Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng Việt Nam, qua gần 20 năm hoạt động, BHTGVN đã đạt được những thành tựu đáng kể, triển khai chính sách bảo hiểm tiền gửi đến 1
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN TIẾN DŨNG
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
HàNội - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN TIẾN DŨNG
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị các tổ chức tài chính
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện, việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Tiến Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành tài chính ngân hàng với đề tài “Hoàn thiện
cơ chế bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam” là kết quả của quá trình cố gắng không
ngừng của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên khích lệ của các thầy, bạn bè đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập - nghiên cứu khoa học vừa qua
Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến giáo viên hướng dẫn khoa học TS
Vũ Văn Long đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn của mình, giúp tác giả trang bị thêm được nhiều kiến thức cũng như phương pháp nghiên cứu khoa học đểhoàn thiện luận văn của mình
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể đồng nghiệp, các thầy, cô giáo trong Hội đồng Khoa học, phòngĐào tạo và Khoa Tài chính Ngân hàng trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận văn này
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC HÌNH ii
DANH MỤC ĐỒ THỊ iii
DANH MỤC BẢNG iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ CỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Tình hình nghiên cứu tại nước ngoài 5
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 5
1.2 Lý luận chung về cơ chế bảo hiểm tiền gửi 8
1.2.1 Khái quát về tổ chức bảo hiểm tiền gửi 8
1.2.2 Cơ chế bảo hiểm tiền gửi 12
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế BHTG 19
1.2.4 Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong mạng an toàn tài chính 23
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về cơ chế BHTG và bài học cho Việt Nam 25
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế về cơ chế BHTG 25
1.3.2 Bài học đối với Việt Nam 34
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Thiết kế nghiên cứu 37
2.1.1 Nguồn thu thập dữ liệu 37
2.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 37
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu 38
2.2.2 Phương pháp phân tích và đánh giá 39
Trang 6CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM 41
3.1 Khái quát về Bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam 41
3.1.1 Bối cảnh ra đời 41
3.1.2 Mô hình tổ chức và hoạt động của BHTGVN 42
3.2 Thực trạng cơ chế BHTG tại BHTGVN 44
3.2.1 Thực tiễn hoạt động và cơ sở pháp lý hiện hành của BHTGVN 44
3.2.2 Thực trạng cơ chế BHTG tại BHTGVN 49
3.3 Hạn chế và nguyên nhân 59
3.3.1 Hạn chế 59
3.3.2 Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm 61
3.4 Đánh giá thực trạng cơ chế BHTG tại BHTGVN 63
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO HIỂMTIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM 67
4.1 Định hướng phát triển của BHTGVN 67
4.1.1 Bối cảnh kinh tế thế giới 67
4.1.2 Bối cảnh kinh tế trong nước 69
4.1.3 Định hướng phát triển của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 71
4.2 Giải pháp hoàn thiện cơ chế BHTG tại Việt Nam 72
4.2.1 Nhóm giải pháp chung 72
4.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ BHTG 73
4.2.3 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực hoạt động, trình độ người lao động và ứng dụng công nghệ hiện đại 76
4.3 Đề xuất, kiến nghị 77
4.3.1 Đối với Quốc hội 77
4.3.2 Đối với Chính phủ 77
4.3.3 Đối với Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ngành liên quan 79
4.3.4 Đối với Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC HÌNH
3 Hình 1.3 Mô hình mạng an toàn tài chính quốc gia phổ
4 Hình 1.4 Thống kê mô hình của các tổ chức thành viên
Trang 9DANH MỤC ĐỒ THỊ
1 Đồ thị 3.1 Số liệu thu phí BHTG giai đoạn 2010 - 2018 50
2 Đồ thị 3.2 Quy mô quỹ dự phòng nghiệp vụ/tổng số dư tiền gửi
Trang 10DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1.1 Các hình thức đầu tư vốn của các tổ chức
BHTG
30
4 Bảng 3.2 Số lượng tổ chức tham gia BHTG được kiểm
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, kinh tế xã hội Việt Nam đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa rất quan trọng, kinh tế vĩ mô ổn định tạo điều kiện phát triển bền vững,lạm phát được kiểm soát ở mức hợp lý và thấp hơn nhiều so với giai đoạn trước, tăng trưởng kinh tế ở mức khá, an sinh xã hội được đảm bảo
Một số kết quả cụ thể như nền kinh tế Việt Nam lấy lại đà tăng trưởng, GDP năm 2018 tăng 7,08% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm qua GDP bình quân 8 năm (2011 – 2018) đạt khoảng 6,21%/năm GDP bình quân đầu người năm 2018 đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587 USD, tăng 202 USD so với năm 2017 Lạm phát được kiểm soát, giảm mạnh từ 18,13% (năm 2011) xuống 3,54% (năm 2018) Cán cân thương mại của Việt Nam được cải thiện, về cơ bản Việt Nam chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu nhờ tốc độ xuất khẩu tăng mạnh
Hệ thống ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh về quy mô vốn cũng như tài sản, đảm bảo nhiệm vụ lưu thông vốn thông suốt và đóng góp ngày càng quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Tổng tài sản của toàn hệ thống liên tục tăng lên qua các năm, cụ thể năm 2011, tổng tài sản của hệ thống mới
ở mức 4.655 nghìn tỷ đồng thì đến tháng 12 năm 2018, con số này đã tăng 2,27 lần,
ở mức 11.060 nghìn tỷ đồng Vốn huy động và tín dụng của hệ thống ngân hàng tăng trưởng liên tục ở mức 12-18%/năm Kết quả kinh doanh liên tục có lãi, chất lượng tín dụng được cải thiện, tỷ lệ nợ xấu trong những năm gần đây luôn được duy trì ở mức dưới 3%
Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015” đã cơ bản giải quyết được vấn đề thiếu thanh khoản hệ thống; xử lý các TCTD yếu kém nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống với mức tổn thất và chi phí thấp nhất cho ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, ở giai đoạn này quá trình sắp xếp, thu gọn lại hệ thống ngân hàng, giảm về mặt số lượng nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề về chất lượng Theo
Trang 12báo cáo của Uỷ ban giám sát tài chính quốc gia, vẫn còn nhiều tổ chức tín dụng được nhận định là yếu kém và tập trung nhiều nợ xấu Chính vì vậy, đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020” đã đặt ra yêu cầu cho nhiều bộ, ngành, các tổ chức liên quan và hệ thống các TCTD cùng vào cuộc để vừa tiếp tục xử lý nợ xấu, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, quản trị ngân hàng và quyết liệt trong sở hữu chéo, từng bước triển khai áp dụng Basel II theo đúng lộ trình
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng Việt Nam, qua gần 20 năm hoạt động, BHTGVN đã đạt được những thành tựu đáng kể, triển khai chính sách bảo hiểm tiền gửi đến 100% tổ chức tín dụng; bảo toàn, phát triển nguồn vốn và xây dựng hệ thống trên toàn quốc Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, cơ chế bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định, đặc biệt trong bối cảnh ngành ngân hàng triển khai đồng bộ các biện pháp tái cơ cấu hệ thống các TCTD, đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi nhằm phát huy tốt nhất vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, đưa cơ chế bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam tiệm cận với thông lệ quốc tế nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền và đóng góp hiệu quả vào việc đảm bảo an toàn của hệ thống các TCTD,
trước mắttập trung vào hệ thống các QTDND Từ thực tế đó, đề tài “Hoàn thiện cơ
chế bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam” được lựa chọn làm nội dung nghiên cứu của
luận văn
Luận văn tập trung phân tích các kết quả đạt được cũng như những hạn chế của cơ chế bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam trong giai đoạn 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018, so sánh với kinh nghiệm quốc tế để từ đó đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi ở
Việt Nam” là đưa ra được tổng quan về bảo hiểm tiền gửi và kinh nghiệm quốc tế
về hoạt động bảo hiểm tiền gửi, đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế về cơ chế BHTG qua việc nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở
Trang 13Việt Nam Tìm ra nguyên nhân của những hạn chế để đưa ra các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
(1) Cơ sở lý luận về cơ chế BHTG?
(2) Thực trạng cơ chế BHTG tại Việt Nam như thế nào?
(3) Làm thế nào để hoàn thiện cơ chế BHTG tại Việt Nam?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:Luận văn đi sâu nghiên cứu về cơ chếBHTG ở Việt
Nam kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về hoạt động BHTG từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện cơ chế BHTG tại BHTGVN
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Đề tài được nghiên cứutại tổ chức BHTGVN
- Về thời gian: Đề tài giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2014 đến năm 2018
5 Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu được sử dụng chủ yếu bao gồm: dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu sau khi thu thập được tác giả tổng hợp, phân tích và đánh giá để đưa ra kết luận về thực tiễn nghiên cứu
- Dữ liệu sơ cấp do tác giả trực tiếp thu thập thông qua quan sát, phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi và nghiên cứu tài liệu về cơ chế BHTG tại đơn vị
- Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn thông tin bên trong và bên ngoài BHTGVN, như các báo cáo thường niên, các công trình nghiên cứu của các tác giả khác về lĩnh vực BHTG, tài liệu của các tổ chức BHTG trên thế giới
Bên cạnh đó, luận văn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, đồng thời trình bày sơ đồ bảng biểu để hệ thống hóa lý luận về cơ chế BHTG tại BHTGVN
6 Một số đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn đi sâu tìm hiểu nguyên lý chung về hoạt động
BHTG, tổ chức BHTGVN, tổ chức quốc tế liên quan đến hoạt động BHTG và những nguyên tắc, quy định trong hoạt động BHTG theo Luật BHTG tại Việt Nam
và các luật khác liên quan
Trang 14Về mặt thực tiễn: Luận văn phân tích thực trạng cơ chế BHTG tại Việt Nam,
những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế cần phải thay đổi phù hợp với tình hình hiện tại và định hướng phát triển trong thời gian tới Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp hoàn thiện cơ chế BHTG tại Việt Nam
7 Tên và kết cấu của luận văn
Tên luận văn:Hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
bố cục thành 04 chương, cụ thể như sau:
Chương 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về cơ chế bảo hiểm tiền gửi
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng cơ chế bảo hiểm tiền gửi tại BHTGVN
Chương 4 Giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi tại BHTGVN
Trang 15CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ CỞ
LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu tại nước ngoài
IADI (2009) core Principles for effective Deposit Insurance Systems
Đây là Bộ nguyên tắc cơ bản để xây dựng hệ thống BHTG hiệu quả doỦy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) và Hiệp hội BHTG Quốc tế (IADI) ban hành ngày 18/6/2009 (gồm 18 nguyên tắc), Bộ nguyên tắc cơ bản này được sửa đổi năm 2014 và chỉ còn 16 nguyên tắc Mục tiêu chủ yếu của bộ nguyên tắc nhằm đảm bảo các quốc gia xây dựng hệ thống BHTG hữu hiệu dựa trên cơ sở áp dụng các thông lệ tốt nhất của các tổ chức BHTG Các nguyên tắc cơ bản được thiết kế không phải để đáp ứng tất cả các yêu cầu và điều kiện của mọi hệ thống tài chính Khi áp dụng những nguyên tắc này, cần xem xét kỹ điều kiện cụ thể của từng quốc gia với
hệ thống pháp luật hiện hành và năng lực thực hiện các mục tiêu chính sách công, nhiệm vụ và quyền hạn của hệ thống BHTG nước đó Việc tuân thủ các nguyên tắc
cơ bản sẽ góp phần xây dựng một tổ chức BHTG phát triển đồng bộ, phù hợp với tình hình Kinh tế - Xã hội của mỗi quốc gia, góp phần ổn định hệ thống tài chính và tăng cường bảo vệ người gửi tiền
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, tác giả đã được tiếp xúc với các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả đối với lĩnh vực BHTG, cụ thể:
Tác giả Bùi Thị Kim Ngân (2010) với luận văn “Kinh nghiệm của tổ chức BHTG Hoa Kỳ trong việc xử lý các ngân hàng đổ vỡ và bài học cho Việt Nam”
Luận văn đã khái quát tổng quan về bảo hiểm tiền gửi và vấn đề ngân hàng
bị đổ vỡ, kinh nghiệm của tổ chức BHTG Hoa Kỳ trong việc xử lý các ngân hàng bị
đổ vỡ, bài học cho Việt Nam trong việc xử lý các ngân hàng bị đổ vỡ từ kinh nghiệm của tổ chức bảo hiểm Hoa Kỳ
Trang 16Tác giả Vũ Thị Mỹ Hương (2011) với luận văn “Thực trạng chính sách BHTG"
Luận văn nghiên cứu các cơ chế chính sách nhằm tạo ra cơ chế pháp lý bảo
vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền và để BHTG trở thành công cụ tài chính hữu hiệu của Nhà nước góp phần bảo đảm an toàn nền tài chính - tiền tệ quốc gia trong bối cảnh hiện nay cần phải hoàn thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi Đặc biệt, khi khủng hoảng tài chính xảy ra
Tác giả Trần Thị Nguyệt (2014) với luận văn “Quyền và nghĩa vụ của cơ quan BHTG theo pháp luật Việt Nam”
Luận văn đã nghiên cứu quyền và nghĩa vụ của cơ quan BHTG theo quy định của pháp luật Việt Nam là cần thiết nhằm đánh giá được tính hiệu quả, độc lập
và khả năng chủ động trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của tổ chức này
Bên cạnh đó, có thể kể tới một số công trình nghiên cứu của các tác giả khác
về cơ chế BHTG, như:
Nhóm nghiên cứu phòng Nghiên cứu tổng hợp và Hợp tác quốc tế, Bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam (2010) với đề tài nghiên cứu ứng dụng “Tái cấu trúc Hệ thống
tài chính và Bảo hiểm tiền gửi trong giai đoạn khủng hoảng và việc ứng dụng đối với Việt Nam”
Đề tài đã tổng hợp và phân tích toàn diện thực tiễn của hệ thống tài chính và vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong cuộc khủng hoảng tài chính, đặc biệt là hoạt động xử lý đổ vỡ của tổ chức BHTG Đề tài đã tổng kết nhiều kinh nghiệm quốc tế đáng chú ý về chuẩn mực an toàn tài chính và cải cách hệ thống Bảo hiểm tiền gửi Trên cơ sở đó, Đề tài đã xây dựng các đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống tài chính và đề xuất nhằm hoàn thiện hoạt động Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Các kết quả nghiên cứu và kiến nghị của đề tài phục vụ tốt công tác hoạch định chính sách, chiến lược của BHTGVN và các cơ quan Nhà nước có liên quan Trong trong quá trình xây dựng Luật BHTG, và các văn bản triển khai Luật, BHTGVN đã tiến hành thực hiện 02 đề tài nghiên cứu ứng dụng: “Đánh giá mức độ tuân thủ của hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam so với Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ
Trang 17thống BHTG hiệu quả” và “Cơ sở pháp lý, mô hình tổ chức và hoạt động của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi – Kinh nghiệm quốc tế và ứng dụng đối với Việt Nam” Các kết quả nghiên cứu và đề xuất của 02 đề tài nói trên đã được đánh giá là phục vụ tích cực cho việc xây dựng và ban hành luật BHTG cũng như các văn bản hướng dẫn Luật
Tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh (2004 – Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội)
với cuốn "Bảo hiểm tiền gửi - Nguyên lý, thực tiễn và định hướng".Đây là công trình
nghiên cứu có qui mô lớn, đã đề cập đến các vấn đề cơ bản của hoạt động bảo hiểm tiền gửi, vai trò của hoạt động bảo hiểm tiền gửi trong nền kinh tế, cung cấp thông tin về triển khai hoạt động này ở Việt Nam cũng như một số nước tiêu biểu và trình bày các định hướng phát triển trong tương lai Chuyên khảo đã trở thành tiền đề để các nhà khoa học, nhà quản lý tiếp tục nghiên cứu về hoạt động BHTG - một loại hình hoạt động bảo hiểm đặc thù trong nền kinh tế
Nhóm nghiên cứu phòng Giám sát, BHTGVN (2013) với đề tài nghiên
cứu ứng dụng “Nghiên cứu về hành vi người gửi tiền trong hệ thống ngân hàng
Việt Nam”
Đề tài đã vận dụng các lý luận về hành vi người gửi tiền trên thế giới để nghiên cứu hành vi người gửi tiền ở Việt Nam và đưa ra các kiến nghị đề xuất Kết quả của đề tài là nguồn tham khảo tốt để NHNN xây dựng chính sách quản lý đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng, chính sách truyền thông, góp phần duy trì
ổn định hệ thống, ngăn ngừa việc rút tiền hàng loạt; để BHTGVN tham mưu, đề xuất xây dựng chính sách BHTG (như hạn mức BHTG) và để các ngân hàng thương mại thiết kế chính sách tiền gửi, giúp ngân hàng điều chỉnh hoạt động của mình
Nhóm nghiên cứu phòng Giám sát, BHTGVN (2013) với đề tài nghiên cứu
ứng dụng “Vai trò của hạn mức bảo hiểm tiền gửi đối với chính sách bảo hiểm tiền
gửi và đề xuất điều chỉnh hạn mức phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam”
Đề tài đã đánh giá về hạn mức trả tiền bảo hiểm hiện tại của Việt Nam so với thông lệ quốc tế và hướng dẫn của IADI và đưa ra những đề xuất, kiến nghị điều chỉnh hạn mức trả tiền bảo hiểm Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để
Trang 18BHTGVN lập đề án về hạn mức BHTG và kiến nghị NHNN xem xét, trình Chính phủ nâng hạn mức chi trả BHTG Trên cơ sở đề xuất của NHNN, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2017/QĐ-TTg nâng hạn mức trả tiền bảo hiểm tiền gửi từ mức 50 triệu đồng lên 75 triệu đồng từ ngày 15/6/2017
Như vậy, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực BHTG Tuy nhiên, chưa
có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về cơ chếBHTG tại Việt Nam trong thời gian gầnđây khi mà Quốc hội, Chính phủ và NHNN mong muốn BHTGVN tham gia sâu hơn vào quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, góp phần đảm bảo an toàn hoạt
động ngân hàng Do vậy, đề tài “Hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam”
là đề tài độc lập, nội dung nghiên cứu đồng bộ và toàn diện hơn so với các công trình khoa học đã công bố mà tác giả được biết
1.2.Lý luận chung về cơ chế bảo hiểm tiền gửi
1.2.1.Khái quát về tổ chức bảo hiểm tiền gửi
1.2.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến bảo hiểm tiền gửi
Theo Điều 4 Luật BHTG:
Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm
tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản
Người được bảo hiểm tiền gửi là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng được nhận tiền gửi của cá nhân
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì
mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng
Phí bảo hiểm tiền gửi là khoản tiền mà tổ chức t ham gia bảo hiểm tiền gửi
phải nộp cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi để bảo hiểm cho tiền gửi của người được
Trang 19bảo hiểm tiền gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
1.2.1.2.Hoạt độngbảo hiểm tiền gửi
Hoạt động BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ công, có nghĩa là BHTG là công cụ được sử dụng để thực hiện chính sách công của từng quốc gia
Hoạt động của tổ chức BHTG thông thường không vì mục tiêu lợi nhuận Chính phủ các quốc gia thành lập tổ chức BHTG nhằm mục đích để thực hiện chính sách công Bởi trong thực tế, hoạt động tài chính - ngân hàng là hoạt động nhạy cảm, gắn với tính lan truyền rất cao; đồng thời sựđổ vỡ của hệ thống tài chính - ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế và gây ra những bất ổn về mặt xã hội Do đó, Chính phủ các quốc gia đã sử dụng công cụ tài chính là BHTG nhằm góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống tài chính - ngân hàng và ổn định xã hội
1.2.1.3 Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Vì BHTG là sản phẩm của nền kinh tế thị trường và chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường nên vai trò của BHTG xuất phát từ bản chất của hoạt động tài chính luôn gắn liền với yếu tố niềm tin, mang tính nhạy cảm, và có tính lan truyền cao Trong hoạt động ngân hàng, nếu niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống tài chính - ngân hàng bị khủng hoảng, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của một tổ chức tín dụng đơn lẻ mà còn tác động đến toàn bộ nền kinh tế Niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống tài chính - ngân hàng là rất quan trọng vì niềm tin
đó thường dựa vào các yếu tố tâm lý và khi họ gửi tiền vào ngân hàng họ thường đặt ra câu hỏi liệu tiền gửi của mình vào ngân hàng có an toàn không? Và hoạt động của ngân hàng nhận tiền gửi có ổn định không? hoặc nếu trường hợp xấu nhất xảy
ra thì liệu họ có bị mất số tiền đã gửi hay không?
-
Trang 20Hình 1.1 Vai trò BHTG
Từ hình nêu trên cho thấy vai trò của BHTG được thể hiện rõ nét qua các khía cạnh sau đây:
Một là, BHTG có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người gửi tiền, nâng
cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính, ngân hàng Bởi lẽ, trong nền kinh tế thị trường, bảo vệ người tiêu dùng nói chung và người gửi tiền nói riêng
là yêu cầu đặt ra đối với mỗi Chính phủ Bảo vệ người tiêu dùng là để đảm bảo cân
Góp phần
xử lý khủng hoảng tài chính
Thúc đẩy huy động vốn, nâng cao kỷ cương thị trường
Trang 21bằng giữa sự phát triển và đảm bảo quyền lợi của người dân trong xã hội dân sự Do
đó, BHTG là một công cụ tài chính hữu hiệu được hầu hết các Chính phủ sử dụng
để bảo vệ người gửi tiền
Hai là, BHTG giúp xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ
thống tài chính - ngân hàng và đó là yêu cầu đặt ra đối với bất kỳ Chính phủ nào trên thế giới Tổ chức BHTG có nhiệm vụ thay mặt Chính phủ bảo vệ tiền gửi của người dân, và trong trường hợp tổ chức tín dụng bị đổ vỡ thì tổ chức BHTG này phải có trách nhiệm chi trả toàn bộ hoặc một phần tiền gửi cho người gửi tiền
Thực tiễn cho thấy, khi mà người dân không tin tưởng vào hệ thống tài chính
- ngân hàng thì trước hết hệ thống ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng và sau đó là toàn bộ nền kinh tế của quốc gia cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng theo Một minh chứng cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ từ năm 2007 chính là cuộc khủng hoảng niềm tin của người dân vào khả năng thanh khoản của các ngân hàng, họ đã rút tiền ồ ạt, không gửi tiền cho các ngân hàng nữa và điều này đã chứng minh rõ nét vai trò của người gửi tiền đối với sự tồn tại, sự phát triển của hệ thống ngân hàng quốc gia Khi công chúng thiếu tin tưởng vào hệ thống ngân hàng - tài chính,
họ thường lựa chọn mua vàng hay bất động sản để tích lũy tài sản mà không gửi tiền vào ngân hàng nữa Điều này ảnh hưởng không tốt đến toàn bộ nền kinh tế, do vậy sẽ cản trở sự phát triển, đặc biệt ở những quốc gia đang phát triển như Việt Nam Chắc hẳn, chúng ta không quên sự kiện xảy ra vào khoảng cuối những năm
2000 khi mà hàng loạt quỹ tín dụng nhân dân bị sụp đổ, gây tổn thất rất lớn cho nền kinh tế của Việt Nam lúc bấy giờ
Hơn nữa, nếu người dân không tin tưởng vào hệ thống ngân hàng nói chung
và tổ chức tín dụng nói riêng, lập tức người dân sẽ có hành động rút tiền ra khỏi hệ thống ngân hàng Trường hợp này vô cùng nguy hiểm nếu hiện tượng này xảy ra hàng loạt và điều đó có thể dẫn đến đổ vỡ ngân hàng gây nguy hại đến toàn bộ nền kinh tế Lịch sử hoạt động tài chính - ngân hàng đã xảy ra khá nhiều vụ rút tiền ồ ạt, gây ra sự tê liệt và đổ vỡ của các ngân hàng, như ở Mỹ vào những năm 1920, 1930 hay ở châu Á năm 1997 và gần đây nhất là ở Anh, Mỹ (Ngân hàng Northern Rock
Trang 22của Anh, vàngân hàng Contrywide của Mỹ) Do đó, nền kinh tế của các quốc gia này đã bị chao đảo bởi hệ quả của khủng hoảng tài chính - ngân hàng Ở Mỹ, từ năm 1929 đến 1933 khi chưa có cơ quan bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC) đã có khoảng 4000 ngân hàng bị đổ vỡ, nhưng nhờ có FDIC năm 1934 chỉ có 9 ngân hàng
bị đổ vỡ
Qua đó cho thấy BHTG có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Tổ chức BHTG đã thay mặt Chính phủ bảo vệ tiền gửi của dân, và trong trường hợp tổ chức tín dụng
bị đổ vỡ, BHTG sẽ chi trả toàn bộ hoặc một phần tiền gửi cho người gửi tiền Ngân hàng là trung gian tín dụng, là cầu nối giữa người có vốn và người cần vốn Trong quá trình chu chuyển của nguồn vốn nếu không có yếu tố niềm tin thì chu trình đó
sẽ bị “tắc nghẽn” và ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế
Bảo hiểm tiền gửi xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng đốivới hệ thống ngân hàng thông qua một số hoạt động như:
Cung cấp đầy đủ hơn cho công chúng thông tin về các ngân hàng;
Thực hiện các nghiệp vụ kiểm tra, giám sát rủi ro đối với tổ chứctham gia BHTG;
Hỗ trợ các tổ chức tham gia BHTG khi gặp khó khăn về tài chính nhằm phục hồi hoạt động của tổ chức đó;
1.2.2.Cơ chế bảo hiểm tiền gửi
1.2.2.1 Khái niệmcơ chế bảo hiểm tiền gửi
Từ “Cơ chế” là chuyển ngữ của từ “mécanisme” trong tiếng pháp, từ điển Le
Trang 23Petit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là “cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau” Còn theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học biên soạn và xuất bản năm 2000 thì “Cơ chế là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện”
Vì vậy, “Cơ chế bảo hiểm tiền gửi” được hiểu là cách thức tổ chức và vận hành hoạt động bảo hiểm tiền gửi trong khuôn khổ pháp luật cho phép nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể của quốc gia
Cách thức tổ chức và vận hành đó phải có sự liên hệ, phối hợp của các bên
có liên quan tới hoạt động bảo hiểm tiền gửi như: Tổ chức BHTG; tổ chức tham gia BHTG; Người gửi tiền; Cơ quan quản lý Nhà nước về BHTG, Cơ quan giám sát
Thông thường, tổ chức BHTG là thành viên của mạng an toàn tài chính, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia Kể từ khi hệ thống BHTG đầu tiên được thành lập tại Mỹ năm 1933, đến nay có hơn 100 nước thiết lập cơ chế BHTG.Sự ra đời tổ chức BHTG thường gắn với (nhưng không giới hạn bởi) khủng hoảng tài chính.Tại châu Á, tổ chức BHTG Hàn Quốc và Malaysia được hình thành trước và sau khủng hoảng tài chính - ngân hàng khu vực 1997-1998; trong khi BHTGVN ra đời sau sự đỗ vỡ hệ thống QTDND
1.2.2.2 Những nội dung cơ bản liên quan đến cơ chế BHTG
i)Phí bảo hiểm tiền gửi
Để hoạt động tốt, hệ thống BHTG phải có cơ chế đảm bảo luôn có đủ nguồn vốn để chi trả cho người gửi tiền kịp thời khi có tổ chức nhận tiền gửi tham gia BHTG bị đổ vỡ, hỗ trợ kịp thời các tổ chức gặp vấn đề và để trang trải chi phí hoạt động của toàn hệ thống
Về vấn đề thu phí, có hai hình thức thu phí chủ yếu là thu phí cố định và hệ thống phí phân biệt theo mức độ rủi ro
Hệ thống phí cố định: là hệ thống phí trong đó tất cả các tổ chức tài chính
tham gia bảo hiểm tiền gửi đều đóng mức phí theo tỷ lệ đồng nhất Thông thường, các tổ chức BHTG mới thành lập thường áp dụng hệ thống phí cố định
Trang 24Hệ thống phí phân biệt theo mức độ rủi ro: là hệ thống phí trong đó các tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đóng góp phí cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi theo nguyên tắc tỷ lệ phí phải nộp tăng nếu hoạt động của tổ chức tham gia BHTG hoạt động kém hiệu quả, nguy cơ rủi ro cao và ngược lại phí phải nộp thấp hơn nếu hoạt động của tổ chức tham gia BHTG hiệu quả, ổn định
Theo khuyến nghị của IADI, muốn áp dụng phí phân biệt theo rủi ro cần đảm bảo có những điều kiện tối thiểu sau:
- Phương pháp đánh giá rủi ro của các tổ chức một cách chính xác, hợp lý
ii)Giám sát, cảnh báo sớm
Thuật ngữ “giám sát ngân hàng” theo nghĩa rộng được hiểu là tất cả các hoạt động nhằm đảm bảo cho sự an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng và các định chế tài chính có cung cấp dịch vụ ngân hàng, bao gồm: giám sát từ xa (off-site supervision), kiểm tra tại chỗ (on-site examination) và cưỡng chế thực thi các hành động chỉnh sửa kịp thời Trong một số trường hợp, thuật ngữ này bao hàm cả các hoạt động như: thu thập, xử lý thông tin tín dụng, đánh giá và xếp hạng tổ chức tín dụng, bảo vệ người sử dụng dịch vụ tài chính ngân hàng, chống rửa tiền
Về nguyên tắc, giám sát từ xa được thực hiện thường xuyên, liên tục nhằm phát hiện và cảnh báo sớm đối với những rủi ro của hệ thống tài chính Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện những sai phạm nghiêm trọng ảnh hưởng đến hoạt
Trang 25động bình thường của tổ chức tài chính, hoạt động kiểm tra tại chỗ được thực hiện Điều này nhằm đạt được đồng thời các mục tiêu: i) giảm chi phí thực hiện giám sát cho Tổ chức bảo hiểm tiền gửi; ii) không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của
tổ chức được giám sát; iii) đảm bảo hiệu quả của quá trình giám sát thông qua phát
hiện và xử lý rủi ro kịp thời
iii)Kiểm tra an toàn
Hoạt động kiểm tra tại chỗ thường được tiến hành định kỳ hoặc khi phát hiện sai phạm tại tổ chức tham gia BHTG từ kết quả giám sát từ xa Tổ chức BHTG thực hiện kiểm tra tại chỗ để xác định mức vi phạm và yêu cầu tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có biện pháp khắc phục để trở về hoạt động bình thường
Việc kiểm tra được thực hiện bởi các cán bộ kiểm tra chuyên nghiệp và được đào tạo cho phép đánh giá thực tế các yếu tố định lượng, đặc biệt là các yếu tố định tính như khả năng quản lý, quy trình kiểm soát nội bộ mà những yếu tố này không thể hiện đầy đủ trong các báo cáo theo quy định
iv)Đầu tư tài chính
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi thông thường có một nguồn vốn nhất định do Chính phủ cấp và vốn tích lũy từ nguồn thu phí bảo hiểm tiền gửi Tổ chức bảo hiểm tiền gửi quản lý nguồn vốn của mình theo nguyên tắc đảm bảo an toàn và phát triển vốn, đảm bảo có ngay lượng vốn cần thiết để giải quyết khi TCTD gặp khó khăn
Tuy nhiên, để tránh lãng phí nguồn lực, tổ chức BHTG được phép sử dụng nguồn vốn của mình với rủi ro tối thiểu Điều này được quy định rõ trong các văn bản pháp lý, quy chế hoạt động của tổ chức BHTG Nếu không đưa ra chính sách đầu tư hợp lý, sẽ khó đảm bảo sự toàn vẹn của quỹ theo thời gian, đặc biệt là trong thời kỳ lạm phát
Tổ chức BHTG có thể gửi tiền tại ngân hàng trung ương Tổ chức BHTG thiết lập và tuân thủ các nguyên tắc nhằm hạn chế đầu tư lớn tại các ngân hàng
An toàn và thanh khoản là 2 yếu tố chủ chốt cần xem xét khi đầu tư vốn nhàn rỗi của tổ chức BHTG Để đáp ứng nhu cầu chi trả và để ứng phó với khủng hoảng tài chính, vốn quỹ của tổ chức BHTG cần phải được tiếp cận kịp thời vào bất cứ
Trang 26thời điểm nào Theo đó, hầu hết các tổ chức BHTG đầu tư theo hình thức bảo toàn vốn gốc và đầu tư vào những công cụ có tính thanh khoản cao như trái phiếu chính phủ, trái phiếu bộ tài chính, hoặc gửi tiền vào ngân hàng trung ương hoặc những tổ chức tài chính an toàn Chính sách đầu tư của tổ chức BHTG không được phép coi trọng lợi nhuận bởi nó có thể gây mất lòng tin công chúng
v)Hoạt động hỗ trợ, tiếp nhận, xử lý tổ chức tham gia BHTG
Để có những giải pháp đối phó đúng đắn và kịp thời với những ảnh hưởng của các vụ đổ vỡ ngân hàng riêng lẻ hoặc khủng hoảng dây chuyền, rất nhiều quốc gia không ngừng củng cố cơ chế xử lý các ngân hàng đổ vỡ hoặc có nguy cơ đổ vỡ Trách nhiệm của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong mỗi hoạt động của nghiệp vụ xử lý
ở từng quốc gia được quy định phù hợp với hoàn cảnh, mục tiêu chính sách chung của quốc gia đó Tuy nhiên, nếu xem xét đến trách nhiệm cụ thể của từng tổ chức bảo hiểm tiền gửi thì biện pháp xử lý những ngân hàng đổ vỡ là một phần thiết yếu trong hoạt động của tất cả các tổ chức bảo hiểm tiền gửi và các tổ chức đảm bảo an toàn tài chính khác
Để giải quyết đổ vỡ ngân hàng, tùy từng trường hợp cụ thể và tùy thuộc vào
cơ chế pháp lý của từng quốc gia, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể áp dụng các biện pháp tiếp nhận xử lý như tiếp nhận mua lại (P&A), sử dụng ngân hàng bắc cầu, hỗ trợ ngân hàng mở…Các biện pháp xử lý đặc biệt này cần được quy định cụ thể và
rõ ràng, đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Tổ chức BHTG có sự độc lập về hoạt động và đủ nguồn lực để thực hiện các quyền xử lý phù hợp với nhiệm vụ của mình
- Cơ chế xử lý bảo đảm tất cả các ngân hàng đều có thể xử lý được thông qua nhiều quyền và lựa chọn
- Nếu có nhiều thành viên mạng an toàn tài chính chịu trách nhiệm về xử lý thì khuôn khổ pháp lý phải quy định sự phân chia rõ ràng các mục tiêu, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan, không có khoảng cách lớn, trùng lặp hoặc thiếu thống nhất, cần có cơ chế phối hợp rõ ràng
- Quy trình xử lý và bảo vệ người gửi tiền không hạn chế ở việc chi trả cho người gửi tiền Cơ quan xử lý có các công cụ xử lý hiệu quả để duy trì các nghiệp
Trang 27vụ ngân hàng cơ bản và xử lý ngân hàng Các công cụ đó bao gồm nhưng không hạn chế ở quyền thay thế hoặc sa thải lãnh đạo cao cấp, chấm dứt hợp đồng, chuyển đổi, bán tài sản và nợ, cắt giảm hoặc chuyển đổi nợ thành vốn chủ sở hữu hoặc thành lập tổ chức bắc cầu tạm thời
- Có sẵn một hoặc một vài biện pháp xử lý cho phép linh hoạt trong xử lý với chi phí thấp hơn chi phí có thể phát sinh nếu áp dụng phương pháp thanh lý sau khi trừ đi phần có thể thu hồi
- Quy trình xử lý tuân thủ thứ tự chủ nợ đã được quy định, theo đó tiền gửi được bảo hiểm sẽ được bảo vệ khỏi việc chia sẻ tổn thất và cổ đông sẽ phải chịu tổn thất trước tiên
- Cơ chế xử lý không phân biệt người gửi tiền theo quốc tịch hoặc nơi cư trú
- Cơ chế xử lý được bảo vệ khỏi các hành động pháp lý nhằm đảo ngược quyết định liên quan đến xử lý ngân hàng phá sản Tòa án không được đảo ngược quyết định đó Biện pháp pháp lý nếu có thành công thì sẽ chỉ giới hạn ở việc bồi thường bằng tiền
- Cơ chế xử lý phải đảm bảo khoảng thời gian từ lúc người gửi tiền không thể tiếp cận với tiền của mình đến lúc thực hiện các biện pháp xử lý được lựa chọn (ví dụ: chi trả tiền gửi) sẽ càng ngắn càng tốt
Như vậy, các quy định về cơ chế xử lý hiệu quả đối với ngân hàng yếu kém nhấn mạnh tầm quan trọng của khuôn khổ pháp lý cho quá trình xử lý, các quy định
về quyền hạn và thẩm quyền xử lý cũng như cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin trong xử lý ngân hàng yếu kém
vi)Chi trả tiền gửi được bảo hiểm
Chức năng cơ bản của mọi hệ thống BHTG là chi trả tiền gửi được bảo hiểm một cách nhanh chóng cho người gửi tiền trong trường hợp một tổ chức tài chính tham gia bảo hiểm tiền gửi bị đóng cửa Nhờ đó, người gửi tiền sẽ không phải chờ đợi và có thể nhận được ngay số tiền bảo hiểm trong hạn mức chi trả Việc chi trả cho người gửi tiền một cách nhanh chóng thuận tiện có thể tác động tới niềm tin của công chúng đối với hệ thống BHTG nói riêng và toàn bộ hệ thống tài chính nói chung
Trang 28Cần có một số điều kiện tài chính và pháp lý để tổ chức BHTG có thể hoàn thành chức năng chi trả một cách hiệu quả Cụ thể, người gửi tiền cần biết thời gian và các điều kiện để được nhận tiền đền bù từ tổ chức bảo hiểm tiền gửi Thêm vào đó, người gửi tiền cũng cần biết hạn mức chi trả Cuối cùng, tổ chức BHTG cần có khả năng tài chính mạnh để hoàn thành nghĩa vụ chi trả cho người gửi tiền được bảo hiểm
Các tiêu chuẩn cơ bản trong việc chi trả tiền gửi đƣợc bảo hiểm:
- Tổ chức BHTG có thể chi trả cho phần lớn người gửi tiền được bảo hiểm trong vòng 7 ngày làm việc Nếu tổ chức BHTG chưa làm được điều này thì tổ chức BHTG phải có một kế hoạch rõ ràng để thực hiện điều đó
- Để có một kế hoạch chi trả khả thi, tổ chức BHTG cần:
+ Có một khung thời gian rõ ràng cho việc thực hiện kế hoạch chi trả (ví dụ, trong vòng 2 năm)
+ Được quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan, quy định, hệ thống và quy trình hỗ trợ (ví dụ can thiệp và xử lý) và
+ Có quyền kiểm tra tính chân thực của hồ sơ và có một hệ thống CNTT và
dữ liệu nhằm đảm bảo khả năng cung cấp các báo cáo về người gửi tiền
- Tổ chức BHTG cần có khả năng, nguồn lực để tiến hành chi trả nhanh chóng bao gồm:
+ Nguồn nhân lực có kỹ thuật để thực hiện chi trả
+ Hệ thống CNTT để xử lý dữ liệu thông tin của người gửi tiền một cách có
hệ thống và chính xác
Trang 29+ Các hoạt động trước và sau khi đóng cửa tổ chức bị đổ vỡ được đề cập trong các văn bản quy định về đóng cửa ngân hàng
+ Mô phỏng tình huống, bao gồm, tình huống khi ngân hàng đóng cửa với các đơn vị có thầm quyền về giám sát và xử lý
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế BHTG
1.2.3.1 Tình hình kinh tế vĩ mô, hệ thống tài chính ngân hàng
Trong 5 năm qua, kinh tế xã hội Việt Nam đã đạt được những thành tựu có
ý nghĩa rất quan trọng trong việc ổn định kinh tế vĩ mô tạo điều kiện phát triển bền vững Lạm phát được kiểm soát ở mức hợp lý và thấp hơn nhiều so với giai đoạn trước, tăng trưởng kinh tế ở mức khá, an sinh xã hội được đảm bảo
Bên cạnh những kết quả khả quan, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định như chất lượng tăng trưởng còn thấp, bội chi ngân sách còn cao và nợ công tăng nhanh khiến dư địa tài khóa cho đầu tư phát triển thu hẹp, đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm
Hệ thống ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh về quy mô vốn cũng như tài sản, đảm bảo nhiệm vụ lưu thông vốn và đóng góp ngày càng quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016 đã chứng kiến những thành quả đáng ghi nhận của hệ thống ngân hàng như: tái cơ cấu
hệ thống ngân hàng thu được kết quả tích cực; thanh khoản hệ thống được đảm bảo;
nợ xấu từng bước được xử lý; năng lực tài chính ngày càng được nâng cao; việc quản trị ngân hàng liên tục được cải thiện; các dịch vụ ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng; hệ thống cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin ngày càng hiện đại
Bên cạnh đó, ngành ngân hàng nỗ lực triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng với 4 nhóm nội dung chính gồm sắp xếp lại các thành viên trong
hệ thống, cơ cấu lại về tài chính, về hoạt động và về quản trị Qua 5 năm triển khai,
có thể đánh giá tái cơ cấu ngành ngân hàng đã được triển khai với kết quả tốt, có tác
Trang 30động quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đặc biệt là đã cải thiện về cơ bản
hoạt động của toàn ngành ngân hàng Việt nam với hai kết quả nổi bật gồm: (i) Số
lượng các ngân hàng trong hệ thống đã giảm xuống nhờ các ngân hàng yếu kém đã được xử lý, trong 5 năm triển khai đề án toàn hệ thống đã giảm 17 tổ chức tín dụng
và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đồng thời quy mô bình quân các ngân hàng
trong hệ thống cũng tăng lên; (ii) về xử lý nợ xấu, ngành ngân hàng đã triển khai
đồng bộ, quyết liệt hàng loạt các giải pháp đột phá như thành lập Công ty quản lý
tài sản Việt Nam (VAMC); (iii)triển khai các giải pháp hỗ trợ các ngân hàng thương
mại xử lý tài sản đảm bảo, thu hồi nợ; toàn hệ thống tập trung nguồn lực để xử lý rủi ro, trích lập dự phòng rủi ro; đồng thời công tác phân loại nợ cũng được yêu cầu thực hiện chặt chẽ hơn Kết quả tính đến tháng 11 năm 2015 (thời điểm kết thúc đề án), tỷ lệ nợ xấu giảm còn 2,72% (trong khi tháng 9/2012 tỷ lệ nợ xấu là 8,82%)
1.2.2.2 Sự phối hợp giữa các thành viên mạng an toàn tài chính
Tại Việt Nam, mặc dù đã có đủ các thành viên trong mạng an toàn tài chính, tuy nhiên khái niệm mạng an toàn tài chính vẫn chưa được quy định một cách chính thức trong luật Do vậy không có quy định chia sẻ thông tin chính thức giữa các cơ quan giám sát khác trong hệ thống ngân hàng, mà chỉ có những quy định cơ chế phối hợp riêng lẻ dưới dạng Biên bản ghi nhớ hợp tác, có tính cơ sở pháp lý không cao Hiện tại, chỉ có duy nhất 1 văn bản có tính pháp lý về việc chia sẻ thông tin đó
là Thông tư 34/2016/TT-NHNN của NHNN về việc chia sẻ thông tin giữa BHTGVN và NHNN
Thực tế, mặc dùđã có Thông tư 34 nêu trên nhưng việc chia sẻ thông tin giữa BHTGVN và NHNN vẫn còn rất hạn chế, chưa đồng bộ và thường xuyên, dẫn đến
sự phối hợp trong công tác giám sát, kiểm tra và xử lý tổ chức tham gia BHTG gặp vấn đề còn nhiều bất cập Bên cạnh đó sự thiếu vắng trong chia sẻ thông tin với các
cơ quan giám sát khác như Bộ tài chính, Cơ quan giám sát tài chính quốc gia cũng gây khó khăn trong việc phối hợp để cùng ứng phó khi có biến động tài chính xảy
ra
Trang 311.2.3.2 Hệ thống khuôn khổ pháp lý
Hiện tại các quy định cơ bản điều chỉnh hoạt động của hệ thống các TCTDViệt Nam bao gồm: Luật Ngân hàng nhà nước (2010), Luật các tổ chức tín dụng (2010) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng (2017), Luật BHTG (2012), Luật Phá sản (2014), Luật Hợp tác xã (2012) và Luật phòng chống rửa tiền (2012) Ngoài ra, hoạt động ngân hàng còn liên quan đến việc điều chỉnh của Luật như luật đất đai, Luật dân sự, Luật phá sản, Luật bảo vệ người tiêu dùng,… Bản thân những Luật này, từ khi mới ra đời đã bộc lộ một số điểm không còn phù hợp với thực tế, chồng chéo giữa các Luật Các Luật chưa phù h ợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết và thông lệ, chuẩn mực quốc tế về ngân hàng, chưa tương xứ ng với tốc đô ̣ phát triển ma ̣nh mẽ của hê ̣ thố ng tài chính Vì vậy, việc rà soát, phát hiện, kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật hiện hành cũng như các quy định của Luật là cần thiết nhằm đảm bảo sự nhất quán và đồng bộ giữa các bộ Luật và hướng tới sự ổn định kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam
Cơ sở pháp lý về BHTG tại Việt Nam đã có văn bản pháp luật cao nhất là Luật BHTG được ban hành ngày 18/6/2012 và chính thức có hiệu lực từ 01/01/2013 Luật là cơ sở pháp lý quan trọng giúp cho hiệu lực và hiệu quả triển khai chính sách bảo hiểm tiền gửi được đảm bảo Chính phủ và NHNN cũng đã ban hành các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện hoạt động BHTG, chế độ tài chính, chế độ tiền lương của BHTGVN, hướng dẫn việc chia sẻ thông tin giữa BHTGVN và NHNN Tuy nhiên, sau hơn 5 năm áp dụng Luật BHTG, kết quả thực hiện cho thấy còn một số vấn đề bất cập gây khó khăn trong việc thi hành luật và thực hiện nhiệm vụ của BHTGVN như chưa có hướng dẫn cụ thể về việc BHTGVN được tiếp nhận hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hay vay của các
tổ chức khác trong trường hợp nguồn vốn của BHTGVN tạm thời không đủ để trả tiền bảo hiểm; vấn đề bảo vệ pháp lý cho BHTGVN và các cán bộ làm việc cho tổ chức BHTG vẫn chưa được quy định trong Luật Vì vậy, cần có những hướng dẫn
Trang 32cụ thể và điều chỉnh phù hợp trong thời gian tới để giúp BHTGVN hoạt động hiệu quả hơn, đảm bảo các mục tiêu chính sách công đã đề ra nhằm bảo vệ người gửi tiền và đáp ứng tốt nhất thông lệ quốc tế Ngoài ra, các cơ quan quản lý cần nghiên cứu nâng cao vai trò của BHTGVN trong quá trình xử lý TCTD yếu kém nhằm bảo
vệ tốt hơn cho người gửi tiền, góp phần đảm bảo ổn định hệ thống các TCTD, an toàn và lành mạnh hoạt động ngân hàng
1.2.3.3 Hoạt động giám sát và quy định giám sát
Hoạt động giám sát và quy định giám sát tại Việt Nam khá đầy đủ, tuy nhiên chưa có quy định về việc thành lập một mạng an toàn tài chính chính thức, chức năng giám sát bị phân chia cho nhiều cơ quan khác nhau Ngân hàng Nhà nước thực hiện giám sát các tổ chức tín dụng, Bộ Tài chính thực hiện giám sát lĩnh vực bảo hiểm và thị trường chứng khoán Các cơ quan giám sát có ít công cụ để xác định rủi
ro an toàn vĩ mô theo thời gian và theo hướng liên kết chéo giữa các ngành Đồng thời, chưa có tổ chức nào chịu trách nhiệm đánh giá và quản trị rủi ro tổng thể đối với hệ thống tài chính và chưa xây dựng khuôn khổ pháp lý cho chính sách an toàn
vĩ mô
Việc giám sát hoạt động ngân hàng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức Hiện nay mức độ tuân thủ của các ngân hàng tại Việt Nam với các nguyên tắc cốt lõi Basel còn thấp Khuôn khổ pháp lý có quy định về giám sát hoạt động ngân hàng xuyên biên giới nhưng vẫn còn nhiều bất cập về giám sát đối với các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài của các ngân hàng trong nước
Về mặt tích cực, Việt Nam có một khuôn khổ hoàn chỉnh về cấp phép, tạo cơ
sở cho việc thực thi đầy đủ khuôn khổ quản lý giám sát đối với các tổ chức nhận tiền gửi Tuy nhiên, quy định và các yêu cầu về đảm bảo an toàn còn yếu kém Các yêu cầu về an toàn vốn vẫn thực hiện theo Basel I và còn thiếu các hướng dẫn về rủi
ro thị trường, rủi ro hoạt động, rủi ro lãi suất Các quy định về phân loại tài sản và trích lập dự phòng chưa phát huy hiệu quả
Trang 331.2.4 Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong mạng an toàn tài chính
1.2.4.1 Khái niệm về Mạng an toàn tài chính
Hiện nay, có nhiều định nghĩa về Mạng an toàn tài chính dựa trên các cách tiếp cận khác nhau Trong khuôn khổ đề tài, tác giả trích dẫn hai định nghĩa của Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI) và Ngân hàng thế giới (WB):
Thứ nhất,theo định nghĩa của Hiệp hội BHTG quốc tế,Mạng an toàn tài chính
là hình thức đảm bảo sự an toàn trong lĩnh vực tài chính Thiếu một mạng an toàn tài
chính phù hợp, khi xảy ra các vấn đề liên quan đến khả năng thanh toán hay thanh khoản đối với một tổ chức tài chính - dù đó chỉ là tin đồn hay phóng đại - cũng tiềm ẩn một nguy cơ hình thành khủng hoảng Ngược lại, một mạng an toàn tài chính phù hợp
sẽ giúp tạo niềm tin và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính sẽ giảm bớt
Thứ hai, theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới, Mạng an toàn tài chính là toàn bộ các quy định về quản lý tài chính và các tổ chức tài chính nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế tổn thất trong trường hợp đổ vỡ ngân hàng (có thể sẽ xảy ra)
Tóm lại, mạng an toàn tài chính là hệ thống các cơ quan có trách nhiệm giám sát, duy trì ổn định hệ thống tài chính, ngăn ngừa khủng hoảng tại các nước và các cơ chế, công cụ được các cơ quan thực hiện nhằm đạt được mục tiêu trên Theo thông lệ quốc tế, mạng an toàn tài chính của các nước thường bao gồm: Bộ Tài chính, Ngân hàng trung ương, Cơ quan giám sát tài chính, Tổ chức BHTG và một số cơ quan khác
1.2.4.2.Các bộ phận cấu thành của Mạng an toàn tài chính
Phương pháp tiếp cận được chấp nhận rộng rãi đưa ra ba bộ phận cấu thành chủ yếu của một mạng an toàn tài chính là: chức năng người cho vay cuối cùng,
BHTG, và khung giám sát, các quy định quản lý về an toàn (Diễn đàn ổn định kinh
tế 2001) Theo tài liệu “Financial Crisis: Deposit Insurance and Related Financial
Safety Net Aspects”của Sebastian Schich năm 2008, một cách tiếp cận rộng hơn về
mạng an toàn tài chính được sử dụng,đó làmạng an toàn tài chính gồm 4 yếu tố:
Chức năng cho vay cuối cùng, Bảo hiểm tiền gửi, Khung giám sát và các quy định
về an toàn và Cơ chế giải quyết đổ vỡ các tổ chức tín dụng Thực tế, có rất nhiều
mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố khác nhau trong một mạng an toàn tài chính
Trang 34Hình 1.2 Sơ đồ Venn Mạng an toàn tài chính
(Nguồn:Financial Crisis „Deposit insurance & Related Financial Safety Net
Aspects‟, IADI, 2008)
Với các bộ phận cấu thành như trên, một mô hình phổ biến của Mạng an toàn tài chính quốc gia bao gồm các thành viên: Bộ Tài chính, Ngân hàng trung ương, Tổ chức BHTG và Cơ quan giám sát
Hình 1.3 Mô hình mạng an toàn tài chính quốc gia phổ biến hiện nay
(Nguồn:Workshop of APEC Policy Dialogues on National Financial Safety Net)
Hệ thống ngân hàng an toàn và lành mạnh
ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH
Xây dựng niềm tin công chúng qua bảo vệ người gửi tiền
Quản lý và giám sát
CQ giám sát NH
Người cho vay cuối cùng
NHTW
Đảm bảo nguồn vốn
Bộ Tài chính
Bảo hiểm tiền gửi
Cơ sở pháp lý vững chắc, phân chia chức năng nhiệm vụ rõ ràng và cơ chế phối hợp hiệu quả
MẠNG AN TOÀN TÀI CHÍNH
Trang 35Nguyên tắc hoạt động của mạng an toàn tài chính dựa trên nền tảng pháp
lý vững chắc, phân chia nhiệm vụ rõ ràng giữa các cơ quan tham gia Cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin chính thức, hiệu quả được xây dựng dựa trên nhiệm vụ đặc thù của từng cơ quan
1.2.4.3 Chức năng của mạng an toàn tài chính
Theo mô hình mạng an toàn tài chính phổ biến nói trên, các thành viên sẽ đảm trách từng nhóm chức năng được phân công theo luật định từng nước, trong đó
có các nhóm chức năng chủ yếu: (i) giám sát và quản lý an toàn; (ii) đẩy mạnh thanh khoản, tạo dòng luân chuyển vốn giữa các ngân hàng, bảo lãnh giao dịch; (iii)
xử lý và giải quyết đổ vỡ, duy trì niềm tin; (iv) đảm bảo nguồn lực tài chính sẵn có
phục vụ can thiệp thị trường
Duy trì niềm tin, xử lý và giải quyết đổ vỡ Trong hoạt động ngân hàng, nếu niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống tài chính – ngân hàng bị khủng hoảng, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của một tổ chức tín dụng đơn lẻ mà còn tác động đến toàn bộ nền kinh tế Chức năng này được cơ quan bảo hiểm tiền gửi đảm trách
1.3.Kinh nghiệm quốc tế về cơ chế BHTG và bài học cho Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế về cơ chế BHTG
1.3.1.1 Các mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi trên thế giới
Thứ nhất, mô hình chi trả (pay-box system): Mục tiêu chính sách công của
các hệ thống BHTG theo mô hình chi trả là thực hiện chi trả tiền gửi cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG đổ vỡ và góp phần duy trì ổn định hệ thống tài chính Chức năng chính của mô hình chi trả bao gồm thu phí, quản lý quỹ và chi trả cho người gửi tiền Hầu hết các tổ chức BHTG theo mô hình chi trả sử dụng nguồn vốn luân chuyển của mình thông qua việc vay tạm thời và có hạn mức từ ngân hàng trung ương Bên cạnh đó, một số tổ chức có quyền hạn tăng quỹ BHTG bằng việc điều chỉnh thuế và phí hoặc kinh doanh bằng nguồn vốn có sẵn của tổ chức
Ngoài chức năng và nhiệm vụ chi trả, một số tổ chức BHTG còn có một số quyền hạn trong việc hỗ trợ tài chính đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền
Trang 36gửiBHTG Tuy nhiên, đối với mô hình chi trả thì tổ chức BHTG hầu như không có quyền hạn đối với việc can thiệp, xử lý đổ vỡ hoặc phục hồi đối với các tổ chức tham gia BHTG
Đối với tổ chức BHTG dưới mô hình chi trả, hầu hết các tổ chức thu thập thông tin của các tổ chức thành viên thông qua cơ quan giám sát hơn là thu thập thông tin trực tiếp từ các tổ chức thành viên Một số tổ chức bảo hiểm tiền gửi có
mô hình chi trả đơn thuần trên thế giới như Chương trình bảo hiểm dịch vụ tài chính Anh (FSCS), Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Tây Ban Nha (FGD), v.v
Thứ hai, mô hình chi trả với các quyền hạn mở rộng (Pay-box system with extended power): Ngoài các chức năng chính của mô hình chi trả (thu phí, quản
lý quỹ và chi trả cho người gửi tiền), hệ thống BHTG chi trả với quyền hạn mở rộng có thêm một số quyền hạn trong việc xử lý đổ vỡ tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và chức năng giám sát và quản lý rủi ro tùy thuộc vào đặc tính của từng quốc gia
Thứ ba, mô hình giảm thiểu tổn thất (loss-minimizer system): Tổ chức BHTG
theo mô hình giảm thiểu tổn thất tham gia tích cực vào việc lựa chọn các cách xử lý
tổ chức tín dụng trong bộ đầy đủ các chiến lược xử lý với chi phí thấp nhất Sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008/2009, các tổ chức BHTG đang mở rộng nhiệm vụ của mình, do đó các tổ chức BHTG trên thế giới có xu hướng tiến gần đến mô hình giảm thiểu tổn thất với một tập hợp đầy đủ các chức năng và trách nhiệm Các chức năng mở rộng của mô hình giảm thiểu tổn thất được hình thành bằng sự chú ý của các tổ chức BHTG trong việc xây dựng cơ chế xử lý các tổ chức tham gia BHTG hiệu quả
Thứ tư, mô hình giảm thiểu rủi ro (risk-minimizer system): Tổ chức bảo hiểm
tiền gửi giảm thiểu rủi ro có các thẩm quyền nhằm bảo vệ tốt nhất người gửi tiền; đánh giá giám sát rủi ro đảm bảo an toàn của hệ thống tài chính và tham gia vào tái thiết hệ thống tài chính ngân hàng
Nói chung, tổ chức bảo hiểm tiền gửi theo mô hình giảm thiểu rủi ro có đầy
đủ quyền hạn nhằm phản ánh vai trò và phạm vi trách nhiệm của mình Các mục tiêu chính sách công của các tổ chức này đa dạng và có một số chính sách tương tự
Trang 37với mô hình chi trả như góp phần vào sự ổn định tài chính và bảo vệ người gửi tiền Các chính sách công với quyền hạn can thiệp và giám sát các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và có vai trò trực tiếp trong việc đánh giá rủi ro, giám sát và xử lý ngân hàng đổ vỡ
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi giảm thiểu rủi ro có đầy đủ các chức năng bao gồm:
- Quyền chấp thuận hoặc chấm dứt bảo hiểm tiền gửi theo những nguyên
tắc nhất định;
- Khả năng độc lập về tài chính: i) quyền quyết định cơ chế tính phí hoặc
xây dựng và đệ trình lên cơ quan giám sát hợp nhất quyết định; ii) quyền tiếp cận nguồn tài chính bổ sung từ các cơ quan Chính phủ và trên thị trường tài chính;
- Quản lý quỹ: Tổ chức giảm thiểu rủi ro đầu tư quỹ tích lũy được vào thị
trường tài chính thông qua các loại chứng khoán chính phủ có thu nhập cố định;
- Quyền truy cập thông tin: Khả năng thu thập thông tin định kỳ và đột
xuấttrực tiếp từ tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi hoặc từ các cơ quan giám sát khác và quyền kiểm tra lại tính chính xác của thông tin;
- Chức năng giám sát rủi ro nhằm đảm bảo an toàn hệ thống tài chính: xác
định tổ chức bảo hiểm tiền gửi là bộ phận cấu thành của Hệ thống giám sát hợp nhất quốc gia Trách nhiệm và phạm vi giám sát được phân định rõ ràng giữa các cơ quan giám sát;
- Khả năng cảnh báo sớm và can thiệp sớm: xây dựng và thực hiện hệ thống
cảnh báo sớm và thực hiện can thiệp sớm theo nguyên tắc chi phí tối thiểu;
- Quyền quyết định phương pháp xử lý: được trao thẩm quyền linh hoạt
trong việc lựa chọn giải pháp và triển khai hỗ trợ tài chính hoặc tiếp nhận xử lý;
- Chi trả cho người gửi tiền được bảo hiểm;
- Có vai trò trong việc ổn định hệ thống tài chính, giải quyết khủng hoảng với tư cách là thành viên “Mạng an toàn tài chính quốc gia”;
Trang 38Hình 1.4 Thống kê mô hình của các tổ chức thành viên của IADI
(Nguồn: website của IADI)
Thông lệ quốc tế về mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi chỉ là quy ước và không có một tiêu chuẩn cụ thể nào cho từng mô hình Hiện nay, các nước áp dụng
Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả để xác định chức năng nhiệm vụ phù hợp mô hình áp dụng và phù hợp với tình hình thực tế của từng quốc gia
1.3.1.2.Hạn mức trả tiền bảo hiểm
Hạn mức trả tiền bảo hiểm là nội dung quan trọng và thiết yếu nhất trong chính sách bảo hiểm tiền gửi Đối với các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trên thế giới, cơ
sở để xây dựng chính sách bảo hiểm tiền gửi, trong đó có chính sách về hạn mức, là
Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả (2014) và Hướng dẫn của IADI Trên thực tế, IADI đã dựa vào nghiên cứu của chuyên gia và sàng lọc những kinh nghiệm tốt nhất tại các tổ chức để xây dựng nên Bộ nguyên tắc
cơ bản và các tài liệu hướng dẫn Bộ nguyên tắc cơ bản được công nhận là tiêu
Pay-box (Singapore, Lao, Hong Kong…) 29%
Pay-box Plus (DIV, PDIC, Thai land,…) 41%
Loss Minimizer
(DICJ, CDIC
Canada, IDIC,…
) 16%
Risk Minimizer (FDIC, CDIC Taiwan, KDIC,…
) 11%
Other 3%
Thống kê các mô hình của tổ chức BHTG là thành viên
của IADI
Trang 39chuẩn quốc tế về bảo hiểm tiền gửi để các nước xây dựng mới hoặc cải cách hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiện hành
Nguyên tắc 8, Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả quy định các nhà hoạch định chính sách phải xác định rõ ràng mức độ và phạm vi bảo hiểm tiền gửi Hạn mức nên có giới hạn, đáng tin cậy và bảo hiểm cho phần lớn người gửi tiền nhưng phải đảm bảo có một tỷ lệ đáng kể giá trị tiền gửi tuân theo kỷ luật thị trường Hạn mức bảo hiểm tiền gửi cần phù hợp với các mục tiêu chính sách công và các đặc điểm thiết kế có liên quan của hệ thống bảo hiểm tiền gửi
1.3.1.3.Phí bảo hiểm tiền gửi:
Nguyên tắc 9 của Bộ các nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả cập nhật năm 2014 khuyến nghị về vấn đề cấp vốn cho cơ chế BHTG như sau:
“Tổ chức BHTG cần phải có sẵn vốn quỹ và các cơ chế cấp vốn cần thiết để đảm
bảo chi trả kịp thời các yêu cầu trả tiền bảo hiểm của người gửi tiền, bao gồm cả các cơ chế hỗ trợ thanh khoản Trách nhiệm thanh toán chi phí về BHTG thuộc về các tổ chức tham gia BHTG” Phí BHTG là nguồn cấp vốn chủ yếu cho quỹ BHTG
Phí đồng hạng áp dụng như nhau đối với tất cả các tổ chức tham gia BHTG
chỉ phù hợp với giai đoạn đầu khi mới thành lập hệ thống BHTG, không có tác dụng khuyến khích các tổ chức giảm thiểu rủi ro hoạt động Xu hướng hiện nay trên
thế giới là áp dụng Phí phân biệt theo rủi ro, tổ chức có rủi ro cao sẽ phải đóng
nhiều phí hơn, điều này có tác dụng khuyến khích các tổ chức tự cải thiện để được hưởng mức phí thấp hơn Khảo sát năm 2018 của IADI cho thấy: 41 tổ chức (khoảng 30%) trong tổng số 135 tổ chức BHTG tham gia khảo sát đang áp dụng phí phân biệt theo rủi ro, 24 tổ chức áp dụng song song 2 hình thức đồng hạng và phân biệt
1.3.1.4.Nguồn và sử dụng nguồn vốn của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Một tổ chức BHTG phải có sẵn các quỹ và tất cả các cơ chế cấp vốn nhằm đảm bảo chi trả kịp thời cho người gửi tiền, bao gồm cả cơ chế cấp vốn thanh khoản được bảo đảm
Trang 40Tổ chức BHTG có trách nhiệm đầu tư và quản lý an toàn các quỹ do mình quản lý Tổ chức BHTG có chính sách đầu tư quỹ cụ thể, đảm bảo các yếu tố sau:
- Bảo toàn nguồn vốn quỹ và duy trì thanh khoản, và
- Có đầy đủ chính sách và quy trình quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ, hệ thống công bố thông tin và báo cáo
Bảng 1.1 Các hình thức đầu tư vốn của các tổ chức BHTG
Tổ chức
BHTG
Trái phiếu chính phủ
Trái phiếu ngân hàng
Trái phiếu công
ty
Trái phiếu chính phủ
Mỹ
Trái phiếu tài chính nước ngoài
Tại NHTW
Tại các tổ chức tài chính
an toàn
Khác
Áp dụng
cơ chế cấp vốn sau đổ
vỡ
Trái phiếu quỹ cầm
ro
Trái phiếu phát hành bởi NHTW