ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- TRỊNH THANH THỦY HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG BẢO TỒN KHU DI SẢN MỸ SƠN LUẬN VĂN THẠ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRỊNH THANH THỦY
HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG BẢO TỒN KHU DI SẢN MỸ SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRỊNH THANH THỦY
HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG BẢO TỒN KHU DI SẢN MỸ SƠN
Hà Nội - 2016
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Câu hỏi nghiên cứu 6
6 Giả thuyết nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 7
8 Kết cấu luận văn 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC 8
TÀI CHÍNH CHO ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 8
1.1 Các khái niệm công cụ 8
1.1.1 Nguồn lực và nguồn lực tài chính 8
1.1.2 Công nghệ và ứng dụng công nghệ 11
1.1.3 Huy động nguồn lực tài chính 15
1.2 Phương thức và nội dung huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ 19
1.2.1 Tầm quan trọng của việc huy động nguồn lực tài chính 19
1.2.2 Phương thức huy động nguồn lực tài chính 20
1.2.3 Nội dung huy động nguồn lực tài chính 22
1.2.4 Nội dung và phương thức huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ của Việt Nam 23
1.3 Các yếu tố tác động đến huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ 27
1.3.1 Yếu tố chủ quan 27
1.3.2 Yếu tố khách quan 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG BẢO TỒN KHU DI SẢN MỸ SƠN 32
2.1 Khu di sản Mỹ Sơn và công tác bảo tồn 32
2.1.2 Hiện trạng công tác bảo tồn 35
Trang 42.1.3 Yêu cầu ứng dụng công nghệ cao vào việc bảo tồn tại Mỹ Sơn 38
2.2 Các nguồn tài chính phục vụ công tác bảo tồn 40
2.2.1 Nguồn ngân sách nhà nước 40
2.2.2 Nguồn từ các tổ chức, cá nhân 43
2.2.3 Nguồn vốn tự có 44
2.3 Thực trạng công tác huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao 46
2.3.1 Nhà nước 46
2.3.2 Tổ chức và cá nhân 48
2.3.3 Nguồn vốn tự có 51
2.4 Đánh giá thực trạng huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao 53
2.4.1 Thuận lợi 53
2.4.2 Khó khăn 55
2.4.3 Những tồn tại, hạn chế 57
2.4.4 Nguyên nhân 59
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG BẢO TỒN 65
KHU DI SẢN MỸ SƠN 65
3.1 Giải pháp đối với các cơ quan quản lý nhà nước 65
3.2 Giải pháp đối với cơ quan địa phương 68
3.3 Giải pháp đối với tổ chức, cá nhân 70
3.3.1 Tổ chức trong và ngoài nước 70
3.3.2 Cá nhân trong và ngoài nước 72
3.4 Giải pháp đối với đơn vị quản lý Khu di sản Mỹ Sơn 73
3.4.1 Về mặt nhận thức, ý thức, trách nhiệm 73
3.4.2 Về mặt quyền hạn 74
3.4.3 Kêu gọi và thu hút đầu tư 76
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 5Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
Khoa học và Công nghệ Ngân sách Nhà nước Research & Development (Nghiên cứu và triển khai)
UBND Ủy ban nhân dân
UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Bảng thống kê doanh thu của BQLMS từ hoạt động du lịch giai
đoạn 2010 - 2016 45
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ nguồn lực tài chính nhận được từ nhà nước và các tổ chức đầu tư vào bảo tồn ở Mỹ Sơn 46
Biểu đồ 2.2 Biểu đồ so sánh nguồn vốn huy động cho bảo tồn ở Mỹ Sơn 48
Biểu đồ 2.3 Biểu đồ minh họa mức tăng nguồn thu qua các năm của BQLMS (năm 2016 chỉ tính đến 31/6/2016) 51
Hình 2.1 Khu di sản đền tháp Mỹ Sơn 32
Hình 2.2 Các cụm đền, tháp thuộc Khu di sản Mỹ Sơn 34
Hình 2.3 Kiến trúc độc đáo của tháp Chăm Mỹ Sơn 35
Hình 2.4 Nhóm tháp G được trùng tu 37
Hình 2.5 Tháp E7 được trùng tu và đưa vào đón khách tham quan Error! Bookmark not defined
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguồn lực tài chính là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển KH&CN của mỗi quốc gia Căn cứ vào nguồn lực tài chính có được sẽ quyết định đầu tư bao nhiêu cho hoạt động KH&CN, từ đó phân bổ sao cho hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất
Trong thời gian qua, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là sự
nỗ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ KH&CN trong cả nước, tiềm lực KH&CN đã được tăng cường, KH&CN đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế
- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Tuy nhiên, trình độ KH&CN của nước ta hiện nay nhìn chung còn thấp so với các nước trên thế giới và trong khu vực, năng lực sáng tạo công nghệ mới còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tại Đại hội lần thứ XII của Đảng, báo cáo của Ban Chấp hành T.Ư Đảng
khóa 11 chỉ rõ: "Phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ cần được ưu tiên tập
trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt động khoa học và công nghệ, nhất là cơ chế quản lý, phương thức đầu tư, cơ chế tài chính để giải phóng năng lực sáng tạo, đưa nhanh tiến bộ khoa học - công nghệ vào hoạt động thực tiễn Tăng cường liên kết giữa các tổ chức khoa học và công nghệ với doanh nghiệp; mở rộng hình thức liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông Tăng cường hợp tác về khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ cao, phải là hướng
ưu tiên trong hội nhập quốc tế Phấn đấu đến năm 2020, KH&CN Việt Nam đạt trình độ phát triển của nhóm các nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2030, có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến trên thế giới”
Thực tế cho thấy, hầu hết các nước phát triển đều dành một nguồn lực đáng
kể để đầu tư cho hoạt động KH&CN Các nguồn lực này được huy động theo nhiều cách thức khác nhau và từ các thành phần kinh tế khác nhau Từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, trong những năm qua, Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực trong việc khuyến khích các đối tượng khác nhau tham gia tài trợ cho hoạt động
Trang 8khoa học và công nghệ Tuy nhiên, các kết quả đạt được cho đến nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra
Hơn nữa, việc phân bổ ngân sách nhà nước cho KH &CN chưa hợp lý, kinh phí cấp để thực hiện nhiệm vụ KH &CN thường xuyên giao chậm ; cơ cấu chi chưa thực sự phù hợp (ước tính có khoảng 20% tiền dành cho KH &CN thực chất đầu tư cho hoạt động sáng tạo của các nhà nghiên cứu, còn 80% nằm ở khâu đầu tư gián tiếp)1
Việc huy động các nguồn lực cho hoạt động KH &CN còn nhiều tồn tại , đặc biệt là thu hút nguồn vốn từ doanh nghiệp Mă ̣c dù theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2013), doanh nghiệp phải trích một phần lợi nhuận để tái đầu tư cho R&D (research & development - nghiên cứu và phát triển) nhằm đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Nhưng bất cập lớn nhất ở đây là nguồn chi cho phát triển KH&CN ở nước ta chủ yếu do ngân sách nhà nước, trong khi các nước khác tỷ lệ đầu tư ngoài ngân sách rất lớn, thường gấp 3-5 lần, thậm chí có nước gấp 10 lần nguồn đầu tư từ ngân sách Trên lý thuyết, tài chính cho hoạt động KH&CN đến từ 3 nguồn: Nhà nước, xã hội và doanh nghiệp Hiện nay, mức đầu tư từ khu vực này chỉ bằng một nửa so với ngân sách nhà nước Năm
2011 trong khi đầu tư của Nhà nước cho KH&CN xấp xỉ 700 triệu USD thì đầu tư của xã hội chỉ ở mức 300 triệu USD2
Trong những năm qua, việc ứng dụng công nghệ cao vào bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử và di sản không phải là một điều mới mẻ trên thế giới Công nghệ cao được rất nhiều các quốc gia trên thế giới ứng dụng để bảo tồn di sản Với một
số di sản hay di tích đã bị mất hay đang bị đe dọa thì việc ứng dụng công nghệ cao
là điều thực sự cần thiết để tái hiện lại hình ảnh di sản và để di sản không tiếp tục bị
hư hỏng bởi sự tác động của con người, khí hậu và thời gian
Ở Việt Nam, tuy việc bảo quản công trình, di tích bằng công nghệ cao chưa thực sự phổ biến và cũng chưa thực hiện một cách hiệu quả Nhưng tính đến thời điểm này, khu di sản Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam đang thu hút sự quan tâm đặc biệt
1
Phan Xuân Dũng (2016), Đẩy mạnh hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, Trường Đại học Vinh
2 Lê Xuân Trường (2014), Cơ chế quản lý tài chính đối với khoa học và công nghệ: Từ thông lệ quốc tế đến
thực tiễn Việt Nam, Tạp chí Tài chính, số 2
Trang 9của các cơ quan quản lý Năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định Phê duyệt Dự án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích Mỹ Sơn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2008 - 2020 Trong đó nội dung quy hoạch bảo tồn trùng tu
di tích có đề cập đến nghiên cứu ứng dụng các vật liệu và công nghệ phục chế, thay thế; về giải pháp gia cố, gia cường; về bảo quản, bảo dưỡng di tích và các nghiên cứu nhằm phát huy giá trị của di tích
Cuối năm 2015, nhóm chuyên gia Liên bang Nga đã phối hợp với UBND tỉnh tổ chức hội thảo khoa học về ứng dụng công nghệ cao bảo tồn tháp Chăm, thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia khoa học đầu ngành, các nhà quản lý Nhiều tham luận, giải pháp kỹ thuật trong bảo tồn, trùng tu tháp Chăm được đưa ra như: công nghệ chế tạo gạch và vữa trong xây dựng các ngôi đền cổ đại của Nga thế kỷ
X - XIII; công nghệ tôi bề mặt gạch và khả năng bảo vệ quần thể Mỹ Sơn; phân tích khoáng chất, giải pháp gia cố, gia cường, bảo quản, bảo dưỡng di tích; vật liệu phục chế, thay thế; phương pháp quang phổ IR-Fourier…
Xã hội ngày càng phát triển thì việc đưa công nghệ ứng dụng vào mọi hoạt động là điều tất yếu, đặc biệt là với sự phát triển của công nghệ cao hiện nay Công tác bảo tồn di sản cũng là một việc làm đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều nguồn lực Việc ứng dụng công nghệ cao trong các công tác bảo tồn là việc cần thiết phải đầu tư Trong khi đó, nguồn lực tài chính của Nhà nước còn hạn chế, không thể đủ
để đáp ứng các yêu cầu về ứng dụng công nghệ cao Xuất phát từ lý do trên, tác giả
lựa chọn đề tài nghiên cứu “Huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ
cao trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn” làm luận văn thạc sĩ
Luận văn hướng tới mục tiêu nghiên cứu tổng thể về huy động nguồn lực tài chính cho hoạt động ứng dụng khoa học và công nghệ nói chung và huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao vào bảo tồn Khu di sản Mỹ Sơn nói riêng Tiếp cận từng bước từ tổng kết và làm rõ cơ sở lý luận, phân tích nội dung và phương thức huy động nguồn lực tài chính, thực trạng huy động nguồn lực tài chính, từ đó chỉ ra mặt thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao trong bảo tồn Khu di sản Mỹ Sơn
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trang 10Trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu đề cập đến việc huy động nguồn lực tài chính như:
Tác giả Nguyễn Minh Tuấn với Bàn về huy động nguồn lực tài chính cho
giáo dục đại học Tác giả đề cập đến những giải pháp huy động các nguồn lực đa
dạng từ xã hội đầu tư cho giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng, gồm: đổi mới cơ cấu ngân sách, quản lý tài chính, xây dựng mức cấp kinh phí toàn diện cấp hai
Chuyên đề Quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN - Thực trạng và giải
pháp của Trung tâm nghiên cứu khoa học, Viện nghiên cứu lập pháp, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội Chuyên đề bàn về thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN ở nước ta hiện nay và đề xuất, kiến nghị đổi mới cơ chế tài chính thúc đẩy phát triển KH&CN như: nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước, đổi mới đồng bộ tổ cơ chế tài chính đối với lĩnh vực KH&CN
Tác giả Nguyễn Đồng Minh với Tăng cường và đa dạng hóa nguồn lực tài
chính cho bảo vệ môi trường Bài viết đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường
nguồn lực tài chính cho bảo vệ môi trường như: hình thành cơ chế để huy động nguồn vốn đầu tư, cân đối, bố trí các nguồn vốn ODA, vốn tín dụng trong kế hoạch ngân sách, kết hợp tăng chi từ ngân sách với đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư, khai thác các cơ hội của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Tác giả Nguyễn Hồng Sơn với Cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN ở
Việt Nam: Một số hạn chế và giải pháp hoàn thiện Bài viết đề cập đến những hạn
chế của cơ chế tài chính hiện hành cho hoạt động KH&CN và một số giải pháp hoàn thiện cơ chế như: tái cấu trúc lĩnh vực đầu tư công, khuyến khích nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đầu tư mạo hiểm…
Đề tài Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc của tác giả Vũ Mạnh Toàn Đề tài đề cập đến các giải pháp thu
hút nguồn vốn cho KH&CN: cải thiện môi trường đầu tư, đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, mở rộng quy mô và hoàn thiện các quy định quản lý Quỹ Phát triển KH&CN
Tác giả Võ Văn Đức với Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm
đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, NXB CTQG, Hà Nội 2009 Cuốn sách đề
Trang 11cập đến việc huy động và sử dụng nguồn lực nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong việc huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế như: nâng cao chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài, triển khai tìm kiếm các biện pháp huy động nguồn lực từ vàng, hoàn thiện thể chế bảo vệ nhà đầu tư, quyền sở hữu và quyền tài sản, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước
Tác giả Lê Quốc Lý có bài viết Xã hội hóa nguồn lực tài chính cho đầu tư
phát triển, số 16 - 4/2007, Tạp chí Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Bài viết đề
cập đến tình hình triển khai thực hiện xã hội hoá đầu tư trong một số ngành, lĩnh vực và giải pháp nhằm tăng cường xã hội hoá nguồn lực cho đầu tư phát triển, trong
đó có việc cải thiện năng lực huy động vốn qua hệ thống thuế và phí, nâng cao hiệu quả công tác phát hành trái phiếu chính phủ, phát triển mạnh thị trường tài chính, cải cách, nâng cao năng lực hệ thống ngân hàng, cải thiện các cơ chế chính huy động vốn trong dân cư và kiều hối
Tuy nhiên khi nghiên cứu những thông tin từ các công trình này, tác giả nhận thấy những đề tài, bài nghiên cứu, bài viết, sách trên đây mới chỉ tập trung vào phân tích hiện trạng cơ chế tài chính cũng như giải pháp hoàn thiện, huy động nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung mà chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến việc huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng khoa học công nghệ hoặc công nghệ cao trong bảo tồn di sản Vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài này là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay cũng như ngành học và yêu cầu công tác đặt ra Những kết quả nghiên cứu đã nêu cũng sẽ là cơ sở lý luận quan trọng mà tác giả tiếp thu và sử dụng trong quá trình hoàn thành luận văn này
và trong những công trình nghiên cứu của mình về sau Tác giả luận văn hy vọng rằng kết quả đạt được trong nghiên cứu sẽ là những đóng góp thiết thực về mặt lý luận cũng như thực tiễn nhằm huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn nói riêng cũng như các di sản tại Việt Nam nói chung
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 12Nghiên cứu việc huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao
để bảo tồn các di sản tại Việt Nam nói chung và Khu di sản Mỹ Sơn nói riêng (tại
đề tài này)
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận của việc huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn
- Nghiên cứu thực trạng việc huy động các nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn
- Đưa ra giải pháp nhằm huy động các nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi về nội dung
Nghiên cứu về phương thức huy động nguồn lực tài chính từ các cơ quan
quản lý nhà nước trung ương, địa phương; các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
và Ban quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn từ năm 2010 đến nay như thế nào?
- Giải pháp nào huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn?
6 Giả thuyết nghiên cứu
- Công nghệ cao đòi hỏi nguồn tài chính rất lớn
- Thực trạng huy động nguồn tài chính cho ứng dụng công nghệ cao trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn còn nhiều khó khăn
Trang 13- Giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn tập trung chủ yếu vào phương thức huy động, chính sách khuyến khích đầu tư
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu
tài liệu để tìm hiểu các nội dung liên quan đến cơ sở lý luận và thu thập, phân tích,
xử lý, tổng hợp thông tin, tài liệu
- Phương pháp phân tích, so sánh dữ liệu: Các dữ liệu thu thập được so sánh,
đối chiếu để phân tích, đánh giá thực trạng huy động nguồn lực tài chính, tìm ra những thuận lợi và khó khăn, tồn tại và hạn chế trong việc huy động nguồn lực tài chính để làm cơ sở đưa ra các giải pháp huy động nguồn lực tài chính
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ
Chương 2: Thực trạng huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn
Chương 3: Giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC
TÀI CHÍNH CHO ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Nguồn lực và nguồn lực tài chính
Hiện nay, chưa có một định nghĩa cụ thể nào về nguồn lực Trong văn kiện Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ nguồn lực được đề cập tới xấp xỉ 70 lần nhưng không có định nghĩa về nguồn lực Theo Wikipedia, nguồn lực được hiểu là bất cứ thứ gì thỏa mãn nhu cầu của con người Theo từ điển InvestorWords thì nguồn lực được hiểu là con người, là tài sản, vật chất và vốn được dùng để thực hiện một mục đích nhất định) [20] Trong tài liệu của mình, tác giả Lê Du Phong có
tạm định nghĩa rằng: “Nguồn lực là tổng hợp các yếu tố vật thể và phi vật thể tạo
nên nền kinh tế của một đất nước và thúc đẩy nó phát triển” [8,tr.12] Như vậy theo
cách hiểu của định nghĩa của Wikipedia, nguồn lực được hiểu là tất cả các lợi thế tiềm năng vật chất và phi vật chất để phục vụ cho những nhu cầu của con người Theo định nghĩa của từ điển InvestorWords và của tác giả Lê Du Phong, nguồn lực được chia thành hai dạng là nguồn lực vật chất bao gồm vốn, tài sản, vật chất khác
và nguồn lực con người phục vụ cho phát triển một mục tiêu nhất định Như vậy, từ
các định nghĩa trên, tác giả thấy rằng nguồn lực chính là toàn bộ yếu tố vật chất và
con người nhằm tạo nên nền kinh tế của quốc gia và thúc đẩy nền kinh tế ấy phát triển đúng với khái niệm của tác giả Lê Du Phong Đưa ra Do vậy, tác giả luận văn
lấy khái niệm của tác giả Lê Du Phong làm khái niệm công cụ cho nghiên cứu của mình
Các định nghĩa về nguồn lực cho thấy nguồn lực đều là những “yếu tố đầu vào” Các yếu tố đầu vào ấy dù ở dạng tiềm năng hay đang được sử dụng đều có sự thay đổi theo thời gian Ví dụ: khoáng sản chưa khai thác còn trong lòng đất được xem là nguồn lực tiềm năng, khi được đưa vào sử dụng, nó trở thành nguồn lực hiện hữu Trí tuệ con người chưa được phát huy thì cũng chỉ xem là nguồn lực tiềm năng, khi được phát huy tối đa, trí tuệ ấy trở thành chủ lực của nền kinh tế tri thức
Trang 15Nguồn lực có tính động Nó có thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác như nguồn lực tài chính hoặc nó có thể thay đổi giá trị theo thời gian ví dụ như lao động Trước đây, trong nền kinh tế thế giới, lao động giá rẻ được xem là nguồn lực phát triển thì hiện nay, trong bối cảnh nền kinh tế tri thức, lao động giá rẻ không còn được xem là nguồn lực quan trọng mà tri thức và lao động tri thức được xem là nguồn lực phát triển mạnh ở mỗi quốc gia
Một thực trạng đáng chú ý là sự cạn kiệt của các nguồn lực hữu hạn (nguồn lực thiên nhiên) dẫn tới việc cộng đồng thế giới buộc phải phát triển các nguồn lực trí tuệ con người để từ đó tìm tòi phát hiện các nguồn lực vật chất mới, thúc đẩy phát triển công nghệ cao Trong bối cảnh hiện nay, các nguồn lực luôn đóng vai trò trung tâm trong chiến lược phát triển quốc gia, được các quốc gia bảo vệ và sử dụng hiệu quả
Nguồn lực không phải tự xuất hiện mà nó xuất hiện trong những điều kiện nhất định khi người tạo lập và sử dụng nó có được những lợi ích kinh tế Vì vậy việc tạo lập nguồn lực luôn được các nước trên thế giới chú trọng và xây dựng theo hai hướng sau:
- Tạo cơ hội thu hút nguồn lực từ bên ngoài tới mức nhiều nhất có thể Việc thu hút này tập trung vào vốn đầu tư, thông tin, nhân tài, khoáng sản
- Tạo dựng nguồn lực trong nước trong đó tập trung vào phát triển nhân lực, đặc biệt là nhân tài, tăng cường năng lực phát hiện tài nguyên khoáng sản của quốc gia (cả trong đất liền và trong vùng biển quốc gia); Hình thành cơ chế, chính sách
“thu gom” các nguồn vốn phân tán trong xã hội; Tích tụ thông tin và phổ biến thông tin
Trên thế giới, để thúc đẩy phát triển, các nước sử dụng song song hai nguồn lực là nhân lực và vật lực Trong đó vật lực bao gồm nhiều nguồn lực cụ thể hơn như nguồn lực về đất đai, nguồn lực về tài chính, nguồn lực công nghệ Tùy theo từng phạm vi, các nguồn lực được xác định theo những tiêu chí khác nhau
Trong xã hội hiện đại, công nghệ phát triển mạnh mẽ, tài chính trở thành một trong những nguồn lực quan trọng, để thúc đẩy sự phát triển xã hội Nguồn lực tài
Trang 16chính luôn được xem là nguồn lực chủ đạo trong mọi phạm vi của đời sống kinh tế,
xã hội
Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định Tài chính thể hiện sự vận động của vốn tiền tệ, diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội
Nguồn lực tài chính là tổng thể các vấn đề của tài chính phục vụ cho nhu cầu phát triển Do đó nói tới nguồn lực tài chính là nói tới các nguồn tài chính khác nhau và sự phân bổ các mối quan hệ kinh tế nảy sinh nói trên nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể trong xã hội
Nguồn lực tài chính được hiểu theo nhiều cách Chúng ta có thể hiểu nguồn lực tài chính là lượng vốn thực tế dưới dạng tiền tệ và quy đổi ra tiền tệ đã và đang được huy động để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Đồng thời cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng, nguồn lực tài chính là các nguồn tài chính khác nhau, sự phân bổ các mối quan hệ kinh tế nảy sinh từ các nguồn tài chính ấy hoặc theo nghĩa hẹp, nói tới nguồn lực tài chính là nói tới các nguồn vốn Những nguồn vốn ấy đến từ ngân sách nhà nước, tư nhân, đầu tư nước ngoài, quỹ đầu tư, các quỹ tín thác
Trong sự phát triển của mỗi quốc gia, nguồn lực tài chính hay nguồn lực vốn tài chính đóng vai trò trung tâm, cơ bản Sở dĩ như vậy vì những lý do: Thứ nhất, khi có vốn, các quốc gia sẽ có điều kiện đầu tư mạnh mẽ cho việc đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của nền kinh tế tri thức hiện nay Thứ hai, các quốc gia có thể hoặc đầu tư cho việc nghiên cứu, tạo ra các kĩ thuật mới, công nghệ mới, trang
bị máy móc hiện đại thông qua nhập khẩu hoặc tự chế tạo để từ đó tạo ra nhiều sản phẩm mới có chất lượng tốt, có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế, đem lại thặng dư kinh tế quốc gia Thứ ba, các quốc gia có điều kiện để xây dựng và hiện
Trang 17đại hóa nhanh hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Thứ tư, có thể chuyển dịch cơ cấu các ngành trong nền kinh tế của mình theo hướng hiệu quả, phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trong điều kiện hiện nay, thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn lực tài chính thường đến từ hai nguồn: Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
- Nguồn vốn trong nước: bao gồm phần tích lũy của ngân sách nhà nước, của
các doanh nghiệp và của mọi tầng lớp dân cư
- Nguồn vốn nước ngoài: gồm phần tài trợ bằng tiền hoặc bằng vật chất như
máy móc, công nghệ… của các quốc gia bên ngoài, của các tổ chức quốc tế, ngân hàng quốc tế, quỹ tín thác quốc tế, cá nhân người nước ngoài hoặc kiều bào xa tổ quốc
Trong cơ cấu nguồn lực, nguồn lực tài chính chiếm vị trí trọng yếu, thúc đẩy phát triển cũng như là động lực phát triển của các quốc gia Do đó việc huy động nguồn vốn và việc sử dụng hợp lý nguồn vốn luôn là ưu tiên hàng đầu của các nền kinh tế hiện nay
1.1.2 Công nghệ và ứng dụng công nghệ
Công nghệ là một thuật ngữ mới xuất hiện ở nước ta trong những năm gần đây Tuy nhiên, trên thế giới, thuật ngữ công nghệ đã có từ rất lâu Trong tiếng Anh, công nghệ là technology Theo định nghĩa của từ điển Cambridge English online,
“technology is (study and knowledge of) the practical, especially industrial, use of
scientific discoveries” [21] (tạm dịch như sau: Công nghệ là (nghiên cứu và tri thức
về) sự thực hành, đặc biệt là kỹ năng, sử dụng những khám phá khoa học) Trong Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, tại Điều 3 có định nghĩa về công nghệ như sau: “Công nghệ là giải pháp, quy
trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” [1, điều 3] Như vậy, theo các định nghĩa trên, công
nghệ gắn chặt với hoạt động nghiên cứu và cụ thể hóa các hoạt động nghiên cứu khoa học
Công nghệ nằm trong nguồn lực khoa học - công nghệ, một trong những cột trụ phát triển của kinh tế tri thức Trong nền kinh tế tri thức, vai trò của công nghệ tăng cao, thúc đẩy sự gia tăng của cải vật chất, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp
Trang 18ứng nhu cầu tiêu dùng của con người Công nghệ đã trực tiếp tác động làm tăng năng suất lao động, giảm nhẹ cường độ lao động, giảm chi phí, giá thành sản xuất, giảm tỷ lệ tiêu hao vật chất, tăng tỷ lệ chất xám trong cấu tạo sản phẩm… Chu kỳ sản xuất cũng được rút ngắn đáng kể Bên cạnh đó, công nghệ còn là chìa khóa cho
sự phát triển bền vững của nền kinh tế tri thức Quốc gia nào có năng lực cạnh tranh cao sẽ có nhiều cơ hội để vượt lên, phát triển nhanh và bền vững Và suy cho cùng, cạnh tranh giữa các quốc gia chính là cạnh tranh nguồn vốn tri thức, thể hiện qua chất lượng nguồn nhân lực và trình độ khoa học và công nghệ Chính vì thế, công nghệ là một trong số những đòn bẩy trong quá trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi
mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Xã hội càng phát triển thì vai trò đòn bẩy của công nghệ lại càng được thể hiện một cách sâu sắc bằng chính những tác động lớn đến nhịp độ tăng trưởng của nhiều quốc gia trên thế giới Với riêng Việt Nam, thành quả của khoa học và công nghệ và đặc biệt là sự đổi mới công nghệ đã mang lại những tín hiệu rất lạc quan trong việc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội, tạo nên những diện mạo mới trong bức tranh phát triển đa sắc màu
Nhìn chung, công nghệ đã giúp tạo ra những nền kinh tế phát triển cao (bao gồm nền kinh tế toàn cầu ngày nay) Nhiều quá trình công nghệ đem lại những hệ lụy không mong muốn như sự ô nhiễm và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tàn phá môi trường Những ứng dụng công nghệ khác nhau tác động đến những giá trị của xã hội
và công nghệ mới thường kéo theo những vấn đề đạo đức mới
Hiện nay công nghệ cao đã trở thành một trong những ưu tiên mũi nhọn trong lĩnh vực phát triển công nghệ Theo Luật công nghệ cao 2008 của Việt Nam,
công nghệ cao được định nghĩa như sau: “Công nghệ cao là công nghệ có hàm
lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch
vụ hiện có.” [15, điều 3] Định nghĩa nói trên không có sự định lượng rõ ràng về hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và quy định về thời