Học văn ngoài yếu tố kiến thức từ sách vở (lí thuyết) để tạo nền cho mối quan hệ xã hội, song việc quan trọng của việc học văn là bồi dưỡng tâm hồn thêm phong phú và sinh động. Trong nhu cầu xã hội hiện nay, việc vận dụng môn Văn là rất cần thiết. Đôi khi muốn thuyết phục một ai đó về vấn đề lí luận chính trị, khái quát một vấn đề nào đó thì vai trò của môn Văn là rất lớn. Thiết nghĩ một trong những nhu cầu đó có yếu tố cấu thành của việc sử dụng thành ngữ. Thành ngữ là một hiện tượng từ vựng đặc sắc trong tiếng Việt, nó cũng là một đơn vị từ vựng rất phong phú, có số lượng lớn và có một vai trò quan trọng. Qua sử dụng thành ngữ, chúng ta có thể thấy rõ đặc điểm tư duy, văn hóa của người Việt Nam. Với tầm quan trong như vậy, thì giáo viên cần truyền ngọn lửa đam mê ấy vào tiết học và nhất là phương pháp sử dụng, lưu nhớ, nhận biết chính xác thành ngữ trong việc giao tiếp. Một số cuộc trò chuyện hay người dẫn chương trình ở nhiều cuộc thi trên truyền hình hiện nay, người nói sử dụng nhiều thành ngữ. Và đôi khi bản thân người nói còn bối rối khi chưa phân biệt được đâu là thành ngữ, đâu là câu tục ngữ; hay nói cách khác có người còn nghĩ thành ngữ là một câu. Điều đó thật tai hại, vì họ đã vô tình làm biến sắc thái và cách hiểu về cấu tạo cũng như ngữ nghĩa của thành ngữ. Trong chương trình Ngữ văn THPT, học sinh được tiếp cận học lí thuyết và thực hành thành ngữ. Ngoài giờ học cơ bản từ sách giáo khoa, bản thân giáo viên và học sinh có thể tiến hành phương pháp dạy – học tích cực bằng việc Tạo hứng thú đối học sinh khi học thành ngữ trong giờ học Ngữ văn ở THPT”. Qua đó, giáo viên vừa củng cố kiến thức cho các em vừa tạo sân chơi bổ ích giúp các em lưu nhớ lâu và có hướng lập luận tốt hơn khi sử dụng thành ngữ trong giao tiếp nhằm giúp cho lời ăn tiếng nói thêm sâu sắc, tinh tế và nghệ thuật hơn. 2. Mục đích nghiên cứu: Tôi thực hiện sáng kiến này dựa trên nhu cầu giao tiếp và kĩ năng sử dụng thành ngữ của học sinh nói riêng và cá nhân, cộng đồng nói chung. Những phát hiện lỗi sai khi dùng thành ngữ và những hiểu biết về ý nghĩa, cấu tạo của thành ngữ, và cuối cùng giúp học sinh phân biệt thành ngữ với tục ngữ để trong cuộc sống, khi giao tiếp các em có thể linh hoạt mà vận dụng một cách tốt nhất.
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Phú Tân, ngày 10 tháng 3 năm 2015
BÁO CÁO TÓM TẮT NỘI DUNG , HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN
- Tên đề tài (sáng kiến): “Tạo hứng thú đối với học sinh khi học thành ngữ
trong giờ học Ngữ văn ở THPT”
- Họ và tên cá nhân hoặc người chủ trì và người đồng nghiên cứu, thực hiện
(nếu là sáng kiến đồng tác giả): Lê Xuân Dị
- Đơn vị công tác: Trường THPT Phú Tân
- Thời gian đã triển khai thực hiện: từ ngày 10/10/2013 đến ngày 27/02/2015
1/ Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
Trong nhu cầu xã hội hiện nay, việc vận dụng môn Văn là rất cần thiết Đôi khi
muốn thuyết phục một ai đó về vấn đề lí luận chính trị, khái quát một vấn đề nào đó thì
vai trò của môn Văn là rất lớn Thiết nghĩ một trong những nhu cầu đó có yếu tố cấu
thành của việc sử dụng thành ngữ
Thành ngữ là một hiện tượng từ vựng đặc sắc trong tiếng Việt, nó cũng là một
đơn vị từ vựng rất phong phú, có số lượng lớn và có một vai trò quan trọng Qua sử
dụng thành ngữ, chúng ta có thể thấy rõ đặc điểm tư duy, văn hóa của người Việt Nam
Trong chương trình Ngữ văn THPT, học sinh được tiếp cận học lí thuyết và thực hành
thành ngữ Ngoài giờ học cơ bản từ sách giáo khoa, bản thân giáo viên và học sinh có
thể tiến hành phương pháp dạy – học tích cực bằng việc Tạo hứng thú đối học sinh khi
học thành ngữ trong giờ học Ngữ văn ở THPT”
Tôi thực hiện sáng kiến này dựa trên nhu cầu giao tiếp và kĩ năng sử dụng thành
ngữ của học sinh nói riêng và cá nhân, cộng đồng nói chung Những phát hiện lỗi sai
khi dùng thành ngữ và những hiểu biết về ý nghĩa, cấu tạo của thành ngữ, và cuối cùng
giúp học sinh phân biệt thành ngữ với tục ngữ để trong cuộc sống, khi giao tiếp các em
có thể linh hoạt mà vận dụng một cách tốt nhất
2/ Mô tả sáng kiến (nội dung sáng kiến):
1
Mẫu 02/BCTTSK
Trang 2Sáng kiến gồm 3 phần chính đó là: Cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn, biện pháp cụ thể
A Cơ sở lí luận:
* Khái niệm về thành ngữ:
-Thành ngữ là những cụm từ quen dùng, được lặp đi lặp lại trong giao tiếp và được cố định hóa về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa để trở thành một đơn vị tương đương với từ
- Nghĩa của thành ngữ thường là nghĩa khái quát, trừu tượng và có tính hình tượng cao
* Dạng cấu thành của thành ngữ:
Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ phức tạp Do đó, việc chỉ rõ các đặc tính cũng như phân loại thành ngữ theo cấu tạo là điều không dễ dàng
- Cách phân loại có thể tham khảo: dựa vào số lượng thành tố trong thành ngữ
+ Thành ngữ kết cấu ba tiếng: Ác như hùm, Bạn nối khố, Bở hơi tai, Bé hạt tiêu,
Bụng bảo dạ, Chết nắn răng, Có máu mặt, Cá cắn câu…
+ Thành ngữ kết cấu bốn từ đơn hay hai từ ghép: Bán vợ đợ con, Bảng vàng bia
đá, Phong ba bão táp, Ăn to nói lớn, Ác giả ác báo…
Trong đó có các kiểu chia:
* Kiểu thành ngữ có láy ghép: Ăn bớt ăn xén, Chết mê chết mệt, Chúi đầu chíu mũi…
* Kiểu thành ngữ tổ hợp của hai từ ghép: Nhắm mắt xuôi tay, Nhà tranh vách đất, Ăn bờ ở bụi, Bàn mưu tính kế, Đầu voi đuôi chuột…
+ Thành ngữ kết cấu năm hay sáu tiếng: Trẻ không tha già không thương, Treo đầu dê bán thịt chó…
Bên cạnh đó, còn có một số thành ngữ có kết cấu từ bảy đến tám, mười tiếng:
Vênh váo như bố vợ phải đâm, Vén tay áo xô đốt nhà tang giày…
* Các dạng chủ yếu của thành ngữ được sử dụng:
- Thành ngữ đa phong cách: con rồng cháu Tiên; gan vàng dạ sắt; núi cao sông
Trang 3- Thành ngữ gọt giũa: thanh thiên bạch nhật; đồng tâm hiệp lực; tống cựu nghênh tân; môn đăng hộ đối; cửa Khổng sân Trình; hương lửa ba sinh…
- Thành ngữ khẩu ngữ: ba que xỏ lá; nước đổ đầu vịt; đầu trâu mặt ngựa; ông nói gà bà nói vịt; miệng hùm gan sứa; nói toạc móng heo…
Thành ngữ không mang sắc thái biểu cảm chủ quan, cá nhân kể cả những thành ngữ khẩu ngữ Sắc thái biểu cảm của thành ngữ mang tính khái quát, tính chung chứ không mang tính cụ thể, riêng biệt
- Về mặt hình thức, thành ngữ thường dựa vào quy luật hài hòa về âm thanh, trong đó vần, nhịp và kiến thức sóng đôi đóng một vài trò hết sức quan trọng
- Về mặt nội dung, thành ngữ thường được cấu tạo theo quy tắc chuyển nghĩa hoặc hình thức so sánh để tạo nên nghĩa biểu trưng
Do được cấu tạo theo nguyên tắc chuyển nghĩa ẩn dụ hoặc hoán dụ mà thành ngữ bao giờ cũng có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng Nghĩa đen của thành ngữ do bản thân tổ hợp từ ngữ mang lại có tính chất cụ thể, sinh động và hình ảnh Nghĩa bóng
có tính chất trừu tượng, khái quát đồng thời có sắc thái biểu cảm
* Tác dụng của thành ngữ:
- Giúp cho lời nói của chúng ta có hiệu quả biểu đạt cao hơn
+ Thành ngữ còn có thêm nội dung biểu hiện như sau: hình ảnh sinh động, nghĩa biểu trưng thâm túy, âm điệu hài hòa; tính dân tộc đậm đà và có sức thuyết phục cao Giúp cho lời ăn tiếng nói thêm sâu sắc, tinh tế và nghệ thuật hơn
- Thành ngữ được dùng rộng rãi trong phong cách khẩu ngữ
+ Sử dụng thành ngữ để diễn đạt sẽ dễ thuyết phục mọi người vì nó có tính khách quan, bằng hình ảnh thực tế chứ không phải bằng những lí luận suông
- Trong phong cách ngôn ngữ văn chương, thành ngữ là rất cần thiết Nó giúp nhà văn miêu tả một cách sinh động ngoại hình, tâm hồn, tính cách và thân phận nhân vật
- Phân biệt thành ngữ với tục ngữ:
3
Trang 4Gọi tên sự vật, tính chất, hành động
Thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện của thế giới khách quan
Cấu tạo - Đại bộ phận là kết cấu
một trung tâm
- Có thể thêm các trợ từ để nhấn mạnh nội dung
- Kết cấu hai trung tâm
- Có thể thêm các hư từ chỉ quan hệ đã tỉnh lược để làm rõ mối quan hệ giữa các bộ phận ytrong thông báo
Vận dụng trong lời nói Dùng làm một bộ phận để
tạo thành câu
Có khả năng độc lập tạo thành câu, cũng có khi dùng một bộ phận để tạo thành câu
B Cơ sở thực tiễn:
* Về phía giáo viên
Đây là yếu tố không nhỏ trong quá trình dạy – học văn, thông qua đây nó thể hiện tầm quan trọng của việc vận dụng thành ngữ khi đề cập nội dung cần diễn đạt Trong tiết giảng dạy, giáo viên phụ trách môn Ngữ văn sẽ lôi cuốn, thu hút học sinh bằng phương pháp giảng logic và có vần có điệu
Bên cạnh sự học hỏi bổ trợ kiến thức về thành ngữ của giáo viên thì khả năng hướng dẫn học sinh tiếp cận và yêu thích khi học thành ngữ - nói thành ngữ - vận dụng thành ngữ linh hoạt việc sử dụng thành ngữ trong học tập cũng như giao tiếp càng quan trọng hơn Ngoài ra, giáo viên cũng tổ chức những hoạt động phù hợp đối với học sinh
để hướng dẫn các em tiếp xúc, hiểu và sử dụng thuần thục những vốn riêng của mình khi tìm hiểu về thành ngữ
Hướng dẫn không đơn thuần là đưa ra một lần bằng hính thức lặp lại mà nó mang nghĩa phát hiện và sửa chữa lỗi sai để học sinh khắc phục
Xét cho cùng đây là phương pháp hỗ trợ học sinh hứng thú, tích cực hơn
Trang 5* Về phía học sinh
- Học sinh thường nói nhanh, đan xen ngôn ngữ khác loại, chưa nói phần lập luận nghèo nàn Đôi khi muốn diễn đạt hay nhấn mạnh về sự vật, tâm hồn, ngoại hình …thì không biết nói như thế nào Vòng vo rồi lôi thôi, tạo cảm giác khó chịu với người nghe, mất thời gian
-Trong cuộc sống hay trong văn chương nhiều lúc vẫn rất cần học sinh hiểu ý nghĩa diễn đạt của thành ngữ Không thể theo dõi một chương trình mình yêu thích, nghe người dẫn chương trình nói về thành ngữ sai mà không phát hiện (câu thành ngữ - sai) hay giá trị biểu đạt của thành ngữ mang lại là gì Từ đó, học sinh cần có vốn kiến thức về thành ngữ cụ thể theo phương thức: Vừa học – vừa chơi nâng tầm tri thức
* Nguyên nhân
- Văn học là một bộ môn khó chiếm lĩnh, kén người học và người dạy
- Trong thời đại khoa học công nghệ như hiện nay, người ta “xa lánh” môn văn học nói riêng và ban xã hội nói chung – như một lẽ tất yếu
- Địa bàn của trường đóng ở vùng ven biển, kinh tế còn nhiều khó khăn
- Những lối nói tắt, nói nhanh, nói đối phó cho xong vấn đề đã ngày càng làm lu mờ
đi sự trong sáng của tiếng Việt một cách trầm trọng
- Câu văn dùng đơn nghĩa, thiếu sức thuyết phục, thiện cảm của người nói với người nghe
3/ Đánh giá về tính mới của sáng kiến:
- Học sinh có cơ hội thể hiện và phát huy năng lực hiểu biết của mình trong quá trình tiếp nhận kiến thức của giáo viên vừa được chứng minh vốn kiến thức ngôn ngữ
và kịp thời bổ sung những gì còn thiếu
- Chủ động trong quá trình học, không gò bó hay hạn chế trong việc khám phá trí thức, nhất là lĩnh vực ngôn ngữ tiếng Việt
- Nâng cao vai trò tiếng mẹ đẻ, tôn trọng nét văn hóa tinh thần thông qua lời ăn tiếng nói hàng ngày của mình sao cho thuyết phục người tiếp nhận, linh hoạt, sâu sắc và tinh tế hơn
4/ Đánh giá về tính hiệu quả và khả thi của sáng kiến:
5
Trang 6Khi tiến hành áp dụng, kết quả mang lại bất ngờ và khả quan hơn mong đợi Đặc biệt, phương pháp tạo hứng thú trong việc học và tìm hiểu thành ngữ được học sinh ủng
hộ, đồng tình và hợp tác tích cực
Không hạn chế việc vận dụng thành ngữ trong giao tiếp hay đánh giá sự vật, hiện tượng, ngoại hình, tâm hồn…đối tượng khác Cách thức tạo sự hấp dẫn việc học như thế giáo viên sẽ không mất quá nhiều thời gian đổi lại trong thời gian khiêm tốn, học sinh đã tiếp nhận kiến thức mới với tinh thần hồ hỡi và phấn chấn
- Kết quả cụ thể trong quá trình khảo sát và thực hành:
Tiêu chí
Kết quả
ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ (THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ)
Phát hiện đúng Phát hiện sai
5/ Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến:
Việc sử dụng thành ngữ trong giao tiếp là điều cần thiết Và đối với học sinh THPT là điều cần để thiết lập mối quan hệ bằng phương thức giao tiếp thông qua vốn liếng ngôn từ tiếng Việt có sự mài giũa, sâu sắc, tinh tế: thành ngữ Ảnh hưởng của thành ngữ khá rộng trong quá trình giáo viên bộ môn Văn lên lớp và lập luận vấn đề mang tính khái quát Cụ thể việc ảnh hưởng và vận dụng thành ngữ như sau:
- Trong quá trình giảng dạy giáo viên cũng nên dùng thành ngữ thường xuyên khi khái quát một hiện tượng, vấn đề thích hợp;
- Trong giờ thực hành thành ngữ;
- Trong tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp, cho học sinh tự quản, tự tổ chức và giáo
Trang 7- Trong giờ sinh hoạt chủ nhiệm, giáo viên nói chung vẫn có thể tạo sân chơi cho các em bằng việc dùng hình ảnh hay đố vui nhỏ khi sử dụng thành ngữ, tục ngữ
6/ Kiến nghị, đề xuất:
Văn học là nhân học (M.Gorki) Học văn là để cảm nhận cái hay cái đẹp của nghệ
thuật và của cuộc sống, từ đó bồi dưỡng, rèn luyện tâm hồn, tình cảm chân thiện
-mỹ của con người Việt Nam mới Muốn vậy, ta phải biết sử dụng thuần thục thành ngữ, biết cảm nhận, khái quát chính xác, tinh tế vấn đề muốn phản ánh Đó cũng là công sức của ta khi góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Để môn văn được đón nhận với một tâm thế nhẹ nhàng và không trở thành một áp lực, thì hơn ai hết, giáo viên và học sinh rất cần có tiếng nói chung:
- Đa dạng hóa, đổi mới phương pháp, hình thức học tập trong trường học (nhà trường tổ chức những buổi ngoại khóa, đố vui để học, tạo cơ hội cho học sinh được hiểu và biết thêm về việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ đúng đắn, góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt
- Khuyến khích học sinh sưu tầm thành ngữ, ý nghĩa và những hình ảnh minh họa
về thành ngữ
- Giáo viên phải là người chủ động sáng tạo trong mọi tình huống, có thể áp dụng những giờ học mở cho học sinh có cơ hội tìm tòi, phát hiện và hoàn thiện mình hơn trong việc sử dụng thành ngữ đối với môn học Ngữ văn
(Thủ trưởng đơn vị trực tiếp)
Lê Xuân Dị
7