Đồng thời, tác giả cũng tìm hiểu, những đóng góp của họ cho đất nước nói chung, sự phát triển của văn học và báo chí nói riêng, bước đầu đánh giá về những thành công và thất bại của họ,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TẠ VIỆT HẰNG
ĐÀO NGUYÊN PHỔ VÀ VŨ PHẠM HÀM – BƯỚC CHUYỂN TỪ MẪU HÌNH VĂN NHÂN
SANG MẪU HÌNH KÝ GIẢ
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TẠ VIỆT HẰNG
ĐÀO NGUYÊN PHỔ VÀ VŨ PHẠM HÀM – BƯỚC CHUYỂN TỪ MẪU HÌNH VĂN NHÂN
SANG MẪU HÌNH KÝ GIẢ
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Ngọc Vương
Hà Nội - 2016
Trang 3Lời cảm ơn
Luận văn được hoàn thành tại Khoa Văn học - trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Trần Ngọc Vương, người
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Văn học, bộ phận Đào tạo Sau Đại học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành quá trình học tập, nghiên cứu Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ tôi
Hà nội ngày 08 tháng 12 năm 2016
Học viên
Tạ Việt Hằng
Trang 4Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các vấn đề trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội ngày 08 tháng 12 năm 2016
Học viên
Tạ Việt Hằng
Trang 5
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu và những nguồn tư liệu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Cấu trúc của luận văn 7
PHẦN NỘI DUNG 8
Chương 1 Những tiền đề xã hội ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX 8
1.1 Những chuyển biến xã hội dẫn đến sự phân hóa trong giới trí thức truyền thống 8
1.1.1 Chế độ thực dân nửa phong kiến và quá trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất 8
1.1.2 Sự biến động trong kết cấu xã hội 8
1.1.3 Sự lựa chọn của nhà nho 9
1.1.4 Xuất hiện báo chí và mẫu hình ký giả 10
1.2 Một vài nét về báo chí Việt Nam giai đoạn sơ kì 11
1.2.1 Đại Nam Đồng văn nhật báo: Con đường mở của tự do ngôn luận 11
1.2.2 Đặc điểm của báo chí Việt Nam giai đoạn sơ kì 13
1.3 Mẫu hình nhà nho - văn nhân trong quan niệm truyền thống 19
1.4 Mẫu hình Ký giả trong lịch sử xã hội Việt nam 22
Tiểu kết 23
Chương 2: Vũ Phạm Hàm, ông quan – ký giả 25
2.1 Vị Tam nguyên Thám hoa với giai thoại thần đồng 25
2.2 Nhà nho mang nặng tư tưởng trung quân 25
2.2.1 Nhà nho hành đạo 25
2.2.2 Một nhà nho luôn mong muốn làm ẩn sĩ chốn quan trường 31
2.2.3 Một nhà nho yêu nước 34
2.3 Một ký giả bất đắc dĩ 36
Trang 62.3.1 Vị quan đốc học được triều đình cử ra làm báo 36
2.3.2 Những tác phẩm báo chí bị lãng quên 38
2.3 Những ảnh hưởng của phong cách ký giả đối với sáng tác nhà nho Vũ Phạm Hàm 42
2.4 Những biến đổi nửa vời và bước lội ngược dòng 44
Tiểu kết 47
Chương 3 Đào Nguyên Phổ - Ký giả tiên phong 49
3.1 Những chặng đường ký giả hóa của Đào Nguyên Phổ 49
3.2 Một chí sĩ duy tân 50
3.2.1 Nhà nho hành đạo hăm hở mong muốn đem tài trí giúp vua, giúp đời 51
3.2.3 Nhà nho có xu hướng tài tử 57
3.2.4 Nhà khoa học, nhà sử học lỗi lạc 59
3.2.5 Nhà nho kiên trì theo đuổi xu hướng duy tân 61
3.3 Một nhà báo tiên phong 63
3.3.1.Những chặng đường ký giả hóa 63
3.3.2 Những tác phẩm báo chí qua các giai đoạn phát triển 66
Tiểu kết 86
Chương 4 Vai trò có tính quá độ của Đào Nguyên Phổ và Vũ Phạm Hàm trong buổi giao thời của văn học và báo chí 87
4.1.Tính quá độ chuyển giao giữa hai mẫu hình tác giả 87
4.1.1 Gạch nối giữa “quốc gia” và “quốc dân” 87
4.1.2 Cầu nối hiện đại với quá khứ 89
4.2 Những đóng góp tích cực của các văn nhân - ký giả ở thời điểm khai sinh nền báo chí Việt 90
4.2.1 Khai sinh ra loại hình tác giả mới 90
4.2.2 Cổ động tuyên truyền học chữ quốc ngữ 92
4.2.3 Hiện đại hóa văn học Việt Nam 93
4.2.4 Góp phần làm biến chuyển xã hội 95
4.2.5 Thúc đẩy báo chí tư nhân phát triển, tự do cạnh tranh 95
4.2.6 Thúc đẩy giáo dục phát triển 97
4.2.7 Bảo tồn văn hóa truyền thống 97
Trang 74.3 Những hạn chế mang tính lịch sử và cá nhân 97
4.3.1 Những hạn chế do khách quan lịch sử đem lại 97
4.3.2 Những hạn chế mang tính cá nhân 102
Tiểu kết: 106
PHẦN KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Lịch sử văn học Việt Nam cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX chứng kiến nhiều sự thay đổi to lớn Bên cạnh những sáng tác theo lối truyền thống chịu ảnh hưởng của tư duy Đông phương mà điển hình là tư tưởng Nho giáo thì đã xuất hiện những loại hình sáng tác mới chịu ảnh hưởng của tư tưởng tây Âu như kịch, báo chí… Loại hình báo chí theo bước chân của kẻ xâm lược xâm nhập vào xã hội Việt Nam, trở thành công cụ tuyên truyền cho chính sách thuộc địa của người Pháp Người dân Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp trí thức tinh hoa của họ, đã nhận ra báo chí là nơi họ có thể bày tỏ quan điểm của mình về chính trị, xã hội, lịch sử, tư tưởng, một diễn đàn công khai và hợp pháp để kêu gọi nhân dân tự lực, tự cường, tập hợp lực lượng để đấu tranh giành độc lập Đây cũng là nơi phổ biến nhanh chóng nhất các sáng tác của bậc văn nhân đam mê văn chương nghệ thuật Báo chí trở thành “công cụ không tự giác của lịch sử” thực hiện sứ mệnh chấn hưng dân khí, hiện đại hóa nền văn hóa và văn học Việt Nam
1.2 Từ một vài tờ công báo bằng Tiếng Pháp ban đầu ở Nam Kỳ, báo chí đã phát triển lan rộng ra Bắc kỳ và Trung kỳ Báo chí ra đời và phát triển tạo ra một
loại hình tác giả mới, khác biệt về chất so với loại hình tác giả truyền thống: ký giả
Ở giai đoạn sơ kì, ký giả chính là những nhà nho – văn nhân chuyển hóa thành Họ
không còn là nhà nho trong quan niệm truyền thống, cũng chưa phải là nhà văn hay nhà báo theo quan niệm của xã hội hiện đại Họ là loại hình tác giả mang tính nguyên hợp: vừa là nhà nho, vừa là nhà văn và nhà báo
1.3 Đào Nguyên Phổ và Vũ Phạm Hàm không nổi tiếng trên văn đàn như Khuyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà… Tuy vậy, những đóng góp của hai ông trong nhìn từ góc độ chuyển đổi loại hình tác giả nhà nho từ lĩnh vực văn chương sang lĩnh vực báo chí ở thời điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ, hai thời đại thì lại rất quan trọng Việc nghiên cứu về từ góc độ này cho đến nay là chưa có
Trong phạm vi một luận văn thạc sỹ cao học, tác giả mong muốn làm rõ quá trình chuyển chuyển đổi này, bước đầu ghi nhận vai trò là những người đặt viên
Trang 92
gạch nền móng cho buổi sơ kỳ của báo chí Việt Nam, vai trò cầu nối của họ đối với mối quan hệ giữa văn học và báo chí nước ta Đồng thời, tác giả cũng tìm hiểu, những đóng góp của họ cho đất nước nói chung, sự phát triển của văn học và báo chí nói riêng, bước đầu đánh giá về những thành công và thất bại của họ, từ đó rút
ra những bài học về quá trình tìm đường và nhận đường của giới trí thức Việt Nam trong hoàn cảnh đất nước có nhiều biến cố
2 Tình hình nghiên cứu và những nguồn tư liệu
Hiện tượng các tác giả từ nhà nho chuyển sang làm ký giả đã được các nhà nghiên cứu nhắc tới trong những công trình biên khảo về văn học cổ trung đại Việt
Nam như Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Quốc văn giáo khoa
thư của Trần Trọng Kim, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế
Ngũ, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (2 tập, Sài Gòn, 1967) của Thanh Lãng, Giáo
trình văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ của Trần Đình Hượu – Lê Chí
Dũng, Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 – 1945 của Mã Giang Lân… Đặc biệt hai công trình Giáo trình văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ và
Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 – 1945 tập hợp được nhiều bài viết
ghi nhận khẳng định vai trò tiên phong của báo chí đối với sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại, ví báo chí như “bà đỡ” đối với văn học Các nhà nghiên cứu cũng và chỉ ra rằng quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam ban đầu là quá trình hiện đại hóa tác giả nhà nho, là sự dịch chuyển của một số nhà nho sang lĩnh vực báo chí
Các công trình nghiên cứu về lịch sử báo chí Việt như Lịch sử báo chí Việt Nam
từ khởi thủy đến 1930 của Huỳnh Văn Tòng; Giới thiệu lịch sử báo chí Việt nam
của Trần Huy Liệu; Lược sử báo chí của Nguyễn Việt Chước, Lịch sử báo chí Việt
Nam của Đỗ Quang Hưng; Lịch trình tiến hóa sách báo quốc ngữ của Nguyễn Tiến
Đoàn… đã dành một số trang viết về tờ Đại Nam Đồng văn nhật báo, tờ công báo
đầu tiên của Bắc kỳ và Trung kỳ Tờ báo này do Vũ Phạm Hàm, khi còn làm đốc
học Hà Nội (1893-1896), đã “kiêm sung Đồng Văn Quán” [64;41] Sau này là Đào
Nguyên Phổ làm chủ bút (1903-1907) [62;155] Những nhà nghiên cứu trên đã công
bố một số tư liệu lịch sử liên quan đến quá trình ra đời của tờ báo, mô tả khái quát
Trang 10cấu trúc và nội dung, bước đầu đánh giá vai trò khởi thủy của tờ Đại Nam Đồng văn
nhật báo đối với báo chí Việt Nam
Năm 1989, Sở VH&TT Thái Bình đã xuất bản cuốn Danh nhân Thái Bình để
vinh danh những người con ưu tú Đào Nguyên Phổ cũng được các nhà nghiên cứu dành một dung lượng ba trang viết Năm 2008, Nhà nghiên cứu Chương Thâu -
Viện Sử học, đã công bố cuốn Đình nguyên Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ Các
công trình nghiên cứu về Đông Kinh nghĩa thục luôn nhắc đến Đào Nguyên Phổ như là một nhân vật quan trọng trong quá trình vận động thành lập phong trào này
Tác giả Nguyễn Hiến Lê (Đông Kinh nghĩa thục, Phong trào Duy tân đầu tiên ở
Việt Nam) sưu tầm những mẩu chuyện về ông: “Cụ Đào Nguyên Phổ lúc đó làm chủ bút tờ Đại Việt tân báo, là người rất có chí khí Cụ lỡ mặc tật nghiện thuốc phiện, gặp phong trào mới, cụ rất khảng khái nói “Ai cũng biết duy tân, sao tôi còn thủ cựu, chẳng khiếp nhược lắm ư?” Rồi cụ đập bàn đèn Thuốc phiện hành cụ dữ,
cụ đau ốm cả tháng Nhiều người ái ngại khuyên cụ hút lại, cụ giận: “Tử sinh hữu mạng Con đĩ phù dung dám làm ma bắt tôi sao?” Cụ còn dặn dò: “Các công cố gắng hô hào bỏ lối học cử nghiệp đi và giúp thanh niên xuất dương du học, sau tất ích quốc”…” [29;54] Các nhà nghiên cứu Chương Thâu, Nguyễn Văn Xuân,
Nguyễn Quyết Thắng đều có nhắc đến tên tuổi và hành trạng của Đào Nguyên Phổ trong Đông Kinh nghĩa thục, ghi nhận ông ở vai trò một nhà nho duy tân, nhà báo tiên phong trong những hoạt động của phong trào này
Năm 2010, nhà nghiên cứu Chương Thâu cũng công bố cuốn Tam nguyên
Thám hoa Vũ Phạm Hàm (1864 - 1906) Đây công trình của nhiều tác giả nghiên
cứu đầy đủ và toàn diện nhất về con người và sự nghiệp sáng tác của Vũ Phạm Hàm từ trước đến nay Nhà nghiên cứu Đinh Xuân Lâm ghi nhận Vũ Phạm Hàm
với tư cách là một nhà văn hóa tiêu biểu, một nhà giáo thanh bạch, một vị quan
thanh liêm được các môn sinh và giới trí thức cùng thời rất hâm mộ tài hoa và đức
độ [64;19] Đây cũng là một nhà nho tham gia hoạt động báo chí, bước đầu đã có sự
chuyển biến duy tân: “tài liệu để lại cho biết khi lãnh chức Đốc học Hà Nội, ông
còn kiêm sung quán Đồng Văn, là một tờ báo ra đời trong thời điểm bắt đầu phong trào Duy tân và Đông Kinh nghĩa thục, cho thấy ông đã chịu ảnh hưởng của phong
Trang 114
trào mới (…) mặc dù Vũ Phạm Hàm đã có những biến đổi bên trong nhưng chưa bộc lộ dứt khoát… những chuyển biến nhất định phù hợp với yêu cầu mới của phong trào và của thời đại” [64;23]
Năm 2007, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Hồng với đề tài Đội ngũ quan lại - nhà nho khoa bảng với văn học và báo chí đầu thế kỷ, trong đó có
nghiên cứu và đánh giá sơ lược vắn tắt về Đào Nguyên Phổ và Vũ Phạm Hàm với
tư cách là các nhà nho khoa bảng tham gia làm báo trong những năm đầu thế kỷ XX [20;52,65,]
Năm 2012, luận văn Đào Nguyên Phổ trong đời sống văn hóa và văn học Việt
Nam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX của tác giả Trần Thị Thanh
Thúy nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp văn học và báo chí của danh sỹ Đào Nguyên Phổ với tư cách là một tác giả văn học nổi tiếng đương thời và có tài năng
thực sự Nguyễn Thị Hồng đã dựa trên cuốn Đình Nguyên Hoàng giáp Đào Nguyên
Phổ do Chương Thâu chủ biên [68;4] Mục 2.1.2 viết về Báo chí Bắc kỳ và vai trò của nhà báo Đào Nguyên Phổ được chia làm hai phần, phần thứ nhất khái quát đặc
điểm tình hình báo chí Bắc kỳ, lược sử ra đời một số tờ báo như Đại Nam Đồng
Văn nhật báo, Đại Việt tân báo và Đăng Cổ tùng báo, đều do Đào Nguyên Phổ làm
chủ bút phần Phần thứ hai viết về cuộc đời làm báo của nhà nho duy tân Đào
Nguyên Phổ Tác giả gọi Đào Nguyên Phổ là “nhà báo”, ghi nhận những nỗ lực của ông trong bảy năm “đã nỗ lực hết mình để cho ra đời những sản phẩm báo chí có
giá trị cao, chất lượng tốt cả về nội dung và nghệ thuật” [68;36] Tuy nhiên, luận
văn này chưa chỉ ra được quá trình chuyển hóa từ nhà nho sang ký giả ở Đào Nguyên Phổ cũng như chưa thấy được mối liên hệ giữa con người văn nhân và con người ký giả này Mặt khác, khái niệm nhà báo mà tác giả luận văn dùng cũng chưa phù hợp với những hoạt động cụ thể của Đào Nguyên Phổ
Một số tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Hán Nôm, tạp chí Xưa và Nay, tạp chí điện tử như Tia sáng, Ngày nay, Sách xưa… website của một số trường đại học,
cổng thông tin điện tử và các trang tin địa phương cũng đã đăng tải bài viết của các nhà nghiên cứu về những đóng góp của hai ông với tư cách là nhà khoa bảng, nhà tư tưởng, nhà giáo dục và nhà báo
Trang 12Về mặt văn bản, các sáng tác của Đào Nguyên Phổ và Vũ Phạm Hàm chủ yếu là bằng chữ Hán, phần lớn lại bị thất lạc, mai một Thời kỳ hai tác giả này làm việc ở
Đại Nam Đồng văn nhật báo thì không không ký tên dưới các bài viết Cho đến
nay, các nhà nghiên cứu mới chỉ xác định được một số bài viết lấy từ Đại Việt tân
báo và Đăng Cổ tùng báo được cho là của Đào Nguyên Phổ, bên dưới ký bằng
những bút danh quen thuộc mà tác giả thường sử dụng như Đình Đào, Đào Đình, Quang Hoành, Quan Hoàng, Đào Quang Hoành, Yên Sĩ Phi Lý Thuần (phiên âm tiếng Pháp) Một số tác phẩm vẫn còn đang trong quá trình tranh cãi mà chưa có
được sự thống nhất tác giả (Văn Minh tân học sách lời tựa) Đây là một khó khăn
cho chúng tôi khi tiếp cận đề tài
Dựa trên những tư liệu tìm được, chúng tôi nhận thấy các công trình trên đã phần nào phác họa được chân dung, tiểu sử, niên biểu - hành trạng, nhân cách, tư tưởng, và ghi nhận bước đầu về những đóng góp của hai tác giả này trên nhiều phương diện Tuy nhiên cho đến nay, chưa có đề tài nghiên cứu chuyên biệt về
những bước chuyển từ mẫu hình văn nhân sang mẫu hình ký giả với tư cách là một
lực lượng sáng tác mới ra đời trên cơ sở sự chuyển hóa tự thân của một lực lượng sáng tác cũ Với đề tài này, chúng tôi cố gắng từng bước làm rõ sự chuyển hóa từ
nhà nho – văn nhân sang ký giả ở giai đoạn mới hình thành của báo chí Việt Họ là những văn nhân cuối mùa, đồng thời là những ký giả tiên phong đã đối mặt với bao
thử thách khó khăn, bước sang một lĩnh vực khác, một thế giới khác, khai sinh một loại hình sáng tác - xuất bản khác hẳn với truyền thống, chưa từng có trong mấy ngàn năm quá khứ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài Đào Nguyên Phổ và Vũ Phạm Hàm bước chuyển từ mẫu hình văn
nhân sang mẫu hình ký giả, chúng tôi tập trung nghiên cứu về quá trình chuyển biến
từ trong tư tưởng đến hành động và sáng tác của hai ông trong suốt cuộc đời, đặc biệt tập trung vào giai đoạn từ khi đỗ đạt đến khi mất
Phạm vi tư liệu: Do có những hạn chế về mặt tư liệu, những biến động của thờì
gian, xã hội, văn hóa lịch sử như chúng tôi đã trình bày ở trên, và do vấn đề lưu trữ dịch thuật còn hạn chế nên trong bản luận văn này chúng tôi chủ yếu bám sát vào
Trang 136
các bộ sách Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm và Đình Nguyên Hoàng giáp
Đào Nguyên Phổ được công bố bởi nhà sử học Chương Thâu chủ biên Bên cạnh đó
chúng tôi cũng cố gắng khảo sát thêm các tư liệu là những bài báo đăng trên Đại
Nam Đồng Văn nhật báo, Đăng Cổ Tùng báo và một phần của tờ Đại Việt Tân báo
còn sót lại để làm rõ thêm cho các luận điểm được trình bày Cùng với thời gian, khi
tư liệu được tìm kiếm, bổ sung, chúng tôi sẽ tiếp tục hoàn thiện những vấn đề đặt ra
ở những giai đoạn tiếp theo
4 Mục đích nghiên cứu
Qua việc khảo sát, phân tích văn bản, niên biểu - hành trạng, những công trình nghiên cứu lịch sử văn học, báo chí, tư tưởng về hai tác giả này, chúng tôi mong muốn đem lại những hiểu biết sâu sắc hơn về quá trình chuyển hóa giữa hai loại hình tác giả trong một cá nhân tác giả, bước chuyển từ Vũ Phạm Hàm qua Đào Nguyên Phổ, tìm hiểu những yếu tố ngoại cảnh và cá nhân chi phối họ lựa chọn và hành động, những hạn chế, tiến bộ mà họ có được, từ đó làm rõ vai trò cầu nối của
họ trong lịch sử văn học- báo chí Việt Nam ở giai đoạn sơ kì
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt hiệu quả cao nhất cho mục đích trên, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu loại hình học tác giả Cụ thể, chúng tôi nghiên cứu tiểu sử tác giả, tác phẩm, thể loại sáng tác, ngôn ngữ, tư tưởng nhằm đưa lại cách nhìn toàn diện về con người tác giả, tiến tới đánh giá và phân loại tác giả trong dòng chảy văn học và báo chí Việt Nam thời kỳ cận hiện đại
- Phương pháp so sánh: dựa vào phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại, chúng tôi sẽ chỉ ra được sự tương đồng, những yếu tố tiến bộ, những đóng góp có giá trị lịch sử của các tác giả và cả những mặt hạn chế mang tính thời đại và cá nhân của các tác giả trong dòng chảy tư tưởng văn học - báo chí thời kì này
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn học - sử học - triết học- báo chí học, ngôn ngữ học và các ngành khoa học xã hội khác để thấy được mối tương quan giữa các ngành khoa học này với nhau cùng những tác động của chúng đối với quá trình chuyển biến trong loại hình tác giả
Trang 14Thao tác phân tích - tổng hợp: phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong hầu hết công trình nhằm phân tích văn bản, các công trình nghiên cứu, công trình văn học sử, tiểu sử, niên biểu - hành trạng nhằm đưa ra những đánh giá logic, khách quan, những diễn tiến tư tưởng và hành động chi phối quá trình sáng tác Sau đó, chúng tôi tiến hành tổng hợp để đi đến những kết luận xác đáng
về vai trò của hai tác giả theo hướng mà công trình đã đề ra
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn của chúng tôi dự kiến chia phần nội dung lớn thành bốn chương như sau:
Chương 1: Những tiền đề xã hội ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ
XX
Chương 2: Vũ Phạm Hàm, ông quan – ký giả
Chương 3: Đào Nguyên Phổ - ký giả tiên phong
Chương 4: Vai trò có tính quá độ của Đào Nguyên Phổ và Vũ Phạm Hàm trong
buổi giao thời của văn học và báo chí
Trang 158
PHẦN NỘI DUNG Chương 1 Những tiền đề xã hội ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu
1.1.2 Sự biến động trong kết cấu xã hội
Xã hội Việt Nam lúc này tồn tại hai kiểu kết cấu xã hội đan xen nhau: kiểu kết cấu truyền thống và kiểu kết cấu hiện đại Kết cấu truyền thống theo mô hình quân chủ chuyên chế kiểu phương đông, đứng đầu là vua, dưới là tứ dân sĩ, nông, công, thương, trong đó tứ dân đều là bề tôi của vua Kết cấu hiện đại là bộ máy cai trị khác, đứng đầu là Toàn quyền, dưới là các công chức, viên chức, nhà tư sản, công