý Bao gồm những hành vi có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần của phụ nữ- những hành vi như lăng mạ, chửi bới, đe dọa hoặc các hành vi xúc phạm khác, kiểm soát và ngăn cấm người phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội hoặc kinh tế [4, tr.27]

Bạo lực xã hội: Ngăn không cho tiếp xúc với gia đình, bạn bè, bao vây

kinh tế nhằm hạn chế các hoạt động mang tính cộng đồng Bạo lực này thường được xác định khi mà người trong gia đình đặc biệt là người chồng hoàn toàn kiểm soát tiền bạc và các nguồn lực khác của người vợ, bao gồm cả việc tịch thu tài sản riêng, cấm đoán phụ nữ đi làm kiếm tiền Hình thức này

về bản chất là cố tình tạo ra ảnh hưởng để bắt buộc người phụ nữ trong gia đình phụ thuộc vào người chồng Ở Việt Nam hiện có ít nghiên cứu về dạng bạo lực này

Tuy nhiên, dù là theo cách phân chia nào thì bạo lực chỉ nhằm mục đích

dễ nhận thức, còn trong thực tế khó phân định được rạch ròi các kiểu loại bạo lực như vậy Có những hành vi bạo lực thuộc về một loại hình bạo lực nhưng cũng có hành động bạo lực thường kết hợp từ hai hay nhiều hình thức bạo lực

Ví dụ: Hành vi đánh đập (bạo lực thể chất) thường đi kèm với chửi mắng, nhiếc móc (bạo lực tinh thần) hay như trường hợp bạo lực tình dục thường kết hợp cả hai hình thức bạo lực thể chất (cưỡng bức) và bạo lực tinh thần, tình cảm (cảm giác chán chường của vợ/chồng) hay sự tủi hổ, nhục nhã của nạn nhân

1.2.1.3 Nguyên nhân của bạo lực gia đình

Khi đề cập đến nguyên nhân của bạo lực gia đình đối với phụ nữ, có nhiều nghiên cứu và nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực Có nhiều cách tiếp cận nguyên nhân khác nhau, tác giả Lê Thị Quý (2011) cho rằng bạo lực gia

Trang 34

đình xuất phát từ các nguyên nhân như: Nguyên nhân tâm lý, cá tính; nguyên nhân kinh tế; nguyên nhân sinh lý; nguyên nhân văn hóa - phong tục tập quán, bình đẳng giới, quyền cha mẹ

TS Bùi Thị Xuân Mai và các cộng sự trong nghiên cứu về Các giải pháp hạn chế bạo lực gia đình với phụ nữ và trẻ em (2009) đã tiếp cận theo các nguyên nhân:

Nguyên nhân từ góc độ kinh tế: Tác giả và nhóm cộng sự cho rằng kinh

tế nghèo nàn thường được xem như một trong nguyên nhân của BLGĐ Mặc

dù không phải bạo lực chỉ xảy ra trong những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ở những gia đình này nguy cơ bạo lực thường cao hơn so với những gia đình có kinh tế khá giả

Nguyên nhân từ góc độ bất bình đẳng giới, hạn chế về nhận thức: Theo

tác giả một nguyên nhân khác của BLGĐ đó là tư tưởng bất bình đẳng giới,

sự hạn chế nhận thức hạn chế về trình độ hiểu biết về quyền con người, về luật pháp, quan niệm giáo dục theo tư tưởng phong kiến của các thành viên trong gia đình

Nguyên nhân từ vấn đề xã hội: Tác giả cũng chỉ ra rằng một nguyên

nhân khác của bạo lực được xem như xuất phát từ những vấn đề tồn tại trong

xã hội như tệ nạn nghiện rượu, cờ bạc, ngoại tình và các tệ nạn xã hội khác Các tệ nạn này nếu không được giải quyết thì có thể là nguyên nhân tiềm tàng của sự BLGĐ

Nguyên nhân do thiếu vắng chính sách, dịch vụ hay sự can thiệp không nghiêm minh của luật pháp đối với bạo lực gia đình: Sự thiếu vắng của các

luật pháp, chính sách và những dịch vụ trợ giúp nạn nhân bị bạo lực trong cộng đồng không những hạn chế việc công khai các ca bạo lực mà còn làm gia tăng sự cam chịu của các nạn nhân và trở thành tiềm thức về trách nhiệm, tội lỗi của họ với hành vi bạo lực

Trang 35

Theo nghiên cứu của Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên Hiệp quốc (UNODC) năm 2011 thì nguyên nhân cuả bạo lực gia đình là một tập hợp những hành vi khác nhau của người gây bạo lực để tạo quyền lực và kiểm soát đối với nạn nhân [4, tr.28].

Đe dọa: Làm nạn nhân sợ hãi bằng ánh mắt, hành động, cử chỉ, đập vỡ

đồ vật, phá hủy tài sản của nạn nhân, trưng vũ khí ra

Bạo lực tinh thần: Làm nạn nhân bẽ mặt, tự cảm thấy xấu hổ, chửi bới,

làm nạn nhân tự nghĩ mình là điên rồ, chơi trò tâm lý, lăng mạ , làm nạn nhân cảm thấy có lỗi

Cô lập: Kiểm soát xem nạn nhân làm gì, gặp gỡ và nói chuyện với ai,

đọc cái gì, đi đâu, hạn chế sự tham gia ngoài xã hội, lấy lý do ghen tuông để bào chữa cho những hành động đó

Giảm nhẹ, phủ nhận và đổ lỗi: Giảm nhẹ sự lạm dụng và không nghiêm

túc khi nạn nhân lo lắng về tình trạng bạo lực, nói rằng bạo lực không hề xảy

ra, đổ trách nhiệm trong hành vi bạo lực, nói rằng đó là do nạn nhân

Sử dụng con cái: Làm cho nạn nhân cảm thấy có lỗi với con cái, sử

dụng con cái để gửi thông điệp đe dọa, lấy cớ thăm nom để quấy rầy nạn nhân, đe dọa mang con cái đi

Dùng đặc quyền của nam giới: Đối xử với nạn nhân như người hầu,

quyết định mọi vấn đề quan trọng, hành động như “lãnh chúa”, quyết định đâu là vị trí của nam, đâu là của nữ

Sử dụng bạo lực kinh tế: Không cho nạn nhân kiếm việc hoặc đi làm,

buộc nạn nhân phải xin tiền, cho nhạn nhân tiền tiêu vặt, lấy tiền của nạn nhân, không cho nạn nhân được biết hoặc được tiếp cận với thu nhập gia đình

Ép buộc và đe dọa: Đe dọa hoặc ra tay thật làm tổn thương nạn nhân, dọa

bỏ, buộc nạn nhân tự tử, tố giác nạn nhân với cơ sở trợ giúp xã hội, ép buộc nạn nhân phải từ chối khai báo, buộc nạn nhân làm những việc trái pháp luật

Trang 36

Như vậy, nguyên nhân gây ra bạo lực đã được đề cập khá nhiều trong các công trình nhiên cứu, điều tra, khảo sát Dù nghiên cứu dưới góc độ nào, thì nhìn chung nguyên nhân của bạo lực gia đình vẫn từ một số nguyên nhân chủ yếu sau: Nhận thức về bình đẳng giới và tư tưởng “trọng nam hơn nữ”; do kinh tế gia đình khó khăn, không có việc làm; do trình độ học vấn thấp; do mắc vào của tệ nạn xã hội (nghiện rượu, sử dụng ma túy và chơi cờ bạc ); do ghen tuông, ngoại tình; do áp lực phải sinh con trai, do tập tục lạc hậu, do thiếu sự vào cuộc của các cơ quan chức năng

1.2.1.4 Ảnh hưởng của bạo lực gia đình

Bạo lực gia đình đã gây nên nhiều hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến thể chất, tâm lý, kinh tế, xã hội cho nạn nhân bị bạo lực, cho gia đình và toàn xã hội Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những ảnh hưởng nghiêm trọng của bạo lực gia đình

Tác giả Lê Thị Quý (2011) cho rằng, BLGĐ đã tác động tiêu cực đến: Phụ nữ, trẻ em

BLGĐ gây tác động đến trẻ em: BLGĐ với trẻ em không chỉ ảnh

hưởng tới hiện tại mà còn tới tương lai lâu dài của các em sau này Trẻ em sống trong các gia đình có bạo lực luôn bị áp lực và căng thẳng

BLGĐ gây tác động đến phụ nữ: Người ngược đãi phụ nữ trong gia

đình có thể là các thành viên khác trong gia đình, nhưng phổ biến nhất là

Trang 37

người chồng Người phụ nữ luôn phải ở trong tâm trạng sợ hãi bởi đe dọa của người chồng hay những thành viên khác trong gia đình về việc có thể gây thương tích cho con cái họ.

BLGĐ không chỉ gây nên những tổn thương đối với phụ nữ và trẻ em trong gia đình mà nó còn gây nên những ảnh hưởng với nhiều thành viên khác trong gia đình như ông bà, họ hàng anh chị em (với gia đình mở rộng) Bầu không khí căng thẳng luôn tồn tại trong những gia đình thường xảy ra bạo lực

Do bị thương tích trong các cuộc bạo lực nên nhiều phụ nữ thậm chí đàn ông phải nghỉ việc, vì vậy thu nhập của gia đình họ bị giảm sút Sự tổn thất kinh tế

do BLGĐ gây nên đối với gia đình là rõ rệt

Theo kết quả của của các nhà nghiên cứu, có thể tóm lược rằng những ảnh hưởng tiêu cực của BLGĐ tác động tới nạn nhân như thể xác, tinh thần và ảnh hưởng tới kinh tế không chỉ của gia đình mà còn của cả xã hội Bên cạnh

đó, còn gây nên mất trật tự xã hội thuần phong mỹ tục của con người nói chung và của Việt Nam nói riêng Riêng đối với phụ nữ, bạo lực gia đình đã gây nên những tác động tiêu cực đối với họ như:

Quan hệ xã hội: BLGĐ khiến cho quan hệ xã hội của các thành viên

trong gia đình bị co hẹp Không ít gia đình bị cô lập bởi những cuộc xung đột trong gia đình họ Những người hàng xóm, con cái hàng xóm không muốn liên lụy hay giao tiếp với những người trong gia đình có bạo lực Sự tránh né của gia đình xung quanh cũng là một trong những ảnh hưởng tâm lý rất lớn đối với mọi người trong gia đình

Khả năng lao động và học tập: BLGĐ khiến cho người vợ/ người

chồng bị tổn thương về mặc thể xác, bị ảnh hưởng đến tinh thần nên khả năng làm việc, tạo ra thu nhập bị giảm sút từ đó thu nhập bị mất hay giảm

Tâm lý: BLGĐ khiến cho tất cả các thành viên trong gia đình nói chung và

cá nhân người bị bạo lực nói riêng bị căng thẳng, stress thậm chí là trầm cảm…

Trang 38

1.2.2 Giáo dục cộng đồng

1.2.2.1 Một số khái niệm có liên quan

Giáo dục cộng đồng được xem là một công cụ quan trọng của phát triển cộng đồng trong lĩnh vực công tác xã hội Trước khi đi vào khái niệm giáo dục cộng đồng cần làm rõ khái niệm công tác xã hội và phát triển cộng đồng

Công tác xã hội

Khái niệm CTXH:

Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW - 1970): “Công tác xã

hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó” [7, tr.17]

Mục đích của công tác xã hội

Công tác xã hội hướng tới tạo ra “thay đổi” tích cực trong xã hội, nhằm

nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người đặc biệt là những nhóm người yếu thế Công tác xã hội thúc đẩy sự biến đổi xã hội, tăng cường các mối tương tác hài hoà giữa cá nhân, gia đình và xã hội hướng tới tiến bộ và công bằng xã hội

Hoạt động nghề nghiệp Công tác xã hội hướng tới hai mục đích cơ bản

đó là nâng cao năng lực cho các nhóm đối tượng như cá nhân, gia đình và cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn và cải thiện môi trường xã hội để hỗ trợ cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện các chức năng, vai trò của họ có hiệu quả

Các chức năng của công tác xã hội

Như là bác sĩ xã hội, các nhân viên xã hội thực hiện những chức năng

của ngành công tác xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội, đó là:

Trang 39

Chức năng phòng ngừa; Chức năng can thiệp; Chức năng phục hồi; Chức năng phát triển

Phương pháp thực hành của Công tác xã hội gồm có:

Công tác xã hội với cá nhân

Công tác xã hội với nhóm

Đó là phương pháp giải quyết một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một cộng đồng Phát triển cộng đồng là các chiến lược áp dụng cho đối tượng là nhóm bị thiệt thòi, nhằm tăng quyền lực cộng đồng

Khái niệm PTCĐ

Khái niệm phát triển cộng đồng được chính phủ Anh sử dụng đầu tiên,

1940:”Phát triển cộng đồng là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức

dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị để phối hợp cùng những

nỗ lực của nhà nước để cải thiện hạ tầng cơ sở và tăng khả năng tực lực của cộng đồng” [7, tr.23]

Trang 40

Định nghĩa chính thức của Liên Hiệp Quốc, 1956: “Phát triển cộng

đồng là tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng

và giúp các cộng đồng này hội nhập và đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia” [7, tr.24].

TS Nguyễn Kim Liên (2008) định nghĩa:”Phát triển cộng đồng là tiến

trình giải quyết một số vấn đề, khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất, tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong khuôn khổ cộng đồng” [16, tr.65]

Với các khái niệm phát triển cộng đồng như trên, có thể coi PTCĐ như: một chương trình hoạt đồng xã hội, một phong trào hoạt động xã hội, một phương pháp hoạt động xã hội, một quá trình xã hội, một lĩnh vực nghiên cứu, một quan điểm/triết lý xã hội và một hệ thống lý luận [16, tr65-66]

Mục tiêu của PTCĐ

Mục tiêu bao trùm của Phát triển cộng đồng là góp phần mở rộng và phát triển các nhận thức và hành động có tính chất hợp tác trong cộng đồng, phát triển năng lực tự quản cộng đồng

Mục tiêu tổng quát trên được thể hiện dưới 4 khía cạnh:

Hướng tới cải thiện chất lượng sống của cộng đồng, với sự cân bằng về vật chất và tinh thần, qua đó, tạo những chuyển biến xã hội trong cộng đồng.Tạo sự bình đẳng trong tham gia của mọi nhóm xã hội trong cộng đồng,

kể cả các nhóm thiệt thòi nhất đều có quyền nói lên nguyện vọng của mình và được tham gia vào các hoạt động phát triển, qua đó, góp phần đẩy mạnh công bằng xã hội

Ngày đăng: 30/03/2020, 16:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w