.I.LÝ LUẬN VỀ TIỀN CÔNG CỦA CÁC MÁC1.Bản chất kinh tế của tiền côngBiểu hiện bề ngoài của đời sống xã hội tư bản, công nhân làm việc cho nhà tư bản một thời gian nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hóa hay hoàn thành một số công việc nào đó thì nhà tư bản trả cho công nhân một số tiền nhất định gọi là tiền công. Sự thật thì tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động, vì lao động không phải là hàng hóa. Sở dĩ như vậy là vì:•Nếu lao động là hàng hóa, thì nó phải có trước, phải được vật hóa trong một hình thức cụ thể nào đó. Nếu người lao động có tư liệu sản xuất, thì họ sẽ bán hàng hóa do mình sản xuất ra, chứ không bán “lao động”.•Việc thừa nhận lao động là hàng hóa đẫn tới một trong hai mâu thuẫn về lý luận sau đây:oThứ nhất, nếu lao động là hàng hóa và nó được trao đổi ngang giá, thì nhà tư bản không thu được lợi nhuận (giá trị thặng dư); điều này phủ nhận sự tồn tại thực tế của quy luật giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản.oThứ hai, còn nếu “hàng hóa lao động” được trao đổi không ngang giá để có giá trị thặng dư cho nhà tư bản, thì phải phủ nhận quy luật giá trị.•Lao động không phải là hàng hóa, cái mà công nhân bán cho nhà tư bản chính là sức lao động. Do đó, tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của sức lao động.Vậy, bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, hay giá cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá cả của lao động.Hình thức biểu hiện đó đã gây ra sự nhầm lẫn. Điều đó là do những thực tế sau đây:Thứ nhất, đặc điểm của hàng hóa sức lao động là không bao giờ tách khỏi người bán, nó chỉ nhận được giá cả khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho người mua, do đó bề ngoài chỉ thấy nhà tư bản trả giá trị cho lao động. Thứ hai, đối với công nhân, bản thân công nhân cũng tưởng rằng mình bán lao động. Còn đối với nhà tư bản bỏ tiền ra để có lao động, nên cũng nghĩ rằng cái họ mua là lao động. Thứ ba, lượng của tiền công phụ thuộc vào thời gian lao động hoặc số lượng sản phẩm sản xuát ra, điều đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả lao động.Tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư, thành lao động được trả công và lao động không được trả công, do đó tiền công che đậy mất bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản.2.Hai hình thức cơ bản của tiền công trong chủ nghĩa tư bảnTiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian và tiền công tính theo sản phẩm.Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít hay nhiều tùy theo thời gian lao động của công nhân (giờ, ngày, tháng) dài hay ngắn.Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩm mà công nhân đã sản xuất hoặc là số lượng công việc đã hoàn thành.Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định. Về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết sản xuất ra một sản phẩm. Vì thế tiền công tính theo sản phẩm là hình thức biến tướng của tiền công tính theo thời gian. Thực hiện tiền công tính theo sản phẩm, một mặt, giúp cho nhà tư bản trong việc quản lý, giám sát quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn; mặt khác kích thích công nhân lao động tích cực, khẩn trương tạo ra nhiều sản phẩm để nhận được tiền công cao hơn.3.Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tếTiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản. Tiền công được sử dụng để tái sản xuất sức lao động, nên tiền công danh nghĩa phải được chuyển hóa thành tiền công thực tế. Tiền công danh nghĩa là giá cả sức lao động, nên nó có thể tăng lên hay giảm xuống tùy theo sự biến động của quan hệ cung – cầu về hàng hóa sức lao động trên thị trường. Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hành hóa tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình.Tiền công là giá cả của sức lao động, nên sự vận động của nó gắn liền với sự biến đổi của giá trị sức lao động. Lượng giá trị sức lao động chịu ảnh hưởng của các nhân tố tác động ngược chiều nhau, dẫn tới sự biến đổi phức tạp của tiền công thực tế. Tuy nhiên, C. Mác đã vạch ra rằng xu hướng chung của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là nâng cao mức tiền công trung bình mà là hạ thấp mức tiền công ấy. Nhưng sự hạ thấp của tiền công thực tế chỉ diễn ra như một xu hướng. Mặt khác, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản ngày nay, do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ nên nhu cầu về sức lao động có chất lượng cao ngày càng tăng đã buộc giai cấp tư sản phải cải tiến tổ chức lao động cũng như kích thích người lao động bằng lợi ích vật chất. Đó cũng là một nhân tố cản trởi xu hướng hạ thấp tiền công.II.LIÊN HỆ VỚI TIỀN CÔNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
BỘ MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 2
Đề số 2:
Lý luận về tiền công của C.Mác và liên hệ với tiền công trong các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay
HÀ NỘI – 2019
M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
Trang 2MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I LÝ LUẬN VỀ TIỀN CÔNG CỦA CÁC MÁC 2
1 Bản chất kinh tế của tiền công 2
2 Hai hình thức cơ bản của tiền công trong chủ nghĩa tư bản 3
3 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế 4
II LIÊN HỆ VỚI TIỀN CÔNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM 4
1 Thực tiễn tiền công trong các doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam 4
2 Một số biện pháp khắc phục 8
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
PHỤ LỤC 12
Trang 3M Đ U Ở ĐẦU ẦU
Nhìn chung, tiền lương là khoản tiền mà người lao động nhận được khi họ hoàn thành một công việc nào đó mà công việc đó không bị pháp luật nghiêm cấm tiền lương danh nghĩa là số lượng tiền tệ mà người lao động nhận được khi họ hoàn thành một số lượng công việc nhất định Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng mong muốn có được một nguồn nhân lực chất lượng cao để tăng khả năng cạnh tranh và thích ứng với sự thay đổi của môi trường Thu hút được những người tài năng về làm việc cho tổ chức luôn là một mục tiêu hàng đầu trong chính sách nhân sự của các tổ chức Để thực hiện mục tiêu này tiền lương tuy chưa phải là yếu tố quyết định song nó luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp doanh nghiệp thực hiện mục tiêu của mình Tiền lương là yếu tố cơ bản để quyết định thu nhập tăng hay giảm của người lao động, mức sống vật chất của người lao động làm công ăn lương trong doanh nghiệp Mặt khác, tiền lương là một trong những chi phí của doanh nghiệp hơn nữa lại là chi phí chiếm tỉ lệ đáng kể Tiền lương được quy định một cách đúng đắn, là yếu tố kích thích sản xuất mạnh mẽ, kích thích người lao động ra sức sản xuất và làm việc, nâng cao trình độ tay nghề, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động
Sau đây em xin chọn đề 2 trong bộ đề bài tập lớn bộ môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin để giải quyết và phân tích
Trang 4NỘI DUNG
I LÝ LUẬN VỀ TIỀN CÔNG CỦA CÁC MÁC
1 Bản chất kinh tế của tiền công
Biểu hiện bề ngoài của đời sống xã hội tư bản, công nhân làm việc cho nhà
tư bản một thời gian nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hóa hay hoàn thành một số công việc nào đó thì nhà tư bản trả cho công nhân một số tiền nhất định gọi
là tiền công Sự thật thì tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động, vì lao động không phải là hàng hóa Sở dĩ như vậy là vì:
Nếu lao động là hàng hóa, thì nó phải có trước, phải được vật hóa trong một hình thức cụ thể nào đó Nếu người lao động có tư liệu sản xuất, thì họ sẽ bán hàng hóa do mình sản xuất ra, chứ không bán “lao động”
Việc thừa nhận lao động là hàng hóa đẫn tới một trong hai mâu thuẫn về lý luận sau đây:
o Thứ nhất, nếu lao động là hàng hóa và nó được trao đổi ngang giá, thì nhà
tư bản không thu được lợi nhuận (giá trị thặng dư); điều này phủ nhận sự tồn tại thực tế của quy luật giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản
o Thứ hai, còn nếu “hàng hóa lao động” được trao đổi không ngang giá để có giá trị thặng dư cho nhà tư bản, thì phải phủ nhận quy luật giá trị
Lao động không phải là hàng hóa, cái mà công nhân bán cho nhà tư bản chính
là sức lao động Do đó, tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của sức lao động
Vậy, bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, hay giá cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện
ra bề ngoài thành giá cả của lao động
Trang 5Hình thức biểu hiện đó đã gây ra sự nhầm lẫn Điều đó là do những thực tế sau đây:
Thứ nhất, đặc điểm của hàng hóa sức lao động là không bao giờ tách khỏi
người bán, nó chỉ nhận được giá cả khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho người mua,
do đó bề ngoài chỉ thấy nhà tư bản trả giá trị cho lao động Thứ hai, đối với công
nhân, bản thân công nhân cũng tưởng rằng mình bán lao động Còn đối với nhà tư
bản bỏ tiền ra để có lao động, nên cũng nghĩ rằng cái họ mua là lao động Thứ ba,
lượng của tiền công phụ thuộc vào thời gian lao động hoặc số lượng sản phẩm sản xuát ra, điều đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả lao động
Tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư, thành lao động được trả công và lao động không được trả công, do đó tiền công che đậy mất bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản
2 Hai hình thức cơ bản của tiền công trong chủ nghĩa tư bản
Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian và tiền công tính theo sản phẩm
Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít hay nhiều tùy theo thời gian lao động của công nhân (giờ, ngày, tháng) dài hay ngắn
Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩm mà công nhân đã sản xuất hoặc là số lượng công việc đã hoàn thành
Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định Về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết sản xuất ra một sản phẩm Vì thế tiền công tính theo sản phẩm là hình thức biến tướng của tiền công tính theo
Trang 6thời gian Thực hiện tiền công tính theo sản phẩm, một mặt, giúp cho nhà tư bản trong việc quản lý, giám sát quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn; mặt khác kích thích công nhân lao động tích cực, khẩn trương tạo ra nhiều sản phẩm để nhận được tiền công cao hơn
3 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản Tiền công được sử dụng để tái sản xuất sức lao động, nên tiền công danh nghĩa phải được chuyển hóa thành tiền công thực tế Tiền công danh nghĩa là giá cả sức lao động, nên nó có thể tăng lên hay giảm xuống tùy theo sự biến động của quan hệ cung – cầu về hàng hóa sức lao động trên thị trường Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hành hóa tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình
Tiền công là giá cả của sức lao động, nên sự vận động của nó gắn liền với
sự biến đổi của giá trị sức lao động Lượng giá trị sức lao động chịu ảnh hưởng của các nhân tố tác động ngược chiều nhau, dẫn tới sự biến đổi phức tạp của tiền công thực tế Tuy nhiên, C Mác đã vạch ra rằng xu hướng chung của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là nâng cao mức tiền công trung bình mà là hạ thấp mức tiền công ấy Nhưng sự hạ thấp của tiền công thực tế chỉ diễn ra như một xu hướng Mặt khác, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản ngày nay, do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ nên nhu cầu về sức lao động có chất lượng cao ngày càng tăng đã buộc giai cấp tư sản phải cải tiến tổ chức lao động cũng như kích thích người lao động bằng lợi ích vật chất Đó cũng là một nhân tố cản trởi xu hướng hạ thấp tiền công
II LIÊN HỆ VỚI TIỀN CÔNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TƯ
NHÂN TẠI VIỆT NAM
1 Thực tiễn tiền công trong các doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam
Trang 7Tiền công, hay tiền lương được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được
từ người sử dụng lao động của họ thanh toán lại tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải cho xã hội
Tại Việt Nam, hiện nay, tiền lương là vấn đề rất quan trọng được nhiều người quan tâm, nhất là người lao động Bởi tiền lương có vai trò to lớn, là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, nó được xác định trên thị trường lao động thông qua hình thức thỏa thuận tiền lương giữa người lao động và người sử dụng lao động Theo quy định, tiền lương ghi trong hợp đồng lao động do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động để thực hiện công việc nhất định, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương, các khoản bổ sung khác và được ghi trong hợp đồng
Đối với tiền lương theo thỏa thuận trong hợp đồng, theo quy định tại Điều 4
và Điều 21 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/1/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động thì tiền lương ghi trong hợp đồng lao động do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động để thực hiện công việc nhất định Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác và được ghi trong hợp đồng lao động Tiền lương trả cho người lao động căn cứ theo tiền lương ghi trong hợp đồng lao động, năng suất lao động, khối lượng và chất lượng công việc
mà người lao động đã thực hiện Như vậy, người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và trả lương cho người lao động
Đối với tiền làm thêm giờ tính theo đơn giá tiền lương hoặc lương thực trả,
theo quy định tại Điều 25 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/1/2015 của Chính phủ thì tiền lương làm thêm giờ được tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm, cụ thể, vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; vào
Trang 8ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300%, chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương
Ngày nay trong các doanh nghiệp, các công ty do có sự khác nhau về đặc điểm sản xuất kinh doanh nên các hình thức trả lương thường áp dụng không giống nhau Thường thì có hai hình thức được áp dụng là: hình thức trả lương theo sản phẩm và hình thức trả lương theo thời gian
Hình thức trả lương theo sản phẩm được áp dụng trong các xí nghiệp sản xuất
kinh doanh, tiền lương theo sản phẩm là tiền lương mà công nhân nhận được phụ thuộc vào đơn giá của sản phẩm và số lượng sản phẩm sản xuất theo đúng chất lượng Trả lương theo sản phẩm có tác dụng trực tiếp khuyến khích người lao động ra sức học tập nâng cao trình độ tay nghề, tích luỹ kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng tăng khả năng sáng tạo làm việc và tăng năng suất lao động, nâng cao và hoàn thiện công tác quản lý, nâng cao tính tự chủ, chủ động trong công việc của người lao động
Hình thức trả lương theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với những người làm
công tác quản lý, còn công nhân sản xuất chỉ áp dụng ở bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hoặc những công việc mà không thể tiến hành định mức một cách chính xác được, hoặc cũng do tính chất của sản xuất nên nếu thực hiện được việc trả công theo sản phẩm sẽ không đảm bảo chất lượng sản phẩm, không đem lại hiệu quả thiết thực Mặc dù vậy hình thức trả lương này vẫn phải tuân theo quy luật phân phối theo lao động và vấn đề đặt ra là phải xác định được khối lượng công việc mà họ hoàn thành
Những vấn đề bất cập hiện nay:
Hiện nay, việc tổ chức trả lương theo doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng gồm 4 nguyên tắc:
Trang 9i Trả lương ngang nhau cho những lao động như nhau trong doanh nghiệp:
đảm bảo sự công bằng, tránh sự bất bình đẳng trong công tác trả lương, phải được thể hiện trong các thang lương, bảng lương và các hình thức trả lương trong doanh nghiệp
ii Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân: đảm
bảo cho doanh nghiệp có hiệu quả trong công tác sử dụng tiền lương làm đòn bẩy, thể hiện lên hiệu quả trong sử dụng chi phí của doanh nghiệp iii Phân phối theo số lượng và chất lượng lao động: đòi hỏi doanh nghiệp
tránh tình trạng xây dựng các hình thức lương phân phối bình quân
iv Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động trong các điều kiện khác nhau: làm căn cứ cho doanh nghiệp xây dựng tổ
chức thực hiện công tác tiền lương công bằng hợp lý trong doanh nghiệp, đảm bảo cho công nhân yên tâm trong sản xuất trong những điều kiện làm việc khó khăn, môi trường độc hại
Để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường kinh doanh đầy sự biến động, cạnh tranh thì doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến việc phát triển theo chiều rộng mà còn tập trung phát triển theo chiều sâu Công tác tổ chức tiền lương là một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp hiện nay cần quan tâm đầu tư theo chiều sâu, bởi vì xét trên góc độ là người lao động thì tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu để tái sản xuất sức lao động và một phần tích luỹ, còn trên góc độ doanh nghiệp thì tiền lương là yếu tố cấu thành nên giá trị sản phẩm dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra Do đó người lao động thì muốn được trả lương cao còn doanh nghiệp thì lại muốn trả lương thấp Việc xây dựng các hình thức trả lương phù hợp thoả mãn cả hai trở thành vấn đề ngày càng được quan tâm nhất trong doanh nghiệp Các hệ thống định mức lao động đã lạc hậu không còn phù hợp, việc tính toán xác định đơn giá tiền lương còn thiếu chính
Trang 10xác Có những khâu đoạn có thể xây dựng định mức để tiến hành trả lương theo sản phẩm nhưng lại tiến hành trả lương theo thời gian
Trong đó khiếm khuyết đáng lưu ý nhất là trong nhiều phương pháp tiếp cận mức lương tối thiểu, Nhà nước chỉ căn cứ chủ yếu vào khả năng ngân sách
để quyết định, ít chú ý đến việc bảo đảm nhu cầu tối thiểu của người lao động
có nuôi con (trong khi tiền lương của doanh nghiệp là do chính doanh nghiệp tạo ra, không phải lấy từ ngân sách nhà nước) Các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp tư nhân nói riêng chỉ công bố và thực hiện mức lương tối thiểu nhỉnh hơn mức lương tối thiểu được Nhà nước công bố một chút để không vi
phạm Điều 55 Bộ luật Lao động: "Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định" Hậu quả để lại là: Tính
đến năm 2008, tổng số lao động đang làm việc trong các loại hình doanh nghiệp (DN) vào khoảng 8,3 triệu người, trong đó lao động thuộc các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chiếm 20%, doanh nghiệp có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (FDI) 24,4%, doanh nghiệp ngoài nhà nước (chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân - DNTN): 56,6%
2 Một số biện pháp khắc phục
Quản lý chặt và giảm đến mức tối đa đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước Theo đó, cần xây dựng một nền hành chính và công vụ chuyên nghiệp, hiện đại trên cơ sở đó xác định rõ từng vị trí làm việc với chức danh tiêu chuẩn rõ ràng để xác định ai là công chức và phải quản lý công chức theo chức danh của vị trí làm việc
Tăng cường quản lý nhà nước về công tác định mức lao động; nghiên cứu đưa ra các định mức mẫu, hướng dẫn việc xây dựng định mức lao động ở
cơ sở và thanh tra, kiểm tra nghiêm ngặt việc thực hiện Công đoàn doanh nghiệp phải đàm phán quyết liệt, dân chủ, bình đẳng với chủ sử dụng lao động trong việc quyết định các định mức lao động cụ thể của doanh nghiệp theo tinh
Trang 11thần Điều 46 Bộ luật lao động; khi các điều kiện thực hiện định mức lao động
đã thay đổi nhiều thì phải kịp thời đưa ra yêu cầu đàm phán, thương lượng để điều chỉnh lại cho phù hợp với tình hình mới
Chính phủ xây dựng và công bố mức lương tối thiểu phải đúng với nhu cầu thực tế cuộc sống ở thời điểm công bố Theo Bộ luật Lao động, mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động
giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng Nếu xây dựng
và công bố mức lương tối thiểu phù hợp với nhu cầu thực tế ở thời điểm công
bố sẽ là một bước khắc phục hiệu quả, khơi dậy tinh thần lao động mạnh mẽ của tất cả những người đang làm việc trên mọi lĩnh vực